1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên

179 1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động của các khâu sản xuất trên mỏ lộ thiên như khoan, nổ mìn, xúc bóc, vận tải, đổ thải, …đều gây bụi, ồn và phát thải các khí độc hay khí nhà kính vào môi trường không khí, làm ản

Trang 1

Bộ tài nguyên và môi trường

Viện KHOA HỌC địa chất và khoáng sản

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI: nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành

đối với các dự án khai thác lộ thiên

Chủ nhiệm đề tài: MAI THẾ TOẢN

6598

08/10/2007

Hà nội - năm 2007

Trang 2

Bộ tài nguyên và môi trường

Viện KHOA HỌC địa chất và khoáng sản

-ậ -

Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác

lộ thiên

Cơ quan thực hiện đề tài Chủ nhiệm đề tài

Viện Khoa học Địa chất và Khoỏng sản

Ths Mai Thế Toản

hà Nội - năm 2007

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA

1 ThS Mai Thế Toản, Bộ Tài nguyên và Môi trường - Chủ nhiệm Đề tài

2 PGS.TS Hồ Sĩ Giao, Hội Khoa học - Công nghệ mỏ Việt Nam

3 TS Mai Trọng Tú, Trưởng phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc

tế, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản - Phó chủ nhiệm Đề tài

4 KS Vũ Đình Hiếu, Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội

5 KS Nguyễn Thanh Liêm, Phó giám đốc Công ty tư vấn đầu tư Mỏ và Công nghiệp (Tổng công ty than Việt Nam)

6 TS Lại Hồng Thanh, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

7 TS Nguyễn Quốc Khánh - PGĐ Trung tâm Môi trường công nghiệp - Viện Nghiên cứu mỏ và công nghiệp

8 TS Bùi Xuân Nam, Trường đại học Mỏ-Địa chất Hà Nội

Trang 4

BẢNG THỐNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT

ký hiệu Diễn giải

ANFO Ammonium NitrateFuel Oil (Hỗn hợp thuốc nổ amonit + dầu mỏ) BOD5 Biochemical Oxygen Demand (Yêu cầu oxy cho quá trình

sinh hoá trong 5 ngày) BTC Bãi thải cố định

BTT Bãi thải tạm

BVMT Bảo vệ môi trường

CNH Công nghiệp hoá

CHLB Cộng hoà Liên bang

CHXHCN Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa

COD Chemical Oxygen Demand (Yêu cầu oxy cho phản ứng hoá)

DO Dissolved oxygen (Oxy hoà tan)

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

HĐH Hiện đại hoá

TLGN Thuỷ lực gàu ngược

TLGT Thuỷ lực gàu thuận

TCCP Tiêu chuẩn cho phép

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TKV Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam

TVĐT Tư vấn đầu tư

TNKS Tài nguyên khoáng sản

UBND Uỷ ban Nhân Dân

VLXD Vật liệu xây dựng

Trang 5

MôC LôC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: HIỆN TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 10

I.1 Khái quát chung 10

I.2 Tình hình khai thác một số tài nguyên khoáng sản chính 11

I.3 Hiện trạng môi trường trên các mỏ lộ thiên 19

I.4 Công tác bảo vệ môi trường trên ba mỏ khảo sát 36

CHƯƠNG II: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN 64

II.1: Luật Khoáng sản (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2005) 64

II.2 Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005) 65

II.3 Các văn bản dưới luật có liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 67

II.4 Tình hình thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và Luật Khoáng sản .68

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA KHAI THÁC LỘ THIÊN TỚI CÁC THÀNH PHẦN CỦA MÔI TRƯỜNG 74

III.1 Phân loại tác hại của khai thác lộ thiên 74

III.2 Các hoạt động gây ô nhiễm từ các mỏ lộ thiên 76

III.3 Các tác động chính của khai thác lộ thiên tới môi trường 77

CHƯƠNG IV: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT TRONG KHAI THÁC LỘ THIÊN NHẰM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 90

IV.1 Hạn chế sự chiếm dụng đất đai của khai thác lộ thiên .90

IV.2 Tiết kiệm tài nguyên lòng đất 95

IV.3 Hạn chế sự suy giảm môi trường đất 95

IV.4 Phục hồi chức năng trồng trọt cho đất 101

IV.5 Hạn chế việc xả bụi, khí độc và tiếng ồn vào không khí .104

IV.6 Xử lý nước thải trên mỏ lộ thiên .114

IV.7 Xử lý quặng đuôi tuyển nổi và bùn tại hồ thải 121

IV.8 Tận dụng công trình mỏ cũ vào mục đích dân sinh khác .123

CHƯƠNG V: PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG SAU KHAI THÁC 124

V.1.Công tác chuẩn bị 124

V.2.Khôi phục cải tạo khai trường 128

V.3.Chương trình phục hồi môi trường 135

V.4.Dự toán chi phí phục hồi môi trường 140

V.5 Ký quỹ môi trường 146

CHƯƠNG VI: LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CHO CÁC DỰ ÁN KHAI THÁC MỎ 155

VI.1 Các phương pháp được khuyến cáo áp dụng 155

VI.2 Phương pháp liệt kê danh mục (checklist methodologies) 155

Trang 6

VI.3 Xây dựng ma trận môi trường dùng trong ĐTM các dự án khai thác

lộ thiên .157

CHƯƠNG VII: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC LỘ THIÊN CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 162KẾT LUẬN 172TÀI LIỆU THAM KHẢO 176

Trang 7

MỞ ĐẦU

Đất nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú và đa dạng với khoáng sản hơn 5000 khoáng sàng và điểm quặng chứa 70 khoáng sản các loại đã được tìm thấy, bao gồm các quặng kim loại (sắt, đồng, chì, kẽm, thiếc, bauxit, titan, …), phi kim loại (apatit, pyrit, cát, sỏi, sét,…) vật liệu xây dựng (đá granit, đá vôi, bazan, cát, sỏi, sét, ) và than (than antraxit, than nâu, than bùn) phân bố khắp toàn lãnh thổ đất nước, tạo điều kiện cho ngành khai thác khoáng sản phát triển, đặc biệt là ngành khai thác khoáng sản bằng phương pháp lộ thiên (KTLT)

Hiện nay, 60 ÷ 65% than và 100% quặng các loại và vật liệu xây dựng cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu đều được khai thác bằng phương pháp lộ thiên Ngành KTLT hàng năm đóng góp vào GĐP hàng chục ngàn tỷ đồng, tạo nên một khối lượng lớn về nguyên, nhiên vật liệu cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác; góp phần củng cố và phát huy vị thế kinh tế,… chính trị của nước nhà đối với khu vực và thế giới; tham gia vào việc phát triển

và hoàn thiện môi trường kỹ thuật, môi trường xã hội (tạo dựng các tụ điểm dân

cư mới, nâng cao dân trí cho các cộng đồng dân cư vùng sâu, vùng xa); tạo công

ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động Bên cạnh sự đóng góp không nhỏ của ngành KTLT đối với sự phát triển của xã hội nói chung, thì những tác động xấu của nó tới môi trường cũng khá trầm trọng

Sự đào bới bề mặt đất đai của KTLT đã phá vỡ các cảnh quan và địa mạo nguyên thủy của khu vực, gây những xáo trộn về dòng chảy và chế độ thủy văn đầu nguồn, tổn hại đến rừng phòng hộ, thay đổi cảnh quan khu vực,…

Khai trường, bãi thải, các công trình phụ trợ (mặt bằng công nghiệp, kho tàng và nhà xưởng, đường giao thông,…) của mỏ lộ thiên chiếm dụng một diện tích khá lớn (chỉ riêng các khai trường lộ thiên vùng Cẩm Phả chiếm 45.106 m2)

Sự chiếm dụng đó đã làm thu hẹp thảm thực vật, diện tích cây trồng - điều đó không chỉ gây ảnh hưởng làm thay đổi vi khí hậu toàn vùng mà còn làm ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học của môi trường (Một số thực vật bị biến mất, một số động vật bị tiêu diệt hoặc phải di cư do bị tước mất điều kiện sinh sống hoặc bị chết)

Đặc điểm của KTLT là khối lượng đất đá thải rất lớn gấp hàng chục lần khối lượng khoáng sản thu hồi (hệ số bóc của than hiện là 8-10m3/t hay là 11-14m3/m3) Khối lượng đất đá thải này đã gây hậu quả làm bồi lấp sông suối, sa mạc hóa đất đai canh tác vùng hạ lưu, phá hủy các công trình đường xá, cầu cống lân cận (điển hình là các bãi thải đông nam Đèo Nai, tây nam Cọc Sáu-Quảng Ninh)

Nước ngầm từ mỏ thoát ra kết hợp với nước mặt hòa tan hoặc kéo theo các chất độc hại, các kim loại nặng,…trong đát đá mỏ, xả xuống hạ nguồn làm xấu chất lượng môi trường nước (mỏ pyrít Giáp Lai là một ví dụ), ảnh hưởng tới năng suất cây trồng và vật nuôi Đối với các mỏ lộ thiên sâu thì sự bơm thoát

Trang 8

nước ngầm ra khỏi đáy mỏ còn làm hạ thấp mực nước, thay đổi chế độ thủy văn của hệ nước ngầm khu vực

Hoạt động của các khâu sản xuất trên mỏ lộ thiên như khoan, nổ mìn, xúc bóc, vận tải, đổ thải, …đều gây bụi, ồn và phát thải các khí độc hay khí nhà kính vào môi trường không khí, làm ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người lao động và cộng đồng dân cư vùng lân cận và tác động (dù là rất nhỏ) gây sự biến đổi khí hậu toàn cầu …

Trước tình trạng nêu trên, đồng thời để hòa nhập vào xu thế chung của thế giới trong trách nhiệm bảo vệ môi trường, năm1993, Quốc Hội đã thông qua luật bảo vệ môi trường (BVMT)và sau đó, ngày 12/12/2005 Chủ tịch nước đã công

bố Luật BVMT mới có sửa chữa bổ sung, nhằm thể chế hóa những chính sách của nhà nước về công tác bảo vệ môi trường đối với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, trong đó có lĩnh vực hoạt động khoáng sản Theo đó, Nghị định số 80/2006/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 9/8/2006 đã hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn về các chính sách nói trên; nêu rõ, các tổ chức sản xuất kinh doanh có trách nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật

về đánh giá tác động môi trường, đảm bảo thực hiện đúng các tiêu chuẩn môi trường; phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường; đóng góp tài chính bảo

vệ môi trường, bồi thường thiệt hại do có hành vi gây tổn hại môi trường theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải tuân theo tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, bao gồm tiêu chuẩn môi trường trong khai thác các mỏ lộ thiên và khai thác các mỏ hầm lò, Tiêu chuẩn khác về chất lượng nước, không khí, độ rung, tiếng ồn,…

Các quy định về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), thẩm định, phê duyệt các báo cáo ĐTM hoặc cam kết bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản được quy định cụ thể trong Luật BVMT năm 2005, Nghị định 80/2006/NĐ-CP và Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/9/2006 về việc hướng dẫn và lập báo cáo ĐTM

Trong quá trình thực thi Luật BVMT đã nảy sinh nhu cầu về việc cần có những hướng dẫn chi tiết về lập báo cáo ĐTM riêng cho từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động kinh tế, năm 1999 Cục Môi trường thuộc Bộ KHCN và MT đã ban hành “hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án khai thác chế biến đá và sét”-là một trong 8 lĩnh vực hoạt động kinh tế khác nhau có bản hướng dẫn lập báo cáo ĐTM Bản hướng dẫn đã trình bày một cách chi tiết và đầy đủ nội dung cũng như phương pháp ĐTM cho một dự án khai thác chế biến

đá và sét như mô tả sơ lược dự án; khảo sát đánh giá hiện trạng môi trường nền;

dự án và đánh giá tác động của dự án tới môi trường, cuối cùng là chương trình quản lý và quan trắc giám sát môi trường Nhờ có bản hướng dẫn này mà những báo cáo ĐTM của các dự án khai thác đá và sét trong thời gian qua đã được trình bày thống nhất về hình thức kết cấu, đầy đủ chi tiết về nội dung, giúp cho việc thẩm định, phê duyệt của các cơ quan chức năng được thuận lợi và nhanh chóng hơn, giúp cho các chủ đầu tư cũng như cơ quan tư vấn có cơ sở pháp lý để xây

Trang 9

dựng các báo cáo ĐTM, đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo các luật định Nhà nước ban hành

Tuy nhiên, khai thác chế biến đá và sét thuộc lĩnh vực khai thác lộ thiên (KTLT) nhưng chưa đặc trưng đầy đủ cho KTLT các mỏ lộ thiên khai thác đá và sét có những đặc điểm khác với các mỏ lộ thiên khai thác quặng kim loại, phi kim loại, than,

Về mặt cấu tạo các khoáng sàng đá, sét thường có cấu tạo dạng khối, dạng ổ, phân bố sát bề mặt đất hoặc nổi trên mặt đất, không có (hoặc có không đáng kể) lớp đất phủ; Trong khi các khoáng sàng quặng và than thường có cấu taọ phức tạp, vùi lấp sâu, đất phủ dày,…Đặc điểm này dẫn đến cần coi trọng các giải pháp môi trường khi khai thác xuống sâu, khi đổ thải, trong bơm thoát nước mỏ,…

Các khoáng sàng đá, sét thường phân bố tập trung, chiếm ít diện tích, ít pha tạp chất độc hại Còn các khoáng sàng quặng, than thường phâm bố rải rác, phân tán, trải rộng, đòi hỏi phải có diện tích lớn để bố trí khai trường bãi thải và các công trình công nghiêp phụ trợ và thường tác động tiêu cực đến môi trường nhiều hơn Nhất là một số khoáng sàng có chứa chất độc hại, các kim loại quặng hoặc trong quá trình hoạt động khai thác chế biến có sử dụng các hóa chất độc hại

Tài nguyên khoáng sản là loại tài nguyên không tái tạo được, trữ lượng có hạn và ngày càng cạn kiệt, cho nên vấn đề tiết kiệm và khai thác, sử dụng hợp

lý chúng hiện đang là quốc sách hàng đầu nằm trong chiến lược BVMT của nhiều quốc gia trên thế giới Đây cũng là vấn đề nhạy cảm đối với quá trình khai thác các khoáng sàng chứa quặng các loại và than, do vậy, vấn đề tận dụng tối

đa tài nguyên lòng đất, giảm thiểu tới mức có thể sự tổn thất và làm nghèo (chất lượng) khoáng sản trong quá trình khai thác cần được xem xét nghiêm túc hơn

so với các khoáng sàng đá văng bằng cách xem vấn đề tổn thất và sử dụng hợp

lý tài nguyên khoáng sản trong khai thác mỏ nói chung, khai thác lộ thiên nói riêng là một tiêu chí môi trường khi đánh giá phê duyệt dự án Mạnh dạn đình chỉ những dự án áp dụng công nghệ gây tổn thất tài nguyên nhiều Bởi lẽ dành dụm tài nguyên để lại cho các thế hệ mai sau cũng là một nội dung của chiến lược phát triển bền vững mà các nước phát triển đang thực hiện

Bên cạnh những vấn đề nêu trên, báo cáo ĐTM đối với ngành KTLT cũng cần đề cập tới hiệu quả sử dụng đất của dự án, bởi vì không phải bào giờ việc sử dụng đất vào việc khai thác khoáng sản cũng mang lại lợi ích lớn hơn so với việc sử dụng chúng vào mục đích kinh tế khác (trồng trọt, du lịch,…).Sự quan tâm này còn có tác dụng thúc đẩy các chủ dự án tiết kiệm diện tích đất đai

sử dụng, tìm tòi giải pháp thu hẹp diện tích đất đai chiếm dụng của dự án

Tóm lại, trong hoạt động khoáng sản thì ngành KTLT là đối tượng chủ yếu, có quy mô, số lượng lớn và ngày càng phát triển về phạm vi hoạt động, thiết bị sử dụng, nhân lực tham gia và cũng là đối tượng chính gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường Để hạn chế và ngăn chặn tới mức có thể những tác

