Theo cách phân chia này, các phần hành trong kiểm toán BCTC bao gồm:- Kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền - Kiểm toán chu trình tiền mặt - Kiểm toán chu trình mua hàng thu tiền - Kiểm
Trang 1PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam sau năm 1986 đã có nhiều đổi khác Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lương thực lớn thứ hai thế giới; từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nước ta đã trở thành một nền kinh tế mới nổi, có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định của Châu Á Nhà nước không còn khắt khe trong việc người dân tham gia kinh doanh nữa nên thành phần kinh tế tư nhân có điều kiện phát triển Càng ngày càng có nhiều người quan tâm tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tuy nhiên, thông tin mà các doanh nghiệp cung cấp chưa hẳn đã được thể hiện một cách khách quan, chính xác Kiểm toán ra đời nhằm giúp người sử dụng thông tin trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp có thể an tâm hơn, đảm bảo các thông tin được cung cấp một cách chính xác, khách quan, minh bạch
Kết quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu hướng tới của doanh nghiệp, là đối tượng lưu tâm hàng đầu của những người quan tâm tới tình hình sản xuất – kinh doanh của công ty Tuy nhiên, một khoản mục quan trọng trong đó là khoản mục DT lại là khoản mục thường xảy ra sai phạm nhiều nhất Có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc này như: khoản mục này có liên quan tới nhiều tài khoản, quan hệ đối ứng phức tạp nên kế toán viên có thể gặp nhầm lẫm, sai phạm không cố ý Cũng có thể là do đơn vị cố tình che dấu bớt DT nhằm giảm
số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hoặc khai khống thêm DT để cải thiện chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, dù cố ý hay vô tình vi phạm, sai phạm ở khoản mục này sẽ dẫn tới sai phạm ở nhiều khoản mục khác trên Báo
Trang 2cáo tài chính, làm sai lệch thông tin mà Báo cáo tài chính (BCTC) cung cấp cho người sử dụng nó Chính vì vậy, khoản mục DT trong BCTC cần được quan tâm
một cách đúng mực Đây cũng là lý do tôi quyết định chọn đề tài: “KIỂM TOÁN DT TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Làm rõ chu trình kiểm toán DT, từ đo thấy được những sai phạm thường gặp và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán DT
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Vận dụng lý thuyết về kiểm toán đặc biệt là kiểm toán DT
- Xem xét thực tiễn công tác kiểm toán tại công ty
- Rút ra bài học kinh nghiệm
- Đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán tại công ty
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Quy trình kiểm toán khoản mục DT của công ty Tư Vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Công ty Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam số
160 Phương Liệt – Phương Liệt – Thanh Xuân – Hà Nội
Phạm vi thời gian: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đến ngày 10 tháng 05 năm 2010
Trang 3PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Kiểm toán Báo cáo tài chính
2.1.1.1 Khái niệm kiểm toán Báo cáo tài chính
Kiểm toán là một lĩnh vực hoạt động tương đối mới mẻ tại Việt Nam, tuy mới được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XX nhưng nó đã thể hiện được tầm quan trọng trong lĩnh vực kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực Tài chính Việt Nam nói riêng Kiểm toán được hiểu là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các KTV có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở pháp lý có hiệu lực
“Kiểm toán BCTC là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi nó chứa đựng đầy đủ sắc thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng như trong quá trình phát triển Đặc trưng cơ bản đó của kiểm toán tài chính bắt nguồn từ chính đối tượng kiểm toán tài chính và từ quan hệ chủ thể - khách thể kiểm toán” Đối tượng trực tiếp của kiểm toán BCTC là các bản khai tài chính mà
Kiểm toán theo chu trình: Là cách phân chia thông dụng hơn căn cứ
Trang 4vào mối liên hệ chặt chẽ lấn nhay giữa các khỏan mục, quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trình của hoạt động tài chính Theo cách phân chia này, các phần hành trong kiểm toán BCTC bao gồm:
- Kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền
- Kiểm toán chu trình tiền mặt
- Kiểm toán chu trình mua hàng thu tiền
- Kiểm toán chu trình tiền lương – nhân viên
- Kiểm toán chu trình hàng tồn kho
- Kiểm toán chu trình đầu tư và chi trả
- Kiểm toán chu trình tiếp nhận và hoàn trả vốnMối quan hệ giữa các chu trình kiểm toán được thể hiện như sau:
Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ giữa các chu trình kiểm toán
2.1.1.2 Khái quát quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
Để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BCTC đồng thời đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán thì mỗi cuộc kiểm toán thường được thiết kế gồm 3 giai đoạn sau:
Vốn bằng tiền
Bán hàng thu
tiền
Tiếp nhận và hoàn trả vốn
Mua hàng thanh toán
Tiền lương – nhân viên
Hàng tồn kho
Trang 5Bước 1: Lập kế hoạch kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 300: “KTV và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán trong đó
mô tả phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán Kế hoạch kiểm toán phải đầy đủ, chi tiết làm cơ sở để lập CTKT” Trong bước này, bắt
đầu từ thư mời kiểm toán, KTV cần thu thập các thông tin về khách hàng, tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm toán để xây dựng
kế hoạch kiểm toán cụ thể và CTKT cho từng phần hành Đồng thời, cũng chuẩn
bị các phương tiện và nhân viên cho việc triển khai thực hiện kế hoạch và CTKT
đã xây dựng
Bước 2: Thực hiện kiểm toán Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng
các phương pháp kỹ thuật thích ứng với từng đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán Thực chất đây là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch kiểm toán, CTKT nhằm đưa ra ý kiến xác thực về tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên BCTC trên cơ sở là các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị Đây là giai đoạn các kiểm toán viên (KTV) thực hiện thủ tục kiểm toán được hình thành từ các loại trắc nghiệm kiểm toán là các thủ tục kiểm soát, thủ tục phân tích và thủ tục kiểm tra chi tiết Thủ tục kiểm toán rất đa dạng, căn cứ vào kết quả đánh giá độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng mà KTV sẽ quyết định sử dụng các thủ tục kiểm toán khác nhau
Nếu như các đánh giá ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu lực thì KTV sẽ lựa chọn tiếp tục thực hiện trắc nghiệm đạt yêu cầu Và cũng vời kết quả đó, KTV sẽ sử dụng ít các trắc nghiệm đạt yêu cầu để xác minh sai sót có thể có Nhưng ngược lại, nếu hệ thống kiểm soát nội bộ không có hiệu lực ngay
từ những đánh giá ban đầu thì KTV sẽ sử dụng các trắc nghiệm độ vững chãi trên quy mô lớn Quy mô, trình tự và cách kết hợp cụ thể các trắc nghiệm này phụ thuộc vào kinh nghiệm, khả năng phán đoán của KTV
Bước 3: Kết thúc kiểm toán Giai đoạn này KTV cần đưa ra kết luận
Trang 6kiểm toán và lập Báo cáo kiểm toán hoặc biên bản kiểm toán Trong kiểm toán tài chính, để có thể đưa ra kết luận kiểm toán và lập Báo cáo kiểm toán thì KTV phải tiến hành hàng loạt công việc cụ thể trong giai đoạn kết thúc kiểm toán như: xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến, xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, thu thập thư giải trình của Ban Giám đốc, và tổng hợp kết quả kiểm toán và lập Báo cáo kiểm toán, giải quyết các sự kiện phát sinh sau khi lập Báo cáo Kiểm toán về BCTC của khách thể kiểm toán.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 700: “Báo cáo Kiểm toán về
BCTClà loại báo cáo bằng văn bản do KTV lập và công bố để nêu rõ ý kiến chính thức của mình về báo cáo tài chính của một đơn vị (tổ chức hoặc doanh nghiệp) đã được kiểm toán” Báo cáo kiểm toán đã thực hiện kiểm toán trên 2
phương diện: Phản ánh trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu các thông tin định lượng của BCTC về thực trạng và kết quả kinh doanh, việc tuân thủ các Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, cũng như việc tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan đến hoạt động của đơn vị được kiểm toán Tùy thuộc vào kết quả của cuộc kiểm toán mà KTV có thể trình bày trên Báo cáo Kiểm toán một trong những loại ý kiến sau: Ý kiến chấp nhận toàn phần; Ý kiến chấp nhận từng phần; Ý kiến không chấp nhận; Ý kiến từ chối
2.1.2 Doanh thu và hạch toán doanh thu
2.1.2.1 Khái niệm, nội dung của DT
Doanh thu (DT) là một khoản mục quan trọng được trình bày trên báo cáo Kết quả kinh doanh, là căn cứ quan trọng để đánh giá tình hình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14: “Doanh thu
là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”.
Trang 7DT bao gồm: DT bán hàng và cung cấp dịch vụ; DT từ hoạt động tài chính;
DT nội bộ, bán bản quyền, bằng sáng chế Bên cạnh các hoạt động thường xuyên tạo ra DT, doanh nghiệp còn tạo ra thu nhập khác từ các hoạt động không thường xuyên góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu Khi bán sản phẩm, hàng hóa hay cung cấp dịch vụ, DT phát sinh dưới dạng tiền hoặc chấp nhận cho nợ DT được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại
DT bán hàng cần được ghi nhận đúng thời điểm và đảm bảo được năm điều kiện sau:
-Doanh nghiệp đã chuyển giao cho bên mua phần lớn rủi ro và lợi ích gắn với quyền sở hữu sản phẩm;
-Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý cũng như quyền kiểm soát sản phẩm;
-DT được xác định tương đối chắc chắn;
-Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm đó;
-Doanh nghiệp xác định được các chi phí liên quan đến bán hàng
DT và chi phí liên quan đến cùng một giao dịch phải được ghi nhận phù hợp theo nguyên tắc phù hợp Các chi phí phát sinh sau ngày giao hàng (chi phí giao hàng, chi phí khác) thường được ghi nhận khi các điều kiện ghi nhận DT được thỏa mãn Các khoản tiền nhận trước của khách hàng không được ghi nhận
là DT mà được ghi nhận là một khoản nợ phải trả tại thời điểm nhận trước của khách hàng Các khoản nợ phải trả về số tiền nhận trước của khách hàng chỉ được ghi nhận là DT khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện như đã nêu trên Khi xác định thời điểm ghi nhận DT, doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu tài sản, hàng hoá cho người mua
Trang 8trong từng trường hợp cụ thể Trong phần lớn các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hoá cho người mua Khi hạch toán
DT, kế toán doanh nghiệp cần đảm bảo các yêu cầu chung, đó là: DT phải được ghi nhận đúng đắn, đúng thời điểm; các nghiệp vụ DT phát sinh trong kỳ được ghi nhận đầy đủ và định giá đúng, không bỏ sót nghiệp vụ cũng như xác định sai giá trị; khi ghi nhận, kế toán căn cứ vào từng hoạt động cụ thể để phân loại đúng các khoản DT của doanh nghiệp Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch tạo ra DT còn được áp dụng cho hai hay nhiều giao dịch đồng thời có quan hệ với nhau về mặt thương mại, khi đó phải xem xét các giao dịch trong mối quan hệ tổng thể Đối với hoạt động bán hàng thông thường, là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp, doanh nghiệp còn xác định DT thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ DT thuần được xác định bằng DT bán hàng của doanh nghiệp sau khi trừ đi các khoản giảm trừ DT như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, DT hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Các khoản này ghi giảm DT khi xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó:
Chiết khấu thương mại là khoản mà doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết
cho khách hàng khi khách hàng mua với số lượng lớn trong một hoặc nhiều lần mua hàng, tuỳ theo chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Giảm giá hàng bán là số tiền giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém
phẩm chất, sai quy cách theo yêu cầu trong hợp đồng kinh tế hoặc lạc hậu so với thị hiếu mà doanh nghiệp đồng ý theo thoả thuận của hai bên mua và bán
DT hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng đã xác định tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán vì nhiều nguyên nhân khác nhau
Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất khẩu được ghi giảm DT bán hàng mà
không hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
Thuế GTGT là khoản giảm trừ DT khi doanh nghiệp tính thuế GTGT theo
Trang 9phương pháp trực tiếp, khi xác định khoản thuế GTGT phải nộp nhà nước đồng thời kế toán sẽ hạch toán giảm DT bán hàng.
Theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006, DT của doanh nghiệp nói chung gồm ba loại: DT bán hàng và cung cấp dịch vụ; DT hoạt động tài chính và thu nhập khác
DT bán hàng và cung cấp dịch vụ được theo dõi trên tài khoản 511-DT bán hàng và cung cấp dịch vụ, chi tiết thành năm tiểu khoản:
TK 5111- “Doanh thu bán hàng hoá”
TK 5112- “Doanh thu bán các thành phẩm”
TK 5113- “Doanh thu cung cấp dịch vụ”
TK 5114- “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”
TK 5117- “Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư”
DT hoạt động tài chính được theo dõi và hạch toán trên tài khoản 515- Doanh thu hoạt động tài chính
Thu nhập bất thường được hạch toán và theo dõi trên tài khoản 711- Thu nhập khác
2.1.2.2 Hạch toán doanh thu
Hoạt động tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng quan trọng nhất của quá trình sản xuất kinh doanh, trong đó, DT là sản phẩm trực tiếp để xác định kết quả kinh doanh Hơn nữa, vấn đề xác định đúng thời điểm ghi nhận DT chỉ mang tính chất tương đối, loại hình nghiệp vụ và tính chất nghiệp vụ liên quan đến DT rất phức tạp Do đó, hạch toán kế toán DT đòi hỏi những yêu cầu cao hơn kế toán các khoản mục khác Hiện nay, việc hạch toán kế toán các khoản DT của doanh nghiệp được thực hiện theo Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006
Trang 10Hạch toán các nghiệp vụ DT yêu cầu đảm bảo các nguyên tắc hạch toán kế toán chung và một số các yêu cầu đặc thù của nghiệp vụ DT phát sinh Khi phát sinh nghiệp vụ liên quan đến DT cần hạch toán, người hạch toán cần xem xét nghiệp vụ phát sinh đó có thoả mãn đồng thời tất cả các điều kiện ghi nhận DT hay không Ngoài ra khi hạch toán, DT được ghi nhận phải đảm bảo phù hợp với chi phí phát sinh trong cùng một giao dịch DT cần được theo dõi chi tiết cho từng loại trên từng tài khoản khác nhau theo quy định của Nhà nước và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Cuối kỳ kế toán, DT được tập hợp và kết chuyển về tài khoản 911- “Xác định kết quả kinh doanh”, các tài khoản DT không có số dư cuối kỳ Sơ đồ hạch toán cụ thể như sau:
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ hạch toán DT
333
521,531,532
511, 512 111,112,131,138…
333 911
Thuế XK, thuế tiêu thụ đặc biệt
phải nộp Nhà nước, thuế GTGT
phải nộp (phương pháp trực tiếp)
Các khoản giảm trừ doanh
thu
Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
Thuế GTGT đầu ra
kết chuyển doanh thu
Chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ
Trang 11DT bán hàng và cung cấp dịch vụ: Hiểu theo một cách khái quát nhất, đây
là khoản DT hình thành từ các nghiệp vụ bán sản phẩm, hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất, mua bán hoặc thực hiện các công việc theo hợp đồng kinh tế đã
ký với khách hàng, DT bán hàng và cung cấp dịch vụ là khoản DT chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các doanh nghiệp Việc xác định một giao dịch bán hàng hoá hay dịch vụ đủ điều kiện ghi nhận DT rất phức tạp, phụ thuộc vào loại hình kinh doanh cũng như hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các bên Tuy nhiên, yêu cầu ghi nhận DT phải đảm bảo các điều kiện như đã nói ở trên mới được coi là hợp lý DT bán hàng và cung cấp dịch vụ khi ghi nhận bao gồm cả DT nội bộ, là
DT của lượng hàng hoá, sản phẩm, lao vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trong cùng doanh nghiệp, bao gồm công ty, tổng công ty, tập đoàn, liên hiệp xí nghiệp hạch toán toàn ngành… DT nội bộ sử dụng tài khoản 512 để hạch toán
Khi trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD),
kế toán cần tính toán đầy đủ các chỉ tiêu theo yêu cầu như DT thuần về bán hàng
và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần…
Khi hạch toán DT bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán cần lưu ý phương pháp tính thuế GTGT của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, tính trên giá trị hàng hoá, thì DT ghi nhận sẽ là phần
DT chưa bao gồm thuế GTGT Nếu doanh nghiệp đăng ký tính nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, DT được ghi nhận sẽ bao gồm cả khoản thuế GTGT phải nộp
Doanh thu hoạt động tài chính: Một trong các hoạt động tạo ra thu nhập
của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư tài chính, kết quả của hoạt động này là DT hoạt động tài chính DT hoạt động tài chính là khoản thu từ các hoạt động góp vốn liên doanh, liên kết, góp vốn vào công ty con; cho thuê tài sản, lãi tiền gửi ngân hàng; hoạt động mua bán, đầu tư chứng khoán ngắn hạn và hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán,… Khi ghi nhận một khoản DT hoạt động tài chính, kế toán cần có đầy đủ căn cứ chứng minh khoản DT ghi nhận đảm bảo
Trang 12hai điều kiện: Giao dịch tạo ra khoản DT này phải có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế và DT được ghi nhận phải được xác định tương đối chắc chắn
Thu nhập khác: Là khoản DT ghi nhận từ các hoạt động không thường
xuyên của doanh nghiệp, thu nhập khác hay còn gọi là thu nhập bất thường Thu nhập khác có thể là thu nhập từ hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định; các khoản nợ phải thu xoá sổ nay thu hồi được; tài sản được viện trợ, biếu tặng; thu nhập từ tiền phạt vi phạm hợp đồng;… Các giao dịch bất thường khi ghi
DT có thể là hoạt động chịu thuế hoặc không chịu thuế GTGT, hạch toán ghi nhận khoản DT này cũng cần áp dụng theo phương pháp tính thuế GTGT là doanh nghiệp đăng ký
2.1.3 Kiểm toán khoản mục DT trong kiểm toán báo cáo tài chính
Khi kiểm toán BCTC, khoản mục DT có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của khách thể kiểm toán Hơn nữa, khoản mục DT có những đặc thù riêng, hạch toán khoản mục DT cũng có những đặc điểm riêng biệt do đó, các sai phạm thường gặp đối với khoản mục này cũng rất khác biệt
2.1.3.1 Đặc điểm kiểm toán khoản mục DT
Trong hệ thống BCTC, mỗi loại báo cáo đều có những chức năng và vai trò khác nhau đối với nhu cầu tìm hiểu và phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp BCKQHĐKD là báo cáo phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trọng một thời kỳ, một giai đoạn nào đó Trên BCKQHĐKD, chỉ tiêu DT có chức năng phản ánh tổng quát nhất về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ đó Quyết định của chủ đầu tư và những người quan tâm khác đến doanh nghiệp và tình hình tài chính của doanh nghiệp căn cứ chủ yếu trên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà DT là một trong các chỉ tiêu quan trọng Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện bởi Báo cáo kết quả kinh doanh thường thông qua các chỉ tiêu: Tỷ suất lợi nhuận trên DT, tỷ lệ lãi gộp,
Trang 13… Khoản mục DT được hạch toán và trình bày đúng đắn trên BCTC là mục tiêu của kiểm toán khoản mục DT
Ngoài ra, giữa các chỉ tiêu trên các BCTC của doanh nghiệp cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, khoản mục DT ảnh hưởng tới nhiều chỉ tiêu khác trên Bảng cân đối kế toán, bao gồm: khoản mục tiền, phải thu khách hàng, khách hàng ứng trước, hàng tồn kho, lợi nhuận chưa phân phối… Khi kiểm toán khoản mục DT, KTV có thể tham chiếu các sai phạm sang các khoản mục này để có sự quan sát và đánh giá tổng quát về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, thông qua kiểm toán các khoản mục DT, KTV cũng có thể phát hiện các gian lận và sai sót liên quan đến DT của khách thể kiểm toán trong niên độ kế toán được kiểm toán Các chỉ tiêu DT và chi phí liên quan phải được xác định đầy đủ và chính xác vì hai chỉ tiêu này là cơ sở để xác định lợi nhuận của doanh nghiệp, phản ánh hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
Khi kiểm toán khoản mục DT, KTV có thể kết hợp với kết quả kiểm toán các khoản mục khác có liên quan trên bảng cân đối kế toán, kiểm toán các khoản mục chi phí để khẳng định sự phù hợp giữa số phát sinh hay số dư của các chỉ tiêu này DT là một khoản mục trong chu trình bán hàng - thu tiền, tuy nhiên, vấn đề kiểm toán cả chu trình này sẽ làm cho các bước kiểm toán cần xây dựng trong CTKT khá nhiều và phức tạp Trên thực tế, do tầm quan trọng của khoản mục DT đối với BCTC và việc phân tích tình hình tài chính, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nên khoản mục DT thường được tách ra và thực hiện kiểm toán riêng rẽ với các phần hành khác
Hơn nữa, DT đối với mỗi lĩnh vực kinh doanh khác nhau có phương pháp
và điều kiện ghi nhận DT khác nhau Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xây lắp, đầu tư xây dựng cơ bản, … DT được ghi nhận sẽ căn cứ theo hợp đồng được ký kết giữa hai bên về phương thức ghi nhận và quyết toán vốn đầu tư, nghiệm thu công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành Đối với doanh
Trang 14nghiệp sản xuất, việc ghi nhận DT chỉ được ghi nhận khi hàng hoá, thành phẩm
đã xuất bán khỏi kho của doanh nghiệp và hai bên đã ký biên bản bàn giao hàng hoá Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, điều kiện ghi nhận DT là khi việc cung cấp dịch vụ hoàn thành Mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề kinh doanh có thời điểm ghi nhận DT khác nhau Vì vậy, việc đánh giá những rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục DT trở nên quan trọng và yêu cầu thực hiện thận trọng và chi tiết
2.1.3.2 Mục tiêu kiểm toán khoản mục DT
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200: “Mục tiêu của kiểm toán
BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC
có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trong yếu hay không?”
Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị kiểm toán thấy được những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin của đơn
vị Đối với khoản mục DT trên BCTC, mục tiêu kiểm toán thường được hướng tới thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1: Mục tiêu kiểm toán khoản mục DT
Mục tiêu kiểm toán chung Mục tiêu kiểm toán DT
Mục tiêu hợp lý chung DT bán hàng đã ghi sổ là có căn cứ hợp lý
Tính hiện hữu DT được ghi nhận thực tế đã phát sinh
Tính trọn vẹn DT bán hàng được ghi nhận đầy đủ
Quyền và nghĩa vụ Hàng hóa tiêu thụ thuộc quyền sở hữu của đơn vị
Chính xác số học Các nghiệp vụ bán hàng được ghi vào sổ tổng hợp chi
tiết thích hợp, tính toán và cộng dồn chính xác Phân loại và trình bày DT bán hàng được phân loại đúng đắn
Định giá DT bán hàng được định giá đúng đắn
Kịp thời DT bán hàng được ghi sổ đúng kỳ
2.1.3.3 Nội dung kiểm toán khoản mục DT trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Như đã trình bày ở trên, để đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế và tính hiệu lực
Trang 15của một cuộc kiểm toán thì cuộc kiểm toán phải trải qua 3 giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm oán; Thực hiện kiểm toán; Kết thúc kiểm toán và phát hành Báo cáo Kiểm toán.
Sơ đồ 2.3 Các giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính
Kiểm toán khoản mục DT là một bộ phận trong kiểm toán BCTC do đó, kiểm toán khoản mục DT cũng tuân theo 3 giai đoạn như trên
a Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV phải tiến hành khi bắt đầu thực hiện một cuộc kiểm toán Trong Chuẩn mực Kiểm toán số 300:
“KTV và công ty kiểm toán cần lập kế hoạch để có thể đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả nhất”
Giai đoạn 1:
Lập kế hoạh kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán
Giai đoạn 2 Thực hiện kiểm toán
Giai đoạn 3 Kết thúc kiểm toán và phát hành Báo cáo Kiểm toán
Trang 16Sơ đồ 2.4 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
* Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán được bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán tiếp nhận khách hàng Thực chất đây là một quá trình liên lạc giữa KTV và khách hàng tiềm năng theo yêu cầu được kiểm toán và sự đánh giá của KTV liệu
có chấp nhận yêu cầu đó hay không Trên cơ sở xác định được khách hàng, công
ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho lập kế hoạch kiểm toán như: Đánh giá khả năng tiếp nhận kiểm toán, nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng, lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện cuộc kiểm toán, ký hợp đồng kiểm toán
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro của khoản mục doanh thu
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
Thiết kế chương trình kiểm toán
Trang 17* Thu thập thông tin cơ sở
Những thông tin ban đầu về DT sẽ cung cấp cho KTV sự nhìn nhận khái quát nhất để có những chuẩn mực tích cực cho công tác kiểm toán Thông thường, khi tìm hiểu về những thông tin ban đầu về DT, KTV thường quan tâm đến vấn đề sau:
KTV nhận diện đối tượng kiểm toán bằng cách tìm hiểu danh mục hàng hóa, sản phẩm của khách hàng để nắm được khách hàng có bao nhiêu loại hàng hóa, cơ cấu DT mà từng loại hàng mang lại… Từ đó giúp cho KTV nhận biết được các đặc điểm về DT của khách hàng
* Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho KTV nắm bắt được quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng Những thông tin này được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc, qua giấy phép kinh doanh, điều lệ của công ty, các BCTC, Báo cáo kiểm toán kỳ trước…
* Thực hiện các thủ tục phân tích sơ bộ
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam 520 có ghi rõ: “Thủ tục phân tích là
việc phân tích các số liệu, thông tin, tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”.
Các thủ tục phân tích mà KTV đưa ra ở giai đoạn này bao gồm hai loại:
- Phân tích ngang: Là việc phân tích dựa trên việc so sánh các chỉ số của một chỉ tiêu trong BCTC Trong kiểm toán khoản mục DT, thủ tục phân tích sơ
bộ thường được thể hiện dưới các hình thức sau:
+ Đối chiếu, so sánh DT kỳ này với DT kỳ trước
+ So sánh số DT kế hoạch với DT thực tiễn đạt được
Qua đó, KTV có thể nhận thấy những biến động biến động bất thường trong khoản mục này
Trang 18- Phân tích dọc: Là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC Khi phân tích sơ bộ, KTV chỉ tiến hàng so sánh tỷ suất lợi nhuận của kỳ này với kỳ trước
* Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro đối với khoản mục doanh thu
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 320: “Trọng yếu là khái niệm
tầm cỡ (hay quy mô) và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hay đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc sẽ đưa ra kết luận sai lầm” Trọng yếu là một khái niệm tương đối, gắn với quy mô của khách
hàng Một sai phạm với quy mô nhất định có thể là trọng yếu đối với công ty này nhưng lại không trọng yếu đối với công ty khác có quy mô lớn hơn Do vậy, việc xác định một mức giá trị bằng tiền cho sự ước lượng ban đầu về tính trọng yếu áp dụng cho tất cả khách hàng là điều không hợp lý Một nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch là đánh giá mức độ trọng yếu để ước tính mức độ sai sót cuả BCTC có thể chấp nhận được, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC để từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các khảo sát kiểm toán Việc đánh giá trọng yếu được tiến hành theo các bước sau:
- Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
- Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho từng khoản mục
- Ước tính trong bộ phận và ước tính sai số kết hợp
- So sánh số tổng hợp ước tính với ước lượng ban đầu hoặc xem xét lại
Tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu =
Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp
Doanh thu
Trang 19ước lượng ban đầu về tính trọng yếu.
Trong doanh nghiệp, khoản mục DT luôn ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, nếu khoản mục DT xảy ra sai phạm có tính trọng yếu thì các thông tin trên các BCTC đặc biệt là Báo cáo kết quả kinh doanh không còn chính xác
Trên thực tế có nhiều yếu tố có thể làm tăng khả năng xảy ra sai phạm liên quan đến DT như:
- Số lượng các nghiệp vụ liên quan tới DT xảy ra với tần suất lớn nên có thể dẫn tới các sai phạm không đáng có do nhầm lẫn
- Không nắm rõ điều kiện ghi nhận DT dẫn tới ghi nhận các khoản chưa
đủ điều kiện ghi nhận DT
- Ghi nhận DT không đúng kỳ đối với các nghiệp vụ kinh tế xảy ra trong giai đoạn kết thúc kỳ kế toán cũ bắt đầu kỳ kế toán mới
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro
do công ty kiểm toán và KTV đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC
đã được kiểm toán có những sai phạm trọng yếu”.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV phải xác định rủi ro kiểm toán mong muốn thông qua mô hình sau:
AR = IR x CR x DR
Trong đó:
AR là rủi ro kiểm toán: Là khả năng KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán có những sai sót trọng yếu
IR: là rủi ro tiềm tàng: Là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong
BCTC chứa đựng sai phạm trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ
CR: là rủi ro kiểm soát: Là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu
do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả do đó không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này
Trang 20DR: là rủi ro phát hiện: Là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên
BCTC mà không được ngăn chặn hay phá hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như KTV phát hiện trong quá trình kiểm toán
* Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát đối với khỏan mục doanh thu
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là một phần việc hết sức quan trọng mà KTV phải thực hiện trong một cuộc kiểm toán Khi tiến hành tìm hiểu cơ cấu kiểm soát nội bộ của khách hàng, KTV cần tìm hiểu những vấn đề sau:
1) Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ Để đạt được sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục DT, KTV cần tiến hành xem xét các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
Đặc thù về quản lý: Đặc thù về quản lý đề cập tới nhiều quan điểm khác nhau trong điều hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, quy định và cách kiểm soát trong doanh nghiệp nói chung và đối với khoản mục DT nói riêng
Cơ cấu quản lý: Cơ cấu quản lý phải thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ lĩnh vực của doanh nghiệp sao cho không trồng chéo hoặc bỏ trống, thực hiện sự phân tách giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, tạo khả năng kiểm tra kiểm soát lẫn nhau trong các bước thực hiện công việc
Đối với khoản mục DT, để thực hiện bước công việc này, KTV cần tìm hiểu các thủ tục và quy định đối với các nghiệp vụ bán hàng, ghi sổ DT, đồng thời phải tìm hiểu hệ thống kế toán DT và giá vốn Các KTV cần tiến hành phỏng vấn cũng như quan sát các hoạt động để tìm kiếm thông tin khẳng định sự
Trang 21tồn tại và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
Chính sách nhân sự: KTV tiến hành phỏng vấn về chính sách về chính sách nhân sự đối với công tác ghi chép, công tác quản lý, phân chia trách nghiệm giữa các bộ phận, cá nhân trong các nghiệp vụ bán hàng
2) Hệ thống kế toán doanh thu
Hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ, hệ thống sổ sách, hệ thống tài khoản và hệ thống các bảng tổng hợp, cân đối kế toán Trong
đó, quá trình lập và luân chuyển chứng từ đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
3) Các thủ tục kiểm soát
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 quy định: “KTV phải hiểu
biết các thủ tục kiểm soát sủa đơn vị để xây dựng kế hoạch và CTKT” KTV
phải tìm hiểu xem các thủ tục kiểm soát có được thiết lập chặt chẽ dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản là: Nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng; Nguyên tắc bất kiêm nghiệm; Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn hay không
4) Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một bộ phận được thiết kế trong đơn vị tiến hành công việc kiểm tra và đánh giá hoạt động phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ của đơn vị Bộ phận kiểm toán nội bộ cung cấp một sự quan sát, đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách về các thủ tục kiểm soát nội bộ
- KTV kiểm tra sự tồn tại của bộ phận kiểm toán nội bộ và bộ phận kiểm toán nội bộ này thực tế có hoạt động hay không? Người quản lý và phạm vi quyền hạn của bộ phận kiểm toán nội bộ?
- Năng lực chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của các nhân viên trong bộ phận kiểm toán nội bộ
- Bộ phận này tiến hành kiểm tra đối với các hoạt động có liên quan đến khoản mục DT như thế nào? Bộ phận kiểm toán nội bộ tiến hành kiểm toán đối
Trang 22với hoạt động có liên quan đến khoản mục DT như thế nào? Các chức năng của
bộ phận này, hiệu quả hoạt động của nó?
Trang 235) Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả trên các giấy tờ làm việc: Nhằm thu thập những hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng nói chung và đối với khoản mục DT nói riêng, KTV cần tiến hành kiểm tra kho hàng, phỏng vấn trực tiếp những người quản lý kho xem có những nghiệp vụ xuất hàng đem bán hay không, phỏng vấn Ban giám đốc doanh nghiệp, phỏng vấn nhân viên kế toán về cách thức hạch toán DT, sổ tổng hợp, sổ chi tiết …
Các KTV có thể sử dụng các bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục DT Bảng câu hỏi sẽ đưa ra các câu hỏi theo các mục tiêu chi tiết của hệ thống kiểm soát nội bộ mà cụ thể là tập trung vào khoản mục DT Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng trả lời “Có” hoặc “Không” sẽ cho thấy nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ Từ đó các KTV sẽ thu thập được những bằng chứng cần thiết để đưa ra những đánh giá rủi ro kiểm soát với khoản mục DT
Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát sẽ đạt được sau khi KTV có được những hiểu biết ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ KTV sẽ đưa ra mức rủi ro kiểm soát ban đầu với các cơ sở dẫn liệu trên BCTC nói chung và khoản mục
DT nói riêng
* Thiết kế chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán (CTKT) là những dự kiến chi tiết về các công việc cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTV cũng như dự kiến về những tư liệu thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập Trọng tâm của CTKT là các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục hay từng bộ phận kiểm toán CTKT của hầu hết các cuộc kiểm toán đều được phân thành 3 phần như sau:
Trắc nghiệm công việc:
Trắc nghiệm công việc được tiến hành thực hiện hướng vào hai vấn đề cpư bản của hạch toán kế toán là thủ tục kế toán và độ tin cậy của các thông tin
Trang 24kế toán về khoản mục DT Vì vậy trắc nghiệm công việc được chia thành hai loại trắc nghiệm là trắc nghiệm đạt yêu cầu và trắc nghiệm độ vững chãi của công việc.
Trong trường hợp rủi ro kiểm soát của khoản mục hàng tồn kho được đánh giá ở mức thấp, các trắc nghiệm đạt yêu cầu mới được áp dụng để kiểm tra lại các đánh giá của KTV về khoản mục DT đã thu thập Nếu sau khi thực hiện các trắc nghiệm đạt yêu cầu cho kết quả trùng với đánh giá ban đầu thì KTV có thể tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ để giảm một phần lớn trắc nghiệm
độ vững trãi nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán Ngược lại, KTV có thể bỏ qua trắc nghiệm đạt yêu cầu và tiến hành ngay trắc nghiệm độc vững trãi với số lượng lớn Tuy nhiên, trên thực tế cả hai loại trắc nghiệm này thường được tiến hành song song
Trắc nghiệm phân tích
Là cách thức xem xét các mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic các tri số của các chỉ tiêu hoặc bộ phận cấu thành chỉ tiêu Trắc nghiệm phân tích được thực hiện nhằm giúp KTV đánh giá khái quát tình hợp lý của các
số liệu khoản mục DT sẽ thực hiện kiểm toán
Trắc nghiệm trực tiếp số dư
Kết quả thu được khi thực hiện các thủ tục phân tích là cơ sở để KTV mở rộng hay thu hẹp các trắc nghiệm trực tiếp số dư đối với khoản mục DT
b Thực hiện kiểm toán
* Thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500: “Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán
về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ” Một số thử nghiệm kiểm soát phổ biến sẽ được KTV thực hiện nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán về tính hiệu lực của hệ thống kiểm
Trang 25soát nội bộ đối với khoản mục DT thường tập trung vào quá trình bán hàng.
Đối với quá trình bán hàng: Các thủ nghiệm kiểm soát sử dụng trong khoản mục này gồm:
- Xem xét các bản sao hóa đơn bán hàng minh chứng cho vận đơn
- Xem xét tính hiệu lực của các dãy hóa đơn được đánh số trước
- Xem xét tính liên tục của các chứng từ vận chuyển, hóa đơn bán hàng
để xác minh việc thực hiện đánh số thứ tự trước
- Xem xét dấu viết kiểm tra nội bộ về giá bán
- Xem xét việc thực hiện các thủ tục thực hiện các thủ tục phân tích cách nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện lập và gửi cân đối thu tiền cho người mua
* Thực hiện các thủ tục phân tích
Sử dụng các thủ tục phân tích trong kiểm toán khoản mục DT giúp các KTV phát hiện ra những biến động bất thường Từ kết quả đó, KTV có thể quyết định tăng giảm các thủ tục kiểm toán chi tiết đối với nghệp vụ DT Trong quá trình tiến hành kiểm toán khoản mục DT, KTV phải sử dụng nhiều thủ tục phân tích Các sai phạm trọng yếu về DT có thể dễ dàng phát hiện qua các việc thiết
kế các thủ tục phân tích để kiểm tra tính hợp lý của các con số Trường hợp kết quả phân tích không cho kết quả như dự kiến thì các KTV cần làm rõ nguyên nhân Các thủ tục phân tích trong giai đoạn này cũng gồm hai loại:
Phân tích ngang (phân tích xu hướng)
Trong phân tích ngang, KTV tiến hành so sánh các chỉ tiêu để nhận thấy sự biến đổi bất thường của khoản mục DT Bao gồm:
- Lập bảng DT theo tháng, theo cửa hàng, theo thuế suất, theo từng loại
DT trong quan hệ với giá vốn và với thuế GTGT đầu ra
- So sánh DT trong kỳ này với kỳ trước, DT theo kế hoạch và DT đạt được trong thực tế
Phân tích dọc (phân tích tỉ suất)
Phân tích dọc là thủ tục được sử dụng nhiều trong quá trình thực hiện
Trang 26kiểm toán đặc biệt là trong kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền Chính vì thế, khi tiến hành kiểm toán khoản mục DT, các thủ tục phân tích dọc cũng được sử dụng nhiều Trong kiểm toán khoản mục DT, KTV thường sử dụng một số chỉ tiêu sau:
- Tỷ suất lợi nhuận gộp:
Tỷ suấtlợi nhuận gộp =
Lợi nhuận gộp
DT hàng bán * 100%
Tỷ suất lợi nhuận gộp phản ánh khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận gộp càng cao thì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp càng lớn KTV có thể so sánh tỷ lệ của doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng ngành để thấy được sự khác biệt
* Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết
Trên cơ sở kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và việc phân tích với nghiệp vụ bán hàng và ghi nhận DT, KTV thực hiện kiểm tra chi tiết đối với khoản mục DT Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số
dư để kiểm tra từng khoản mục và các nghiệp vụ tương ứng Thủ tục kiểm tra chi tiết được sử dụng tập trung vào các khả năng sai phạm mà thủ tục phân tích
đã chỉ ra trên cơ sở kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán.Việc xác định thủ tục khảo sát và kiểm tra chi tiết DT tương đối phức tạp và khó khăn vì chúng thay đổi đáng kể theo các tình huống, KTV thực hiện kiểm tra chi tiết DT ở các khía cạnh sau:
Trang 27DT ghi sổ là có thật: Mục tiêu thử nghiệm là để phát hiện các nghiệp vụ
kinh tế không xảy ra nhưng lại có hạch toán DT KTV có thể đạt được điều này bằng cách thực hiện các thủ tục sau:
- Đối chiếu các khoản DT bán hàng đã được ghi chép với các chứng từ gốc có liên quan như đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, lệnh bán hàng, phiếu xuất kho, vận đơn đối với DT từ bán hàng hóa; các thông báo lãi, thông báo của công
ty con… đối với DT từ hoạt động tài chính Đối với DT từ cung cấp dịch vụ, các chứng từ gốc chứng minh cho nghiệp vụ phát sinh rất đa dạng vì phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng đơn vị, trong trường hợp này, KTV cần căn cứ vào hiểu biết của mình về hệ thống kiểm soát nội bộ để lựa chọn thủ tục kiểm toán thích hợp
- Lấy mẫu các nghiệp vụ bán hàng và xem xét quá trình thu tiền Lưu ý các khoản đã được thanh toán, đây là bằng chứng cho thấy nghiệp vụ bán hàng
DT được ghi chép một cách đầy đủ: Mục tiêu của thủ tục này là nhằm
phát hiện các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ có phát sinh nhưng không được đơn vị ghi nhận Để kiểm tra, KTV cần rà soát lại chứng từ để biết các chứng từ này có được đánh số liên tiếp hay không, đối chiếu các loại sổ sách nhằm tìm ra những nghiệp vụ bị bỏ sót
DT bán hàng được định giá đúng: Thông thường, các KTV cần kiểm tra
những nội dung sau đây của hóa đơn:
-So sánh vận đơn, đơn đặt hàng, lệnh bán hàng… để xác định về chủng loại và số lượng hàng hóa tiêu thụ
Trang 28-Đối chiếu với bảng giá, các bảng xét duyệt đơn giá, hợp đồng… để xác định đơn giá của hàng tiêu thụ Rà soát lại các khoản chiết khấu, giảm giá hàng bán để xem có phù hợp với chính sách bán hàng của doanh nghiệp hay không.
-Kiểm tra việc tính toán trên hóa đơn
-Đối với trường hợp bán hàng bằng ngoại tệ thì cần kiểm tra việc quy đổi
về tiền Việt Nam
Trong một số lĩnh vực kinh doanh, DT bán hàng được ghi nhận theo quy định riêng của Chuẩn mức và Chế độ kế toán Vì thế, KTV phải xem xét số tiền ghi nhận DT có được xác định phù hợp với các quy định này hay không Ví dụ như trong bán hàng trả chậm, DT bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ bao gồm giá trị hiện tại của các khỏan tiền sẽ thu, phần chênh lệch sẽ được ghi nhận là DT hoạt động tài chính Hoặc trong trường hợp trao đổi tài sản không tương tự, DT được xác định theo giá trị hợp lý của tài sản nhận về sau khi điều chỉnh các khoản tiền trả thêm hoặc nhận thêm
DT ghi sổ được phân loại đúng đắn: Thử nghiệm này nhằm tránh những
trường hợp phân loại không đúng dẫn đến việc ghi chép hay trình bày sai về DT
Cụ thể, KTV sẽ xem xét về sự phân biệt giữa DT bán chịu và DT tiền ngay DT bán hàng, cung cấp dịch vụ và các khoản DT hoạt động tài chính như cho thuê
cơ sở hạ tầng, các khoản lãi phát sinh do bán trả góp… Các loại DT là đối tượng của các loại thuế khác nhau (thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu…) có thuế suất khác nhau, hoặc khác nhau về cơ sở xác định DT chịu thuế Loại sai phạm này sẽ dẫn đến việc đơn vị tính thuế không đúng
DT được ghi sổ đúng kỳ: Theo quy định, việc ghi chép các nghiệp vụ
bán hàng phải được thực hiện theo đúng niên độ, bảo đảm phản ánh đúng DT và lợi tức của doanh nghiệp trong niên độ kế toán Đây là mục tiêu quan trọng bậc nhất khi tiến hành kiểm toán DT Những chênh lệch lớn về thời gian ghi sổ có khả năng chứa đựng gian lận trong hạch toán DT Ngoài ra, KTV cần kiểm tra những nghiệp vụ bất thường, có số tiền lớn phát sinh ở cuối hoặc đầu kỳ kế toán
Trang 29c Kết thúc kiểm toán
Đây là giai đoạn cuối của cuộc kiểm toán Trong bước này, chủ yếu các KTV tiến hành đánh giá cá sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ liên quan tới khoản mục DT, đánh giá tính liên tục hoạt động, đánh giá bằng chứng và tổng hợp kết quả kiểm toán khoản mục DT, cuối cùng là phát hành Báo cáo Kiểm toán và thư quản lý
*
Đánh giá các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ liên quan tới DT Đây là thủ tục cần thiết khi KTV đưa ra ý kiến nhận xét về kiểm toán khoản mục DT Việc đánh giá này nhằm mục đích khẳng định sự tin cậy của các bằng chứng kiểm toán mà KTV thu thập được trong quá trình kiểm toán Đó chính là những sự kiện cung cấp thêm những bằng chứng hiện hữu cho các tình huống phát sinh sau ngày lập BCTC Các sự kiện này có thể ảnh hưởng lớn đến
DT vì vậy, KTV cần xác minh các sự kiện này để đánh giá ảnh hưởng cuả nó tới BCTC và Báo cáo Kiểm toán
* Đánh giá bằng chứng và tổng hợp kết quả kiểm toán
Khi hoàn thành công tác kiểm toán, trưởng đoàn kiểm toán tiến hành xem xét lại giấy tờ làm việc và các tài liệu được lưu trong hồ sơ kiểm toán để đánh giá và soát xét các bằng chứng kiểm toán thu được trên các khía cạnh: Tính đầy
đủ và đáng tin cậy Bất cứ khi nào KTV phát hiện sai sót trọng yếu ở các khoản mục nói chung và khoản mục DT nói riêng thì bảng cân đối thử phải được điều chỉnh Đồng thời, các sai sót được xem là không trọng yếu thì phải tổng hợp các sai sót đó với nhau để đánh giá liệu số tiền sau khi kết hợp có tính trọng yếu hay không Nếu có các sai phạm thì các KTV cần đưa ra các bút toán điều chỉnh Nếu khách hàng đồng ý bút toán điều chỉnh thì KTV tiến hành lập BCTC sau điều chỉnh và đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần Ngược lại, nếu khách hàng không chấp nhận bút toán điều chỉnh thì trưởng đoàn kiểm toán sẽ đánh giá mức trọng yếu của sai phạm nhằm đưa ra ý kiến thích hợp
Trang 30* Phát hành Báo cáo Kiểm toán và thư quản lý
Cuối cùng, KTV tổng hợp kết quả của các phần hành và đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực hợp lý của BCTC cũng như việc tuân thủ Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành trên Báo cáo Kiểm toán Ngoài Báo cáo Kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán phát hành Thư quản lý, trong đó nêu ra những ý kiến
để hoàn thiện công tác quản lý và hạch toán DT nói riêng và BCTC của khách hàng nói chung Nội dung thư quản lý bao gồm các hiện trạng thực tế, những khả năng rủi ro, kiến nghị của KTV và ý kiến của người quản lý liên quan đến
sự kiện đó
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khung phân tích
Trong thực tiễn cuộc sống, các hoạt động kinh tế thường diễn ra một cách
đa dạng và phong phú có thể thay đổi theo thời gian Do đó luôn có một sự khác nhau nhất định giữa lý thuyết và thực tiễn, trong công tác kiểm toán cũng vậy
Đề tài hướng tới tìm hiểu công tác kiểm toán khoản mục DT trong kiểm toán BCTC trong thực tế, từ đó tìm ra những ưu nhược điểm của công tác này và tìm
ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm toán Trong đề tài này, phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi là công tác kiểm toán BCTC
mà cụ thể là công tác kiểm toán khoản mục DT tại công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (AVA)
Trang 312.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp, tài liệu khác nhau Phương pháp để xử lý số liệu bao gồm: phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích số liệu, phương pháp tổng hợp và chi tiết Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp chuyên gia, phỏng vấn… để thu thập số liệu cho bài viết
Trang 32PHẦN III
KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Giới thiệu địa điểm nghiờn cứu
Cụng ty Tư vấn Kế toỏn và Kiểm toỏn Việt Nam (AVA) được thành
lập theo giấy phộp đăng ký kinh doanh số 0102028384 do Sở Kế hoạch và Đầu t Thành phố Hà Nội cấp ngày 10/10/2006, sửa đổi bổ sung ngày 28/08/2007 Cụng ty Tư vấn Kế toỏn và Kiểm toỏn Việt Nam (viết tắt AVA) là một cụng ty TNHH hai thành viờn trở lờn hoạt động trong lĩnh vực kiểm toỏn, thẩm định giỏ,
tư vấn kế toỏn, tư vấn tài chớnh AVA cú đội ngũ KTV dày dặn kinh nghiệm và tõm huyết với cụng việc
Cụng ty Tư vấn Kế toỏn và Kiểm toỏn Việt Nam được tổ chức dưới hỡnh thức cụng ty TNHH hai thành viờn trở lờn với số lượng thành viờn gúp vốn là mười hai thành viờn Vốn điều lệ của cụng ty là 3.000.000.000 VND AVA được
tổ chức chặt chẽ với sự chỉ đạo trực tiếp của giỏm đốc cụng ty và sự giỏm sỏt của Hội đồng thành viờn
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ tổ chức AVA
Ban giỏm đốc
Chi nhỏnh Miền Trung Văn phũng cụng ty
Cỏc phũng nghiệp vụ 1,2,3,4,5,6,7 Phũng tài chớnh kế toỏn Phũng hành chớnh
Trang 33Hội đồng thành viên của AVA là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất trong công ty Các quyết định được thông qua bằng các hình thức biểu quyết tại cuộc họp hay lấy ý kiến bằng văn bản Ban giám đốc của công ty đều
là những người có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực kiểm toán tài chính Hiện nay, Ban giám đốc của công ty gồm có 1 Giám đốc và 3 phó giám đốc Giám đốc công ty là ông Nguyễn Minh Hải là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty Các phó giám đốc điều hành công việc theo sự phân công của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về công việc được giao Giám đốc chi nhánh được Giám đốc ủy quyền điều hành toàn bộ hoạt động của đơn vị mình Công ty hiện có 7 phòng nghiệp
vụ và 2 phòng chức năng là Phòng Hành chính và phòng Kế toán tài chính
Với cam kết về chất lượng, AVA cung cấp nhiều dịch vụ có giá trị cao:
- Dịch vụ kiểm toán: Kiểm toán các Báo cáo tài chính; Kiểm toán các hoạt động các Dự Án;Kiểm toán báo cáo Quyết toán công trình xây dựng cơ bản; Kiểm toán xác định vốn góp liên doanh; Kiểm toán theo thủ tục thư cam kết
- Dịch vụ kế toán: Hướng dẫn áp dụng chế độ kế toán – tài chính; Xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy kế toán; Mở, ghi sổ kế toán và Báo cáo tài chính; Lập hồ sơ đăng ký chế độ kế toán; Giám định tài liệu kế toán, tài chính
- Dịch vụ tư vấn: Tư vấn về thuế; Tư vấn xây dựng cẩm nang quản lý tài chính; Tư vấn quyết toán tài chính và quyết toán vốn đầu tư; Hướng dẫn thủ tục đăng ký kinh doanh; Tư vấn về thẩm định giá tài sản; Tư vấn thẩm định dự án đầu tư xây dựng cơ bản ;Soạn thảo các phương thức đầu tư; Tư vấn soạn thảo hồ
sơ xin cấp giấy phép đầu tư; Tư vấn sáp nhập và giải thể doanh nghiệp
Ngoài ra còn có các dịch vụ khác như xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, tuyển dụng, đào tạo…
Trang 34Hình 3.1 Cơ cấu DT năm 2009
Năm 2009, DT cuả công ty đạt được là 28.000.000.000 VNĐ tăng 8.000.000.0000 so với DT năm 2008 Năm 2008 là năm khó khăn chung của nền kinh tế nói chung và nền tài chính nói riêng, tuy nhiên, AVA vẫn gữi được tốc
độ tăng trưởng ổn định, đây là một nỗ lực đáng kể của tập thể cán bộ và ban giám đốc của công ty
AVA có đội ngũ kiểm toán viên dày dặn kinh nghiệm và tâm huyết với công việc Số lượng nhân viên hiện thời của công ty là 70 nhân viên, trong đó có
13 Kiểm toán viên cấp Nhà nước, 04 Kiểm toán viên có chứng chỉ Kiểm toán quốc tế ACCA và CPA Australia, 03 thẩm định viên về giá, 07 thạc sỹ kinh tế Năm 2010, công ty cố gắng có thêm 5 Kiểm toán viên cấp Nhà nước để phục vụ công tác kiểm toán được tốt hơn Tại AVA, công tác đào tạo nhân viên luôn được chú trọng, công ty thường xuyên mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ cho các nhân viên mới, các lớp cập nhật kiến thức và kiểm tra trình độ nghiệp vụ cho nhân viên toàn công ty Bên cạnh đó, việc gửi nhân viên tới các lớp đào tạo do
Bộ Tài Chính và Hội Kiểm Toán Việt Nam tổ chức cũng được công ty duy trì thường xuyên
Cùng với sự tăng trưởng của DT, năm 2009, AVA đã mở thêm chi nhánh
Trang 35tại Nghệ An, đây là bước phát triển nhằm đưa thương hiệu của công ty ngày càng được nhiều doanh nghiệp biết đến Gần bốn năm hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, AVA đã tạo được lợi thế so sánh nhất định với các công ty kiểm toán khác trên thị trường Khách hàng của AVA ngày càng được mở rộng trong các năm qua, từ các công ty sản xuất, thương mại đến các công ty xây lắp; từ khối doanh nghiệp tư nhân đến các doanh nghiệp nhà nước, các dự án của Chính phủ… Một số doanh nghiệp mà AVA đã cung cấp dịch vụ kiểm toán thường xuyên như: Các đơn vị thuộc Tập đoàn công nghiệp Cao su; các đơn vị thành viên thuộc tổng công ty Hóa chất; công ty Vinaconex, công ty cổ phần Licogi
16, công ty xây lắp 11, công ty IQLink, công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà đất Cotec… Một số dự án như Dự án xây dựng nhà máy Thủy điện Cửa Đạt của tổng công ty Vinaconex với mức đầu tư 180 tỷ VNĐ… Với những gì đã đạt được, năm 2010 hứa hẹn là một năm phát triển đối với AVA, với nhiều dự án mới, các khách hàng mới và mở rộng thị trường hơn nữa
3.2 Kết quả nghiên cứu
3.2.1 Tổ chức kiểm toán tại công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán (AVA)
Khi tiến hành cuộc kiểm toán, các KTV phải xem xét nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực có liên quan tới đơn vị sẽ được kiểm toán Ở mỗi đơn vị khác nhau sẽ khác nhau ở các phương thức ghi sổ, cách thức quản lý chứng từ, và cách nhìn nhận nghiệp vụ kế toán Điều này đòi hỏi các KTV phải hiểu được một cách sâu sắc về đơn vị mà mình sẽ kiểm toán Để thực hiện một cuộc kiểm toán, AVA đã thiết kế một quy trình kiểm toán cụ thể, đảm bảo tôn trọng pháp luật và Các chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam đồng thời phù hợp với đặc điểm nhân sự của công ty Quy trình kiểm toán chung của AVA bao gồm ba giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; kết thúc kiểm toán và phát
Trang 36hành báo cáo kiểm toán.
* Lập kế hoạch kiểm toán
Kế hoạch kiểm toán (KHKT) được lập trong mọi cuộc kiểm toán KHKT phải đáp ứng được điều kiện của cả công ty kiểm toán và đơn vị được kiểm toán Khi thực hiện bước công việc này, người lập cần chú ý những vấn đề liên quan như: đặc điểm của đơn vị sẽ được kiểm toán, nhân sự sẽ tham gia kiểm toán, cũng như rủi ro kiểm toán có thể xảy ra, ngoài ra còn các vấn đề về không gian, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán
Tại AVA, KHKT được lập cụ thể và chi tiết theo từng cuộc kiểm toán, căn cứ và loại hình doanh nghiệp của đơn vị được kiểm toán Theo đó, việc tìm hiểu khách hàng trước khi lên chương trình kiểm toán (CTKT) có vai trò quan trọng trong lập KHKT Việc tìm hiểu khách hàng bao gồm các thông tin cơ bản
về khách hàng như: Loại hình doanh nghiệp của khách hàng, ngành nghề mà khách hàng đang tham gia kinh doanh, Chế độ kế toán mà doanh nghiệp khách hàng đang áp dụng, các quy chế cơ bản của doanh nghiệp này, doanh nghiệp này
đã được kiểm toán kỳ trước chưa, năng lực quản lý của Ban giám đốc công ty,
hệ thống kiểm soát nội bộ… Ngoài ra, KHKT còn được lập căn cứ trên việc tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá mức độ rủi ro, trọng yếu KHKT được lập có nội dung đầy đủ, cụ thể; xây dựng lịch trình và phạm vi kiểm toán để các KTV và trợ lý kiểm toán thực hiện đồng thời bố trí nhân sự cho cuộc kiểm toán một cách phù hợp nhất Bước quan trọng trong quá trình lập KHKT là thiết lập CTKT phù hợp đối với khách hàng CTKT tại AVA bao gồm các nội dung và các thủ tục kiểm toán cần thiết cho từng khoản mục trên Bảng cân đối kế toán CTKT toán được xây dựng cho từng cuộc kiểm toán, trong đó quy định thời gian cụ thể cho từng thủ tục, từng thử nghiệm kiểm soát
và các thử nghiệm cơ bản phải thực hiện
* Thực hiện kiểm toán
Trang 37Sau khi hoàn thành kế hoạch kiểm toán, AVA sẽ gửi một bản Kế hoạch làm việc cho khách hàng và các yêu cầu cần chuẩn bị trước, hai bên thống nhất thời gian và bắt đầu cuộc kiểm toán Trong quá trình kiểm toán, các trợ lý và các KTV phải tuyệt đối tuân thủ các thủ tục đã xây dựng trong CTKT ban đầu Tuy nhiên, các trưởng nhóm có quyền quyết định thay đổi các bước và các yêu cầu trong CTKT đó nếu thấy cần thiết.
Thời gian thực hiện kiểm toán thường bắt đầu ngay sau khi có thông báo từ phía công ty, khi hoàn thành cuộc kiểm toán, AVA phát hành Báo cáo kiểm toán khi thống nhất kết quả giữa hai bên Việc thống nhất kết quả kiểm toán được thục hiện bằng quá trình xây dựng biên bản cho cuộc kiểm toán đó, tổng hợp các công việc mà nhóm kiểm toán thực hiện được trong thời gian diễn ra cuộc kiểm toán Nội dung của biên bản kiểm toán gồm có các nhận xét, đánh giá của KTV
về các tính trung thực và hợp lý của từng khoản mục trên BCTC của doanh nghiệp, những sai phạm được phát hiện và các đề nghị các bút toán điều chỉnh KTV sẽ căn cứ vào những kết quả mà hai bên thống nhất trên biên bản kiểm toán để phát hành Báo cáo kiểm toán Biên bản kiểm toán được lưu trong hồ sơ kiểm toán của cuộc kiểm toán đó
* Kết thúc kiểm toán
Kết thúc kiểm toán là giai đoạn mà KTV phải đưa ra kết luận kiểm toán, sản phẩm của quá trình kiểm toán chính là Báo cáo kiểm toán Sau khi tổng hợp các công việc đã thực hiện được theo CTKT, KTV sẽ đưa ra kết luận kiểm toán theo 4 loại ý kiến, ngoại trừ các yếu tố ảnh hưởng đến kết luận kiểm toán Một
bộ Báo cáo kiểm toán của AVA phát hành sau khi kết thúc kiểm toán thường bao gồm các phần sau:
Báo cáo kiểm toán: Báo cáo kiểm toán về BCTC cho năm tài chính được
kiểm toán của đơn vị được kiểm toán Báo cáo kiểm toán cần nêu rõ ý kiến của KTV về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động của đơn vị trong năm tài chính được kiểm toán Báo cáo này trước khi phát hành phải có sự soát xét
Trang 38của trưởng nhóm kiểm toán, KTV chịu trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán và giám đốc của AVA Báo cáo kiểm toán đủ điều kiện phát hành cần có đủ chữ ký của KTV, chữ ký và đóng dấu của giám đốc công ty.
Thư quản lý: Thư quản lý mang tính chất chung là tư vấn cho đơn vị những
vấn đề mà cuộc kiểm toán phát hiện ra và KTV cần lưu ý cho đơn vị nhằm giúp đơn vị hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán và công tác quản lý tài chính
Hồ sơ kiểm toán: Hồ sơ kiểm toán hiểu một cách khái quát nhất chính là
những tài liệu thu thập được trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán đó và làm
cơ sở cho KTV xây dựng các kết luận kiểm toán Hồ sơ kiểm toán được lưu tại công ty kiểm toán sẽ hỗ trợ rất nhiều cho việc lập kế hoạch của những năm kiểm toán tiếp theo và hỗ trợ cho việc kiểm tra soát xét, đánh giá chất lượng công việc kiểm toán và xử lý các vấn đề phát sinh sau khi cuộc kiểm toán kết thúc Hồ sơ kiểm toán được lưu tại công ty kiểm toán gồm hai loại: Hồ sơ kiểm toán chung và
hồ sơ kiểm toán năm Hồ sơ kiểm toán chung là hồ sơ lưu những thông tin chung nhất về một khách hàng kiểm toán mà công ty thực hiện kiểm toán như giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; những văn bản pháp luật liên quan đến ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, biên bản họp đại hội cổ đông Hồ sơ kiểm toán năm lưu những thông tin liên quan đến năm tài chính được kiểm toán
Quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán: Các KTV và công ty kiểm toán khi đưa ra những kết luận kiểm toán căn cứ trên những bằng chứng kiểm toán thu thập được sẽ phải chịu trách nhiệm về sự đúng đắn của các kết luận đó Do
đó, công ty kiểm toán cần có những quy định cụ thể đối với các chính sách kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán và những thủ tục kiểm soát đối với từng cuộc kiểm toán cụ thể
Đối với AVA, kiểm soát chất lượng kiểm toán được thực hiện trong các cuộc kiểm toán Các hợp đồng kiểm toán được ký kết và thực hiện phải đảm bảo năng lực thực hiện của công ty Nói chung, kiểm soát chất lượng kiểm toán được thực hiện qua các công việc sau:
Trang 39Một là, khi thực hiện lập KHKT và thành lập nhóm kiểm toán, các KTV
tiến hành lựa chọn và phân công công việc sao cho phù hợp với năng lực của từng thành viên Các trợ lý tuyệt đối tuân thủ theo các bước công việc trong CTKT và phân công của các trưởng nhóm kiểm toán
Hai là, trước khi thực hiện cuộc kiểm toán, KTV sẽ hướng dẫn các trợ lý
trong đoàn kiểm toán những vấn đề liên quan đến khách hàng kiểm toán, yêu cầu các trợ lý tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu, văn bản liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và ngành nghề của khách hàng
Ba là, các bước công việc kiểm toán được giao cho trợ lý kiểm toán thực
hiện nhưng các KTV và các trưởng nhóm kiểm toán vẫn phải đảm bảo kiểm soát được công việc của các trợ lý thực hiện Các khoản mục được giao cho một trợ
lý kiểm toán nên là những khoản mục có mối quan hệ với nhau, thường là những khoản mục cùng thuộc một chu trình để việc tham chiếu các nghi vấn và sai phạm giữa các khoản mục dễ dàng hơn
Bốn là, kết thúc các cuộc kiểm toán, các hồ sơ kiểm toán thu thập được đều
phải trải qua các cấp soát xét, kiểm tra của KTV và các cấp quản lý cao hơn trước khi KTV xây dựng kết luận kiểm toán và phát hành báo cáo, người soát xét thường làm giám đốc công ty Trước khi phát hành, Báo cáo kiểm toán phải trải qua ba cấp soát xét là người lập báo cáo, KTV ký báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm về Báo cáo kiểm toán và giám đốc công ty kiểm toán
Nhìn chung, tại AVA công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán chỉ được thực hiện ở các bước đơn giản nhất nhưng chưa hình thành một quy trình riêng
và khoa học về kiểm soát chất lượng kiểm toán Mặt khác, công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán rất quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro kiểm toán và nâng cao uy tín cho công ty kiểm toán Quy trình này cần được công ty kiểm toán xây dựng một cách cụ thể, chi tiết và có hiệu quả đối với đặc điểm kinh doanh riêng của từng công ty kiểm toán
* Chương trình kiểm toán khoản mục DT của AVA
Trang 40Hơn 3 năm hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán – tài chính, AVA đã xây dựng cho mình một CTKT chung áp dụng cho các cuộc kiểm toán CTKT này bao gồm các bước công việc cần thực hiện cho tất cả các khoản mục trên Báo cáo tài chính Trong đó, CTKT khoản mục DT bao gồm:
3.2.2 Thực tế kiểm toán khoản mục DT trong kiểm toán BCTC tại AVA
Hơn 3 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán, tài chính, AVA đã tạo cho mình một thương hiệu, một chỗ đứng trên thị trường tài chính của cả nước Khách hàng của AVA rất đa dạng về cả loại hình doanh nghiệp cũng như quy mô kinh doanh, khách hàng truyền thống hay khách hàng mới Vì vậy, đối với mỗi cuộc kiểm toán, việc tìm hiểu thông tin về khách hàng là bước công việc không thể thiếu, KTV không những phải tìm hiểu đặc điểm kinh doanh chung của khách hàng mà còn phải tìm hiểu cả những thay đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng tại niên độ kế toán được kiểm toán so với các năm trước đó
3.2.2.1 Lập kế hoạch kiểm toán
Cũng như bất kỳ các công ty kiểm toán khác, lập KHKT là giai đoạn bắt buộc không thể bỏ qua trong mọi cuộc kiểm toán mà AVA thực hiện Lập KHKT hỗ trợ các KTV trong việc thực hiện kiểm toán, nhằm giảm thiểu chi phí kiểm toán nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả cũng như chất lượng của công tác kiểm toán Việc lập kế hoạch trong kiểm toán khoản mục DT do công ty AVA thực hiện được tiến hành qua các bước sau đây: