Nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza incertulas Walker và thử nghiệm bẫy pheromone trong công tác dự tính dự báo tại Hải Phòng vụ mùa 2010 PHẦN I: MỞ ĐẦU ..............................................................................................11.1 . Đặt vấn đề......................................................................................................11.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài. .....................................................................21.2.1. Mục đích của đề tài. ....................................................................................21.2.2 Yêu cầu của đề tài. .......................................................................................3PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU.......................................42.1 Nghiên cứu ngoài nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm.............................42.1.1 Nghiên cứa về thành phần sâu đục thân lúa .................................................42.1.2. Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm. ......................................................52.1.3. Nghiên cứu phạm vi ký chủ của sâu đục thân lúa hai chấm ......................52.1.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân lúa 2 chấm ............52.1.5. Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa .................................92.2 Nghiên cứu trong nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm ...........................122.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu đục thân lúa...............................................122.2.2. Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm .....................................................122.2.3 Mức độ gây hại của sâu đục thân lúa. ........................................................132.2.4. Nghiên cứu về đặc điêm sinh vật học sâu đục thân lúa 2 chấm ................132.2.5. Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa ...............................16PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................193.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu...............................................193.1.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................193.1.2. Địa điể nghiên cứu ....................................................................................193.1.3. Thời gian nghiên cứu.................................................................................193.2. Nội dung nghiên cứu. ...................................................................................193.3 Phương pháp nghiên cứu...............................................................................203.3.1. Phương pháp điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm.........20
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Nghiên cứu ngoài nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm 4
2.1.1 Nghiên cứa về thành phần sâu đục thân lúa 4
2.1.2 Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm 5
2.1.3 Nghiên cứu phạm vi ký chủ của sâu đục thân lúa hai chấm 5
2.1.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân lúa 2 chấm 5
2.1.5 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa 9
2.2 Nghiên cứu trong nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm 12
2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu đục thân lúa 12
2.2.2 Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm 12
2.2.3 Mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 13
2.2.4 Nghiên cứu về đặc điêm sinh vật học sâu đục thân lúa 2 chấm 13
2.2.5 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa 16
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
3.1.2 Địa điể nghiên cứu 19
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 19
3.2 Nội dung nghiên cứu 19
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Phương pháp điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm 20
Trang 23.3.2 Phương pháp đặt mồi bẫy pheromone 20
3.3.2.1 Đặt bẫy pheromone với sâu đục thân lứa 4 21
3.3.2.2 Đặt bẫy pheromone với sâu đục thân lứa 5 21
3.3.3 Phương pháp sử lý số liệu: 23
3.3.4 Sử lý số liệu: 23
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Thành phần loài sâu đục thân trên lúa ở Tân Viên, An Lão, Hải phòng 24
4.2 Diễn biến mật độ sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 25
4.3 Điều tra thời điểm phát dục sâu đục thân lúa 2 chấm lứa 4 và lứa 5 34
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1.Kết luận 41
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần sâu đục thân lúa vụ mùa 2010 tại xã Tân Viên, An Lão,Hải Phòng 25
Bảng 4.2 Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống
BC-15 vụ mùa trung chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 27
Bảng 4.3 Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống
BC-15 vụ mùa muộn chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 28
Bảng 4.4: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống Xi
23 vụ mùa sớm chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 30
Bảng 4.5: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống Xi
23 vụ mùa chính vụ chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng: 31
Bảng 4.6: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống
Khang dân 18 vụ mùa sớm tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 33
Bảng 4.7: Diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống
Khang dân 18 vụ mùa muộn tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 34
Bảng 4.8: Số lượng và tỷ lệ các pha phát dục sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza incertulas lứa 4 và lứa 5 tại Huyện An Lão, Hải Phòng 36 Bảng 4.9: kết quả trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza incertulas vào bẫy pheromone lứa 4 37
Bảng 4.10: Kết quả trung bình trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm vàobẫy pheromone của Nhật Bản và của Đài Loan 40Bảng 4.11: Kết quả điều tra các điểm nằm giữa và nằm ngoài khu vực đặt bẫypheromone 40
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: hình ảnh các điểm điều tra sau khi đặt bẫy pheromone 20
Hình 3.2: Lọ nhựa chứa mồi pheromone 21
Hình 3.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm đặt bẫy pheromone trong lứa 4 22
Hình 3.4: Pheromone của Đài Loan bên trái pheromone của Nhật bên phải 22
Hình 3.5: sơ đồ bố trí thí nghiệm đặt bẫy theo độ cao cách mặt lúa 22
Hình 3.6: sơ đồ bố trí thí nghiệm đặt mồi pheromone theo thời gian lấy mồi khác nhau 23
Hình 4.1: Hình ảnh về 2 loài sâu đục thân lúa 26
Hình 4.2: So sánh diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống BC-15 vụ mùa trung và vụ mùa muộn chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 29
Hình 4.3: So sánh diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống Xi 23 vụ mùa trà sớm và trà chính vụ vụ chân đất vàn thấp tại xã Tân Viên, An Lão, Hải Phòng 32
Hình 4.4: So sánh diễn biến sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trên giống Khang dân 18 vụ mùa trà sớm và trà muộn tại xã Tân Viên, 35
An Lão, Hải Phòng 35
Hình 4.5: hình ảnh các cô chú ở Chi cục BVTV Hải phòng làm dự tính dự báo ơha phat dục sâu đục thân lúa 2 chấm 37
Hình 4.6: Hình ảnh trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm vào bẫy 38
Hình 4.7 Hình ảnh so sánh kết quả trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm vào các mồi bẫy pheromone và bẫy đèn 39
Hình 4.8: Biểu đồ mức độ hại của sâu đục thân lúa 2 chấm tới khu vực trong và ngoài vùng đặt bẫy pheromone 42
Trang 5PHẦN I
MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đề.
Lúa là 1 trong 3 loài cây lương thực quan trọng nhất thế giới Trên thếgiới, cây lúa được khoảng 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của hơn
2 tỉ người trên thế giới, là sinh kế chủ yếu của nông dân Sản lượng gạo trên thếgiới tăng nhưng không nhanh bằng mức tăng dân số Sản lượng lúa trên thế giớinăm 2008 là 661.811 triệu tấn, có 114 quốc gia trồng lúa, châu Á chiếm 90%,dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế-BộNông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007-2017, các nước sản xuất gạo ở châu
Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, ViệtNam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếmkhoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Tại Việt Nam hiệncó khoảng5,9 triệu ha diện tích trồng lúa, lúa cung cấp bình quân 80% carbonhydrat và40% lượng protein cho khẩu phần ăn người Việt Với việc áp dụng những tiến
bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất, hàng năm sản lượng lúa vẫn khôngngừng tăng cao đã đảm bảo nhu cầu trong nước và xuất khẩu bình quân khoảng4-5 triệu tấn gạo/năm Góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạođứng thứ 2 thế giới
Có nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng cao đã được đưa vào gieotrồng với diện tích lớn ở các tỉnh phía Bắc như Khang dân 18, BT15, Nhị ưu
903, … nhưng hầu hết mức độ nhiễm sâu bệnh thường nặng hơn các giống khác
Trong các loại sâu hại trên đồng ruộng, sâu đục thân hai chấm “Scipophaga
incertulas Walker” là đối tượng gây hại chủ yếu và khá phổ biến tại các địa
phương, chúng vẫn luôn được coi là dịch hại nguy hiểm trên lúa Ngoài đồngruộng, sâu đục thân hai chấm luôn chiếm tỷ lệ trên 57%, các loài sâu như sâu
Trang 6đục thân 5 vạch đầu nâu, 5 vạch đầu đen, trên dưới 10% mỗi loài và cú mèokhoảng 23%.
Hiện tại chưa có giống lúa nào được coi là có tính chống chịu với sâu đụcthân nhưng đã có nhiều phương pháp được sử dụng nhằm ngăn chặn và giảmthiểu tác hại của sâu đục thân hai chấm như: thay đổi cơ cấu mùa vụ, đưa vàosản xuất những giống ngắn ngày, trỗ tập trung, cày lật đất sau khi thu hoạch,ngắt ổ trứng, sử dụng thuốc hoá học…và đã mang lại hiệu quả rõ rệt Trong cácbiện pháp đó, sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ là biện pháp được sử dụngrộng rãi nhất Ngoài những ưu điểm như tác dụng nhanh, hiệu quả cao thì thuốchoá học cũng có nhiều mặt hạn chế như làm giảm tính đa dạng loài của hệ sinhthái đồng ruộng, ảnh hưởng tới sức khoẻ của người lao động, gây ô nhiễm môitrường đất, nước, không khí, dư lượng thuốc trong sản phẩm thu hoạch
Nghiên cứu về quy luật phát sinh phát triển của sâu đục thân lúa hai chấm
và sử dụng Pheromone để phòng trừ chúng là một trong những bước đi để tiếntới tìm ra phương pháp phòng trừ hiệu quả loài sâu này không chỉ ở Hải Phòng
mà còn có thể áp dụng cho nhiều địa phương khác, đồng thời có được nhữngđánh giá thực tế phục vụ cho chiến lược phát triển ứng dụng Pheromone trongphòng trừ sâu hại trên lúa
Vì vậy tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phát sinh gây hại của sâu
đục thân lúa 2 chấm Tryporyza incertulas Walker và thử nghiệm bẫy pheromone trong công tác dự tính dự báo tại Hải Phòng vụ mùa 2010”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài.
Trang 71.2.2 Yêu cầu của đề tài.
Điều tra diễn biến mật độ của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm trên đồngruộng tại Hải Phòng dưới ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái khác nhau : giống,chân đất, trà lúa
Đặt bẫy pheromone trên ruộng tại xã Tân Viên huyện An Lão thành phốHải Phòng
Điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm tại vùng đặt bẫypheromone và ngoài vùng đặt bẫy pheromone
Trang 8PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU2.1 Nghiên cứu ngoài nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm
2.1.1 Nghiên cứa về thành phần sâu đục thân lúa
Trên thế giới đã tìm ra hơn 800 loài sâu hại lúa (Dale, 1994; Kiritani, 1979)[41], [48] Trên cây lúa ở Trung Quốc đã phát hiện được hơn 200 loài sâu hại(Chiu, 1980; Li, 1982) [20], [27] Còn ở các nước trồng lúa Đông Nam Á cókhoảng hơn 100 loài sâu hại lúa đã được phát hiện (Norton et al., 1990; Pathak
et al., 1987) [27], [30]
Dựa vào đặc điểm gây hại trên các bộ phận của cây lúa, tất cả sâu hại lúa
có thể chia thành các nhóm: sâu hại rễ cây lúa, sâu hại thân lúa, sâu hại lá lúa,sâu hại bông và hạt lúa
Theo Pathak (1975) [31] , trên thế giới đã phát hiện được 24 loài sâu đục
thân lúa Trong đó, ở châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon Blez., Chilo zacconius Blez., Maliarpha separatella (Rog.) và Sesamia calamistis (Hamp.).
Ở Châu Mỹ đã ghi nhận được 6 loài sâu đục thân lúa gồm Chilo loftini (Dyar), Chilo plejadellus (Zink.), Diatraea saccharalis (Fabr.), Elasmopalpus lignosellus (Zell.), Rupela albinella (Cramer) và Zeadiatraea lineolata (Walk.) Lúa ở châu Úc
đã phát hiện có 2 loài sâu đục thân gây hại là Niphadoses palleucus Com và Phragmatiphila sp Tại các nước châu Á có số loài sâu đục thân lúa đã phát hiện được nhiều nhất, đạt tới 9 loài Đó là các loài Ancylolomia chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo partellus (Swin.), Chilo polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Niphadoses gilviberbis (Zell.), Tryporyza incertulas (Walk.), Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens (Walk.)
Riêng vùng trồng lúa Đông Nam Á có 7 loài sâu đục thân sau: Ancylolomia chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Tryporyza incertulas (Walk.), Scirpophaga innotata
Trang 9(Walk.), Sesamia inferens (Walk.) (Pathak, 1975; Reissig et al., 1986) [31] [32]
2.1.2 Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm.
Sâu đục thân lúa hai chấm có tên khoa học là Tryporyza incertulas (Walk.) thuộc họ ngài sáng Pyralidae, bộ cánh vảy Lepidoptera Sâu đục thân lúa hai chấm còn có các tên đồng danh là Schoenobius incertulas (Walk.) và Scirpophaga incertulas (Walk.)
Theo OISAT – PAN Germany (2007), sâu đục thân lúa hai chấm chỉ gâyhại duy nhất trên cây lúa và phân bố ở tất cả các nước thuộc khu vực trồng lúaĐông Nam Á, Ấn Độ và Afghanistan
` Đến nay đã ghi nhận sâu đục thân lúa hai chấm có ở các nước nhưAfghanistan, Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Burma, Campuchia, Đài Loan,Indonesia, Lào, Malaysia, Nepal, Nhật Bản, Pakistan, Philippine, SriLanka, TháiLan, Trung Quốc và Việt Nam (Dale, 1994) [21]
2.1.3 Nghiên cứu phạm vi ký chủ của sâu đục thân lúa hai chấm
Sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas trước đây được coi là loài
đơn thực , chuyên tính trên cây lúa Oryza sativa L Nhưng nững nghiên cứu của
Zaheruhhexen và Prakasa Rao cho thấy các loài lúa dại Orya rufipogon, O nivara, O latifolia, O.glaberrima và loài cỏ Leptochloa panicoides là những ký
chủ phụ của sâu được thân lúa hai chấm (dẫn theo Dale, 1994) [21]
2.1.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của sâu đục thân lúa 2 chấm Đặc điểm về hình thái
Trưởng thành loài sâu đục thân lúa 2 chấm có biểu hiện lưỡng hình sinhdục Trưởng thành cái màu vàng, chiều dài thân 10 – 13 mm, chiều dài sải cánh
23 – 28 mm Cánh trước màu vàng sáng trên mỗi cánh có 1 đốm màu đen Phânbụng rộng thon, đốt cuối bụng có túm lông màu vàng để phủ kín ổ trứng sau khi
đẻ Trưởng thành đực có kích thước nhỏ hơn trưởng thành cái Trưởng thànhđực có màu hơi vàng Chấm đen trên giữa cánh trước không rõ ràng (Dale,1994) [21] Mép ngoài cánh trước có 9 chấm nhỏ màu đen [21]
Trang 10Trứng sâu đục thân lúa có hình oval chiều dài 0,6 mm và chiều rộng là 0,4
mm, ban đầu có màu trắng sau chuyển thành màu vàng và khi nở có màu đen.Trứng đẻ thành ổ, dài từ 3,5 – 6 mm, được che phủ bởi lớp lông mịn Sâu nontuổi 1 mới nở có chiều dài 1,5 mm, đầu đen và có màu xanh vàng Sâu non đẫysức dai 25 mm, đầu màu nâu vàng và cơ thể màu trắng hơi vàng Nhộng nằmtrong lớp kén mỏng, khi còn non màu trắng sau khi vũ hóa có màu nâu nhạt,chiều dài nhộng khoảng 11 – 13,5 mm
Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Sâu đục thân lúa 2 chấm là côn trùng thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera Do
đó, vòng đời của nó có 4 pha phát dục là pha trứng, pha sâu non, pha nhộng vàpha trưởng thành
Pha trứng: Trứng của sâu đục thân lúa 2 chấm được đẻ thành ổ ở gần ngọn
lá lúa Thời gian phát dục của pha trứng theo nghiên cứu các tác giả khác nhauthì không giống nhau và biến động từ 5 ngày đến 8 ngày (Dale, 1994; Reissig etal., 1986) [21], [32] Theo Grist et al (1969), thời gian phát dục pha trứng hơidài hơn và là 7 - 10 ngày [22]
Pha sâu non: Tuổi sâu non của sâu đục thân lúa 2 chấm cũng khác nhau.
Theo (Dale, 1994; Reissig et al., 1986) [21], [32 thì sâu non có 5 tuổi Nhưngtheo Pathak (1969), sâu non đục thân lúa 2 chấm có 4 - 7 tuổi Tuổi sâu noncũng phụ thuộc vào điều kiện nuôi Nuôi trong điều kiện 23 - 290C, hầu hết sâunon có 5 tuổi và nuôi trong điều kiện 29 - 350C sâu non chỉ có 4 tuổi Trong điềukiện thức ăn hạn chế và ở các cá thể qua đông thì thường có nhiều tuổi hơn Sâunon tuổi 1 khi mới nở có chiều dài cơ thể khoảng 1,5 mm, thân màu vàng nhạt.Sâu non mới nở có xu hướng phát tán rất mạnh Sâu non tuổi 5 thành thục cóchiều dài cơ thể khoảng 25 mm với màu trắng hơi vàng Thời gian phát dục củapha sâu non kéo dài khoảng từ 30 ngày (Dale, 1994; Reissig et al., 1986) [21],[32] đến 35 - 46 ngày (Grist et al., 1969) [22]
Trang 11Pha nhộng: Nhộng sâu đục thân lúa 2 chấm lúc mới có màu sáng nhạt, sau
đó có màu nâu tối hơn Nhộng làm trong một kén hơi mỏng màu trắng Trướckhi hóa nhộng, sâu non tuổi cuối đã đục một lỗ ở thân cây lúa để cho trưởngthành vũ hóa chui ra Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 - 10 ngày, nếuthời tiết lạnh có thể dài hơn (Dale, 1994; Grist et al., 1969; Reissig et al., 1986)[21], [22], [32]
Pha trưởng thành: Trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm chỉ giao phối 1
lần Đẻ trứng từ đêm thứ 5 kể từ khi vũ hóa, mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng (Pathak,1969) [31]
Như vậy vòng đời của sâu đục thân lúa 2 chấm cần 46 - 54 ngày (Dale,1994; Reissig et al., 1986) [21], [32]
Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái
Kết quả nghiên cứu khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái cũng khônggiống nhau Theo Pathak (1969), một trưởng thành cái sâu đục thân lúa 2 chấm
có thể đẻ được 100 - 200 trứng [31] Dale (1994) cho rằng một trưởng thành cái
đẻ được lượng trứng ít hơn, chỉ là 100 - 150 trứng [21] Reissig et al (1986) chorằng một trưởng thành cái đẻ được 200 - 300 trứng [32]
Tuổi thọ của trưởng thành
Theo Grist et al (1969), trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm sống được 4
- 5 ngày [22] Theo Dale (1994), trưởng thành đực và trưởng thành cái loài sâuđục thân lúa 2 chấm có tuổi thọ không giống nhau Trưởng thành đực của loàisâu đục thân lúa 2 chấm thường có tuổi thọ (4,5 - 8,6 ngày) ngắn hơn tuổi thọcủa trưởng thành cái (5,3 - 8,8 ngày) [21]
Qua đông của sâu đục thân lúa 2 chấm
Theo Dale (1994), khi không có lúa trên đồng ruộng và nhiệt độ không thuận lợicho sự phát triển của sâu non thì sâu non tuổi cuối rơi vào trạng thái đình dục ở tronggốc rạ [21] Hiện tượng qua đông của sâu non đục thân lúa 2 chấm đã quan sát được ở
Ấn Độ, Đài Loan, Nhật Bản và Trung Quốc (Dale, 1994) [21]
Trang 12Số thế hệ trong một năm của sâu đục thân lúa 2 chấm
Ở các nước lúa được gieo trồng liên tục như Ấn Độ, Malaysia, Sri-Lankathì sâu đục thân lúa phát sinh quanh năm Số thế hệ của sâu đục thân lúa 2 chấmphụ thuộc vào điều kiện sinh thái của từng vùng và thay đổi từ 2 đến 6 thế hệ ởNhật Bản, sâu đục thân lúa 2 chấm có 3 thế hệ trong một năm.Ở Trung Quốc,Đài Loan có 6 thế hệ trong một năm (Dale, 1994) [21]
Tập tính hoạt động của sâu đục thân lúa 2 chấm
Trưởng thành loài sâu đục thân lúa 2 chấm T incertulas ưa hoạt động ban
đêm, thích ánh sáng đèn, đặc biệt là ánh sáng màu vàng Ban ngày chúng đậutrên thân hoặc lá lúa Trưởng thành thường vũ hóa và giao phối vào thời gian 7 -
9 giờ tối Cả trưởng thành đực và trưởng thành cái đều thích hoạt động trongkhoảng thời gian 8 - 10 giờ tối Trưởng thành cái cũng thường đẻ trứng vào banđêm trong khoảng thời gian 7 - 10 giờ tối Trứng được đẻ thành ổ Sâu non mới
nở có xu hướng phát tán ngay, chúng bò lên ngọn cây lúa, sau đó nhả tơ thảmình cho gió đưa sang cây khác Chúng bò vào giữa bẹ lá và thân cây lúa, sống
ở đó khoảng 3 - 7 ngày Sau thời gian này nó mới đục vào thân cây lúa ở nơi gốc
bẹ lá lúa Sâu non lớn dần thì di chuyển xuống phía phần gốc rạ Nhộng sâu đụcthân lúa 2 chấm thường ở trong thân phần gốc cây lúa (Dale, 1994; Mohan et al.,1985; Pathak, 1969) [21], [29], [31]
Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái.
Sự phát triển của sâu đục thân láu 2 chấm phụ thuộc rất nhiều vòa điều kiệnkhí hậu
Trứng sâu đục thân lúa 2 chấm bắt đầu phát triển ở 130C, sâu non nở từtrứng bình thường thấy ở nhiệt độ cao hơn 160C Nhiệt độ tối thuận cho phatrứng phát triển là 24 - 290C Thời gian phát dục của pha trứng sẽ giảm khi nhiệt
độ tăng đến 300C và sẽ kéo dài hơn nếu nhiệt độ tăng lên hơn 300C ở nhiệt độ
350C sự phát triển của trứng có thể hoàn thành, nhưng sâu non chết trong trứng
ẩm độ cần để trứng phát triển là 90 - 100% Tỷ lệ trứng nở sẽ giảm mạnh nếu ẩm
Trang 13độ chỉ ở khoảng dưới 70% (Dale, 1994; Pathak, 1969) [21], [31].
Ngưỡng nhiệt độ của sâu non đục thân lúa 2 chấm là 160C Khi nuôi ở nhiệt
độ 120C, sâu non tuổi 2, tuổi 3 không lột xác và chết Tỷ lệ phát triển của sâunon rõ ràng tỷ lệ thuận với nhiệt độ từ 17 - 350C Nuôi ở nhiệt độ thấp (23 -
290C) hầu hết sâu non đục thân lúa 2 chấm có 5 tuổi, nuôi ở nhiệt độ cao hơn(29 - 350C) sâu non đục thân lúa 2 chấm phát dục nhanh hơn và chỉ có 4 tuổi(Pathak, 1969) [31]
Pha nhộng sâu đục thân lúa 2 chấm có ngưỡng nhiệt độ phát triển là 15
-160C (Pathak, 1969) [31]
2.1.5 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa
Biện pháp canh tác.
Điều khiển lớp nước ruộng lúa: Tháo nước ruộng lúa khô 1 - 2 ngày sẽ làm
giảm số lượng của sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza incertulas (Litsinger, 1994;
Oka, 1979) [28], [30] Làm ngập nước ruộng lúa để diệt nhộng trong gốc rạ
Bón phân: Việc bón phân cần thực hiện đúng thời gian và lượng phân đembón, đặc biệt là phân đạm Bón phân chứa silica, kali sẽ làm tăng tính chống chịusâu đục thân của cây lúa (Dale, 1994; Litsinger, 1994) [21] [28]
Việc điều chỉnh thời gian gieo cấy đồng loạt, đúng thời vụ, khi thu hoạchlúa phải cắt sát gốc rạ, cày lật gốc rạ, tieu hủy lúa chét và thu ngắt ổ trứng trênđồng ruộng đều đạt hiệu quả
Biện pháp sinh học.
Việc nhập nội một số ký sinh để trừ sâu hại lúa được tiến hành ở Ấn Độ,
Hawaii, Malaysia, Philippine, Nhật Bản Ong đen mắt đỏ Trichogramma japonicum được nhập nội về Philippine để trừ sâu đục thân lúa hai chấm T incertulas và về Ấn Độ để trừ sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilo auricilius Ở Đảo Andama (Ấn Độ) đã nghiên cứu dùng ong mắt đỏ Trichogramma sp để trừ sâu đục thân lúa hai chấm T incertulas cho kết quả tốt Thiệt hại do sâu đục
thân lúa hai chấm giảm còn 1,6% ở nơi dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối
Trang 14chứng tỷ lệ này đạt cao hơn và là 10,3%
Biện pháp sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được nghiên cứu nhiều
ở Trung Quốc và Ấn Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân Tại Karnataka
(Ấn Độ) đã nghiên cứu thả ong mắt đỏ màu đen Trichogramma japonicum định
kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân lúa hai chấm
Việc nhân nuôi lượng lớn thiên địch bản xứ thả bổ sung vào sinh quần đểtrừ sâu đục thân lúa được bắt đầu từ những năm 30 (thế kỷ XX) tại Malaysia Đó
là trường hợp nhân ong mắt đỏ màu đen Trichogramma japonicum để trừ sâu đục thân đầu đen Chilo polychrysus, nhưng đã không thành công ở Đảo Andama (Ấn Độ) đã nghiên cứu dùng ong mắt đỏ Trichogramma sp để trừ sâu đục thân lúa 2 chấm T incertulas cho kết quả tốt Thiệt hại do sâu đục thân lúa 2 chấm T incertulas giảm còn 1,6% ở nơi dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối
chứng tỷ lệ này đạt cao hơn và là 10,3% ở Iran đã sử dụng ong mắt đỏ loài
Trichogramma maidis thả hàng loạt để trừ sâu đục thân 5 vạch đầu nâu C suppressalis Trứng sâu đục thân 5 vạch đầu nâu C suppressalis bị ký sinh với
tỷ lệ khá cao và đạt 60-85% (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2002) [8]
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu sử dụng vi khuẩn Bacillus thusingiensis (Bt) để trừ sâu đục thân lúa Virus NPV cũng đã được nghiên cứu
sử dụng để trừ sâu đục thân bướm cú mèo Sesamia inferens (Chiu, 1980;
Rombach et al., 1994) [20], [33]
Biện pháp hóa học
Heinrichs và CTV (1981) khuyến cáo cần dựa vào kết quả theo dõi bẫy đèn
mà xác định thời điểm tốt nhất để phun thuốc trừ một số sâu hại lúa, trong đó có
sâu đục thân lúa 2 chấm T incertulas Kumar (1995) và Yu (1980) đã khuyến
cáo thời điểm phun thuốc đúng để trừ sâu đục thân lúa 2 chấm là 1-2 ngày trướcđỉnh cao sâu non nở rộ [25]
Sử dụng các hoạt chất Carbofuran, Isazofos, Diazinon, lượng 1,00 kg ai/ha,
có thể phun Monocrotophos, Chlopyriphos và Quinalphos lượng 0.5 kg ai/ha
Trang 15Chọn đúng dạng thuốc để trừ sâu đục thân không chỉ cho hiệu lực cao mà cònhạn chế những ảnh hưởng xấu tới thiên địch Phun thuốc nước để trừ sâu đục thânthường cho hiệu quả cao hơn phun thuốc bột Dùng thuốc viên rắc để trừ sâu đục thânlúa tốt hơn so với phun thuốc nước và thuốc bột (Chiu, 1980;) [20]
Sử dụng giống kháng.
Đây là biện pháp dễ sử dụng hơn cả nhất là đối với nông dân vùng nhiệtđới châu Á có diện tích canh tác không lớn và tiềm năng kinh tế có hạn(Heinrichs et al., 1981) [23] Các quốc gia lớn trồng lúa trên thế giới bắt đầu thuthập bảo quản nguồn gen cây lúa từ năm 1930, Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế(IRRI) bắt đầu công việc này từ năm 1961 Tuy nhiên, những nghiên cứu lai tạogiống lúa kháng sâu hại ở trên thế giới mới chỉ bắt đầu từ đầu thập niên 60 thế
kỷ XX Đến giữa thập niên 90 thế kỷ XX, đã nghiên cứu được phương pháptuyển chọn giống lúa chống chịu đối với hơn 30 loài sâu hại (Heinrichs, 1994b)[25]
Ở Ấn Độ bắt đầu lai tạo giống lúa kháng sâu đục thân lúa 2 chấm từ năm
1964 bằng việc lai các giống mang gen kháng sâu đục thân (TKM6, CB1 vàCB2) với các giống mới năng suất cao và giống địa phương Kết quả không códòng lai nào có tính kháng cao đối với sâu đục thân (Heinrichs, 1994) [23]
Biện pháp bẫy pheromone.
Pheromone là chất hoá học được trưởng thành cái tiết ra để thu hút trưởngthành đực đến giao phối Chất Pheromone được sử dụng khá rộng rãi trên thếgiới với 2 mục đích là: dự tính, dự báo loài côn trùng hại và phòng, chống dịchhại bằng cách “gây nhiễu” làm cho con đực không định hướng được con cái dẫnđến con cái không được thụ tinh, giảm mật độ thế hệ sau
Việc sử dụng Pheromone đạt kết quả tốt trong phòng, chống sâu hại bông ở
Ai Cập và Mỹ, sâu hại cà chua ở Mỹ, sâu hại lúa ở Tây Ban Nha, ấn Độ, sâu hạiđào ở úc và Bắc Mỹ, sâu hại nho ở Châu Âu, sâu hại rau ở Mỹ, Trung Quốc…Đầu năm 2009, tổ chức PCI (Ấn Độ) và Exosect (Anh) đã tổ chức một cuộc
Trang 16hội thảo tai Habita Delhi - Ấn Độ giới thiệu sản mới “ Exosect YSBTab” chấtdẫn dụ giới tính để phòng chống sâu đục thân lúa hai chấm.
Việc sử dụng Pheromone trong phòng trừ sâu đục thân lúa 2 chấm vừa đôngiản, dễ làm, an toàn với môi trường và tiết kiệm chi phí sản xuất, mang lợi ích chongười nông dân
2.2 Nghiên cứu trong nước về sâu đục thân lúa bướm 2 chấm
2.2.1 Nghiên cứu về thành phần sâu đục thân lúa.
Theo tài liệu, kết quả điều tra thì ở Việt Nam đến nay trên cây lúa đã ghinhận được 8 loài sâu đục thân lúa, các tỉnh phía Bắc có 4 loài và ở các tỉnh phíaNam 7 loài Chúng thuộc họ Pyralidae (7 loài) và Noctuidae (1 loài) của bộ cánh
vảy (Lepidoptera) Đó là các loài Ancylolomia chrysographella Koll., sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilotraea polychrysus (Meyr.), sâu đục thân 5 vạch đầu nâu Chilo suppressalis (Walk.), sâu đục thân 5 vạch Chilo sp., sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilotraea auricilia Dudg., sâu đục thân lúa 2 chấm Tryporyza incertulas (Walk.), sâu đục thân lúa bướm trắng Scripophaga innotata (Walk.)
và sâu đục thân bướm cú mèo Sesamia inferens (Walk.) (Viện Bảo vệ thực vật,
1976, 1999) [18], [19]
Sâu đục thân 5 chiếm ưu thế về tỷ lệ số lượng cá thể 70 – 90 % (1954 –1958), và giảm dần vào những năm sau này, 41,5 % (1960) và 31,3 % (1970).Những kết quả nghiên cứu bổ sung về sâu đục thân của Bộ môn Côn trùng(Viện Bảo vệ thực vật) từ những năm 1980 đến nay cho thấy tỷ lệ số lượn cá thểsâu đục thân lúa hai chấm đã chiếm ưu thế tuyệt đối từ 63,6% đến 98,5% (1985),98,8% (1985), 98,9 (1992) Ngược lại, tỷ lệ số lượng cá thể sâu đục thân lúanăm vạch và đục thân cú mèo giảm đi đáng kể
Theo Nguyễn Công Thuật (1995), sâu đục thân lúa 2 chấm là 1 trongnhững loài sâu hại chủ yếu trên lúa: sâu đục thân cú mèo và sâu đục thân 5 vạch
là sâu hại thứ yếu
Trang 172.2.2 Phân bố của sâu đục thân lúa hai chấm
Sâu đục thân lúa hai chấm đã được ghi nhận có mặt ở 44 tỉnh trong cả nước,
từ miền núi đến đồng bằng đến các tỉnh ven biển (Phạm Văn Lầm, 2000) [9]
2.2.3 Mức độ gây hại của sâu đục thân lúa.
Khả năng gây dảnh héo và bông bạc của sâu non từ 1 ổ trứng : 12 dảnh hạihoặc 4,2 dảnh héo khi lúa đẻ nhánh: 9,2 bông bị hại hay 3,1 bông bạc/m2 khi mật
độ ổ trứng thấp hơn 5 ổ/m2 Cây lúa có khả năng phục hồi khi bị hại 15,9 – 17,6%trong giai đoạn đẻ nhánh
Trong các vụ lúa (chiêm xuân, hè thu, mùa) sâu đục thân lúa 2 chấm phá hạinặng trên lúa hè thu, lúa mùa hơn lúa chiêm xuân Trong mỗi vụ tỷ lệ hại giữa thời
vụ sớm, đại trà và muộn có sự khác nhau
Theo Nguyễn Đức Khiêm, từ năm 1961 trở về trước, tác hại của sâu đục thânlúa nói chung và sâu đục thân 2 chấm nói riêng có thể gây thiệt hại biến động từ 3 –20%, có nơi, có vụ thi thiệt hại cao hơn
Vụ mùa năm 1988 sâu đục thân lúa phát sinh mạnh ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng Tại tỉnh Thái Bình có 34.889 ha lúa bị bông bạc với tỷ lệ 22,7% và 5.332 ha bị bông bạc với tỷ lệ 39,3% (Chi cục BVTV Thái Bình, 1989) [4] Tại Hải Phòng, sâu đục thân lúa đã gây tỷ lệ bông bạc trung bình toàn tỉnh là 13,6%;nơi cao là 28,4%; cá biệt tỷ lệ này đạt tới 48,2 - 56,8% Vụ mùa năm 2002, tại Hải Phòng bị sâu đục thân lúa 2 chấm gây hại trên diện tích 29.000 ha Toàn bộ diện tích được phun thuốc, trong đó có 16.400 ha đã phải phun thuốc 2 lần Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 479,8 ha bị bông bạc với tỷ lệ 10 -50% (Chi cục BVTV Hải Phòng, 1989, 2003) [2], [3]
2.2.4 Nghiên cứu về đặc điêm sinh vật học sâu đục thân lúa 2 chấm
Thời gian phát dục các pha và vòng đời
Những nghiên cứu chi tiết về thời gian phát dục từng pha của sâu đục thân
2 chấm ở nước ta không nhiều Một số nghiên cứu được tiến hành năm 1955
-1956 ở Viện Khảo cứu Nông Lâm và vào thập niên 70 thế kỷ XX ở khoa Sinh
Trang 18đại học Tổng hợp Hà Nội Các thí nghiệm nuôi sinh học sâu đục thân lúa 2 chấmđược thực hiện trong nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau, biến động từ 15,80Cđến 280C và ẩm độ là 75 -80% Vì vậy kết quả thu được rất biến động.
Pha trứng: Thời gian phát dục của pha trứng, tuỳ theo điều kiện nhiệt độ
khi thí nghiệm, biến động từ 6,2 - 20,4 ngày ( Phạm Bình Quyền, 1976) [13]
Pha sâu non: Sâu non có 5 tuổi Thời gian phát dục của pha sâu non từ 27,5
ngày đến 73,5 ngày ( Phạm Bình Quyền, 1976) , [13]
Pha nhộng: Thời gian phát dục của pha nhộng từ 6,6 ngày đến 27 ngày (Vũ
Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (2008) [32], sâu đục thân lúahai chấm có thời gian phát triển như sau: pha trứng 6 – 7 ngày (29,2oC), 9 – 10ngày (25 – 26oC), và 13 – 14 ngày (21,3oC); pha sâu non 25 – 35 ngày (23 – 29 oC),
21 ngày ( 29 – 35oC); pha nhộng 8 – 11 ngày
Khả năng đẻ trứng của trưởng thành cái
.Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ từ 1-5 ổ trứng Những theo dõi ở TrạmBVTV vùng đồng bằng Bắc Bộ cho thấy số quả trứng trung bình trong một ổgiao động từ 43,0 - 108,4 trứng (Hồ Khắc Tín, 1982) [15] Theo Đường HồngDật (2006), mỗi ổ trứng có trung bình từ 100 – 150 quả trứng
Tuổi thọ của trưởng thành
Trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm có thể sống đẻ trứng được 2-6 ngày(Hồ Khắc Tín, 1982) [15]
Trang 19Qua đông của sâu đục thân lúa 2 chấm
Sâu đục thân lúa qua đông là nguồn sâu gây thiêt hại trong vụ xuân và vụmùa năm sau Khi nhiệt đo tháng 12 xuống dưới 15oC, sâu non đẫy sức nằm imtrong gốc rạ, qua đông tại đó Nguồn sâu tồn tại trong gốc rạ là chủ yếu (88,1%),trên rạ chỉ có 11,7% ( Viện Bảo vệ thực vật, 2008) [34] Sâu đục thân lúa quađông, kéo dài thời gian phát dục đến cuối tháng 2 - đầu tháng 3 năm sau mới hóanhộng và vũ hóa trưởng thành (Vũ Đình Ninh, 1974; Phạm Bình Quyền, 1976;)
[19], [13] Sâu non hóa nhộng ở gốc thân lúa dưới mặt đất 1 – 2 cm Trước khi
hóa nhộng, sâu non đục sẵn một lỗ ở thân lúa để trưởng thành vũa hóa chui ra
Độ ẩm tối thiểu để sâu non qua đông là 90%
Số thế hệ trong một năm của sâu đục thân lúa 2 chấm
Sâu đục thân lúa hai chấm một năm thường phát sinh 6 - 7 lứa (NguyễnMạnh Chinh, 1977; Phạm Bình Quyền, 1976; Mai Thọ Trung, 1979; TrươngQuốc Tùng, 1980) [5],[23], [16], [17]
Phạm vi ký chủ
Sâu đục thân lúa hai chấm là loài đơn thực điển hình hại trên cây lúa TheoNguyễn Đức Khiêm (2006), thì chúng còn phá hoại trên 4 loài lúa dại và loài cỏ
Leptochloa panicoides.
Tập tính hoạt động của sâu đục thân lúa 2 chấm
Trưởng thành đục thân lúa 2 chấm vũ hóa và mọi hoạt động thường thấy vềban đêm, ban ngày ẩn nấp trong khóm lúa Trưởng thành cái hoạt động mạnhtrong khoảng thời gian 7 - 8 giờ tối; trưởng thành đực hoạt động mạnh trongkhoảng thời gian từ 11 giờ đêm đến 1 giờ đêm Trưởng thành ưa ánh sáng đèn.Ngay trong đêm vũ hóa chúng có thể giao phối Hoạt động giao phối mạnh nhấtsau 9 giờ tối (Hồ Khắc Tín, 1982) [15]
Trưởng thành cái thích đẻ trứng ở những ruộng xanh non rậm rạp Ban đêm
ở mép lá lúa tiết ra dịch chứa NH4 có khả năng dẫn dụ ngài tới đẻ trứng Ổ trứngthường được đẻ ở mút ngọn lá trong thời kỳ mạ và khoảng gần giữa mặt trên hay
Trang 20dưới lá lúa
Sâu non mới nở gặm phá chất keo và lông phủ trên ổ trứng hoặc đáy ổtrứng rồi chui ra Sâu non mới nở phát tán bằng cách bò lên ngọn lá và nhả tơnhờ gió đưa sang cây lúa khác hoặc bò trực tiếp sang dảnh lúa kề gần (Vũ ĐìnhNinh, 1974; Hồ Khắc Tín, 1982) [12], [15]
Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện sinh thái.
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến thời gian phát dục các pha và thờigian vòng đời của sâu đục thân lúa 2 chấm nói riêng và côn trùng nói chung Khinuôi ở nhiệt độ 280C, thời gian vòng đời của sâu đục thân lúa 2 chấm chỉ là 41,5ngày Khi nhiệt độ phòng nuôi xuống thấp (200C) thì thời gian vòng đời kéo dàitới 115,9 ngày Trong đó, thời gian phát dục các pha trứng, sâu non, nhộng cũnggiao động lớn và tương ứng biến động trong các khoảng 6,2-20,4; 27,5-73,5 và6,6-22,0 ngày (Phạm Bình Quyền, 1976) [14]
Điều kiện thời tiết đầu năm ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh của sâu đụcthân lúa 2 chấm Nếu đầu năm rét muộn kéo dài thì lứa 1 xuất hiện muộn và chỉhoàn thành 6 lứa trong năm Nếu đầu năm ấm áp, lứa 1 xuất hiện ngay từ cuốitháng 2 thì sâu đục thân lúa 2 chấm hoàn thành 7 lứa trong năm (Mai ThọTrung, 1979,) [16]
2.2.5 Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa
Biện pháp canh tác.
Các biện pháp canh tác trừ sâu đục thân lúa đã được tổng kết là: cày lật đấtngay sau thu hoạch để diệt nhộng sâu đục thân trong gốc rạ; luân canh lúa nướcvới cây trồng cạn; gieo cấy thời vụ sớm thích hợp với từng địa phương; dùnggiống ngắn ngày và giống cực sớm trong vụ mùa để tránh sâu đục thân Vùngđồng bằng sông Hồng, lúa đông xuân trỗ bông vào đầu tháng 5, lúa mùa trỗbông vào đầu tháng 9 hầu như không bị sâu đục thân gây hại nặng (Phạm VănLầm, 1999, 2006 [9], [10])
Chế độ làm đất, ngâm nước có ảnh hưởng lớn đến tỉ sống sót của sâu đục
Trang 21thân trong gốc rạ, ruộng ngâm nước tỉ lệ sâu chết tới 69,5%; ruộng cày ải nỏ tỉ lệsâu chết trong gốc rạ tới 63,2% ; ruộng nước không cày tỉ lệ sâu chết 35,6%;ruộng khô không cày tỉ lệ sâu chết là 19,1%; ruộng cày càng sớm tỉ lệ sâu chếtcàng cao 95%; ruộng ngâm rạ ngập nước hoàn toàn sâu chết 100% sau 20 ngày.
Biện pháp cơ giới thủ công
Đã khuyến cáo và áp dụng các biện pháp thủ công như bẫy đèn, thu ổtrứng, cắt dảnh héo do sâu đục thân lúa gây ra để trừ sâu đục thân lúa Vụ mùanăm 1988 tại Kiến Thụy (Hải Phòng) đã dùng 5.056 bẫy đèn thu bắt được hơn0,5 triệu trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm Tại Vĩnh Bảo (Hải Phòng) đã cắtđược 40.000 dảnh lúa héo có sâu non Trong vụ mùa năm 2002, tại Tiên Lãng,Vĩnh Bảo (Hải Phòng) đã tiến hành thu ngắt ổ trứng sâu đục thân lúa 2 chấm lứa 5 Tại Tiền Hải (Thái Bình) dùng bẫy đèn vụ mùa năm 1988 đã thu bắt được2.205 kg trưởng thành sâu đục thân lúa 2 chấm và cắt được 32.000 dảnh lúa héo
có sâu non (Chi cục BVTV Hải Phòng, 1989, 2003; Chi cục BVTV Thái Bình,
1989, Phạm Văn Lầm, 2006) [3] [4] [11]
Biện pháp sinh học
Những nghiên cứu biện pháp sinh học trừ sâu đục thân lúa ở nước ta hầu nhưchưa được quan tâm Năm 1995, Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga đã đánh giá tính
mẫn cảm của sâu đục thân lúa hai chấm T incertulas đối với các chế phẩm từ vi
khuẩn Bt trong phòng thí nghiệm Kết quả cho thấy trong điều kiện phòng thínghiệm, chỉ có 3 trong 15 chế phẩm Bt có hiệu lực đạt 82,3 - 87,5% đối với sâu đụcthân lúa hai chấm Đó là các chế phẩm Bikol, Dipel và Bitoxibacillin
Trang 22Biện pháp sử dụng giống lúa kháng sâu hại
Giống kháng sâu hại được sử dụng rộng rãi và là biện pháp bảo vệ thực vậtrất hiệu quả Lampe (1994) đã nhận định: “Giống kháng là hòn đá tảng để phòngtrừ sâu bệnh có hiệu quả Kết hợp giống kháng với biện pháp sinh học và biệnpháp canh tác là chiến lược phòng trừ sâu bệnh hại lý tưởng đối với những nôngdân nghèo ít vốn” (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2006) [11] Việc nghiên cứu sửdụng giống lúa kháng sâu hại cũng được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi ở ViệtNam Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu và ứng dụng này mới chỉ đối với rầynâu, còn đối với sâu đục thân lúa nói chung và sâu đục thân lúa 2 chấm thì hầunhư còn bỏ ngỏ
Biện pháp bẫy Pheromone
Nghiên cứu sử dụng Pheromone không được chú ý thực tế lịch sử cho thấyviệc sử dụng Pheromone gắn liền với việc sử dụng chất dẫn dụ ruồi hại quả cam,chanh (Methyl Êugenol) từ những năm 1980 Trong vòng 5 năm trở lại đây với
sự phối kết hợp với một số cơ sở nghiên cứu nước ngoài, Viện BVTV đã thànhcông trong việc sử dụng Pheromone để phòng, chống sâu hại rau thể hiện bằng
sự công nhận của Bộ Nông nghiệp & PTNT năm 2004
Biện pháp phòng trừ phổ biến hiện nay vẫn là phun thuốc trừ sâu theo dựtính dự báo 1 tuần sau khi trưởng thành ra rộ Thực tế việc phun thuốc trừ sâu có
1 số nhược điểm như phụ thuộc nhiều vào thời tiết, vào sự sẵn có của công cụnhư bình phun thuốc, ảnh hưởng trực tiếp tới thiên địch… trong khi người dânkhông quan tâm nhiều tới việc rắc 1 số loại thuốc hạt có hiệu quả Rắc thuốc cóthể có 1 số ưu điểm khác mà việc phun thuốc không có được
Do đó biện pháp sử dụng Pheromone ở nồng độ hợp lý làm cho con đực bị
“nhiễu”, không tìm thấy con cái để giao phối ngay cả trong thời kỳ mưa kéo dàiđược coi là giải pháp tích cực và rất an toàn Việc phối hợp sử dụng với thuốcrắc sẽ mang lại hiệu quả kinh tế đối với việc sản xuất lúa nhất là trong những đợtmưa kéo dài
Trang 23Biện pháp hóa học
Thuốc hóa học vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống dịchhại trên lúa Hàng năm các cơ quan nghiên cứu vẫn thường xuyên tiến hànhđánh giá hiệu lực của các thuốc hóa học, nhằm tìm những thuốc hóa học sử dụngtrên lúa sao cho hợp lý Hiện nay, các thuốc hóa học được khuyến cáo dùng trênlúa trừ các sâu đục thân lúa là Regent 800WG, Regent 0,3G, Oncol 5G
Điều quan trọng là xác định đúng thời gian phun thuốc Để trừ sâu đục thânlúa 2 chấm thì phun sau khi bướm rộ và mật độ ổ trứng cao hơn ngưỡng kinh tế thìphải tiến hành phun thuốc hóa học (Nguyễn Trường Thành, 1999)
PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Sâu đục thân hai chấm hại lúa (Scirpophaga incertulas W.)
3.1.2 Địa điể nghiên cứu
Chi cục bảo vệ thực vật Hải Phòng quận Kiến An thành phố Hải Phòng và
xã Tân Viên huyện An Lão thành phố Hải Phòng
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ 1/07/2010 đến 05/10/2010
3.2 Nội dung nghiên cứu.
Điều tra và xác định mức độ gây hại và sự phát sinh gây hại của loài sâu
đục thân lúa 2 chấm Scirpophaga incertulas W ở Hải Phòng.
Đặt bẫy pheromone dẫn dụ trưởng thành đực sâu đục thân lúa 2 chấm tại
xã Tân Viên huyện An Lão thành phố Hải Phòng trong 2 lứa 4 và 5
Điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm tại vùng đặt bẫy vàvùng không đặt bẫy pheromone Điều tra các điểm nằm giữa các điểm đặt mồipheromone, và các điểm cách mồi pheromone 5m, 10m, 20m, 50m
Các điểm điều tra Các điểm đặt bẫy pheromone
Trang 24Hình 3.1: hình ảnh các điểm điều tra sau khi đặt bẫy pheromone
So sánh hiệu quả dẫn dụ của các loại bẫy pheromone và bẫy đèn
Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu đục thân lúa 2 chấm
3.3 Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1 Phương pháp điều tra mức độ gây hại của sâu đục thân lúa 2 chấm
Điều tra 7 ngày/ 1 lần, chọn 10 điểm ngẫu nghiên theo đường chéo củavùng điều tra, mỗi điểm điều tra 1 m2
Chỉ tiêu điều tra:
Đếm số lượng ổ trứng và trưởng thành, chẻ dảnh héo để đếm sâu non (cáctuổi) hoặc nhộng trong điểm điều tra
Đếm số dảnh héo và bông bạc trong điểm điều tra
Chú ý: khi lứa sâu đục thân xuất hiện có thể tăng số lần theo dõi (3 ngày/1lần) để xác định thời điểm đỉnh cao hóa rộ trưởng thành của lứa sâu
3.3.2 Phương pháp đặt mồi bẫy pheromone
Mồi được đặt trong lọ nhựa 2 lít và khoét 5 lỗ có đường khính 2cm, mồiđược treo đúng giữa giao điểm của các tâm lỗ đã khoét
Các điểm điều tra
Trang 25Hình 3.2: Lọ nhựa chứa mồi pheromone
Các mồi pheromone sau khi treo vào các lọ nhựa thì được đưa ra ngoàiruộng cắm cách mặt lúa 20cm ( sẽ thay đổi chiều cao bẫy khi cây lúa cao lên).3.3.2.1 Đặt bẫy pheromone với sâu đục thân lứa 4
Với lứa 4 có 1 loại pheromone của Đài Loan gồm 4 loại mồi A,B,C,D được đặt trên một đường thẳng đặt vuông góc với hướng gió, mồi nọ cách mồi kia 10m đặt liên tục nhắc lại 3 lần theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (hết lần nhắclại này lại đến lần nhắc lại khác, mỗi lần nhắc lại cách nhau 20m
Mồi pheromon
Cột treo
bẫy
Nước xà phòng
Bắc
ĐôngTây
NamBẫy
pheromone
20m10m
Trang 26Hình 3.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm đặt bẫy pheromone trong lứa 4
3.3.2.2 Đặt bẫy pheromone với sâu đục thân lứa 5
Lứa 5 có 2 loại pheromone của Đài loan có 3 loại mồi A,B,D và của pheromone của nhật có 3 loại mồi A,B,C
Hình 3.4: Pheromone của Đài Loan bên trái pheromone của Nhật bên phải
Mồi pheromone của Đài Loan tiến hành 2 thí nghiệm
Thí nghiệm 1: đặt bẫy pheromone có độ cao cách mặt lúa khác nhau là
30m
Các đường đặt bẫy pheromone
Các loại bẫy pheromone