Trang 10

nhõn suy giảm mụi trường từ hoạt động KTLT, bờn cạnh những giải phỏp kỹ thuật, cụng nghệ là cỏc giải phỏp về quản lý, giỏo dục thụng qua cỏc luật và văn bản phỏp quy dưới luật Để cỏc bỏo cỏo ĐTM của cỏc dự ỏn KTLT khụng mang tớnh hỡnh thức, đối phú, mà thực sự trở thành một bộ phận của dự ỏn đầu tư, trở thành một cụng cụ giỳp cho chủ đầu tư cũng như nhà quản lý thực thi nghĩa vụ

và chức năng của mỡnh trong trỏch nhiệm bảo vệ mụi trường thỡ cần xõy dựng một văn bản phỏp quy hướng dẫn chi tiết việc lập bỏo cỏo ĐTM cho ngành KTLT (hiện chưa cú trong hệ thống văn bản nhà nước), trong đú đặc biệt quan tõm đến nội dung ĐTM của những đối tượng cú mức độ ảnh hưởng với tầm quan trọng tương đối với mụi trường Mặt khỏc cần thể chế húa giải phỏp sao cho bỏo cỏo ĐTM thực sự khả thi, cỏc cụng trỡnh phũng chống suy giảm, bảo vệ mụi trường của bỏo cỏo ĐTM trở thành một bộ phận của dự ỏn, được chủ đầu tư thực hiện một cỏch nghiờm tỳc

Từ đú, việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ

công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác

lộ thiên” là thực sự cần thiết và bức bỏch đối với nhu cầu phỏt triển hiện tại

cũng như lõu dài của ngành KTLT

Phương phỏp nghiờn cứu của đề tài:

- Thu thập, phõn tớch và đỏnh giỏ chung về cụng tỏc lập và thẩm định bỏo cỏo ĐTM với cỏc dự ỏn khai thỏc lộ thiờn

- Khảo sỏt thực tế: thu thập cỏc số liệu quan trắc và phõn tớch cỏc thụng số mụi trường, đặc biệt là mụi trường khụng khớ, mụi trường nước, tiếng ồn và chất thải rắn tại một số mỏ khai thỏc lộ thiờn

- Phương phỏp so sỏnh: Đối chiếu và so sỏnh kết quả điều tra và phõn tớch với Tiờu chuẩn Việt Nam về mụi trường;

- Phương phỏp chuyờn gia: Nghiờn cứu độc lập về cỏc vấn đề liờn quan đến khai thỏc mỏ, bảo vệ mụi trường trong khai thỏc mỏ, cỏc chớnh sỏch phỏp luật, tổ chức lấy ý kiến chuyờn gia thụng qua tham vấn, hội thảo,…

Trong khuõn khổ của bản bỏo cỏo này, cỏc vấn đề được trỡnh bày là:

1 Hiện trạng khai thỏc lộ thiờn đối với cỏc khoỏng sàng quặng kim loại và phi kim loại, vật liệu xõy dựng và than

2 Cỏc văn bản phỏp quy về mụi trường cú liờn quan đến ngành khai thỏc khoỏng sản

Trang 11

3 Hiện trạng ĐTM trong ngành KTLT: triển khai thực hiện giải pháp BVMT trên các mỏ lộ thiên, công tác quản lý môi trường trên các mỏ lộ thiên

4 Những giải pháp công nghệ kỹ thuật trong KTLT nhằm bảo vệ môi trường

Báo cáo không đi sâu vào vấn đề ô nhiễm môi trường trên các mỏ lộ thiên

mà chỉ lồng ghép vấn đề này để làm sáng tỏ các mục tiêu trình bày trong các phần thích ứng

Trang 12

CHƯƠNG I:

HIỆN TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

I.1 Khái quát chung

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, công nghiệp

mỏ giữ vị trí quan trọng để phát triển các ngành kinh tế như năng lượng, xi măng và vật liệu xây dựng, luyện kim đen và luyện kim màu, phục vụ xuất khẩu với nguồn thu ngoại tệ lớn cũng như đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân

Công nghiệp mỏ Việt Nam bao gồm: ngành than (khai thác chế biến than antraxit, than nâu, than mỡ, diệp thạch cháy); ngành quặng (khai thác chế biến

quặng kim loại: kim loại đen, kim loại màu, phi kim loại như sắt, mangan, titan, crôm, bauxit, pyrit, đồng, chì, kẽm, thiếc, nikel, antimoan, moliđen, uranium,

vàng, bạc, đá quý, apatit, graphit, đất hiếm, thuỷ ngân); ngành vật liệu xây

dựng (khai thác chế biến các loại khoáng sản để làm vật liệu xây dựng như đá

vôi làm xi măng, sành sứ, vật liệu chịu lửa, cao lanh, thạch anh, amiăng, cát xây dựng, cát làm thuỷ tinh, cát cuội, sỏi…)

Các khoáng sàng được khai thác chủ yếu là than antraxit, than mỡ, than nâu, quặng sắt, và kim loại màu; đá cát sỏi làm vật liệu xây dựng; hoá chất công nghiệp như apatit, pyrit,… Số lượng mỏ đang được khai thác một số khoáng sản chủ yếu bao gồm: Than (53), than bùn (21), sắt (22), thiếc (12), vàng (11), mangan (10), chì kẽm (8), inmênít (17), đá vật liệu xây dựng thông thường (433), đá xi măng (37), đá ốp lát (27), đá phụ gia xi măng (5), sét gạch ngói (88), cát, sỏi xây dựng (81), sét xi măng (13), đôlômít (8), cao lanh (14), nước khoáng (50)

Về quy mô khai thác khoáng sản, các mỏ có công suất lớn tập trung trong ngành công nghiệp than, năm 2004 có 15 mỏ than đạt sản lượng > 1 triệu tấn nguyên khai/năm; đá vôi phục vụ sản xuất xi măng (sản lượng > 1 triệu tấn /năm, cát sỏi (>1 triệu m3/năm); apatít (> 500 nghìn tấn quặng/năm) Còn lại các

mỏ khoáng sản có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ (5.000 ÷ 10.000 tấn/năm) Từ góc

độ quy mô sản lượng có thể phân ra các doanh nghiệp như sau:

- Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản quy mô lớn (> 1 triệu tấn /năm sản phẩm) có thể kể tới một số công ty khai thác than trong thành phần Tổng công ty than Việt Nam, một số công ty khai thác đá vôi cho xi măng và khai thác vật liệu xây dựng trong thành phần Tổng công ty xây dựng Việt Nam, xí nghiệp liên doanh hoặc đầu tư nước ngoài 100%, công ty khai thác apatit trong thành phần Tổng công ty hoá chất Việt Nam

- Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản quy mô nhỏ và vừa bao gồm phần lớn các công ty khai thác khoáng sản kim loại và phi kim loại trong thành phần Tổng công ty thép Việt Nam, Tổng công ty khoáng sản Việt Nam, các công ty khoáng sản địa phương

Trang 13

- Khai thác quy mô cá thể, tự phát và thủ công tại những vùng có quặng là

hiện trạng rất phổ biến và mang tính hai mặt trong hoạt động khai thác khoáng

sản ở Việt Nam

Giá trị tổng sản phẩm của các ngành công nghiệp mỏ trong tổng sản phẩm

toàn quốc (GDP) và giá trị sản xuất khoáng sản công nghiệp mỏ được trình bày

trong bảng 1.4và 1.5

Bảng 1.1: Giá trị tổng sản phẩm của các ngành công nghiệp mỏ trong

tổng sản phẩm toàn quốc (Đơn vị GDP: 10 9 đồng)

GDP của công nghiệp mỏ

Tỷ lệ GDP công nghiệp mỏ so với cả nước (%)

VLXD 1162 1288 1674 1911 1759 2015 2322 Cộng 13.920 15.968 18.404 21.118 24.580 27.336 28.948

I.2 Tình hình khai thác một số tài nguyên khoáng sản chính

+ Quặng sắt: Số lượng quặng sắt khai thác và chế biến của Việt Nam giai

đoạn từ 1995 ÷ 2002 rất ít, chỉ khoảng 300.000 ÷ 450.000 tấn/năm, trong đó các

doanh nghiệp của Nhà nước chiếm khoảng 80%, doanh nghiệp tư nhân và các

địa phương là 20%

Trang 14

Công suất thiết kế khai thác mỏ ở quy mô công nghiệp không lớn, cao nhất chỉ 350.000 tấn/năm Thực tế sản lượng khai thác lớn nhất một mỏ đạt 250.000 tấn/năm Chất lượng quặng sắt sau khi khai thác, chế biến không ổn định, có xu hướng giảm dần theo chiều sâu khai thác

Các mỏ khai thác tận thu thường không có thiết kế hoặc có nhưng khai thác không tuân theo thiết kế Nhiều doanh nghiệp khai thác tận thu đã khai thác bừa bãi làm tổn thất tài nguyên (không thu được quặng cám có cỡ hạt từ 0 ÷ 20 mm) và làm suy giảm môi trường

+ Quặng Crômit: Cho tới thời điểm hiện nay, công nghiệp khai thác, chế

biến quặng crômit tại mỏ Cổ Định tồn tại ở 2 dạng: khai thác quy mô công nghiệp (sức nước, tàu cuốc) và khai thác thủ công (sức nước) Theo kết quả thống kê, sản lượng quặng khai thác quy mô công nghiệp đạt cao nhất trong giai đoạn những năm 1960 ÷ 1964 Trong những năm từ 1995 trở lại đây, sản lượng quặng khai thác quy mô công nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 20% trong tổng sản lượng tinh quặng crômit hàng năm

Mặc dù khai thác thủ công đem lại sản lượng đáng kể nhưng hậu quả để lại cho môi trường, môi sinh là đáng kể và đã gây tổn thất tài nguyên khoáng sản (không khai thác hết tầng quặng lớp dưới, hệ số thu hồi khi tuyển thủ công thấp…)

+ Quặng Bauxit: Công nghiệp khai thác bauxit và luyện nhôm ở nước ta

hiện nay chưa phát triển Hiện chỉ có mỏ bauxit Bảo Lộc đang khai thác lộ thiên bằng ôtô, máy xúc kết hợp với máy gạt và máy xúc tải, tuyển trọng lực rửa bằng nước với quy mô vài chục nghìn tấn bauxit mỗi năm để cấp cho Công ty hoá chất Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh làm phèn chua Dự kiến trong thời gian

tới, tổ hợp này sẽ tăng công suất lên gấp đôi

Dự án khả thi xây dựng tổ hợp khai thác bauxit, sản xuất alumin và nhôm Tân Rai Lâm Đồng với công suất 300.000 tấn/năm alumin và 72.000 tấn/năm nhôm kim loại đã hoàn thành và đang trong giai đoạn phê duyệt Dự án tiền khả thi liên doanh với nước ngoài khai thác bauxit và sản xuất alumin Daknông Daklắc với công suất 1.000.000 ÷ 2.000.000 tấn/năm alumin đang được triển khai

+ Quặng kẽm chì: Hiện nay việc khai thác quặng và luyện kẽm chì ở quy

mô công nghiệp tập trung ở Công ty LKM Thái Nguyên Quặng ôxyt kẽm chủ yếu được khai thác bằng phương pháp lộ thiên để sản xuất bột ôxyt kẽm với sản lượng 4.000 ÷ 5.000 tấn/năm Quặng sunphua kẽm chì khai thác chủ yếu bằng phương pháp hầm lò, quy mô nhỏ với sản lượng 10.000 tấn/năm quặng nguyên khai và được làm giàu bằng công nghệ tuyển nổi cho tinh quặng tinh kẽm đạt 50 ÷ 52 % Zn

và tinh quặng chì đạt 60% Pb Sản lượng tinh quặng kẽm chì hiện nay đạt 2.000 tấn/năm Thực thu tuyển nổi kẽm chì hiện nay đạt khoảng 75% với tinh quặng kẽm, chì cao Hàm lượng kẽm chì quặng vào là 10 ÷ 12%, nếu hàm lượng vào < 10%, thì thực thu sẽ giảm

Trang 15

+ Quặng Titan: Giai đoạn đầu quặng titan được tận thu từ các xí nghiệp

sản xuất thiếc như là một sản phẩm phụ cộng sinh, tập trung ở các xí nghiệp thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), Sơn Dương (Tuyên Quang) Những năm 1978 ÷

1984 sản lượng quặng tinh inmenhit tận thu đạt ~ 500 ÷ 600 tấn/năm với hàm lượng 46 ÷ 48% TiO2

Vào cuối những năm 80, hình thành xí nghiệp khai thác - tuyển quặng titan ở Xương Lý - Bình Định, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận chế biến quặng titan cung cấp quặng tinh cho sản xuất que hàn ở trong nước và xuất khẩu Hiện nay có hàng chục công ty suốt dọc bờ biển từ Thanh Hoá tới Thuận Hải đang khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng tinh titan Các Công ty lớn là MITRACO Hà Tĩnh, HUMEXCO Huế, BIMAL Bình Định Sản phẩm chính hiện nay là tinh quặng inmenhit trên 52% TiO2, tinh quặng zircon trên 57% ZrO2, tinh quặng rutin trên 82% Gần đây Công ty MITRACO Hà Tĩnh và HUMEXCO Huế đã nhập công nghệ và thiết bị để sản xuất sản phẩm zircon siêu mịn chứa trên 65% ZrO2 Tổng sản lượng các sản phẩm từ khai thác quặng titan hiện nay đã vượt trên chục vạn tấn/năm

Công nghệ khai thác sa khoáng titan ven biển phát triển theo các giai đoạn như sau:

- Giai đoạn trước năm 1990: Chưa hình thành ngành khai thác - chế biến

sa khoáng titan, trừ một số địa phương khai thác thủ công quặng giàu > 85% khoáng vật nặng cung cấp cho sản xuất que hàn ở trong nước

- Giai đoạn 1990 ÷ 1995: Hình thành nhiều xí nghiệp, công ty khai thác chế biến quặng titan Tốc độ phát triển nhanh Chủ yếu là khai thác, tuyển thu hồi quặng tinh inmenhit, zircon và rutin, đáp ứng nhu cầu sản xuất que hàn trong nước Công nghệ khai thác chủ yếu bằng thủ công chọn lọc những lớp quặng giàu 80÷85% khoáng vật nặng Một số cơ sở khai thác thủ công đưa về tuyển bằng bãi đãi, máng thủ công tách cát và thu hồi khoáng vật nặng Tiếp đó tuyển tinh bằng máy tuyển từ, tuyển điện - bàn đãi thu các loại quặng tinh inmenhit > 52% TiO2, zircon 55 ÷ 60% ZrO2, rutin đạt > 85% TiO2

- Giai đoạn 1995 đến nay: Đối với các mỏ lớn như Cẩm Hoà, Kỳ Khang,

Đề Di, Bàu Dòi, Chùm Găng đã áp dụng công nghệ khai thác cơ giới bằng máy xúc - máy gạt, máy bốc, tập trung quặng về các cụm tuyển thô Công nghệ tuyển thô sử dụng phân li côn, vít đứng, v.v tuyển tinh bằng tuyển từ, tuyển điện, bàn đãi khí Đã hình thành bãi thải trong, có quy trình hoàn thổ và sử dụng lại nước tuần hoàn Đối với những mỏ nhỏ nằm phân tán thì được khai thác bằng cơ giới kết hợp thủ công Công nghệ tuyển thô sử dụng các cụm vít đứng di động hoặc máng đãi di động

+ Quặng thiếc: Việt Nam đã từng bước tiếp thu công nghệ của Liên Xô

(cũ) để khai thác và luyện quặng thiếc ở quy mô công nghiệp như hiện nay Về quy mô khai thác kết hợp hình thức khai thác tập trung và phân tán, kết hợp quy

Trang 16

mô lớn, vừa và nhỏ, kết hợp với cơ giới, bán cơ giới và thủ công trong cả các công đoạn khai thác - tuyển khoáng và luyện kim Cho tới nay quặng thiếc ở Việt Nam được khai thác chủ yếu bằng phương pháp lộ thiên ở các mỏ sa khoáng và luyện thiếc bằng công nghệ lò phản xạ và lò điện hồ quang

Khai thác, tuyển quặng thiếc tự phát thủ công là một đặc điểm nổi bật của ngành thiếc Việt Nam Nhược điểm lớn của loại hình khai thác này là hủy hoại môi trường, lãng phí tài nguyên, không an toàn

Hiện nay ngành thiếc đang đứng trước khó khăn lớn là tình hình cạn kiệt tài nguyên Quặng sa khoáng, quặng giàu và chất lượng quặng nói chung đang ở

xu thế giảm Do vậy cần đầu tư tìm kiếm phát hiện bổ sung tài nguyên, khai thác

và xử lý quặng gốc, quặng nghèo, quặng kém chất lượng, tăng thực thu kim loại, tăng mức xử lý tổng hợp tài nguyên, tăng các biện pháp bảo vệ môi trường

+ Quặng đồng: Mỏ đồng Sin Quyền đang khai thác quy mô nhỏ, cho sản

phẩm cuối cùng là tinh quặng đồng với sản lượng 2.500 ÷ 3.000 tấn/năm Dự án đầu

tư xây dựng liên hợp mỏ tuyển luyện đồng Sin Quyền quy mô lớn đang được thực hiện công nghệ khai thác là kết hợp khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò, áp dụng công nghệ tuyển nổi để cho tinh quặng đồng, tinh quặng đất hiếm và tinh quặng inmenhit

+ Quặng vàng: Hiện nay một số xí nghiệp khai thác vàng trong nước và

liên doanh với nước ngoài quy mô nhỏ đang hoạt động, sản lượng khoảng 70 kg/năm Công nghệ khai thác chủ yếu là thủ công kết hợp với cơ khí Các xí nghiệp khai thác vàng quốc doanh thường bị lỗ vì công nghệ lạc hậu, thiếu vốn, thiết bị không đồng bộ, công tác quản lý kém Hiện nay khai thác thủ công là chủ yếu, chỉ khai thác quặng giàu, không có khả năng thu hồi được các nguyên

tố đi kèm và gây ô nhiễm môi trường

+ Quặng antimon: Được khai thác ở mỏ Làng Vài - Tuyên Quang từ năm

1969 Sản lượng khai thác 50 ÷ 200 tấn/năm để sản xuất Sb kim loại Tổng số quặng đã khai thác khoảng 8000 tấn Đến năm 1990 các thân quặng giàu đã khai thác hết Trữ lượng còn lại có hàm lượng dưới 5% Sb, nên sản xuất không có lãi phải tạm ngừng Hiện tại xí nghiệp khai thác, tuyển, luyện antimon Hà Giang của Công ty khoáng sản Hà Giang đã đi vào hoạt động vào đầu năm 2003 Công suất thiết kế là 1000 tấn/năm antimon kim loại

Nhu cầu antimon ở nước ta hiện nay khoảng 1000 tấn/năm chủ yếu dùng làm hợp kim chì - antimon, dùng trong công nghiệp sản xuất ắc quy, hợp kim chữ in, hợp kim chịu mài mòn và một phần nhỏ sunphát atimon dùng trong công nghiệp thuốc nổ

+ Quặng mangan: Được sử dụng chủ yếu cho sản xuất feromangan trong

ngành luyện kim và sản xuất pin Mỏ mangan Tốc Tác, Trà Lĩnh - Cao Bằng hiện đang khai thác lộ thiên thân quặng deluvi, công nghệ thủ công, khai thác tận thu với công suất 12.000 ÷ 15.000 tấn/năm dùng cho sản xuất feromangan Ngoài ra mỏ

Trang 17

Làng Bài - Tuyên Quang cũng được khai thác với sản lượng 2000 ÷ 2500 tấn quặng tinh năm để phục vụ cho sản xuất pin

+ Quặng đất hiếm: Công tác nghiên cứu khoa học công nghệ xử lý quặng

đất hiếm ở trong nước đã được triển khai từ cuối những năm 60 Ở quy mô phòng thí nghiệm và pilot, đã có công nghệ xử lý quặng đất hiếm để cho các sản phẩm như tinh quặng đất hiếm trên 30% ReO, tổng oxyt đất hiếm trên 90% tổng ReO, các oxyt đất hiếm riêng rẽ trên 90% ReO, hợp kim trung gian đất hiếm, fero đất hiếm và một số kim loại đất hiếm Tuy nhiên do chưa có thị trường nên các sản phẩm nêu trên chưa có điều kiện trở thành thương phẩm Đất hiếm là một thế mạnh về tài nguyên khoáng sản của Việt Nam Tuy nhiên tiềm năng này còn chưa được khai thác ở mức cần thiết, thực chất, ở Việt Nam chưa có khai thác và chế biến đất hiếm ở quy mô công nghiệp

+ Quặng Apatit: Mỏ Apatit Lào Cai bắt đầu khai thác từ 1957 theo đề án

thiết kế của Liên Xô với công suất 500.000 tấn/năm quặng loại I, Quặng III thu hồi nhân thể trong biên giới khai thác chưa có điều kiện sử dụng được về lưu kho ở các bãi chứa Năm 1981, để đáp ứng yêu cầu quặng apatit cho sản xuất phân bón ngày càng lớn, đã tiến hành thiết kế mở rộng mỏ và xây dựng nhà máy tuyển để làm giàu quặng III

Tổng sản lượng apatit trong một số năm lại đây ổn định ở mức 580.000 tấn/năm, trong đó 260.000 tấn/năm là quặng tinh, chủ yếu cho nhu cầu nội địa Hiện tại, các khu vực khai thác thuận lợi đã dần hết quặng, số còn lại điều kiện khai thác khó khăn hơn

+ Quặng cao lanh: Ở Việt Nam, do chưa có công nghệ chế biến cao lanh,

nên chỉ xuất khẩu cao lanh loại tốt, được lựa chọn ra từ cao lanh nguyên khai Loại kém chất lượng phải thải bỏ, gây lãng phí tài nguyên Trong khi đó, phải nhập cao lanh đã chế biến với giá cao hơn 3 ÷ 4 lần so với giá xuất

Khai thác cao lanh phát triển ở vùng Đông Nam Bộ và Lâm Đồng Năm

1999, có gần chục cơ sở khai thác cao lanh ở các mỏ Đất Quốc, Chành Lưu, Lái Thiêu thuộc Sông Bé, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, sản lượng của các mỏ này đạt 375 ngàn tấn/năm

Ngoài hai vùng trên, cao lanh còn được khai thác ở Lào Cai, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Khánh Hoà, Lâm Đồng Tổng sản lượng khoảng trên 100 ngàn tấn/năm

Sản lượng khai thác tự do trong dân chúng hàng năm cũng vào khoảng

500 ngàn tấn, tập trung ở Đồng Nai, Sông Bé, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Phú, Yên Bái, Quảng Nam

Riêng quặng kaolin - pyrophilit khai thác ở mỏ Tấn Mài - Quảng Ninh Đến năm 1994 đạt 27 ngàn tấn/năm Từ năm 1997 trở lại đây, sản lượng tăng lên tới 35 ÷ 50 ngàn tấn/năm, chủ yếu khai thác chọn lọc lấy quặng tốt để xuất khẩu hoặc bán trong nước

Trang 18

+ Quặng graphit: Nhu cầu sử dụng graphit ở nước ta còn nhỏ, chủ yếu

chỉ để sản xuất pin và điện cực Dự báo năm 2005, nhu cầu graphit trong nước

sẽ có thể vượt trên 5.000 tấn/năm

Các mỏ đang khai thác - chế biến graphit là Mậu A - Yên Bái, Nậm Thi (Lào Cai), Hưng Nhượng - Quảng Ngãi Công nghệ khai thác lộ thiên, được cơ giới hoá bằng ôtô - máy xúc kết hợp thủ công chọn lựa trong khai thác để bóc đất đá vách và đá kẹp như ở Mậu A Làm giàu quặng graphit bằng tuyển nổi Sản lượng graphit các năm gần đây (1995 ÷ 1998) đạt từ 1.450 ÷ 1.850 tấn Mỏ Nậm Thi (Lào Cai) từ trước năm 1996 đã liên doanh với Công ty Paslsa (Australia) Trong nước hiện chưa có công nghệ tuyển để đưa hàm lượng cacbon lên > 95% Việc khai thác graphit cần tính đến công nghệ tận thu các khoáng sản

có ích đi kèm để tăng thêm giá trị kinh tế

+ Quặng Barit: Barit được khai thác từ năm 1939 ÷ 1942 ở khu núi chùa

Hà Bắc với 3.000 ÷ 4.000 tấn, năm 1965 ÷ 1978 xí nghiệp barium thuộc sở Công nghiệp Bắc Giang khai thác barit được 9588 tấn, trung bình 685 tấn/năm

Từ năm 1939 đến năm 1982, sản lượng nâng lên trung bình 2000 tấn/năm Năm

1983 chuyển sang khai thác ở khu Làng Cao với sản lượng 2000 tấn/năm Mỏ Sơn Thành khai thác từ năm 1980 - 1981 với sản lượng 2.400 ÷ 2.600 tấn/năm, tổng cộng đến năm 1996 đã khai thác 14.500 tấn

Ngoài ra, từ năm 1989 đã tiến hành khai thác barit tại các mỏ Đại Từ (Bắc Thái), Tân Trào (Tuyên Quang), sản lượng trung bình vài nghìn tấn/năm Tính tổng cộng từ thời Pháp thuộc đến nay đã khai thác khoảng 200.000 ngàn tấn quặng barit, trong đó lượng khai thác năm 1954 được khoảng 100.000 ngàn tấn

+ Quặng Pyrit: Hiện tại giá lưu huỳnh nguyên tố ngày càng giảm, vì vậy

từ nay đến 2010, không có kế hoạch đầu tư khai thác, chế biến quặng pyrit Các nhà máy hoá chất - supe phốt phát Lâm Thao, Long Thành, Thủ Đức đã và sẽ không sử dụng pyrit để sản xuất axit sunfuric Mỏ pyrit Giáp Lai đã đóng cửa Khi tổ hợp Đồng Sin Quyền Lào Cai đi vào sản xuất thì sản lượng axit sunfuric của tổ hợp theo sẽ đạt trên 40 ngàn tấn/năm Sản lượng tinh quặng lưu huỳnh có

S > 38% đạt khoảng 18 ngàn tấn/năm sẽ đủ đáp ứng nhu cầu trong nước

+ Quặng Bentonit: Bentonit được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp

của nền kinh tế quốc dân Tuy vây, hiện tại sản lượng khai thác - chế biến còn rất thấp Theo niên giám thống kê 1998, sản lượng các năm chỉ đạt dưới 5.000 tấn Trong tương lai, việc sử dụng bentonit sẽ được mở rộng do nhu cầu làm dung dịch khoan dầu khí, chất tẩy lọc trong công nghiệp và công nghệ lọc dầu Hiện tại, các lĩnh vực sản xuất chế biến thực phẩm (như làm bia, nước chấm,…) còn phải nhập ngoại bentonit chất lượng cao

Công nghệ chế biến bentonit của Việt Nam chưa đạt được sản phẩm cao cấp đáp ứng mọi yêu cầu của nền kinh tế quốc dân

+ Khoáng sản làm vật liệu xây dựng: Ngành công nghiệpVLXD gồm hai

mảng: khai thác và chế biến trực tiếp tạo ra VLXD như đá xây dựng, cát vàng,

Trang 19

cát đen xây dựng, sỏi cuội xây dựng; khai thác, chế biến và nung luyện tạo ra sản phẩm VLXD như đá làm xi măng, đá làm kính xây dựng

Trước thời kỳ đổi mới, khai thác và chế biến TNKS làm VLXD đều có trang bị kỹ thuật kém, chủ yếu làm thủ công, tỷ trọng thiết bị máy móc trong các

mỏ vật liệu chỉ đạt < 50% và phần lớn là không đồng bộ

Từ năm 1986 việc khai thác và chế biến tài nguyên làm VLXD bắt đầu phát triển mạnh: từ chỗ khai thác TNKS làm VLXD thông dụng như xi măng, gạch, ngói, đá, cát sỏi, vôi xây dựng,… đến nay chúng ta đã sản xuất được cả các chủng loại VLXD cao cấp như gạch ceramic, gạch granit nhân tạo, sứ vệ sinh, kính xây dụng, đá ốp lát,… Một số loại nguyên liệu và sản phẩm VLXD đã được xuất khẩu ra nước ngoài như cát trắng, cát vàng, đá ốp lát, gạch ngói nung, kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch ceramic và một số loại vật liệu trang trí hoàn thiện khác

- Đá vôi làm xi măng: Xi măng là chủng loại VLXD quan trọng nhất của ngành xây dựng, do vậy việc khai thác và chế biến đá làm xi măng được quan tâm số một của lĩnh vực xi măng

- Đá vôi làm xi măng đòi hỏi hàm lượng: CaCO3 ≥ 96%; MgCO3 ≤ 1,5% Hiện nay, cả nước có 63 mỏ đá vôi với khả năng khai thác 16 ÷ 17 triệu

m3/năm để đảm bảo cho năng lực sản xuất 15,73 triệu tấn xi măng/năm Trong

đó có 9 mỏ đá lớn với năng lực khai thác và chế biến 14 triệu m3/năm, phục vụ cho 9 nhà máy xi măng lò quay (năng lực sản xuất 12,73 triệu tấn/năm) và 55

mỏ nhỏ năng lực khai thác 3 triệu m3 đá/năm, phục vụ cho 55 nhà máy xi măng

lò đứng của địa phương là chủ yếu (năng lực sản xuất 30 triệu tấn/năm)

- Đá xây dựng và làm đường giao thông: Cho tới thời điểm 1997 cả nước

có khoảng 100 cơ sở khai thác, chế biến đá làm đường do cấp Trung ương và tỉnh quản lý, nhưng chỉ có 28 xí nghiệp được đầu tư thiết bị hiện đại, trong đó có

5 xí nghiệp liên doanh với nước ngoài và chiếm 1/3 sản lượng (52 triệu tấn), số lượng còn lại do 70 xí nghiệp với thiết bị đã cũ của Liên Xô (cũ), Ba Lan và khoảng 200 cơ sở khai thác của tư nhân (hoặc địa phương cấp huyện quản lý) sử dụng máy nghiền loại nhỏ đảm nhận

- Cát sỏi xây dựng: Trong tự nhiên cát và sỏi thường tồn tại xem lẫn nhau Những mỏ có nhiều sỏi, lắng đọng thành lớp ở dưới tầng cát, thì có thể khai thác cát riêng, khai thác sỏi riêng Hiện nay, khai thác cát tự nhiên là chính vì có trữ lượng rất lớn Còn sỏi thì đã có đá thay thế, nên khai thác sỏi riêng chỉ khi có đủ điều kiện, còn lại chỉ là sàng lọc tận dụng các loại sỏi ở trong cát

Khai thác sỏi ở miền Bắc đã được tiến hành ở Sông Lô bằng tàu cuốc sỏi, mỗi năm vài chục ngàn khối, còn lại chủ yếu là lượng sỏi do tư nhân xúc chọn ở các lòng suối cạn Cả nước ước tính một vài triệu m3/năm

Trang 20

Cát xây dựng, đặc biệt là cát đen, phân bố tương đối rộng dọc các triền sông suối Năm 2001 cả nước đã khai thác 24,8 triệu m3 cát vàng cho xây dựng (chưa kể lượng cát cho ngành giao thông làm đường) Cát đen làm vữa xây và

để san lấp có số lượng lớn gấp 2 ÷ 4 lần số lượng cát vàng

- Cát trắng (cát thủy tinh): Cát trắng ở Việt Nam dùng để sản xuất thủy tinh có trữ lượng lớn, song loại có thành phần hóa học tốt nhất (không phải điều chỉnh lại thành phần hóa học) có thể sản xuất được thủy tinh cao cấp là mỏ cát trắng Vân Hải ở Miền Bắc và mỏ cát trắng ở Cam Ranh, Miền Trung

- Đất sét phục vụ sản xuất xi măng: Đất sét là nguyên liệu cho sản xuất xi măng chiếm khoảng 24% tổng số các nguyên liệu Hiện nay có 64 mỏ sét được khai thác phục vụ sản xuất xi măng Các mỏ này có năng lực khai thác trên 7,65 triệu tấn/năm Trong đó có 9 mỏ sét lớn phục vụ các nhà máy xi măng lò quay với tổng năng lực khai thác trên 5,76 triệu tấn/năm và 55 mỏ sét nhỏ phục vụ các nhà máy xi măng lò đứng có tổng năng lực khai thác trên 1,35 triệu tấn/năm Theo nhu cầu sản xuất xi măng, các mỏ sét năm 2002 đã cung cấp đủ với khối lượng đạt 9,313 triệu tấn sét

- Đất sét làm gạch ngói nung: Gạch ngói nung là loại VLXD thông dụng

từ lâu đời và nhu cầu cho xây dựng các công trình công cộng và cho nhân dân ngày càng phát triển, chỉ tính năm 2001 cả nước sản xuất được 8,471 tỷ viên gạch và 467 triệu viên ngói và đã phải khai thác tổng cộng là 17,123 triệu m3 đất gạch ngói

- Cao lanh: Ở Việt Nam có tới 203 mỏ cao lanh lớn, nhỏ nhưng theo thống kê hiện mới có 17 mỏ được cấp giấy phép hoạt động Sản phẩm cao lanh dùng làm sứ vệ sinh, gạch men sứ, sứ cách điện cung cấp cho ngành y tế và các ngành khác

- Sét chịu lửa: Chủ yếu được khai thác tại mỏ sét trắng Tuyên Quang và

mỏ sét trắng Trúc Thôn

Mỏ sét trắng Tuyên Quang được khai thác từ năm 1931 và liên tục cho đến nay Tính đến năm 1996 mỏ đã bóc được 203.353 m3 đất phủ và lấy được 385.897 tấn sét Sản lượng sét hàng năm khai thác dao động từ 1217 tấn (1969) đến 18.379 tấn (1988) đến 20.000 tấn (2000) Hệ số bóc đất dao động từ 0 ÷ 1,8

m3/tấn sản phẩm, trung bình 0,61 m3/tấn Hiện tại, đã khai thác hết sét ở các khu Tân Phủ, Gốc Si, Đầm Chàng, Ao Ấn, Núi Đá, Đường Hiên Đầm Sen, Hưng Kiều, Bắc Đầm Thắm Trong những năm tới sẽ khai thác ở Bắc Đầm Sen, và Nghiêm Sơn Trữ lượng sét còn lại khoảng 730.000 tấn chất lượng có thể xấu hơn

Mỏ sét trắng Trúc Thôn được khai thác từ những năm 1965 đến nay để cung cấp sét cho nhà máy gạch chịu lửa Cầu Đuống và khu gang thép Thái Nguyên Sản lượng của mỏ lên xuống thất thường: 1965 ÷ 1966 là 3.500 tấn/năm, năm 1973 chỉ đạt hơn 1.000 tấn, đến năm 1975 tăng lên 10.750 tấn sau

đó giảm dần đạt trung bình 3.200 ÷ 5.600 tấn/năm Những năm sau này sản

Trang 21

lượng tăng nhanh 1.700 tấn (1993) và 16.000 tấn (1997) Tính đến 1992 mỏ đã khai thác tổng cộng 132.445 tấn, bóc đất 373.356 m3 Hệ số bóc đất ở công trường đất chịu lửa và công trường sét trắng của mỏ tương tự như nhau, trung bình là 2,82 m3/tấn Trữ lượng còn lại hiện nay 8.338.890 tấn Hệ số tổn thất tài nguyên của mỏ là 5%

- Đá ốp lát: Hiện nay, sản xuất đá ốp lát của nước ta được tiến hành trên

15 tỉnh, thành phố, gồm 35 cơ sở với năng lực sản xuất đạt 1.260 ngàn m2

Trong giai đoạn vừa qua, đã xuất khẩu đá ốp lát ra một số nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Ả Rập Xêút, Canađa…, song với khối lượng chưa nhiều do thiết bị sản xuất thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu

kỹ thuật của khách hàng

+ Tình hình khai thác than: Ở Việt Nam khai thác than là ngành sản xuất

có quy mô công nghiệp lớn nhất trong lĩnh vực khai thác khoáng sản và tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh, ngoài ra khai thác than còn được tiến hành ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung

Trong giai đoạn 10 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng sản lượng khai thác than dao động từ 7,1% đến 37%, trung bình 15% năm Năm 2004, toàn ngành Than đã khai thác 27,3 triệu tấn than nguyên khai Trong khai thác than

sử dụng hai công nghệ là hầm lò và lộ thiên

Đối với công nghệ khai thác lộ thiên, các thiết bị công nghệ tương đối đồng bộ và hiện đại, đạt được sản lượng cao Hiện nay sản lượng than lộ thiên chiếm khoảng 64% tổng sản lượng khai thác than

Theo dự báo hiện nay, nhu cầu than thương phẩm cho nội địa và xuất khẩu đến năm 2010 khoảng 39 ÷ 42 triệu tấn, 2015: 48 ÷ 51 triệu tấn và 2020:

53 ÷ 56 triệu tấn Để đạt được mục tiêu và đáp ứng nhu cầu trên, ngành than đang tiếp tực quy hoạch mở rộng các mỏ hiện đang khai thác và xây dựng các

mỏ mới theo hướng mở rộng tối đa biên giới các mỏ lộ thiên (cả chiều rộng lẫn chiều sâu)

I.3 Hiện trạng môi trường trên các mỏ lộ thiên

Quá trình khai thác lộ thiên xảy ra hầu hết ở mọi loại khoáng sản từ nhiều năm nay, trước khi xuất hiện các Luật và văn bản pháp quy dưới luật về môi trường Những hậu quả để lại của khai thác lộ thiên đối với môi trường nhìn chung là nặng nề và khá trầm trọng Dưới đây trình bày một số tình trạng cụ thể

về ô nhiễm môi trường gây ra do một số hoạt động khai thác lộ thiên

* Môi trường không khí

a) Bụi: ở tất cả các công đoạn sản xuất mỏ đều sinh ra bụi

- Khoan nổ mìn ở các mỏ lộ thiên và hầm lò: Khi phá nổ 1m3 đất đá tạo ra

từ 0,027÷0,17kg bụi, mỗi mỏ lộ thiên lớn phá nổ từ 5÷10 triệu m3 đất đá /năm,

Trang 22

lượng bụi sinh ra vô cùng lớn Trong một đợt nổ mìn ở các mỏ lộ thiên tạo ra

đám bụi cao 150÷200m, ở khoảng cách xa bãi nổ khoảng 30-40m có hàm lượng

bụi từ 800÷5000mg/m3, trong khi nếu máy xúc không làm việc nồng độ bụi chỉ

có 18,5 mg/m3

- Các bãi thải, nhất là bãi thải nam mỏ Hà Tu, bãi thải mỏ Đèo Nai- Cọc

Sáu, cao hàng trăm mét, nằm sát khu vực dân cư khi bị xói mòn do gió thổi và

đổ thải tao ra lượng bụi rất lớn, phạm vi tác động rộng Trong khi đó khu vực

đệm giữa bãi thải và khu vực dân cư chỉ hẹp khoảng 100÷200m chưa đủ để

ngăn chặn bụi lan toả

- Việc tồn tại nhiều mỏ nhỏ, lộ vỉa (hợp pháp và không hợp pháp), vận tải

than bằng ô tô qua khu vực dân cư đã gây ô nhiễm thêm về bụi Bụi sinh ra từ cá

hoạt động quy mô nhỏ tuy ít, nhưng do nhiều cơ sở nên tổng lượng bụi và nồng

độ bụi đủ để gây tác hại và tàn phá môi trường Theo các số liệu thống kê khai

thác 1000 tấn than khai thác ở các mỏ hầm lò tạo 11÷12 kg bụi, khai thác lộ

thiên lượng bụi sinh ra lớn gấp hai lần

Tổng lượng bụi sinh ra trong các công đoạn sản xuất chính (khai thác, vận

chuyển, sàng tuyển) năm 1995 với sản lượng than 7,5 triệu tấn, ước tính khoảng

340 tấn bụi, năm 1995 là 400tấn, năm 1998 là 484 tấn với tốc độ gia tăng sản

lượng than hàng năm trên 10%, tổng lượng bụi và nồng độ bụi chung của vùng

than Quảng Ninh cũng sẽ tăng nhanh theo thời gian và làm suy giảm chất lượng

% SiO 2

%

CO 2

CO Mg/m3

NO 2

mg/m3 Ngoài khu

Trang 23

Bảng 1.3 là số liệu đo đạc chất lượng không khí Cho đến nay chúng ta chưa có sơ sở dữ liệu về môi trường nên không có số liệu để so sánh đánh giá qua từng thời kỳ, từng năm Chúng ta cũng chỉ mới xác định lượng bụi lơ lửng, chưa có số liệu về lượng bụi lắng đọng

Những tác hại do bụi gây ra đối với môi trường vùng Quảng Ninh gồm:

- Tác hại về sức khoẻ: gây ra bệnh phổi và bệnh về đường hô hấp Theo số liệu thống kê, tỉnh Quảng Ninh hiện nay có khoảng 4000 người mắc bệnh phổi, chiếm gần 50% con số toàn quốc Tỷ lệ thợ lò bị bệnh silicosis chiếm tới 80% tổng số công nhân ngành than bị bệnh này

- Tác hại đến các công trình, máy móc và vật liệu: Do bụi có chứa các chất hoá học, ăn mòn kim loại, làm xuống cấp chất lượng các công trình, máy móc, nhất là trong điều kiện nước ta độ ẩm cao

- Tác hại đến hệ thực vật: sự tích tụ bụi trên các lá cây làm giảm khả năng quang hợp, trong đó bụi có chứa các chất độc tố làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cối

Trong thời gian qua đã áp dụng nhiều giải pháp để hạn chế bụi Phương pháp tưới nước dập bụi là phương pháp chủ yếu được áp dụng với các quy mô khác nhau tại các mỏ lộ thiên, hầm lò cũng đã thử nghiệm nâng cấp đường mỏ,

áo đường bằng bê tông hay bê tông asphan và trồng cây xanh hai bên đường vận tải chính để ngăn ngừa bụi lan toả Hiệu quả của công tác tưới nước chống bụi bị giảm xuống trong mùa hè và mùa khô vì tốc độ bay hơi của nước cao, đòi hỏi lượng nước tưới lớn, số lần tưới tăng lên Hệ thống phun nước áp suất cao, tạo ra sương mù được lắp đặt tại một số địa điểm trên đường giao thông, khu vực nhà máy tuyển than, trạm trung chuyển than Nói chung các giải pháp trên đã làm giảm được lượng bụi bay lơ lửng, cần phải mở rộng áp dụng và lựa chọn hệ thống ít phải sửa chữa, dễ bảo quản

Khi so sánh với các thành phố công nghiệp và ven biển khác ở Việt Nam, vấn đề chống bụi ở thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và các mỏ than vùng Quảng Ninh được xem xét là trầm trọng do các hoạt động khai thác than quy mô ngày càng lớn, khu vực bị ảnh hưởng rộng Những giải pháp chống bụi đang được áp dụng trong nhiều trường hợp chưa đáp ứng được tiêu chuẩn về sức khoẻ

và môi trường hiện có

Những số liệu về bụi, nhất là bụi lắng đọng chưa đủ cả về số lượng và chất lượng để có thể xây dựng một chiến lược giảm thiểu bụi cho các mỏ cũng như việc đánh giá mức độ ô nhiễm bụi do hoạt động khai thác mỏ so với các hoạt động khác xảy ra trong khu vực

b) Khí độc: Bao gồm hai dạng: Độ chứa khí tự nhiên và phát sinh trong quá trình sản xuất Khí Mêtan (CH4) là khí đi kèm, chứa trong các vỉa than, trong quá trình khai thác than, lượng khí này thoát ra và la toả vào không khí

Trang 24

- Ở các mỏ lộ thiên, ngoài CH4 có chứa trong tự nhiên còn có các loại khí độc sinh ra do nổ mìn, đốt cháy xăng dầu của xe máy, than tự cháy vv nên lượng khí độc ở mỏ lộ thiên lớn gấp nhiều lần so với các mỏ hầm lò

Trong một năm mỗi xe ô tô loại tải trọng 30÷35 tấn, thải ra khoảng

100÷150kg các chất khí hydrô cácbon, mỗi mỏ sử dụng hàng trăm xe ô tô như vậy lượng khí độc thải ra sẽ rất lớn

Khí độc thải ra do nổ mìn cũng rất lớn: sau vụ nổ 38 giây, ở khoảng cách 50m hàm lượng CO có trong không khí là 0,1%, khí NO2 là 0,2%, khí CO còn lưu lại trong đống đất đá nổ mìn cũng như vùng than lân cận trong khoảng cách

100÷200m ở độ sâu 1,5÷10m của đống đá nổ mìn hàm lượng CO đạt tới 4,5%, khí NO2 là 0,025%

Khảo sát ở moong mỏ Cọc Sáu ở độ sâu -50 nồng độ khí CO là 90mg/m3, trong khi tiêu chuẩn cho phép chỉ có 5mg/m3

Ở các mỏ lộ thiên, các khí độc tuy có nồng độ cao nhưng chỉ tập trung tức thời ở khu vực khai trường, sau đó khuếch tán nhanh vào không khí, nên số liệu nồng độ khí độc quan trắc trung bình ngày đều thấp hơn giới hạn cho phép

c) Vi khí hậu: Trong điều kiện mỏ lộ thiên khi xuống sâu và mỏ hầm lò cần nghiên cứu điều kiện vi khí hậu mỏ, trong đó lưu ý đến nhiệt độ và khí độc

- Các mỏ lộ thiên ngày càng xuống sâu Hiện nay mỏ Cọc Sáu đang khai thác ở mức -75, độ sâu đáy mỏ so với địa hình bao quanh là 200m, khi kết thúc

sẽ lên đến 300m, diện tích khai trường hẹp thông gió mỏ khó khăn Mỏ ngày càng sử dụng thiết bị cỡ lớn: máy xúc, ô tô, máy gạt, máy khoan, máy bơm nước vv Các loại thiết bị này làm việc ở đáy mỏ thoát nhiệt vào môi trường rất lớn Các yếu tố ảnh hưởng đến chế độ nhiệt mỏ lộ thiên:

+ Năng lực bức xạ là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất do nước ta vùng nhiệt đới Bảng 2.4 giới thiệu kết quả đo đạc thời gian chiếu sáng trong ngày và lượng bức

Trang 25

Trong những ngày mặt trời chiếu sáng, bề mặt lớp đất đá hấp phụ một phần năng lượng làm tăng nhiệt độ đất đá, một phần phản xạ lại không gian, một phần truyền cho các lớp không khí nằm gần đó

+ Áp suất cũng có ảnh hưởng lớn đến trạng thái của khí quyên trên công trường nhất là trong những ngày lặng gió hay tốc độ gió dưới 2m/giây

Do các yếu tố đó tạo nên sự chênh lệch nhiệt độ ở đáy mỏ bao giờ cũng cao hơn bề mặt từ 3-8oC Lượng khí độc thường tích tụ ở đáy mỏ, đã xảy ra một số trường hợp khi nổ mìn bị nổ và cháy khí

Do nghiên cứu về khi hậu và tìm biện pháp cải thiện môi trường là một nội dung quan trọng khí các mỏ lộ thiên xuống sâu Vấn đề này đã được đề cập đến

từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, nhưng chưa được quan tâm đúng mức và chưa thu được các kết quả khả thi

d) Tiếng ồn và độ rung: Trong sản xuất than, tiếng ồn và độ rung do hoạt động của máy móc và thiết bị là không thể chánh khỏi

- Tiếng ồn: ở các mỏ lộ thiên, tiếng ồn do các thiết bị khoan, xúc, các loại

xe ôtô vận chuyển đất đá, do các máy nén khí, hệ thống sàng tại mỏ, các phân xưởng cơ khí, bảo dưỡng xe máy mỏ vv Nhìn chung các thiết bị mỏ hoạt động sinh ra tiếng ồn đều cao hơn mức tiêu chuẩn: máy xúc là 92dB, ôtô là 97- 104dB, sàng mỏ là 85- 95dB

Tiếng ồn có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ công nhân, đặc biệt là đối với những người thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ cao, ảnh hưởng đến thính giác và các cơ quan khác, gây buồn nôn, chóng mặt, căng thẳng thần kinh, mệt mỏi toan thân, tâm lý khó chịu, bực bội, mất tập trung vào công việc

- Độ rung: Chủ yếu do thiết bị làm việc, đều vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép: Đường ôtô (cách 50m) 1,4; đường tàu hoả (cách 50m) 1,4; trạm quạt gió 1,3- 1,6

- Độ rung là một trong những yếu tố có tác động đến máy móc và sức khoẻ của người lao động Máy càng rung càng nhanh chóng hỏng Độ rung cũng gây

ra các loại bệnh cho con người như bệnh tiêu hoá, đau ngực, đau lưng, rối loạn thần kinh, mất phản xạ, mất thăng bằng, thị lực giảm sút, triệu trứng về tim mạch, suy nhược cơ thể, vv

* Môi trường nước

Hoạt động của sản xuất than có tác động mạnh mẽ đến chất lượng và lưu lượng của nước mặt, nước ngầm và nước biển

a) Suy giảm lưu lượng nước

b) Hệ thống thuỷ văn ở các khu vực có sản xuất than ở các khu vực có hoạt động sản xuất than đã bị biến dạng mạnh mẽ về mọi phương diện: hình dáng, độc lực dòng chảy, hệ thống bồn thu nước, mức độ liên tục của dòng chảy vv

Trang 26

Có thể dẫn chứng qua thực tế khảo sát toàn bộ bồn thu nước của hệ thống

sông Mông Dương bị thay đổi và thu hẹp diện tích, đặc biệt là khu vực suối Vũ

Môn, Khe Tam, Khe Sim Nhiều nhánh sông suối của hệ thống sông ngày càng

bị lấp chặn ở phía Đông mỏ Cao Sơn, phía Bắc Bàng Nâu, phía Tây Cọc Sáu,

trên các nhánh Vũ Môn, Khe Tam, Khe Sim Nhiều đoạn sông trở thành suối

cạn, có nhiều nơi chỉ còn sâu 0,5- 0,6m, về mùa lũ nước tràn lên cả mặt đường,

thị trấn Lưu lượng sông Diễn Vọng cũng giảm từ 25.000 m3/ngày xuống còn

6.000 m3/ngày về mùa khô Hồ Bara Đèo Nai, nguồn cung cấp nước sinh hoạt

chủ yếu cho thị xã Cẩm Phả ở độ cao +340, diện tích 50ha có sức chứa

250.000m3, nhưng trong những năm gần đây xảy ra hiện tượng rò rỉ, bồi lắng, có

lúc xuống dưới mức tự chảy, phải dùng bơm nước

Đập chứa nước Yên Lập xây dựng năm 1980 với sức chứa 118 triệu m3,

cung cấp nước tưới cho 10.050ha đất nông nghiệp Sau 10 năm công suất giảm

xuống còn 60%, chỉ còn đủ khả năng cung cấp nước tưới cho 5.500ha Hồ chứa

Diễn Vọng cung cấp 25.000m3 nước/ngày đêm nước sinh hoạt cho thành phố Hạ

Long và thị xã Cẩm Phả, nay chỉ còn 15.000m3/ngày đêm Thành phố Hạ Long

với số dân 150.000 người hiện đang chịu tình trạng thiếu nước

- Về lưu lượng nước ngầm cũng bị suy giảm trầm trọng do thường xuyên

bơm hút từ các moong mỏ lộ thiên, cũng như tàn phá thảm thực vật làm cho lưu

lượng nước giảm, mực nước bị hạ thấp, chế độ nước ngầm bị phá vỡ

Tài nguyên nguồn nước ngầm ở Quảng Ninh rất hạn chế do tầng chứa nước

hoặc nước gần mặt đất hoặc có quan hệ thuỷ lực trực tiếp với nước biển Nếu

thiếu nước mặt, phải khai thác nước ngầm quá mức sẽ rất nguy hiểm Trong 10

lỗ khoan khai thác nước ngầm ở Hòn Gai đã có 4 lỗ bị nhiễm mặn

b) Suy giảm chất thải chất lượng nước mặt, nước ngầm ở Quảng Ninh do

nhiều nguyên nhân như nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt mà hầu hết

không được xử lý

Nước thải do khai thác than cũng đã góp phần làm ô nhiễm môi trường

nước Lượng nước thải tính toán bình quân: Mỏ hầm lò là 3- 10m3/tấn than khai

thác; Mỏ lộ thiên là 2- 51m3/tấn than khai thác

Bảng 1.5: Chất lượng nước thải tại một số mỏ lộ thiên (10/1996)

Núi Béo

Moong

Hà Tu

Moong Cọc Sáu

Trang 27

Bảng 1.6: Chất lượng nước thải tại một số mỏ lộ thiên (10/1997)

TT Các chỉ tiêu Đơn vị Núi Béo Moong Moong Hà Tu Cọc Sáu Moong

Qua các số liệu đo đạc, có thể thấy khai thác than đã tác động đến chất

lượng nước mặt vùng Quảng Ninh và biểu hiện ở sự gia tăng chất rắn lơ lửng

đặc biệt là huyền phù than

Thay đổi pH của nước làm gia tăng nồng độ kim loại nặng và lượng ion

sunfat trong nước: hàm lượng các chất lơ lửng trong các sông, suối, ao, hồ bị

ảnh hưởng của khai thác than giao động từ 500- 2500 mg/l cao hơn tiêu chuẩn

cho phép 6- 20 lần, hàm lượng các ion kim loại nặng trong nước cao hơn các

vùng lân cận

Dự báo chất lượng nước mặt của vùng than Quảng Ninh trong tương lai sẽ

nhanh chóng suy giảm do gia tăng số lượng nước thải mỏ, diện tích các bãi thải,

diện tích rừng bị thu hẹp, gia tăng mật độ dân cư, các ngành công nghiệp khác

và hạ tầng cơ sở

* Môi trường đất đai và rừng

a) Hiện trạng sử dụng đất: tổng diện tích đất tự nhiên của Quảng Ninh là

594.858ha, đất đã sử dụng 251.301ha chiếm khoảng 42,3% Trong đó đất nông

nghiệp là 41.465ha chiếm 6,65%, đất rừng 153.032ha chiếm 25,77%, đất cho

công nghiệp ngành than theo bản đồ duyệt năm 1993 của tỉnh Quảng Ninh là

17.220,7ha trong đó đất cho khai trường là 11.537,5ha, đất làm bãi thải 1.868ha,

đất làm mặt bằng và vùng đệm là 3.380,8ha, chi tiết cho khu vực xem bảng 1.7

Riêng ở vùng Quảng Ninh ngành than khá tập trung, tuy diện tích đất dùng

cho ngành than chỉ chiếm 2,9% diện tích đất toàn tỉnh Nhưng nó lại nằm gần

thành phố, thị xã, thị trấn, ven biển, nơi có mật độ dân số cao, đất nông nghiệp rất

hiếm Việc khai thác than cũng ảnh hưởng đến thảm thực vật rừng Khai thác than

Trang 28

trực tiếp làm mất 705ha rừng, còn khai thác gỗ khống đúng kỹ thuật làm mất 34.135ha rừng

Bảng 1.7: Hiện trạng sử dụng đất

Diện tích, ha STT Vùng

Toàn bộ Khai trường Bãi thải Mặt bằng và vùng đệm

cư, đường giao thông Quá trình khai thác than hàng trăm năm đã để lại hậu quả nặng nề về đổ thải, trôi lấp đất đá thải

- Khối lượng đất đá thải Nếu tính trung bình cho thấy để khai thác 1 tấn than mỏ lộ thiên phải bóc 6- 8m3 đất đá Hiện nay mỗi năm vùng than Quảng Ninh lượng đất đá thải khoảng trên 100 triệu m3

- Trôi lấp đất đá thải: Việc hình thành các bãi than cao như bãi thải Nam Đèo Nai- Cọc Sáu cao hơn 200m đã làm cho nguy cơ trôi lấp đất đá thải càng mạnh mẽ Dưới tác động bào mòn, xói lở và cuốn trôi của nước mưa, gió bão, các bãi thải luôn bị biến động

Khu vực gần mép trên sườn bãi thải chủ yếu là đất đá có cỡ hạt nhỏ hơn 15mm chiếm khoảng 50%, lúc đầu thường xuyên bị xói mòn nhẹ và sau một thời gian bị sạt lở từng mảng lớn cho đến khi đạt góc nghiêng ổn định Khu vực giữa của sườn bãi thải do dòng nước tập trung thành dòng chảy lớn cuốn trôi đất

đá, tạo thành các rãnh sâu 2- 3m, rộng 5- 7m, tạo tiền đề hình thành vùng lũ bùn phá hoại sườn bãi thải, bồi lấp sông suối, đồng ruộng, đường sá, khu vực dân cư quanh bãi thải Hiện tượng bồi lấp xảy ra trầm trọng đối với sông Mông Dương, Nam Đèo Nai- Cọc Sáu, suối Lộ Phong ở Hà Tu, Sông Uông ở vùng Vàng Danh vv

Trước năm 1966 các lòng sông có dạng chữ V thì nay đáy phẳng, cửa biển Cọc Sáu hình thành các gò bồi lắng lớn, đường kính tới 60- 70m, tốc độ phát triển 20- 25m/năm Năm 1972 đã di chuyển đường 18 đoạn Cẩm Phả- Cọc Sáu

ra sát biển, nay lại chuẩn bị phải dời tiếp Đất đá thải khu vực Vàng Danh Lộ Phong đã bồi lấp làm cạn toàn bộ suối Lộ Phong và hàng trăm ha đất canh tác ở vùng hạ lưu Việc phát triển khai thác lộ vỉa tuy khối lượng đất đá thải không lớn nhưng di phạm vi kỹ thuật đã thay đổi địa hình, trôi lấp trên diện rộng, gây tác hại nghiêm trọng

Phương pháp đổ thải cao tuy có lợi về cung độ vận tải, nhưng có nhiều tác hại về môi trường, là không thích hợp phải hạn chế Hiện nay các bãi thải không

Trang 29

có nhiều hệ thống kênh mương để lái dòng nước, khi mưa bão nước đổ thẳng dọc theo sườn gây xói mòn và sụt lở lớn Những giải pháp như hạ thấp góc dốc

tự nhiên của sườn bãi thải, đổ thải theo nhiều cấp, xây dựng hệ thống mương rãnh lái dòng mước và thoát nước, trồng nhiều cây trên bãi thải đều chưa thực hiện được

Việt Nam đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về ổn định bờ mỏ ở các

mỏ lộ thiên, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về ổn định bãi thải, nhất

là trong điều kiện bão hoà nước của mùa mưa bão Trong tương lai, cần ưu tiên xem xét vấn đề quy hoạch đất cho việc đổ thải và xử lý sử dụng bãi thải

I.3.2 Hiện trạng trên các mỏ thiếc ở Việt Nam

Hoạt động khai thác thiếc, ngoài những yếu tố ảnh hưởng xấu đến môi trường giống như các hoạt động khai thác khoáng sản khác như gây nên bụi, tiếng ồn, vùi lấp diện tích đất canh tác nó còn có những ảnh hưởng khác làm tổn hại môi trường nước, thảm thực vật và sức khoẻ con người do trong quặng đa kim có chứa các yếu tố độc hại như asen, chì, molipden vv Đặc biệt đối với hoạt động khai thác thiếc sa khoáng thì công đoạn tuyển rửa quặng thô và khâu luyện kim có ảnh hưởng xấu tới môi trường xung quanh Khối lượng đất đá thải chiếm tỷ lệ lớn, bao gồm: đất phủ phải bóc trong quá trình khai thác và đất quặng thải sau tuyển (chiếm khoảng 90% khối lượng đất quặng đưa và tuyển rửa) Mặt khác, các thân quặng thiếc sa khoáng phần nhiều nằm trên các khu vực đất ruộng lúa của dân hoặc nằm gần các khu vực đất canh tác, gây bồi lấp và làm

ô nhiễm nguồn nước do hoạt động khai thác, chế biến thiếc là đáng kể Có thể nêu một sô tác động chính tới môi trường tỏng quá trình hoạt động khai thác của các mỏ thiếc ơ Việt Nam như sau:

* Tác động tới môi trường đất

Các mỏ thiếc ở Việt Nam hiện nay chủ yếu khai thác bằng phương pháp lộ thiên (mỏ sa khoáng) nên có tác động trực tiếp tới môi trường đất trong và sau khi khai thác Ngoài việc chiếm dụng đất để mở moong khai thác thì các mỏ thiếc sa khoáng đều chiếm dụng một diện tích đáng kể sử dụng làm bãi thải ngoài, bãi thải bùn quặng sau khi tuyển trong quá trình khai thác

Mỏ thiếc Tĩnh Túc sử dụng gần 50ha đất làm khai trường và hàng chục ha cho bãi thải ngoài Hiện nay, mỏ đang khai thác nạo vét nên sử dụng bãi thải trong là chủ yếu Tuy nhiên, với khối lượng gần 15 triệu m3 đất bóc trong suốt hơn 40 năm hoạt động đang là vấn đề nan giải đối với mỏ khi tiên hành làm thủ tục đóng cửa mỏ trong thời gian tới

Tương tự, các mỏ Bắc Lũng, Sơn Dương với hàng chục ha đã sử dụng làm khai trường khai thác, bãi thải từ khi khai thác đến nay nhưng hầu hết chưa được hoàn thổ cũng đang là thách thức lớn đối với các mỏ trong thời gian tới Gần đây, các mỏ nói trên đã tiến hành hoàn phục môi trường đất tại diện tích chiếm dụng làm bãi thải sau tuyển rửa để trả lại cho nhân dân địa phương trồng lúa nước nhưng diện tích đã hoàn phục chưa nhiều

Trang 30

Khu vực moong đã khai thác (kết thúc từ những năm thập kỷ 90 thế kỷ 20 của mỏ Châu Hồng) trước đây là ruộng lúa của nhân dân nhưng đến nay vẫn chưa hoàn phục môi trường Bãi thải đất sau tuyển của xưởng tuyển Bản Poòng (đã ngừng hoạt động năm 2001) được thải trực tiếp ra khu vực suối, sườn đồi gần khu xưởng tuyển nhưng đến nay vẫn chưa được xử lý triệt để Tình trạng môi trường đất tại các khu vực Châu Cường, Bản Poòng, Thung Lũng I, Khê

Đổ, Châu Tiến, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An đã gây ra sự xáo trộn, làm ô nhiễm đáng kể tới môi trường đất Do không có người tổ chức quản lý hợp pháp nên công tác phục hồi môi trường sau khai thác các khu vực này không được thực hiện Hậu quả đã làm thu hẹp diện tích đất canh tác, làm giảm chất lượng đất thì nhân dân địa phương phải gánh chịu

* Tác động tới môi trường nước

Không chỉ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường đất, trong quá trình khai thác, chế biến thiếc còn tác động trực tiếp và đáng kể tới môi trường nước Theo số liệu khảo sát gần đây của Viện khoa học Vật liệu- Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tại mỏ thiếc Sơn Dương cho thấy, các ảnh hưởng chính lên môi trường nước là: làm thay đổi diện tích nước mặt dòng chảy sông suối, làm thay đổi cân bằng nước khu vực, làm thay đổi mực nước ngầm địa phương, tăng độ

sử dụng làm khai trường khai thác, bãi thải trong quá trình khai thác, dẫn tới một

bộ phận người dân phải tìm nghề khác để kiếm sống đã ảnh hưởng nhất định tới đời sống hàng ngày của họ Những tác động này cần thiết phải được đánh giá một cách cụ thể để có những hướng giải quyết thích hợp

* Làm suy giảm nhanh chóng nguồn tài nguyên thiếc

Không chỉ có tác động xấu tới môi trường đất, nước cũng như kinh tế, xã hội, tác động đến môi trường thiên nhiên cần phải kể tới trong khai thác thiếc,

đó là làm suy giảm, cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiếc Một trong những nguyên nhân chính là hoạt động khai thác chưa có quy hoạch, kế hoạch

cụ thể của các tổ chức, các nhân khai thác hợp pháp cũng như hoạt động khai thác trái phép một cách bừa bãi, lộn xộn

Khi giá thiếc giảm mạnh trong giai đoạn những năm thập kỷ 90 thế kỷ 20

đã buộc các doanh nghiệp tìm mọi cách giảm giá thành kr, chế biến Điều này dẫn tới tình trạng khai thác theo kiểu “dễ làm, khó bỏ”, tập trung khai thác quặng ở khu vực có hàm lượng giàu, không quan tâm nhiều đến công tác trung hoà quặng trong khai thác và tuyển rửa Đến nay, khi biết giá thiếc có xu hướng tăng, trữ lượng thiếc đã cạn kiệt tại một số mỏ như Bắc Lũng, Tĩnh Túc đã phải khai thác lại tại các khu vực là bãi thải sau tuyển trước đây

Ví dụ một số trường hợp cụ thể sau:

Mỏ thiếc Sơn Dương- Tuyên Quang:

Quặng đuôi chứa arsenopyrit (1-2%), calcopyrit (1%) và pyrit (10- 15%) Khoáng vật sulfua này ôxy hoá tạo ra dòng thải axit mỏ và dung dịch giàu kim loại Đá vôi ở nền có thể sẽ trung hoà lượng axit này Sự ôxy hoá này có thể thấy

Trang 31

rõ ở ngay nước thải từ ngay hố thải của một điểm đang khai thác (mẫu số SEA- 35w, và từ một dòng chảy nhỏ sau đó mẫu SEA- 36w, Bảng 26); các mẫu nước thải này có độ pH thấp, có lượng kim loại hoà tan lớn Một điều chú ý là các kim loại độc hại như Cu và Cd có hàm lượng rất cao Một mẫu nước dùng cho tuyển lấy ở một sông không bị ô nhiễm gần đó (mẫu SEA- 33w) có thành phần tương

tự như nước sạch trên thế giới Sau khi qua tuyển, (nhưng chưa bị ôxy hoá) nó

đã thể hiện chứa nhiều kim loại đặc biệt là As (xem mẫu SEA- 32), nước này được thải trực tiếp ra cánh đồng lúa với hàm lượng As gấp 30 lần nước bình thường

Tại mỏ cũng không hề có một dự định hồi phục môi trường nào Đất đai ở đây đang trong tình trạng bị đào xới, vùng trồng lúa ở đây không canh tác được

Ví dụ một trong những thung lũng được trả lại cho địa phương để canh tác nhưng tại đây có đầy những hố nước và hàng đống sỏi đá thải nên không thể trồng trọt được Sự lan toả của As và sự ôxy hoá các kim loại độc hại như Cu,

Cd từ các dòng rỉ từ dòng thải axit mỏ qua các đống thải cũng không hề được chú ý Do sự nguy hiểm của As đến đời sống con người và của sinh vật, cần có những nghiên cứu nhằm kiểm soát được các đập thải quặng đuôi và có chiến lược phù hợp để phục hồi môi trường cho các vùng đã khai thác

Mỏ thiếc Bắc Lũng- Tuyên Quang

Khi khai thác người ta đã không tính đến việc bảo vệ môi trường hoặc việc phục hồi môi trường nên phục hồi môi trường các diện tích đã khai thác ngày nay sẽ rất tốn kém và khó khăn Vì một vùng rộng lớn đã bị đào bới, không thể canh tác Hơn nữa, hơn nữa khả năng phát tán Cu, Cd và As khi nước tiếp xúc với đất đá thải sẽ hoà tan và đưa các kim loại này vào dòng chảy cũng không hề được tính đến Rất may là tại đây lượng nước rất dồi dào, nó có thể ngăn cản bớt việc tạo thành dòng thải axit mỏ do ngăn không cho đất đá thải tiếp xúc với không khí Tuy thế, tại nhiều điểm của cả vùng thì khả năng tạo thành dòng thải axit mỏ và hoà tan các kim loại nặng vẫn xảy ra Do sự nguy hiểm của As đến đời sống con người và của sinh vật, cần có những nghiên cứu nhằm kiểm soát được các đập thải quặng đuôi và có chiến lược phù hợp để phục hồi môi trường cho các vùng đã khai thác Các mỏ khai thác thủ công còn hoạt động ở nhiều điểm có khi còn liên kết với các công ty mỏ, cũng có một lượng quặng được khai thác từ ngay các ruộng lúa (sau khi thoả thuận với chủ đất) Không hề có sự tính toán đến sự phục hồi của các điểm khai thác này và dường như tất cả các điểm đó đều bị bỏ hoang sau khi khai thác Tuy thế ảnh hưởng của các điểm khai thác nay không lớn và có thể đề phòng vấn đề này bằng biện pháp hành chính

Mỏ thiếc Quỳ Hợp- Nghệ An

Khi khảo sát thì rất ít quặng được tuyển tại nhà máy, do đó dòng thải của nhà máy được thải trực tiếp ra một con suối nhỏ gần đó Thành phần As trong chất thải rắn rất cao: 355 mg/kg so với thành phần tràm tích được coi là không ô

Trang 32

nhiễm trên thế giới chỉ là 5- 20mg/kg Tuy nhiên, so với chất thải rắn ở Sơn Dương có hàm lượng 0,6- 0,9% (60000- 90000 mg/kg) thì còn thấp hơn nhiều Tại mỏ cũng không hề có một dự định hồi phục môi trường nào Đất đai tại đây ở trong tình trạng bị đào xới và vùng trồng lúa ở đây không canh tác được Đối với mỏ Bản Cô sẽ được đưa vào khai thác cần phải tính đến việc khai thác sao cho có thể trả lại đất trồng cho việc canh tác nông nghiệp sau khi khai thác xong

I.3.3 Hiện trạng môi trường trên các mỏ Sa khoáng và Titan

Mỏ sa khoáng cromit Cổ Định Thanh Hoá là mỏ quặng Cromit duy nhất ở nước ta được phát hiện và đưa vào khai thác từ năm 1927 Theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 1956 đến 1998 tại mỏ đã khai thác và tiêu thụ khoảng 600.000 tấn tinh quặng hàm lượng Cr2O3 46% Giai đoạn 56 - 87 sản lượng cao nhất đạt 37.552 tấn trong đó khai thác thủ công chiếm 20.462 tấn, đạt 53% lượng khai thác toàn mỏ.Việc khai thác thủ thải tại chỗ chiếm diện tích gần 600ha, chiều dày lớp đất thải trung bình 0,53m.Giai đoạn 97-98,ngoài cơ sở nhà nước còn có

cơ sở cấp giấy phép khai thác, một số khác khai thác tự do, có năm đến 8000 người tham gia vaò công việc đãi quặng Sản lượng năm cao nhất lên tới 75000 tấn quặng tinh, trong đó sản xuất thủ công chiếm 63,08% chủ yếu thải tại chỗ.Khối lượng quặng khai thác được trong giai đoạn này là 218.936 tấn Để khai thác được khối lượng này phải đào bới khoảng 8 triệu m3 đát quặng.Kết quả

là có ít nhất có khoảng 400 triệu tấn bùn nước được thải ra các sông, suối,hồ ao đồng ruộng vùng lân cận và trải lên lớp bề mặt địa hình dày trung bình 0,58m trên diện tích sấp xỉ 11km2 Với phương thức khai thác trên đây, tổn thất trung bình quặng nguyên khai lên đến trên 30% Theo số liệu cập nhật riêng 1973 ở khu vực I khi khai thác tầng quặng I và tầng quặng II cũng như tầng cát đãlàm tổn thất 46%Cr2O3

Công nghệ khai thác thủ công chủ yếu sử dụng thiết bị thô sơ, một tổ sản xuất chỉ gồm 2-3 người, thiết bị gồm có:1 máy bơm nước cao áp; 1súng bắn nước cỡ nhỏ do một người sử dụng bắn tia nước vào gương tầng tạo thành bùn quặng dưới hố bơm;dùng một bơm bùn bơm bùn quặng nên mặt hố bơm, sử dụng 1 hay 2 bàn đãi do 1 hay 2 người phụ trách trên hố đãi quặng, quặng tinh được trập trung một chỗ, còn bùn quặng đỏ vào một chỗ nào đó thuận tiện cạnh khu vực khai thác Với phương thưc khai thác này do nguồn cung cấp nước không chủ động nên thuận lợi thì khai thác thể bỏ,thêm vào đó do thiết bị thô sơ nên kích thước của hố bơm khai thác bị hạn chế, thời gian tồn tại một hố khai thác không lâu, dẫn đến lãng phí tài nguyên Bởi vậy, việc khai thác thủ công tại mỏ Cổ Định gây ra các tác hại sau:

- Lãng phí tài nguyên

- Gây khó khăn cho việc khai thác tầng quặng dưới

- Thải tại chỗ với khối lượng lớn làm ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh

Trang 33

Việc khai thác và quản lý mỏ sa khoáng Cromit chưa được tốt, chưa mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế đất nước Khai thác sa khoáng ven biển inmenit mặc dù phát triển chưa lâu nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Quặng titan sa khoáng ven biển được khai thác ở nhiều khu vực dọc theo

bờ biển các tỉnh từ Bắc Bộ đến Trunh Bộ (Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thien Huế, Bình Định, Phú Yên )

Các cơ sở khai thác và chế biến quặng sa khoáng ven biển chủ yếu thuộc các công ty khoáng sản do sở công nghiệp tỉnh quản lý Đặc điểm nổi bật nhất trong khai thác quặng sa khoáng ven biển là thiết bị chế biến tinh quặng đều được sản xuất trong nước đảm nhiệm Sản lượng tinh quặng inmenit các cơ sở thuộc hiệp hội Titan Việt Nam từ 1990-2000 như sau:

Năm 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Sản

1990 đến 6 tháng đầu năm 2000 sản lượng các loại của công ty như sau: inmenit- 352.876 tấn; Zicon- 13.631 tấn; Rutin- 3.524 tấn Doanh thu hàng năm (tỷ đồng): 1997 là 28,94; năm 1998 là 60,49; năm 1999 là 91,5; sáu tháng đầu năm 2000 là 69,8

Điểm quan trọng cần lưu ý là các khai trường quặng inmenit Cẩm Long,

Kỳ Khang, Kỳ Anh Hà Tĩnh đều được phục hồi môi trường song song với quá trình khai thác với phương thức khai thác “cuốn chiếu”; khoảng trống đã khai thác xong dùng bùn thải tuyển lấp lại, san bằng rồi sau đó trồng cây

Tại Thừa Thiên Huế trữ lượng sa khoáng ở 3 mỏ Quảng Ngạn, Kế Sung

và Vinh Mỹ là: inmenit 4.150.000 tấn; Zicon 881.000 tấn Sản lượng khai thác

từ năm 1990 đến năm 1999 là 44.464 tấn doanh thu tương ứng là 51,181 tỷ đồng Theo kế hoạch năm 2000 đến năm 2005 qui mô sản xuất quặng sa khoáng ven biển của tỉnh thì trữ lượng mỏ là 90.000 tấn, trong đó Zicon 22.550 tấn, rutile là 2.600 tấn, Monazite là 900 tấn

Xí nghiệp thanh niên Cửa Hội một thành viên của hiệp hội Titan Việt Nam mặc dù lượng khai thác hàng năm không lớn nhưng đã lưu ý đến việc bảo

vệ môi trường

I.3.4 Hiện trạng môi trường trong hoạt động khai thác cát

Hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông gây ảnh hưởng đến môi trường như: làm đục dòng nước, gây tiếng ồn, cản trở mất an toàn đôí với giao thông đường thuỷ, đặc biệt nếu khai thác gần bờ hoặc quá độ sâu vượt giới hạn cho

Trang 34

phép sẽ làm thay đổi địa hình đáy sông, mất cân bằng trắc diện lòng sông, gây biến đổi dòng chảy và gây sạt lở bờ sông, nhất là bờ sông ở khu vực miền nam đều được cấu tạo bởi trầm tích bở rời: bột- sét- cát (đất yếu) dễ bị sạt lở.Thực trạng môi trường trong hoạt động khai thác cát ở từng tuyến sông của một số địa điểm cụ thể như sau:

Hệ thống sông Đồng Nai- Nhà Bè: Hoạt động khai thác cát trên sông Đồng Nai chủ yếu ở đoạn sông Đồng Nai từ đập thuỷ điện Trị An về phía hạ nguồn đến sông nhà bè (từ đập thuỷ điện Trị an về phía thượng nguồn sông nhỏ khai thác với qui mô nhỏ lẻ) Theo tài liệu thăm dò đoạn sông dài 56 km này có trữ lượng cát hơn 40 triệu m3

Từ năm 1990 đến nay, đoạn sông này đã khai thác được hơn 40 triệu m3 cát (diễn ra mạnh nhất từ năm 1993 đến năm 2002 mỗi năm từ 3-6 triệu m3 ), đến nay nguồn cát đã cạn kiệt, chỉ còn khai thác ở hai khu vực nhỏ ở phía hạ nguồn, sản lượng 500.000 đến 600.000 m3 /năm và sẽ ngừng vào năm 2006

Do khai thác với qui mô lớn (cả ngày lẫn đêm) trên cả đoạn sông trong cùng một thời gian, nhiều nơi đã khai thác gần bờ, quá độ sâu cho phép, hậu quả

là gây tiếng ồn, ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân sinh sống ở hai bên bờ sông (nhất là ban đêm), gây cản trở giao thông đường thuỷ, đặc biệt là đã gây sạt

lở bờ sông ở nhiều nơi mất hàng chục hécta đất vườn của dân bị lở xuống sông, nghiêm trọng nhất là sạt lở bờ sông ở một số nơi như khu vực Cù lao rùa, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, khu vực bờ sông gần cù lao Ba Sang, Ba Xe,huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, khu vực cù lao Long Phước thuộc phường Long Phước, Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh bị sạt lở dài gần 2 km, sâu vào bờ hàng chục mét, mất hơn 10 ha đất; nhân dân các khu vực này đã thường xuyên khiếu kiện tập thể đến các cơ quan nhà nước đề nghị cấm khai thác vì cho rằng khai thác cát làm sạt lở bờ sông, gây tiếng ồn, ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân

Về khai thác quá độ sâu cho phép làm thay đổi địa hình đáy sông, điển hình nhất là đoạn sông từ cầu Đồng Nai đến phà cát lái, theo qui định trong báo cáo đánh giá tác động môi trường độ sâu khai thác tối đa là - 16 m nhưng thực tế nhiều nơi đã khai thác vượt quá độ sâu-20m đến - 42m gây biến đổi mạnh địa hình đáy sông, mất cân bằng trắc diện lòng sông, gây biến đổi dòng chảy và dẫn tới dòng sông bị sạt lở mạnh

Đến năm 2004, do nhân dân sinh sống ở hai bên bờ sông nhiều nơi khiếu kiện tập thể, được các cơ quan thông tin đại chúng phản ánh và kết quả kiểm tra của đoàn kiểm tra liên ngành, thủ tướng chính phủ đã phải đề nghị dừng hoạt động khai thác trên đoạn sông Đồng Nai từ đập thuỷ điện Trị An về phía hạ nguồn sông Sài Gòn, Đồng Tranh từ đó đến nay, hoạt động khai thác được chuyển mạnh về hệ thống sông Tiền, sông Hậu

Sông Sài Gòn: Đây là con sông không lớn,phía hạ nguồn chảy qua trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động khai thác cát chỉ diễn ra ở phần trung và thượng nguồn với qui mô nhỏ, đã khai thác được khoảng 2 triệu m3 cát hiện nay chỉ có khai thác ở phía thượng nguồn (từ km 36 đến km 5), giáp ranh giưa 2 tỉnh

Trang 35

Tây Ninh và Binh Dương với sản lượng gần 200.000 m3 /năm Vì vậy, không

có sạt lở bờ sông lơn do khai thác cát gây ra Riêng khu vưc Thanh Đa, sạt lở bờ sông gây sập nhà, chết người là do hình thái đường bờ, cấu trúc địa chất bờ sông, sự lấn chiếm bờ sông của nhân dân gần như hoàn toàn không phải sạt lở

do khai thác cát vì hai phia thượng và hạ nguồn hàng chục km không có hoạt động khai thác cát

Sông Vàm Cỏ Đông: Đây cũng là một sông nhỏ, hoạt động khai thác cát

có diễn ra với qui mô không lớn, khối lượng cát đã khai thác được từ năm 1995 đến nay khoảng 2 triệu m3, hiện nay chỉ còn khai thác ở phần thượng lưu thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh, với sản lượng khoảng 200.000m3 /năm nên không có hiện tượng sạt lở bờ sông lớn, nghiêm trọng xảy ra

Hệ thống sông Tiền- sông Hậu: Là hai hệ thống sông lớn ở đồng bằng Nam bộ, từ năm 1997 đến nay, do nguồn cát ở sông Đồng Nai đã cạn kiệt, hoạt động khai thác cát ở đây mạnh dần lên và đã khai thác được hơn 60 triệu m3 cát, sản lượng khai thác hiện nay tới hơn 20 triệu m3 /năm

Những năm gần đây (khoảng từ năm 2000 đến nay) hiện tượng sạt lở bờ sông thuộc hệ thống sông Tiền, sông Hậu xảy ra ngày càng mạnh mẽ và nguy hiểm, mất hàng trăm hecta đất, làm sập nhiều nhà dân và chết người

Theo các nhà khoa học, nguyên nhân gây sạt lở bờ sông do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông, góp phần thúc đẩy sạt lở nhanh hơn Hiện trạng môi trường có liên quan đến hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông ở hai hệ thống sông như sau:

a Hệ thống sông Tiền (gồm sông Tiền, sông Vàm Nao, sông Cổ Chiên, Sông

- Khu vực bờ phải sôngTiền thuộc thị trấn Tân Châu, tỉnh An Giang bị sạt

lở nhiều năm nay, chiều dài khoảng 2km vơi tốc độ 5-10 m/năm đã sập nhiều nhà dân xuống sông, gần đây nhà nước phải chi hơn 100 tỷ đồng để xây dựng bờ

kè và Thủ tướng Chính phủ đề nghị dừng khai thác cát trên đoạn sông này với chiều dài 5 km; ở lòng sông có những hố sâu 30 m

- Khu vực trái sông Tiền thuộc xã Thượng Phước, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, bờ sông bị sạt lở dài 3km từ nhiều năm nay, tốc độ sạt lở nhanh(> 20m/năm)

- Khu vực bờ trái sông Vàm Nao thuộc xã Kiến An và Mỹ Hội, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, bờ sông bị sạt lở dài 4 km, tốc độ sạt lở 5-10 m/ năm

Trang 36

- Khu vực bờ phải thuộc thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, bờ sông bị sạt lở dài 5 km từ nhiều năm nay, tốc đọ sạt lở 5-10 m/ năm

- Khu vực bờ Nam cầu Mỹ Thuận, ngã ba sông Tiền, sông Cổ Chiên, tỉnh Vĩnh Long do khai thác cát tập trung, đào lòng làm cho dòng chảy có xu hướng

đổ về hướng Vĩnh Long, gây sạt lở dài 2 km với tốc độ trung bình

- Khu vực bờ phải sông Cổ Chiêm thuộc thị xã Vĩnh Long bị sạt lở dài 3

km từ nhiều năm nay, tốc độ 1-2 m/ năm, bờ sông hiện nay đã bị kẻ, nhưng lòng sông ở gần bờ có chỗ sâu tới -40m và đang bị khoét hàm ếch nguy hiểm

b Hệ thống sông Hậu

Từ biên giới Việt Nam - Cam Pu Chia về hạ nguồn ra đến biển Đông có trên 24 điểm sạt lở với mức độ khác nhau, ở đây hiện có một số khu vực bị sạt lở lớn, nghiêm trọng và có hoạt động khai thác cát như sau:

- Khu vực Mỹ Hoà, Mỹ Thạnh, tỉnh An Giang, bờ sông bị sạt lở cả hai bên gần 10 km, tốc độ sạt lở 5-8 m/ năm từ nhiều năm nay

- Khu vực đầu Cù lao ông Hổ, tỉnh An Giang sạt lở dài 5 km, tốc độ sạt lở 10m/năm từ nhiều năm nay

- Khu vực Cù lao Phó Ba, tỉnh An Giang bị sạt lở dài 3 km, tốc độ sạt lở 10m/năm và đang mạnh dần lên

- Khu vực phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, bờ sông bị sạt lở dài 2 km, tốc độ sạt lở 2-5 m/năm, đầu năm 2005, tỉnh đã phải cấm khai thác cát

ở khu vực này

- Khu vực bờ phải sông thuộc Ô môn, thành phố Cần Thơ dài 2 km bị sạt

lở với tốc độ sạt lở 5-10 m/ năm, do dân thường xuyên có khiếu kiện tập thể, cho rằng sạt lở do khai thác cát, đầu năm 2005, thành phố Cần Thơ đã tạm cấm khai thác cát tại khu vực này

- Khu vực bờ phải sông thuộc quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ, bờ sông bị sạt lở dài 1-2 km, tốc độ sạt lở 5-10 m/ năm

- Khu vực bờ trái sông phía trên và dưới Bến phà Cần Thơ thuộc huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, bờ sông bị sạt lở dài hơn 4 km, tốc độ sạt lở mạnh (> 10 m/năm) từ nhiều năm nay, nhân dân địa phương thường xuyên khiếu kiện tập thể đến các cơ quan Nhà nước cho rằng sạt lở do khai thác cát và gây tiếng

ồn gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhân dân sinh sống ven bờ Đầu năm 2005, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã phải tạm cấm khai thác đoạn sông từ phà Cần Thơ đến cầu Cần Thơ đang xây dựng

I.3.5 Hiện trạng môi trường tại các mỏ vàng khai thác tận thu

Hoạt động khai thác vàng tại một số khu vực thuộc miền Trung đã bắt đầu rất sớm thời Pháp thuộc Sau một thời gian, hoạt động khai thác mới được mở rộng trở lại từ năm 1985 đặc biệt từ sau năm 1995 khi có chính sách giao khai thác tận thu cho các tỉnh thì hoạt đọng khai thác trở lên rầm rộ chưa từng có

Trang 37

Thực tế hiện nay, còn lại rất ít các điểm mỏ thuộc diện cấp phép của Bộ Công Nghiệp, phần lớn còn đã được phê duyệt bàn giao cho các tỉnh quản lý và cấp phép khai thác tận thu

Các đơn vị được tỉnh cấp phép khai thác tận thu phần lớn là các doanh nghiệp tư nhân các đơn vị này với năng lực hoạt động và khả năng tài chính hạn chế đã sử dụng phương thức khai thác và chế biến thủ công và bán thủ công là chính

Đối với các mỏ vàng gốc, các mỏ này nằm trên địa hình núi cao, có độ phân cắt lớn Phương thức khai thác duy nhất được sử dụng ở đây là đào giếng tìm bắt các vỉa quặng và sau đó khoan, nổ mìn tạo hầm Các hầm lò thường có

độ sâu tới vài trăm mét chạy theo các vỉa quặng trong lòng núi Công nghệ khai thác được sử dụng tại các mỏ này phần lớn là bán thủ công, sử dụng sức người bóc tách các vỉa nẹp chứa quặng ở sâu trong lòng núi đưa lên miệng giếng bằng tời thủ công Tiếp theo, quăng được đưa vào nghiền nhỏ và tuyển trọng sa Quặng vàng qua sơ tuyển được đưa vào máng phân kim loại bằng chất độc cyanure

Đối với các mỏ sa khoáng, hầu hết các sa khoáng đều có nguồn gốc aluvi, aluvi - proluvi Phương thức khai thác chủ yếu là đào hầm hố lấy đất, cát tại các quả đồi, bãi bồi ven sông suốt và sử dụng nước sông, suốt tuyển trong sa và sau

đó cô lập vàng bằng thủy ngân Điều kiện môi trường lao động và nguy cơ tai biến có thể xảy ra do hoạt động khai thác tận thu và chế biến vàng

- Điều kiện an toàn lao động

Qua khảo sát thực tế tại từng vị trí khai thác, chế biến, tập thể tác giả của

đề tai nhận thấy điều kiện an toàn lao động trong hoạt động khai thác vàng tại các mỏ này luôn ở tình trạng báo động Các hầm lò, giếng được đào thủ công và không tuân theo bất cứ tiêu chuẩn an toàn nào Với hệ thống sâu hàng chục mét, dài hàng trăm mét dọc ngang trong lòng núi, các hầm lò hoàn toàn không sử dụng các vì chống (trừ miệng hầm) và không có hệ thống thông gió Đây là nguyên nhân chính gây ra các vụ sập hầm lò thường xuyên

- Nguy cơ tai biến địa chất

Một đặc điểm chung là các mỏ vàng thường được bố trí dọc theo sườn dốc của khe nước để tiện lợi dụng độ dốc địa hình trong các công đoạn tuyển quặng cũng như đổ bỏ chất thải Đối với vàng gốc, các cửa hầm nằm dọc theo sườn dốc tuỳ thuộc vào vị trí vỉa quặng Đặc biệt chất thải rắn thường đổ ngay tại cửa hầm làm mặt bằng đặt máy móc, làm tăng độ dốc và mất tính ổn định của sườn dốc rất dễ gây trượt lở

- Nguy cơ ô nhiễm môi trường

Khu vực nghiền và tuyển quặng thô được bố trí ngay sát cửa hầm Hoạt động ở đây được cơ giới hoá kết hợp với lao động thủ công Các máy nghiền, tuyển quặng phần lớn sử dụng động cơ diezen tạo ra tiếng ồn và một lượng lớn khói dầu và khí CO Một ví dụ điển hình là tại mỏ G18 Phước Sơn Quảng Nam,

Trang 38

được khai thác với quy mô lớn 100% thiết bị máy móc sử dụng động cơ diezen Bằng cảm quan ban đầu, tất cả các khu vực chế biến quặng và cây cối xung quanh đã bị phủ đen bởi khói dầu Qua đo đạc tại chỗ, hàm lượng khí độc tại khu vực này đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép tới 8 lần Khói bụi và khí thải có khả năng gây nguy hiểm trực tiếp tới sức khỏe của công nhân

Ngoài khói bụi và khí thải, chất độc thủy ngân và cyanure vẫn được tất cả các mỏ sử dụng trong công đoạn phân kim vàng Nước có chứa dung dịch cyanure hoặc thủy ngân được xả thẳng ra các dòng chảy tự nhiên vào các sông suối Các điểm khai thác vàng miền Trung phần lớn nằm tại thượng nguồn các con sông lớn cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho toàn bộ khu dân cư đồng bằng thấp ven biển Vì vậy, nguy cơ nhiễm bẩn, nhiễm độc cho con người và hệ động thực vật do hoạt động khai thác vàng tại miền Trung là rất cao và có khả năng ảnh hưởng trên diện rộng

I.4 Công tác bảo vệ môi trường trên ba mỏ khảo sát

I.4.1 Bảo vệ môi trường không khí:

Các mỏ đã có ý thức rõ rệt trong việc bảo vệ môi trường không khí các

mỏ đã tiến hành rải nhựa toàn bộ hệ thống đường ngoài mỏ Đường trong mỏ được rải cấp phối và lu lèn, hàng ngày được tưới phun nước từ 2 ÷ 3 lần Ôtô chở đá hoặc khoáng sản chạy qua khu dân cư đều có che bạt kín

Đã có ý thức giảm thiểu các chất độc hại do thiết bị chạy xăng dầu gây ra như thay đổi nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao bằng nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh thấp, thay nhiên liệu có chỉ số octane, cetane thấp bằng nhiên liệu có chỉ số octane, cetane cao phù hợp với tính năng của xe Ở mỏ có sử dụng thuốc tuyển như Sin Quyền đã có tiến hành xây dựng nhà xưởng thoáng, nhiều cửa sổ, dùng quạt gió công nghiệp để đẩy mùi ra ngoài, hệ thống thùng khuấy,

bể chứa thuốc tuyển được đậy kín, công nhân trực tiếp xúc với thuốc tuyển ở khu vực tuyển nổi được trang bị khẩu trang, gang tay, ủng cao su,…

Để giảm các khi CO, CO2, NO, NO2, SO2, … gây ra khi nổ mìn, 2 mỏ

Hà Tu và Hoàng Mai đã hạn chế tối đa việc sử dụng các loại thuốc Zecnô, AD1

mà chủ yếu dùng ANFO và nhũ tương(là các loại thuốc có cân bằng ôxy xấp xỉ bằng 0) Riêng mỏ Sin Quyền, do quặng khá cứng nên ở các tầng khoan bằng máy khoan đập xoay, đường kính 105 mm vẫn phải dùng thuốc nổ AD1

Nhược điểm chính ở các mỏ là chưa sử dụng đồng bộ các giải pháp giảm bụi tận gốc trong các khâu khoan nổ, xúc bóc, nghiền đập như dùng búa nước, tưới nước trước khi nổ mìn, phun nước trước và trong khi xúc, các giải pháp dập bụi ở trạm nghiền đá chưa có, một số máy khoan đập xoay ở mỏ Sin Quyền không có hệ thống hút bụi, một số máy khoan XBS cũ của mỏ Hà Tu hệ thống hút bụi ít tác dụng

I.4.2 Giảm ồn và rung: Một số không nhỏ thiết bị của mỏ Hà Tu thuộc thế

hệ cũ nên độ phát ồn còn lớn và rung nhiều Các thiết bị mới đầu tư của 3 mỏ phần lớn khá hiện đại, cabin kín, nên ít ồn và rung hơn, tuy nhiên các máy khoan đập xoay thủy lực, các máy xúc thủy lực gầu thuận và gầu ngược đều chạy bằng năng lượng điêzen nên ồn lớn hơn so với các máy chạy điện

Trang 39

Ở một số thiết bị nghiền sàng nhỏ của mỏ Hà Tu được lắp thêm các cơ cấu giảm chấn và lò so chống rung Việc hạ độ dốc dọc của đường nâng cao chất lượng mặt đường, chở đúng tải trọng của các mỏ cùng có hiệu quả tốt trong việc giảm ồn

I.4.3 Giảm thiểu tác động tới môi trường nước:

Để hạn chế nước mưa chảy tràn qua khu vực xưởng tuyển bãi thải gây cuốn trôi bùn đất và hòa tan các chất độc hại, làm bồi lấp các dòng chảy và đất đai trồng trọt hạ nguồn, làm giảm chất lượng nước mặt, nước ngầm, … các mỏ đều có xây dựng hệ thống mương rãnh ngăn nước Hệ thống thoát nước mặt đều được xây dựng và củng cố thường xuyên, đảm bảo thoát nước kịp thời Riêng

mỏ Sin Quyền, do nhu cầu nước cho nhà máy tuyển lớn nên nước được sử dụng tuần hoàn, kể cả phần nước mặt thoát từ mỏ ra cũng được đưa vào bể lắng đọng

để bơm lên bể cấp nước của nhà máy

Nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên tại mỏ được thu gom và dẫn đến bể xử lý trước khi thải ra ngoài theo phương pháp tự loại Tuy nhiên khối lượng này không lớn

Nước rửa xe máy cũng được thu gom lại theo mương thoát nước chảy vào các bể lắng để tiến hành xử lý Tuy nhiên ở khâu này, việc xử lý của các mỏ chưa triệt để, phần lớn chỉ lắng đọng được các cặn cứng và bùn đất, còn các sản phẩm thừa của dầu mỏ thì chưa thu hồi được

I.4.4 Các biện pháp bảo vệ môi trường đất và quản lý chất thải rắn:

Để bảo vệ môi trường đất, năm 2005 mỏ Hà Tu thải tới 17 triệu m3 vào 3

vị trí: Bãi thải Tây, bãi thải Nam của vỉa 16 và bãi thải Bắc vỉa 7+8 Các bãi thải này là các thung lũng, chung quanh có sườn núi bao bọc, phía địa hình thấp nhất

là suối cạn, mỏ đã tiến hành kè đắp để chống trôi lấp hạ nguồn Khu vực thải cũ

là bãi thải Lộ Phong đã ngừng thải và mỏ đã tiến hành kè chắn chân bãi thải, trồng cây phủ sườn bãi thải, bề mặt bãi thải được san gạt, phẳng và tiến hành trồng bạch đàn và keo ba lá, tới nay một số cây đã xanh tốt Mặc dù bãi thải đều

có hệ thống thoát nước tốt và kè chắn phía chân nhưng những trận mưa lớn nước

lũ vẫn cuốn theo đất đá từ nhiều nguồn khác lấp cạn suối Lộ Phong, do vậy hàng năm mỏ phải tiến hành nạo vét suối

Các chất thải rắn khác như rác thải, giấy bao vỏ mìn, giẻ lau máy được thu gòm hàng ngày để phân loại Các chất thải vô cơ thì đào hố chôn lấp, các chất thải hữu cơ thì đốt

Đối với mỏ đá Hoàng Mai, do khối lượng phế thải rắn của khâu khai thác

có khối lượng nhỏ và chủ yếu là đất sét do vậy được tận dụng (xúc đồng thời với đá) để làm nguyên liệu xi măng mà không cần đổ thải ra ngoài Đối với các chất thải rắn khác, Công ty có một đội vệ sinh công nghiệp, hàng ngày đi thu gom đưa về khu vực mỏ sét để xử lý; Các chất thải vô cơ thì đào hố chôn lấp, các chất thải hữu cơ thì đốt Do mỏ nằm sâu trong phần núi đá và các công tác vệ sinh công nghiệp tốt nên các hiện tượng trôi lấp đất canh tác quanh vùng hầu như không xẩy ra

Trang 40

Đối với mỏ đồng Sin Quyền, nguy cơ làm ô nhiễm đất xung quanh xẩy ra

do 2 khâu chính là đổ thải (đất đá thải của phân xưởng mỏ và quặng đuôi bã sàng của phân xưởng tuyển) và thoát nước Khối lượng đất đá thải hàng năm trung bình là 3 triệu m3 và khối lượng bùn thải hàng năm trung bình 480 ngm3 Đất đá thải từ khai trường khu Đồng được đổ vào bãi thải ở phía nam khai trường ở cách 0,5 km (dung lượng bãi thải này là 2,25 triệu m3) và bãi thải phía Đông cách khai trường hơn 2km (dung lượng bãi thải này là 45 triệu m3) Nhìn chung các bãi thải này đều nằm trong thung lũng khô, lưu vực lượng nước nhỏ,

ít có nguy cơ sạt lở đất

Bãi thải quặng đuôi được bố trí gần khu vực nhà máy tuyển, có dung lượng lớn tới 45 triệu m3 Bãi thải đồng thời là hố lắng nước thải để sử dụng tuần hoàn Để chắn được cần đắp cao dần theo nhu cầu thải Đê được thi công bằng đất đá chứa sét và gia cố chắc chắn đảm bảo chống rò, chống thấm hoặc bị

vỡ khi mưa to Qua thực tế, nước thải của hệ thống sàng tuyển quặng được sử dụng tuần hoàn triệt để, nên không có khả năng chảy ra ngoài Qua kết quả thử nghiêm nước thải qua quá trình lắng bùn của quá trình tuyển quặng đồng cho thấy nước có độ hoà tan kim loại thấp (dưới mức cho phép) và hóa chất dùng trong tuyển quặng đồng (xantas) tự phân hủy trong một thời gian ngắn sau khi tuyển, lượng tồn tại nước thải không đáng kể Nước mưa, nước lũ được chảy theo hệ thống mương rãnh khác thoát ra cống ngầm để đổ ra suối lớn mà không chảy tràn qua bãi thải Qua khảo sát thực tế, đất đá nền của các bãi thải đều là sét

có chiều dày 0,5 ÷ 1m, đảm bảo chống thấm tốt, do vậy chưa thấy có hiện tượng hình thành dòng chảy axít do sự phân hủy các thành phần chứa sunfua trong đất

đá thải Các chất thải rắn khác (rác thải sinh hoạt, giẻ lau, túi đựng thuốc nổ,…) được thu gom và chôn giữ (rác thải vô cơ) hoặc đốt (rác thải hữu cơ) như các mỏ khác

I.4.5 Kết quả quan trắc thực trạng môi trường

*Phương pháp quan trắc

Các mỏ đều thiết lập mạng lưới quan trắc theo nguyên tắc lựa chọn các điểm quan trắc và thành lập hệ thống các điểm cố định Các điểm quan trắc là những điểm tác động của vùng khai thác, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm Riêng mỏ Hà Tu, các điểm quan trắc được xác định bằng các thiết bị định vị vệ tinh để ghi lại chính xác vị trí điểm khảo sát lấy mẫu

Các bảng 4.1 và 4.2 giới thiệu mạng quan trắc môi trường không khí và môi trường nước của mỏ Hà Tu Vị trí quan trắc của mỏ Hoàng Mai như sau: Quan trắc chất lượng không khí:

- Khu vực văn phòng nhà máy: 1 điểm

- Khu vực nghiền liệu, đóng bao: 4 điểm

- Khu vực dân cư phía Tây Bắc: 3điểm (cách 500m,1000m, 1500m)

- Khu vực dân cư về phía Đông Nam Nhà máy: 1điểm (gần dân cư 1500m)

- Khu vực dân cư về phía Đông Bắc: 3điểm (cách 500m,1000m, 1500m)

- Khu vực mỏ đá vôi: 3 điểm (1 điểm trong mỏ, 2 điểm cách mỏ 300 m, 900m)

- Khu vực mỏ đá sét: 3 điểm (1 điểm trong mỏ, 3 điểm cách mỏ 300m, 900m)

Ngày đăng: 23/08/2014, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] - Hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án khai thác chế biến đá và sét. Cục Môi trường - Bộ KHCN và MT, Hà nội 1999 Khác
[2] - Hồ Sĩ Giao, Bảo vệ môi trường khai thác mỏ lộ thiên, ĐH Mỏ - Địa chất, HN 2001 Khác
[3] – Hoàng Xuân Cơ, Đánh giá tác động môi trường, NXB ĐH QG, HN 2001 Khác
[4] - Phạm Khắc Mạnh, Tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản, Hà nội 2005 Khác
[5] – Mai Thế Toản, Bảo vệ môi trường trong ngành khai khoáng Việt Nam - Thực trạng và những tồn tại, Tạp chí KHKT Mỏ - Địa chất, số 14 – 4/2006 Khác
[6] - Luật Khoáng sản và Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản Khác
[8] – Các báo cáo ĐTM của các dự án khai thác khoáng sản rắn trong các năm 2004, 2005 và 2006 Khác
[9] - Alan Gilpin - Environmental Impact Assessment (EIA) Cutting edge for the twenty-first century. Cambridge University Press. 1995 Khác
[10] - Lê Thạc Cán và nnk. Đánh giá động môi trường. Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn. NXB KH và KT. Hà nội. 1993 Khác
[11] - Hoàng Xuân Cơ - Đánh giá tác động môi trường. NXB Khoa học Quốc gia. Hà nội. 2001 Khác
[12] - Cẩm nang công nghệ thiết bị mỏ. NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hầ nội. 2006 Khác
[13] - Lê Trình - Lựa chọn phương pháp đánh giá tác động môi trừơng cho hoạt động khai thác lộ thiên. 2006 Khác
[14] - Hồ Sĩ Giao - Cơ sở công nghệ khai thác đá. NXB Giáo dục. Hà nội. 1996 [15] - Environmient Australia, clearer production. Best practice environmiental management in Mining, June – 2000 Khác
[16] - Heinz Leuenberger - Sản xuất sạch hơn và kiểm soát ô nhiễm công nghiệp: Tiềm năng và hạn chế. TT Công trình KH-ĐHBK, Hà Nội 10/2001 Khác
[17] - Lê Minh Châu, Lê Đăng Hoan – SXSH và khả năng áp dụng trong các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, TC Công nghiệp mỏ, Số 6/2005 Khác
[18] - Phùng Mạnh Đắc – Nghiên cứu đánh giá tác động của Luật Khoáng sản đối với sự phát triển ngành mỏ Việt Nam. Đề tài của Liên hiệp các Hội KH và KT Việt Nam, năm 2005 Khác
[19] - Trần Văn Huỳnh – Nghiên cứu các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản năng lượng. Chương trình nhà nước KC.08 năm 2005 Khác
[20] - Hồ Sĩ Giao - Bảo vệ môi trường mỏ lộ thiên – ĐH Mỏ - Địa chất Hà nội 2001 Khác
[21] - Hồ Sĩ Giao, Lưu Văn Thực - Vấn đề đổ thải trong các mỏ lộ thiên QN, thông tin KHCN Mỏ - Viện KHCN Mỏ số 9/2004 Khác
[22] - Hồ Sĩ Giao - Sử dụng bãi thải tạm - một giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao. TC Than VN số 8/1996 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Tổng hợp chất lượng không khí tại các mỏ than lộ thiên - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.3 Tổng hợp chất lượng không khí tại các mỏ than lộ thiên (Trang 22)
Bảng 2.4 giới thiệu kết quả đo đạc thời gian chiếu sáng trong ngày và lượng bức  xạ thực tế ở vùng Quảng Ninh - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 2.4 giới thiệu kết quả đo đạc thời gian chiếu sáng trong ngày và lượng bức xạ thực tế ở vùng Quảng Ninh (Trang 24)
Bảng 1.5: Chất lượng nước thải tại một số mỏ lộ thiên (10/1996) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.5 Chất lượng nước thải tại một số mỏ lộ thiên (10/1996) (Trang 26)
Bảng 1.6: Chất lượng nước thải tại một số mỏ lộ thiên (10/1997) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.6 Chất lượng nước thải tại một số mỏ lộ thiên (10/1997) (Trang 27)
Bảng 1.8: Mạng lưới các điểm quan trắc môi trường không khí - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.8 Mạng lưới các điểm quan trắc môi trường không khí (Trang 41)
Bảng 1.10. Kết quả quan trắc các hơi khí độc - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.10. Kết quả quan trắc các hơi khí độc (Trang 44)
Bảng 1.11: Độ cứng trong nước thải Công ty than Hà Tu  (độ cứng tính theo hàm lượng CaCO3) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.11 Độ cứng trong nước thải Công ty than Hà Tu (độ cứng tính theo hàm lượng CaCO3) (Trang 45)
Bảng 1.12: Hàm lượng Dầu mỡ, các kim loại năng trong nước thải - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.12 Hàm lượng Dầu mỡ, các kim loại năng trong nước thải (Trang 49)
Bảng 1.15: Hàm lượng một số kim loại và phi kim trong nước mương Trụ Đông - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.15 Hàm lượng một số kim loại và phi kim trong nước mương Trụ Đông (Trang 53)
Bảng 1.18: Kết quả phân tích các chỉ tiêu tại khu vực mỏ - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.18 Kết quả phân tích các chỉ tiêu tại khu vực mỏ (Trang 55)
Bảng 1.22: Kết quả quan trắc môi trường không khí - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.22 Kết quả quan trắc môi trường không khí (Trang 59)
Bảng 1.25: Phiếu kết quả phân tích mẫu nước M3 - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 1.25 Phiếu kết quả phân tích mẫu nước M3 (Trang 60)
Bảng 3.1: Kết quả quan trắc chất lượng nước thải mỏ than Hà Tu  (kết quả chỉ có giá trị với mẫu nước được lấy trong ngày) - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 3.1 Kết quả quan trắc chất lượng nước thải mỏ than Hà Tu (kết quả chỉ có giá trị với mẫu nước được lấy trong ngày) (Trang 81)
Bảng 3.2: Kết quả phân tích mẫu nước thải mỏ đá Hoàng Mai - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 3.2 Kết quả phân tích mẫu nước thải mỏ đá Hoàng Mai (Trang 82)
Bảng 3.3: Kết quả phân tích mẫu nước mỏ Sin Quyền - Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ công tác đánh giá tác động môi trường chuyên ngành đối với các dự án khai thác lộ thiên
Bảng 3.3 Kết quả phân tích mẫu nước mỏ Sin Quyền (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm