Mục tiêu của Chương trình là phát huy lợi thế một nước nông nghiệp nhiệt đới ứng dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đặc biệt là những tiến bộ của công nghệ sinh học và giống
Trang 1.21
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GIAI ĐOẠN 2001 - 2005
-
Tên Dự án
“Hoàn thiện quy trình sản xuất củ giống và
MÃ SỐ: KC.04-DA.13
Cơ quan chủ trì: ViÖn Di TruyÒn N«ng nghiÖp
Trang 21 Kết quả nghiên cứu trong nước 4
2 Kết quả nghiên cứu ngoài nước 5
CHƯƠNG II LỰA CHỌN ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP SẢN
4 Tính mới và tính sáng tạo của Dự án 9
CHƯƠNG III NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ
1 Sưu tầm, thu thập 10 - 12 giống 11
2 Hoàn thiện quy trình tạo củ giống 13
3 Hoàn thiện quy trình sản xuất 28
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
PHẦN PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Tài liệu tham khảo 57
Phụ lục 2 Danh sách cá nhân/đơn vị tham gia thực hiện Dự án 58
Phụ lục 3 Danh mục các giống đã sưu tầm, thu thập 60
Phụ lục 4 Danh mục hợp đồng chuyển giao, kinh tế 61
Phụ lục 5 Tình hình sử dụng kinh phí 62
Phụ lục 6 Tóm tắt quy trình kỹ thuật trồng và thâm canh hoa lily 62
Trang 3M Ở ĐẦ U
Để thực hiện thắng lợi Nghị Quyết 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX: tiếp tục đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi đóng vai trò đặc biệt quan trọng Trong số những cây trồng có giá trị kinh tế cao, có thể sản xuất một lượng hàng hoá lớn phục vụ nội tiêu và xuất khẩu có hoa lan và hoa lily màu Đặc biệt hoa lily màu lại ngắn ngày, trồng rải được nhiều thời vụ, nhất là vào vụ Đông ở đồng bằng sông Hồng Vì vậy, Chính phủ đã phê duyệt chương trình Phát triển rau hoa quả đến năm 2010 Mục tiêu của Chương trình là phát huy lợi thế một nước nông nghiệp nhiệt đới ứng dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật đặc biệt là những tiến bộ của công nghệ sinh học và giống cây trồng để tạo
ra những sản phẩm hàng hoá có giá trị cao trên thị trường trong nước và quốc tế, bảo đảm
sự cạnh tranh của những sản phẩm nông nghiệp nước ta, phấn đấu tạo giá trị xuất khẩu rau hoa quả của nước ta đạt 1 tỉ USD vào năm 2010 Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải có sự nỗ lực vượt bậc của tất cả các cấp, nhất là của các cơ sở nghiên cứu phải phối hợp chặt chẽ với khuyến nông, với các doanh nghiệp để tiến hành hoàn thiện các quy trình công nghệ và chuyển giao tiến bộ vào sản xuất
Như chúng ta đã biết, hoa lily là loại hoa cao cấp, chúng có nguồn gốc từ các nước ôn đới như Hà Lan, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc chứ không phải là giống bản địa của Việt Nam Mặc dù vậy Việt Nam cũng có có 1- 2 loài hoa dại thuộc chi này Do đó, khi nhập vào nước ta, hoa lily cần được tuyển lựa những giống thích hợp nhất, có năng suất chất lượng hoa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng thì mới phát triển được Mặt khác để bước đầu góp phần vào việc nhân giống và để giống củ thương phẩm hoa lily ở nước ta, chúng ta cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện quy trình công
nghệ nhân giống in vitro và in vivo củ lily cũng như xử lý để củ lily khi trồng cho ra hoa
thương phẩm
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách đó, dựa trên những kết quả nghiên cứu của
đề tài khoa học cấp nhà nước KHCN-02-02 do Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam chủ trì giai đoạn 1996-1998 “ Ứng dụng công nghệ tế bào để nhân nhanh một số cây ăn
Trang 4quả, cây giống lâm nghiệp, cây hoa cao cấp, cây dược liệu„ với sự tham gia của Viện Sinh học nông nghiệp được Hội đồng khoa học công nghệ đánh giá suất sắc Cũng như căn cứ vào những kết quả nghiên cứu của đề tài trọng điểm cấp bộ của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn „Xây dựng mô hình trồng hoa lily ở Đồng bằng sông Hồng vào
vụ Đông - Xuân „ 2003 - 2005, chúng tôi đã tiến hành Dự án sản xuất thử nghiệm này
Trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện quy trình nhân các giống hoa cao cấp, Dự án đã
hoàn thành được quy trình nhân giống in vitro và in vivo để sản xuất củ giống và sản xuất
hoa lily màu thương phẩm có chất lượng cao tiến tới phục vụ cho nhu cầu của thị trường hiện nay Đây là những kết quả rất đáng khích lệ của tập thể nhóm cán bộ tham gia thực hiện Dự án Kết quả của Dự án đã góp phần khẳng định việc trồng hoa lily - một loại hoa cao cấp có giá trị kinh tế cao có thể phát triển ở vùng núi của nước ta và đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Hồng vào vụ Đông – Xuân có thể nhân giống củ lily bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào in vitro và in vivo, đồng thời cũng khẳng định được rằng chúng ta tạo được công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân trong qúa trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệp hiện nay
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1 Kết qủa nghiên cứu trong nước
Về mặt khoa học hoa lily màu thuộc chi Lilium, họ hành tỏi Liliaceae, phân
bố chủ yếu ở vùng núi có độ cao từ 800 m trở lên Ở Việt Nam phát hiện được 2 loài hoang dại có tên là Bách hợp có hoa màu vàng và màu trắng, có mùi thơm, nở hoa và kết qủa vào tháng 10 – 11 hàng năm Ở Việt Nam chưa có một loài hoa lily nào được tạo ra
từ việc thuần hoá hoặc lai tạo Hoa lily là một loài hoa rất mới mẻ đối với Việt nam
Vì vậy, các nghiên cứu về hoa lily hầu như chưa có, nhất là các nghiên cứu về trồng và nhân giống các loại Chỉ có một vài nghiên cứu về loại hoa loa kèn màu trắng nhập nội từ những năm 90 của thế kỷ trước và sau đó được Viện Nghiên cứu rau hoa quả
Hà Nội, Trường Đại học Nông nghiệp I trồng và nhân giống để tạo củ giống cho những năm sau Tuy nhiên những kết quả này còn rất khiêm tốn chưa thể ứng dụng vào sản xuất đại trà được
Mười năm trở lại đây, do chủ trương của Đảng và Nhà nước đẩy mạnh công tác đầu tư, liên doanh, liên kết với nước ngoài, tỉnh Lâm Đồng đã mạnh dạn cho phép Công
ty Hasfarm đầu tư 100% vốn vào thành phố Đà Lạt từ năm 1994 để phát triển các giống hoa có chất lượng cao ở quy mô công nghiệp Trong số 20 ha trồng các loại hoa, hoa lily mới chỉ được trồng trên diện tích 4 ha, mỗi năm sản xuất 2 vụ, thu được khoảng 3 triệu bông phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu Tuy nhiên Công ty Hasfarm độc quyền và không chuyển giao bất cứ một công nghệ nuôi trồng, nhân giống nào cho Việt Nam Họ vẫn chiếm lĩnh toàn bộ thị trường trong nước và xuất khẩu, không muốn cho các công ty, các chủ trang trại hoa của Việt Nam biết được bí quyết kỹ thuật trồng loại hoa này
Đứng trước tình hình đó, để có thể phát triển được kỹ thuật trồng hoa lily trên các vùng đất có khí hậu mát mẻ như Đà Lạt – Lâm Đồng, Mộc Châu – Sơn La,Sa Pa – Lào Cai, Tam Đảo – Vĩnh Phúc… nhất là vụ Đông ở đồng bằng sông Hồng có thời gian 3- 4 tháng có thời tiết, khí hậu, đất đai khá phù hợp để trồng hoa lily Viện Di truyền Nông
Trang 6nghiệp, Viện Nghiên cứu rau quả, Viện Sinh học Nông nghiệp…đã tập trung vào một số nghiên cứu tuyển chọn, đánh giá các giống nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Pháp…, các kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, cho ra hoa…Đặc biệt là các
nghiên cứu khả năng nhân giống in vitro và in vivo một số giống hoa lily màu có giá trị
kinh tế (Đỗ Năng Vịnh, Hà Thị Thuý, Dương Tấn Nhựt, Trần Duy Quý và cộng sự 2005; Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Lý Anh 2005; Trần Minh Nam, Trần Duy Quý, Nguyễn Chí Bảo 2003 – 2004; Đặng Trọng Lương, Khuất Hữu Trung, Trần Duy Quý và
2002-cs 2005 – 2006; Nguyễn Văn Đông, Trần Duy Quý, Lê Sỹ Dũng, Lưu Quang 2006…) Các tác giả trên đều chỉ ra rằng chúng ta hoàn toàn có khả năng nhân nhanh các
2005-củ lily in vitro và sau đó trồng tiếp các vụ để cho 2005-củ lớn lên và tiếp tục xử lý bằng nhiệt
độ hoặc chất điều hoà sinh trưởng để sản xuất củ thương phẩm
Tuy nhiên, các kết qủa này đang còn rất mới cần phải tiếp tục thử nghiệm lặp lại
và đi sâu vào giải quyết vấn đề tạo củ thương phẩm có đủ chất lượng để trồng lấy hoa
2 Kết quả nghiên cứu ngoài nước
Sau gần một thế kỷ nghiên cứu và thuần hoá giống hoa lily chi Lilium thuộc họ hành tỏi Liliaceae đã được trồng trọt ở nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là các nước ôn
đới phát triển như Hà Lan, Nhật Bản, Úc, Mỹ và Trung Quốc đem lại lợi ích không nhỏ tới hàng tỉ USD Theo dẫn liệu của các nhà phân loại thực vật thì chi Lilium có tới gần
100 loài, phân bố từ 10O đến 60O vĩ Bắc Ở Châu Á có 50-60 loài (Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên…) Bắc Mỹ có 24 loài (Canada, Achentina, Mỹ ) Châu Âu có 12 loài (Hà Lan, Ý, Pháp, Đức) (Sihimizu 1973, Anderes 1986, Damies 1986, How 1986, Beattie
và White 1993…) Nhờ áp dụng những công nghệ truyền thống kết hợp với công nghệ sinh học mà đến nay trên thế giới đã tạo ra hơn 2.000 giống hoa lily với đủ màu sắc, kích
cỡ hoa, hương thơm dịu mát và quyến rũ lòng người Vì vậy hoa lily đã chiếm tới 46% thị phần hoa cắt cành của thế giới Hoa lily đứng hàng đầu về giá trị kinh tế ở các nước tiên tiến (Konishik et al 1996) Mặc dù đa dạng về chủng loại, màu sắc, hương thơm cũng như kiểu dáng hoa và nhất là thời gian sinh trưởng, nhưng tựu chung lại hoa lily thuộc 3 nhóm
Trang 71 Các giống hoa lily thuộc các con lai phương Đông (Oriental Hybrid);
2 Các giống hoa lily thuộc các con lai Châu Á (Asiatic Hybrid);
3 Các giống hoa thuộc nhóm loa kèn (Longiflorum);
Ba nhóm hoa này khác nhau ở đặc tính nông sinh học, kích cỡ hoa, hương thơm
… Nhưng khác nhau cơ bản nhất là phản ứng nhiệt độ cao lúc tạo củ, độ ngủ của củ, sự hình thành hoa và quang chu kỳ Lợi dụng những đặc tính này các nhà tạo giống đã lai tạo ra hàng nghìn thứ hoa lily theo các mục đích sử dụng khác nhau Thí dụ phải tạo ra các giống hoa lily cắt cành với chiều cao 90-110 cm, 5-7 hoa trên 1 cành, hoa dài tới 10 -
15 cm như giống Aktiva hoặc Sorbone … hoặc tạo ra các giống hoa lily mini để trồng trong chậu cảnh có độ cao từ 30-40 cm Hoa mọc ở đỉnh chứ không phải ở nhánh lá như các giống hoa lily khác, thí dụ như giống: Pretti hoa màu vàng (Vantuyl et al 1988), Beattie and White 1993, Ohkawa et al 1990, De Hertog 1996 )
Sử dụng các phương pháp lai xa trong loài và khác loài, người ta đã tạo ra được các con lai có ưu thế lai cao, có sức sống mãnh liệt, có hoa to đẹp, có khả năng kháng
nhiều loại sâu bệnh hại như bệnh thối gốc do nấm Rhoctonia, hoặc vi khuẩn
Psendomonas, hoặc bệnh mốc sương mai do nấm: Thí dụ như các giống hoa loa kèn là
con lai giữa 2 loài thuộc nhóm Asiatic và Oriental để tạo ra con lai thuộc nhóm
Longiflorum Sau đó người ta nhân các con lai này bằng các phương pháp khác nhau:
1 Tạo củ bình thường ở dưới gốc sau khi đã thu hoạch hoa;
2 Tạo củ ở những cây không cho ra hoa;
3 Tạo củ ở trên nách là nhờ một số chất điều hoà sinh trưởng Sau đó lấy củ đó đem trồng cho củ to hơn rồi tiếp tục trồng để lấy củ thương phẩm;
4 Nhân giống bằng vảy củ nhờ xử lý độ ẩm và nhiệt độ hoặc nhờ các chất điều hoà sinh trưởng để tăng hệ số nhân củ;
5 Nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào hoặc bằng Biorector tạo ra hàng triệu
củ mini trong ống nghiệm Sau đó đem ra trồng để tạo củ lớn có kích cỡ từ 2,5 – 4 cm trở lên thì mới trồng lấy được hoa cắt cành tuỳ theo từng giống và con lai
Trang 8Nhờ kết hợp các phương pháp tạo giống truyền thống như lai hữu tính, đột biến với các công nghệ sinh học hiện đại như kỹ thuật chỉ thị phân tử, cấy phôi, nuôi cấy tạo củ trong ống nghiệm, hoặc trong Biorector…mà cho tới nay các nước tiên tiến như Hà Lan, Nhật Bản, Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Trung Quốc… đã tạo ra được một tập đoàn giống phong phú với đủ chủng loại về màu sắc, độ cao, hương thơm, độ bền của hoa…để phục
vụ cho công nghệ hoa cắt cành của các nước này Vì vậy, tốc độ tăng trưởng cả về diện tích gieo trồng lẫn lai giống tăng rất nhanh ở các nước (Xem Bảng 1)
Bảng 1 Tình hình sản xuất hoa lily ở một số nước hiện nay
Năm (ha) Stt Tên nước 1989-1990 1997-1998 1999-2001 2002-2005
Nguồn: Trung tâm cây hoa và củ giống hoa quốc tế và Báo cáo chương trình hoa cây cảnh Việt nam
Riêng Hà Lan năm 2001 sản xuất 1 tỉ cành hoa lily và tổng doanh thu đạt 1,5 tỉ USD (Joap.M.Tuyl 2001) Hiện nay, con só này đã cao hơn nhiều
Song song với công tác chọn tạo giống lily mới, các nhà chọn tạo giống hoa lily ở các nước đã có những thành công rất lớn nổi bật về kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản và đóng gói phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Các tác giả cũng đã nghiên cứu khá kỹ các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm không khí, thời gian chiếu sáng, mùa vụ gieo trồng, điều kiện đất đai thổ nhưỡng, chế độ phân bón tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh để tăng năng suất và chất lượng hoa, chất lượng củ giống của các giống hoa lily khác nhau và đã đưa ra được những quy trình tối ưu trong những điều kiện nhà lưới, nhà Plastic và ngoài đồng ruộng tuỳ theo điều kiện của từng nước (Joap,M.Van Tuyl 1997
2001, Lee Young Suk, Park Nobuk 1999, Adzima Bireman, Rosen 1990, De Hertog
1996, Erwin et al 1989, Grueber et al 1984, Hendricks et al 1986, Zerzy et al 1981, Horst
Trang 9et al 1990, Cầu Văn Đạt, Tôn Chi Dong, Ngô Hàn Quế 2005, Denhertosh 1996, Beatie and White 1993, Sakai et al 1984, Roh 1989, Pergola et al 1987, Ohkawa 1977-1989, 1990….)
Trang 10
CHƯƠNG II LỰA CHỌN ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT THỬ NGHIỆM
1 Lựa chọn đối tượng sản xuất thử nghiệm
Trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nhất là để chuẩn bị cho Việt Nam bước vào hội nhập kinh tế thế giới đang đặt ra cho tất cả các ngành các cấp, nhất là đối với các nhà khoa học công nghệ những nhiệm vụ cấp bách là làm thế nào để ứng dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, như các tiến
bộ mới nhất của công nghệ sinh học đã được ứng dụng thành công ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt là những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích gieo trồng, tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân, góp phần cải thiện đời sống và ổn định xã hội, cũng như góp phần phát triển bền vững nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta trong giai đoạn Việt Nam ra nhập AFTA và WTO
Vì vậy, việc lựa chọn đối tướng sản xuất thử nghiệm gồm giống hoa lily màu, màu
sắc gì, hương thơm ra sao, trồng ở đầu, vào mùa vụ nào, phương pháp nhân giống in vitro
và in vivo phù hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam, phù hợp với thị trường trong
nước và nước ngoài là việc làm hết sức có ý nghĩa và cần thiết bảo đảm thành công của
Dự án
2 Vật liệu
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn nêu trên một số giống hoa lily màu được nhập nội từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Pháp, nhưng chủ yếu từ Hà Lan đã được chọn làm vật liệu khởi đầu như các giống lily thơm: Sorbonne, Acapulco, Aktiva, Starfighter, Casablanca, Medusa, Bernini, Yelloween Các giống không thơm như Brunello, Barbados, Avelino, Corridia, Polyanna Đây là những giống lily thơm và không thơm thuộc 2 hệ lai: Oriental Hybrid và Asiatic Hybrid nhập từ Hà Lan Các giống này đã được nhập về cùng nhiều giống khác nữa và đã được khảo nghiệm thử, xem xét đánh giá qua 3-4 vụ Một số giống hoa nêu trên gồm Acapulco, Bernini, Tiber, Sorbonne, và
Trang 11Yelloween tỏ ra có nhiều triển vọng nên đưa vào nghiên cứu và hoàn thiện các quy trình nhân giống, để giống và sản xuất hoa thương phẩm để cuối cùng chọn ra được những giống cho hoa thương phẩm đáp ứng với thị hiếu người tiêu dung và quan trọng hơn cả là
trồng được tại một số vùng của Việt Nam Ngoài ra còn có thể nhân giống in vitro và in
vivo được để góp phần tự túc được một lượng giống nhất định trong công nghệ trồng hoa
lily cắt cành
3 Phương pháp sản xuất thử nghiệm
Các phương pháp thí nghiệm, sản xuất thử nghiệm phù hợp với điều kiện Việt Nam như nuôi cấy mô tế bào, nuôi trồng trong nhà màn, nhà plastic, chăm sóc cho ra hoa, các phương pháp xác định bệnh, các phương pháp thí nghiệm trong phòng và ngoài đồng ruộng, các phương pháp xử lý lạnh và bảo quản lạnh ẩm, các phương pháp xử lý thống kê
số liệu sinh học trên các phần mềm chuyên dụng đã được Dự án sử dụng
b Phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu, đánh giá
Đánh dấu ngẫu nhiên 30 cây/1 ô thí nghiệm, định kỳ theo dõi 10-15 ngày/lần Đối với sâu, bệnh hại định kỳ 10 ngày/lần , đánh giá theo phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 5 cây, theo tài liệu phương pháp nghiên cứu Bảo vệ thực vật của Viện Bảo vệ thực vật (1999)
Các chỉ tiêu theo dõi:
Khả năng sinh trưởng, phát triển:
o Tỷ lệ mọc của các giống (%);
o Động thái sinh trưởng chiều cao cây (cm);
Trang 12o Chiều cao cây cuối cùng (đo ở thời điểm chuẩn bị thu hoạch hoa chuyển màu cm);
o Đường kính thân (đo cách gốc 10 cm) – cm;
o Tỷ lệ hoa bị đui/cây (%);
o Tỷ lệ lá bị biến dạng/cây;
Chất lượng hoa của các giống
o Số bông hoa/cành (cây);
o Đường kính nụ hoa ở thời điểm hoa chuẩn bị nở (cm)
o Chiều dài nụ hoa ở thời điểm hoa chuẩn bị nở (cm)
o Độ bền hoa cắt trong phòng (ngày)
Hiệu quả kinh tế của các giống
o Tổng thu trên đơn vị diện tích;
o Tổng chi trên đơn vị diện tích;
o Thu nhập hỗn hợp = Tổng thu - Tổng chi (Không bao gồm công lao động);
o Lãi = Thu nhập hỗn hợp – chi phí lao động;
o Hiệu quả kinh tế = Thu nhập hỗn hợp/Tổng chi (Không bao gồm công lao động)
Kỹ thuật trồng và chăm sóc: Lên luống cao 25 - 30 cm, rãnh rộng 20 - 25 cm, trồng 5 hàng nếu mặt luống rộng 1m, hoặc trồng 4 hàng nếu mặt luống rộng 80 cm, khoảng cách 20 x 20 cm (mật độ 25 cây/m2, 1.000 m2 trồng 15.000 củ) đối với các mô hình hoặc trồng 4 hàng, cũng khoảng cách 20 x 20 cm (mật độ 25 cây/m2), 1.000 m2 trồng 10.000 củ Đối với mô hình kỹ thuật chăm sóc như bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh và các yếu tố phi thí nghiệm được thực hiện trên các giống là đồng nhất như nhau Diện tích trồng ở mỗi mô hình từ 500 – 1.000 m2/vụ
c Các phương pháp trong phòng thí nghiệm:
Trang 13 Phương pháp nuôi cấy mô tế bào để tạo củ sơ cấp in vitro và thứ cấp trên môi trường
cải tiến MS, các phương pháp tạo củ thứ cấp và thương phẩm trên môi trường MS cải tiến, với môi trường giá thể và đất khác nhau
Phương pháp sản xuất hoa và đánh giá giống hoa theo tiêu chuẩn của ngành và Trung tâm Nghiên cứu hoa quốc tế;
Các phương pháp xử lý lạnh và chất điều hoà sinh trưởng để phá ngủ và bảo quản củ sau thu hoạch theo Trung tâm Nghiên cứu hoa quốc tế
d Phương pháp sử lý số liệu
Số liệu được sử lý bằng chương trình thống kê sinh học Excel và IRISTAT
4 Tính mới và tính sáng tạo của Dự án
Hệ thống sản xuất củ giống hoa lily và hoa thương phẩm là một hệ thống chuẩn quốc tế, khép kín, đòi hỏi chi phí lớn về hạ tầng và điều kiện khí hậu ôn đới và nhiệt độ lạnh dưới 00C về mùa đông Vì vậy khi vận dụng vào điều kiện Việt Nam cần phải có cải tiến nhất là đối với việc sản xuất giống lily đòi hỏi phải có thời kỳ xử lý nhiệt độ lạnh dưới 00C Mặt khác có thể nói đây là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam để nhân giống củ lily mini, sau đó trồng liên tiếp 2 vụ để tạo củ thương phẩm ở đồng bằng sông Hồng vào vụ Đông – Xuân mà cho đến nay chưa ai dám trồng loại hoa cao cấp này Hoa lily chỉ mới được trồng ở Đà Lạt trong Công ty Hasfarm có 100% vốn nước ngoài
Và vài năm gần đây có một số trang trại khác ở Đà lạt như Langbiang Farm, Nông Ích cũng bắt đầu trồng hoa lily thương phẩm nhờ những kỹ thuật và các nghiên cứu sơ bộ về chủng loại giống và kỹ thuật trồng của các nhà khoa học Việt Nam Vì thế có thể nói đây
là tính mới và tính sang tạo của Dự án
Dự án đã thành công trong việc sản xuất củ giống hoa lily mini và trồng tiếp để lấy
củ thương phẩm cũng như trồng và xây dựng thành công một số mô hình trồng hoa lily màu ở các vùng sinh thái khác nhau đã đăng ký trong Dự án Chính kết quả này đã được một số địa phương mạnh dạn áp dụng như Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nam, Nghệ An, tất nhiên ở quy mô nhỏ vài nghìn củ trên diện tích một vài nghìn m2đến 1 ha cũng đã là mô hình phải đầu tư hàng tỉ đồng vào việc này Vì vậy chúng tôi tin
Trang 14chắc rằng sau khi Dự án kết thúc việc trồng hoa lily màu ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
và một số tỉnh miền núi có điều kiện thích hợp sẽ phát triển mạnh
Tuy nhiên vấn đề khó khăn nhất vẫn là bảo đảm đủ giống chất lượng Trước mắt chúng ta vẫn phải nhập các giống mà Dự án đã kết luận là tốt và phù hợp với điều kiện Việt Nam, còn việc cung cấp củ giống hoa lily thì đòi hỏi phải đầu tư các xí nghiệp sản xuất củ giống lớn thì mới đáp ứng được nhu cầu củ giống trong tương lai
Vì thế Chương trình công nghệ sinh học nông nghiệp vừa phê duyệt một đề án phát triển xí nghiệp sản xuất các loại hoa chất lượng cao trong đó có củ giống hoa lily giai đoạn 2007 - 2010 Đó cũng là những kết quả của Dự án khẳng định chúng ta có thể sản xuất được giống một số loại hoa cao cấp trong điều kiện của Việt nam
Trang 15CHƯƠNG III NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ ĐÃ THỰC HIỆN
I NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ CẦN ĐẠT THEO THUYẾT MINH VÀ HỢP ĐỒNG
1 Nội dung
1) Sưu tập đánh giá và bảo quản tập đoàn hoa lily màu địa phương và nhập nội vào
nước ta cả in vitro và invivo;
2) Hoàn thiện quy trình tạo củ bằng in vitro, bằng phương pháp truyền thống: củ
con từ cây mẹ (gốc, nách lá, vảy) đạt kích thước củ có đường kính từ 2- 4 cm từ
củ giống ban đầu
3) Hoàn thiện quy trình sản xuất: trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản, tiếp thị;
4) Xây dựng mô hình sản xuất hoa lily ở Đà Lạt - Lâm Đồng, Sapa - Lào Cai, Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Văn Giang - Hưng Yên và Đông Anh - Hà Nội;
5) Đào tạo công nhân kỹ thuật chọn giống, trồng và chăm sóc hoa lily ở các trang trại và về sản xuất củ
2 Kết quả dự kiến:
1) Sưu tập, lưu giữ 10-12 giống hoa lily màu sạch bệnh, có giá trị kinh tế cao để đưa vào sản xuất
2) Tạo củ bằng in vitro chủ động công suất 30 vạn củ/năm; bằng phương pháp truyền
thống củ giống ban đầu đạt 30 vạn củ;
3) Kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh để sản xuất củ thương phẩm có đường kính từ 2-4 cm, và sản xuất hoa thương phẩm có 3-5 bông/cành tương đương với tiêu chuẩn của Công ty Hasfarm với số lượng 20.000 bông;
4) Xây dựng được 4 mô hình sản xuất hoa lily ở các vùng sinh thái khác nhau: Đà Lạt - Lâm Đồng, Tam Đảo - Vĩnh Phúc; Sapa - Lào Cai và Đông Anh - Hà Nội với quy mô tối thiểu mỗi mô hình 500 m2, số lượng 10.000-12.000 cành;
Trang 165) Đào tạo 10 công nhân kỹ thuật
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN
1) Sưu tập, lưu giữ 10 - 12 giống hoa lily màu sạch bệnh, có giá trị kinh tế cao để đưa vào sản xuất
Bất kỳ một công trình nghiên cứu nào về tạo giống và nhân giống, nếu muốn thành công thì phải chú ý đến nguồn vật liệu di truyền ban đầu Theo các nghiên cứu của nhiều tác giả: Beattie and White 1993, Shimizu 1973, Damies 1986, How 1986, Konishik
et al 1994, Ohkava 1977 - 1990 thì vật liệu di truyền ban đầu càng phong phú bao nhiêu thì chúng ta càng nhanh chóng tạo ra được các giống mới theo những đặc tính mong muốn và từ đó có thể nhân giống để tạo thành giống thương mại bấy nhiêu Vì vậy trong
Dự án này, nội dung đầu tiên dặt ra là phải sưu tầm và đánh giá được các giống hoa lily màu của địa phương và nhập nội để từ đó tìm ra được những giống tốt nhất phục vụ cho sản xuất Vì vậy trong Dự án này bước đầu tiên chúng tôi đã tập trung vào nội dung này Nhờ có những kết quả kế thừa từ Đề tài trọng điểm cấp bộ về hoa lily 2003-2005, chúng tôi đã bổ sung được tập đoàn và nhanh chóng đánh giá được các giống ưu việt cho sản xuất hoa lily ở Việt Nam Kết quả, chúng tôi đã thu thập và lưu giữ được hơn 15 giống hoa lily màu khác nhau (Xem Phụ lục 3) Qua trồng và theo dõi, đánh giá các đặc tính nông sinh học của chúng, chúng tôi đã chọn ra được 8 giống lily thơm và không thơm có thể phát triển tốt ở Đồng bằng sông Hồng vào vụ Đông - Xuân và một số vùng khác có khí hậu mát mẻ như Đà Lạt - Lâm Đồng, Sapa - Lào Cai, Tam Đảo - Vĩnh Phúc,
Kỳ Sơn - Nghệ An Qua dẫn liệu ở Bảng 2, chúng tôi thấy mỗi loại hoa lily thuộc nhóm thơm ( con lai hệ Phương Đông) và không thơm (con lai hệ Châu Á) hay nhóm loa kèn (Longiflorum) hoặc các loài hoa hoang dại đều có những đặc tính nông sinh học không giống nhau đặc trưng cho từng nhóm giống
Qua phân tích số liệu ở Bảng 2, ta có thể chia các giống hoa lily thu thập được làm
3 nhóm:
Nhóm ngắn ngày có thời gian sinh trưởng từ 65 đến 85 ngày;
Trang 17 Nhóm dài ngày có thời gian sinh trưởng từ 100 đến 115 ngày hoặc dài hơn nếu trời lạnh và mù như ở Sapa lên tới 120 ngày;
Nhóm trung bình có thời gian sinh trưởng từ 86 đến 100 ngày
Bảng 2 Kết quả nghiên cứu khảo nghiệm một số đặc tính nông sinh học của các
giống lily trồng thử nghiệm
Stt Tên giống Màu sắc
thân
Số lá/cây
Đặc điểm lá (rộng, dài –cm)
Số nụ/cây
Màu sắc hoa
Nhị hoa
Hương hoa
3 Casablanca Xanh nhạt 48,2 đầu hơi tròn
Rất thơm
loa kèn Longiflorum
Qua dẫn liệu ở Bảng 2 ta thấy rất rõ là các giống lily khác nhau đều có đặc tính nông sinh học khác nhau Những giống trong cùng một nhóm như lily thơm, không thơm, hoặc con lai giữa 2 nhóm có những đặc tính nông sinh học tương tự nhau Tuy nhiên sự khác biệt này phụ thuộc vào bản chất di truyền của bố mẹ trước khi lai, cũng như điều kiện trồng, chăm sóc và kỹ thuật nhân giống, nhất là đặc điểm về kích cỡ củ, khả năng phòng chống một số sâu bệnh thường gặp ở lily là khá khác nhau Những giống trong tập đoàn phần lớn có khả năng chống sâu bệnh tốt như Sorbonne, Acapulco, Medusa Những giống kháng chịu kém như Aktiva, Tiber Vì vậy, ta phải chú ý đến những đặc tính này
Trang 18khi đưa vào sản xuất những giống đã được thị trường chấp nhận nhưng có đặc tính kém chịu bệnh thì phải có kỹ thuật và biện pháp phòng trừ sao cho thích hợp thì mới đạt được hiệu quả kinh tế cao
2) Hoàn thiện quy trình tạo củ
a Tạo củ bằng in vitro chủ động công suất 30 vạn củ/năm
Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào có thể tái tạo lại những cơ thể thực vật từ một miếng
mô của đỉnh sinh trưởng, thân hoặc chóp rễ khi chúng được nuôi cấy trên những môi trường chuyên dụng Trong Dự án này, ngoài việc phát huy những kết quả thăm dò và những kết quả ở các đề tài cấp bộ và cấp nhà nước về kỹ thuật nhân vô tính các giống hoa trong đó có hoa lily, khác với kỹ thuật nhân giống hoa lan, hoa cúc là tạo ra cây con hoàn chỉnh, sau đó đưa ra nuôi trồng ngoài vườn ươm hoặc trên đồng ruộng, Dự án còn phải
hoàn thiện quy trình tạo được củ in vitro, rồi từ củ in vitro tạo nên củ sơ cấp Rồi sau đó
tiếp tục tách những vảy củ của củ sơ cấp này để nuôi cấy nhằm nhân nhanh một số lượng lớn củ sở cấp Tiếp theo là thu hoạch củ sơ cấp và tiến hành xử lý lạnh ẩm ở nhiệt độ 2-
50C, độ ẩm 85%, thời gian từ 8-10 tuần để phá ngủ Sau đó đem trồng ra giá thể hoặc vườn ươm ở Tam Đảo hoặc Sa Pa Toàn bộ quy trình gồm 8 bước sau
Bước 1: Chọn nguyên liệu nuôi cấy
Trong nghiên cứu nhân giống in vitro, tạo vật liệu khởi đầu là giai đoạn quan trọng quyết định cho sự thành công của cả quá trình nhân giống in vitro Mẫu ở ngoài môi trường dùng để làm vật liệu khởi đầu cho nuôi cấy in vitro cần phải đạt những yêu cầu
như mẫu phải khoẻ mạnh, không nhiễm bệnh Nguyên liệu sử dụng để nuôi cấy là vảy củ
và mầm củ làm nguồn mẫu
Lựa chọn các củ giống thương phẩm có kích thước vừa phải, củ chắc, vẩy củ ôm chặt lấy trụ mầm bên trong, vẩy củ không bị tổn thương bên ngoài, mầm củ phát triển khoẻ, có màu sắc đặc trưng của giống như màu trắng, màu hồng, hay tím nhạt
Trang 19Bước 2: Khử trùng mẫu
Khử trùng mẫu bằng dung dịch HgCl2 0,2% Tách rời từng vẩy củ và rửa sạch vẩy
củ và mầm củ bên trong bằng xà phòng trong 15-20 phút Sau đó rửa sạch xà phòng dưới vòi nước chảy, sau đó xử lý nhanh bằng cồn 700 trong 30 giây rồi tráng lại bằng nước cất
vô trùng Tiếp tục khử trùng mẫu bằng HgCl2 ở các nồng độ khác nhau và thời gian khử trùng khác nhau Sau khi khử trùng mẫu được rửa lại bằng nước cất và được cắt thành những mảnh nhỏ có kích thước 1x1,5 cm, mầm củ được cắt thành những đoạn 0,5 cm rồi cấy vào môi trường nuôi cấy Kết quả thí nghiệm khử trùng mẫu được thể hiện ở Bảng 3 Thông thường nồng độ HgCl2 sử dụng để khử trùng là 0,1 % nhưng khi khử trùng
ở nồng độ này thì tỉ lệ mẫu nhiễm rất cao do củ lily nằm ở dưới đất rất dễ bị nhiễm khuẩn
và nấm bệnh, nếu tăng thời gian khử trùng thì dẫn tới các mẫu cấy sẽ mất sức sống Vì vậy chúng tôi tăng nồng độ HgCl2 lên 0,2% Tuy vậy nếu thời gian khử trùng ngắn thì củ lily vẫn rất dễ bị nhiễm khuẩn nhưng nếu khử trùng trong thời gian dài thì mẫu sẽ mất sức sống và có thể chết do đó phải tìm được một thời gian và phương pháp khử trùng thích hợp để tạo được nguồn vật liệu khởi đầu cho quá trình nhân nhanh sau này Qua các thí nghiệm về nồng độ và thời gian khử trùng mẫu và sau một quá trình theo dõi đã cho thấy rằng chế độ khử trùng kép với thời gian khử trùng mỗi lần 7 phút là thích hợp cho các mẫu vẩy củ lily ở chế độ này tỉ lệ nhiễm nấm và khuẩn của các mẫu vẩy củ giảm và
tỉ lệ mẫu sống tăng Điều này được thể hiện rõ ở các số liệu của Bảng 3
Bảng 3: Khả năng sống và tái sinh của mẫu cấy của các giống lily ở các chế độ khử trùng
khác nhau:
Giống Chế độ khử trùng (nồng
độ HgCl 2 , thời gian)
Tỉ lệ mẫu nhiễm (%)
Tỉ lệ mẫu chết (%)
Tỉ lệ mẫu tái sinh (%)
Trang 20HgCl2 2‰, 12 phút 60,00 26,67 13, 33 HgCl 2 2‰, 7 phút x 2 26,67 30,00 43,33 HgCl 2 1‰, 20 phút 90,00 3,33 6,67 HgCl2 2‰, 12 phút 63,33 20,00 16,67
Tiber
HgCl2 2‰, 7 phút x 2 30,00 30,00 40,00 HgCl2 1‰, 20 phút 87,67 3,33 10,00 HgCl 2 2‰, 12 phút 66,67 23,33 10,00
Bernini
HgCl 2 2‰, 7 phút x 2 23,33 40,00 36.67 HgCl2 1‰, 20 phút 93,33 0 6,67 HgCl2 2‰, 12 phút 63,33 23,33 13,34
Lamancha
HgCl 2 2‰, 7 phút x 2 36,67 23,33 40,00 HgCl 2 1‰, 20 phút 86,67 3,33 10,00 HgCl 2 2‰, 12 phút 70,00 13,33 16,67
Medusa
HgCl2 2‰, 7 phút x 2 33,33 30,00 36,67 HgCl2 1‰, 20 phút 90,00 3,33 6,67 HgCl 2 2‰, 12 phút 70,00 20,00 10,00
từ các vảy củ nuôi cấy
Bước 3: Tạo vật liệu khởi đầu cho quá trình nhân giống in vitro
Sau khi khử trùng thì các mẫu vảy củ và mầm củ được cấy vào các môi trường thích hợp và các mẫu vẩy củ và mầm củ đã phát sinh hình thái trên các môi trường như sau:
Trang 21Bảng 4: Sự phát sinh hình thái của các mẫu lily trên các loại môi trường khác nhau
Môi trường Nguồn
mẫu
Điều kiện chiếu sáng
Hình thái phát sinh
Tối hoàn toàn Callus → củ
Sau một thời gian nuôi cấy trên hai loại môi trường khác nhau và các loại mẫu cấy khác nhau, ở điều kiện chiếu sáng khác nhau thì thấy có sự phát sinh hình thái khác nhau Trên môi trường có 3% đường Saccarose có bổ sung kinetin và IAA, ở điều kiện chiếu sáng 16h/ ngày thì tất cả vẩy củ của các giống đều hoá xanh sau đó hình thành các chồi nhỏ Trên môi trường có nồng độ đường cao 9% có bổ sung than hoạt tính, BAP ở điều kiện chiếu sáng là tối hoàn toàn thì có hai hướng phát sinh hình thái Các mẫu là mô vẩy củ đã hình thành trực tiếp củ non còn các mẫu là mô thân của mầm phát sinh theo hướng tạo callus rồi mới hình thành củ con Như vậy, qua thí nghiệm này chúng tôi chọn môi trường MS + 9% saccarose + 0,1% than hoạt tính + 2mg/l BAP để nhuộm vảy củ tạo vật liệu khởi đầu có quá trình sản xuất củ mini và củ thương phẩm sau này Để đảm bảo được công suất 30 vạn củ/năm thì số bình mẫu đưa vào ban đầu của các giống đã chọn lọc là 600 bình Mỗi bình cất 15 mẫu, tỉ lệ là 9.000 mẫu được nuôi cấy Sau mỗi chu kỳ nhân, hệ số nhân trung bình là 2,5 thì sau 4 chu kỳ nhân liên tiếp sau lần cấy mẫu đầu tiên ta thu được hơn 30 vạn củ bi/năm Cụ thể được diễn giải như sau:
• Đưa 600 bình mẫu vào x 15 mẫu/bình = 9.000 mẫu;
Sau 8 tuần nuôi cấy ta thu được lượng mẫu:
Trang 22Nhân tiếp thành 9.375 bình, sau 8 tuần nuôi ta được số mẫu củ là:
Quá trình nhân nhanh diễn ra theo ba hướng:
Thứ nhất: Nhân nhanh chồi sau đó lấy chồi tạo thành củ in vitro
Thứ hai : Nhân nhanh củ con từ vẩy củ sau đó nuôi củ lớn thành củ in vitro
Thứ ba: Nhân nhanh củ tạo ra từ callus
Bước 5 Nhân chồi
Chồi tái sinh của các giống lily được tách riêng rẽ và đưa vào nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung 30g/l đường Sacacrose 6,5 g/l agar và các chất điều hoà sinh trưởng khác nhau để khảo sát khả năng nhân nhanh chồi Sự có mặt của chất điều tiết sinh trưởng đóng vai trò quyết định đến sự hình thành, phát sinh, phát triển của chồi.Năm
1960, Murashige và Shoog đã chỉ ra rằng quá trình phát sinh chồi phụ thuộc vào tỉ lệ
Trang 23auxin/Cytokinin trong môi trường nuôi cấy.Năm 1984, Van và Blom- Barnhoom cũng chỉ ra rằng, trong nuôi cấy, BA hoàn toàn không ảnh hưởng đến sự tái sinh chồi, xong lại thúc đẩy sinh trưởng của các chồi tái sinh
Kinetin và BAP là những chất điều khiển sinh trưởng có tác dụng kích thích sự sinh trưởng của chồi và làm tăng hệ số nhân chồi nên chúng tôi đã sử dụng chúng để làm tăng số lượng chồi lily
Chồi của 6 giống lily hình thành ở các vẩy củ được tách ra, cắt bỏ những lá dài sau
đó được cấy trên các loại môi trường khác nhau và được nuôi trong điều kiện chiếu sáng 16h / ngày Sau 8 tuần theo dõi kết quả thu được nêu ở Bảng 5
Bảng 5 Nghiên cứu ảnh hưởng của BAP đến hệ số nhân chồi của các giống lily
Giống Công thức Môi trường (mg/l) Hệ số
nhân
Chất lượng chồi
Ghi chú: +: Chồi nhỏ, yếu, nhiều rễ; ++: Chồi nhỏ khoẻ, nhiều rễ ; +++: Chồi to khoẻ, xanh, ít rễ.
Qua kết quả ở Bảng 5 kết hợp với quá trình quan sát thí nghiệm, chúng tôi thấy rằng: Hầu hết các giống lily đều cho hệ số nhân chồi cao và chất lượng chồi tốt ở môi trường MS có bổ sung 1 mg/l Kinetin và 0,5 mg/l BAP Như vậy sự kết hợp giữa Kinetin
và BAP đã cho kết quả tạo chồi tốt nhưng sự kết hợp giũa hai chất này phải được phối
Trang 24hợp một cách hợp lý Khi tăng nồng độ kinetin lên 1,5mg/l thì ta thấy hệ số nhân chồi giảm hẳn và chất lượng chồi cũng giảm, chồi nhỏ và yếu hơn so với môi trường có 1 mg/l kinetin và 0,5 mg/l BAP Nguyên nhân là do nồng độ Kinetin quá cao đã gây ảnh hưởng đến quá trình tạo chồi và chất lượng của chồi Kết quả này cũng phù hợp với một số tác giả Đỗ Năng Vịnh và cs 2005; Nguyễn Quang Thạch và cs 2004, Dương Tấn Nhựt và cs
2003
Chồi được nhân ra phải cho ra rễ và trồng được ra ngoài, việc này giúp chúng ta
có thể chủ động lượng cây giống, nhưng nó lại không thuận lợi cho việc nhân và lưu trữ giống lily trong thời gian dài vì chồi lily có hiện tượng già sinh lý và do điều kiện khí hậu không thích hợp cho việc đưa cây ra ngoài môi trường Hơn nữa hạn chế của phương pháp nhân chồi là cây đưa ra có tỉ lệ sống thấp (Lê Thị Nhẫn, Nguyễn Quang Thạch, 2001), Dương Tấn Nhựt và cs 2003 Do đó chúng tôi sử dụng lượng chồi tạo được làm vật liệu để tạo củ sơ cấp giống lily
CT1 (MS + 1 BAP + 1 Kinetin)
CT2 ( MS + 1 BAP + 0,2 IAA)
CT3 ( MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA)
Bước 6 Nhân củ con
Đối với nguyên liệu là mô vảy củ thì đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả như Robb (1957), Hackett (1969)[39], Allen (1974), Simmomds và Cumming (1976), Van Aatrijk và Blom- Barnhoom (1977)[65], Stimart và Ascher (1978) Qua những nghiên cứu đó các tác giả cho thấy rằng vảy củ là nguồn nguyên liệu chính cho việc nuôi
cấy mô khi sản xuất củ giống lily Sử dụng phương pháp nuôi cấy củ in vitro cho phép
trong một thời gian ngắn tạo ra một lượng củ giống lớn đồng đều Phương pháp này đáp ứng được cho sản xuất ở quy mô công nghiệp
Trang 25Trong môi trường nhân nhanh, hàm lượng đường là không thể thiếu đối với sự kích thích hình thành chồi Nó cung cấp nguồn các bon hữu cơ cho quá trình dinh dưỡng của chồi (Van Aatrijk và Blom-Barnhoom, 1979) Và trong giai đoạn tạo củ thì cây cần một hàm lượng các bon rất lớn để vừa có thể sinh trưởng phát triển vừa tích luỹ được chất dinh dưỡng ở phần củ sử dụng cho các thế hệ sau Vì vậy việc bổ sung vào môi trường một lượng đường Sacarose cao hơn để kích thích sự hình thành củ là một việc cần thiết
Các chất điều khiển sinh trưởng cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của củ từ vẩy củ Các chất này đóng vai trò quyết định trong sự tái sinh củ và hình thái của củ BAP và Kinetin là hai chất điều hoà sinh trưởng thuộc nhóm Cytokinin, chúng có tác dụng làm cho các tế bào phát triển theo chiều ngang, kích thích sự phân chia tế bào và hình thành các chồi bất định Do đó chúng tôi tiếp tục sử dụng kinetin và BAP để điều khiển sự tái sinh và nhân nhanh củ lily
Trong quá trình hình thành củ, ánh sáng không quan trọng đối với sự phát triển của củ Trong điều kiện chiếu sáng, củ sẽ bị diệp lục hoá và các chất dinh dưỡng sẽ bị tiêu tốn trong quá trình quang hợp và sẽ kích thích sự hình thành chồi trong quá trình phát triển do đó trong giai đoạn tái sinh và nhân nhanh để thu củ thì chúng ta cần phải loại bỏ ánh sáng tức là nuôi cấy trong phòng tối
Các củ con tái sinh trực tiếp từ các mẫu cấy ở giai đoạn vào mẫu được tách ra và
tách thành từng vẩy củ để nhân củ từ vẩy củ in vitro Khảo sát sự tái sinh củ và hệ số
nhân củ từ vẩy củ của các giống lily trên môi trường MS có bổ sung 90g/l Saccarose, 1g/l than hoạt tính và các chất điều hoà sinh trưởng ở các nồng độ khác nhau Chúng tôi sử dụng tổ hợp của BAP và Kinetin, BAP và IAA, Kinetin và IAA Sau 8 tuần nuôi trong điều kiện tối kết quả thu được ở Bảng 6
Kết quả Bảng 6 cho thấy trên tất cả các loại môi trường thì vảy củ của các giống đều tái sinh và tạo củ trực tiếp Sau 8 tuần nuôi cấy thì khối lượng trung bình của củ tái sinh đều tăng lên từ 2,25- 2,6 lần Trên môi trường MS + 90g/l Saccarose + 1g/l than hoạt tính + 1mg/l BAP + 1mg/l Kinetin các giống lily đều cho hệ số nhân củ bi cao hơn Nên môi trường này đã được sử dụng làm môi trường tái sinh và nhân củ mini từ vảy củ
Trang 26Qua theo dõi thấy có hiện tượng phát sinh củ trực tiếp từ những vảy già hoặc vảy
củ bị thương tổn gây ra trong quá trình cấy Đây là một trong những gợi ý cơ sở cho những nghiên cứu nhân củ Vảy của các củ to tiếp tục được sử dụng như nguồn mẫu
trong nhân giống Điều này cũng được khẳng định ở giống L auratum (Takayama, Misawa, 1980); L speciossum (Gerreits et al, 1995; Kawarabayashi, 1995)
Bảng 6 Kết quả tạo củ trực tiếp từ vẩy củ in vitro các giống hoa lily
Giống Công thức Môi trường (mg/l) nhân củ/ Hệ số
vẩy
Khối lượng
TB củ sau 4 tuần (g)
Khối lượng
TB củ sau 8 tuần (g) CT1 MS + 1 BAP + 1 Kinetin 2,11 0,22 0,56 CT2 MS + 1 BAP + 0,2 IAA 1,44 0,18 0,52
Sorbonne
CT3 MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA 1,33 0,17 0,49 CT1 MS + 1 BAP + 1 Kinetin 2,14 0,20 0,54 CT2 MS + 1 BAP + 0,2 IAA 1,62 0,16 0,36
Tiber
CT3 MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA 1,73 0,18 0,45 CT1 MS + 1 BAP + 0,5Kinetin 2,10 0,19 0,48
Bernini
CT3 MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA 1,89 0,17 0,46 CT1 MS + 1 BAP + 1Kinetin 2,00 0,18 0,51
Casablanca
CT3 MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA 1,89 0,15 0,38 CT1 MS + 1 BAP + 1Kinetin 2,32 0,19 0,53 CT2 MS + 1 BAP + 0,2 IAA 1,82 0,16 0,42
Medusa
CT3 MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA 1,75 0,20 0,54 CT1 MS + 1 BAP + 1 Kinetin 2.23 0,18 0,53 CT2 MS + 1 BAP + 0,2 IAA 1,86 0,17 0,46
Pretibrigitte
CT3 MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA 1.74 0,15 0,39
Củ in vitro trong phòng thí nghiệm
CT1
(MS + 1 BAP + 1 Kinetin) CT2
(MS + 1 BAP + 0,2 IAA) CT3
(MS + 1 Kinetin + 0,2 IAA)
Trang 27Bước 7 Nuôi củ
Chồi và các củ non thu được ở các thí nghiệm chưa có đủ kích thước để đưa ra vườn ươm nên phải có giai đoạn nuôi củ để chồi và củ non đạt được đủ kích thước để có thể tiếp tục cho giai đoạn ra củ và cây sau này
Trong giai đoạn này chất dinh dưỡng cần thiết nhất để củ phát triển là nguồn Cacbon là đường Saccarose Củ tạo thành đã củng cố được cấu trúc và có thể tự phát triển một cách dễ dàng Điều kiện kích thích tăng trưởng của củ là môi trường MS có nồng độ Saccarose cao, không có chất điều hoà sinh trưởng hoặc nếu có thì rất thấp 1g, trong môi trường tối than hoạt tính và nuôi ở nhiệt độ 27-290C
Qua quan sát sự tăng trưởng về kích thước và khối lượng củ trên môi trường cơ bản MS có bổ sung đường ở các nồng độ khác nhau là 60, 90, 120, 150 g/l saccarose và 1g/l than hoạt tính và nuôi trong điều kiện tối hoàn toàn, kết quả thu được ở Bảng 7
Bảng 7 Kết quả nuôi củ của các giống lily màu
Sorbonne
Sorbonne
CT4 MS + 150 mg/l saccarose 1,32 0,95 CT1 MS + 60g/l saccarose 2,14 1,24 CT2 MS + 90g/l saccarose 3,02 1,45 CT3 MS + 120 g/l saccarose 3,14 1,47
Tiber
CT4 MS + 150 mg/l saccarose 1,65 1,02 CT1 MS + 60g/l saccarose 2,46 1.21 CT2 MS + 90g/l saccarose 3,32 1,64 CT3 MS + 120 g/l saccarose 3,64 1,73
Bernini
CT4 MS + 150 mg/l saccarose 1,01 0,97 CT1 MS + 60g/l saccarose 2,34 1.28 CT2 MS + 90g/l saccarose 3,34 1,62 CT3 MS + 120 g/l saccarose 4,12 1,73
Casablanca
CT4 MS + 150 mg/l saccarose 0.87 0,80 CT1 MS + 60g/l saccarose 2.17 1,19 CT2 MS + 90g/l saccarose 3,48 1,45
Medusa
CT3 MS + 120 g/l saccarose 3,65 1,48
Trang 28CT4 MS + 150 mg/l saccarose 2,03 1,02 CT1 MS + 60g/l saccarose 2,18 1, 16 CT2 MS + 90g/l saccarose 3,62 1,48 CT3 MS + 120 g/l saccarose 4, 09 1,56
Pretibrigitte
CT4 MS + 150 mg/l saccarose 1,03 0,98
CT1 (MS + 60g/l
saccarose)
CT2 (MS + 90g/l saccarose) CT3 (MS + 120 g/l saccarose) CT4(MS + 150 mg/l saccarose)
Qua dẫn liệu ở Bảng 7, chúng ta thấy rằng nồng độ đường Sacarose trên tất cả những giống thí nghiệm có ảnh hưởng lớn đến khối lượng và kích thước củ Khi nồng độ đường tăng lên thì khối lượng và kích thước củ tăng lên, nhưng tăng đến 120 và 150 g/l thì khối lượng và kích cỡ củ giảm mạnh nhất là ở nồng độ đường 150 g/l Mức độ giảm
ở các giống khác nhau là khác nhau Trong 4 nồng độ đường được thí nghiệm thì ở nồng
độ 90g/l có hiệu quả tốt nhất cả về sự tăng khối lượng và kích cỡ củ cũng như kinh tế vì
so với nồng độ đường ở 150 g/l khối lượng và kích cỡ củ của giống thí nghiệm hầu như không sai khác mấy, nhưng lại tiết kiệm được 60 g đường/lít Do đó, chúng tôi lựa chọn nồng độ đường 90g/l để nuôi củ lily trên môi trường MS là tốt nhất so với các nồng độ đường còn lại Đây cũng là một trong những kết quả mới của Dự án có thể áp dụng vào thực tiễn sau này
Bước 8 Giai đoạn vườn ươm
Ở cuối quá trình nhân giống in vitro, củ đã được hình thành hoàn chỉnh Vảy củ đã
củng cố được cấu trúc và củ có thể tự phát triển một cách dễ dàng Để tạo cho củ có sức sống cao ngoài môi trường tự nhiên, củ được cấy chuyển sang môi trường có nồng độ đường cao Hàm lượng đường cao kích thích cho củ phát triển to, đồng thời vảy củ tích luỹ chất dinh dưỡng cho quá trình phá ngủ nghỉ của củ, không bổ sung chất điều hoà sinh trưởng để kích thích quá trình phân bào và hình thành nên củ mới từ những vảy củ già,
Trang 29nên hạn chế sự tiêu hao vật chất cho quá trình tạo củ mới Do đó, củ mới tốt và nảy mầm đều sau này
Củ được đưa ra trồng ngoài vườn ươm Đây là giai đoạn quyết định ứng dụng của
Dự án vào thực tiễn sản xuất Có 2 cách trồng củ lily sơ cấp:
a Trồng củ lily sơ cấp trực tiếp ra đất không thông qua xử lý lạnh ẩm;
b Trồng củ lily sơ cấp sau khi xử lý lạnh ẩm
Trước khi trồng trên đồng ruộng, củ in vitro vốn sống trong môi trường nhân tạo, thuận lợi hoàn toàn về dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm Muốn củ in vitro có thể
tồn tại và sinh trưởng tốt ở ngoài môi trường tự nhiên thì việc thích ứng của chúng trên
vườn ươm là rất quan trọng Nên giai đoạn in vivo - trồng và đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của giống lily khác nhau trồng trực tiếp ra đất được chú trọng Củ lily in vitro
trong bình thí nghiệm đưa ra ngoài được rửa sạch sau đó ngâm củ vào dung dịch thuốc chống nấm Bavectin 0,1% trong 10 phút rồi sau đó được đem trồng trên giá thể là đất phù
sa trộn với xỉ than và phân dê với tỉ lệ là 1:1:1
Phương pháp trồng củ lily in vitro là đặt củ vào hốc đất có kích thước tương
đương với củ và phủ một lớp đất nhẹ lên trên bề mặt củ Sau khi trồng tưới phun sương trên bề mặt đất để đất giữ được độ ẩm nhưng không quá ướt rất dễ làm thối củ, tỉ lệ nảy mầm của củ in vitro ở ngoài vườn ươm thu được như sau:
Bảng 8 Tỷ lệ nảy mầm của củ in vitro khi đưa ra vườn ươm
Tỉ lệ nảy mầm (%) Giống
Sau 2 tháng Sau 3 tháng Sau 4 tháng
Trang 30nảy mầm và tạo thành cây thì ta phải phá được sự ngủ nghỉ của củ bằng cách xử lý bằng
nhiệt độ trong một thời gian thích hợp Củ giống in vitro khác với củ giống thông thường
nên sau khi được đưa ra khỏi bình thí nghiệm và đưa ra trồng trong nhà lưới đã có những
phản ứng khác nhau là do chưa nghiên cứu được sự khác biệt giữa củ giống in vivo và củ giống in vitro Các giống khác nhau có thời gian ngủ nghỉ của củ khác nhau nên có thời gian nảy mầm khác nhau Vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu để phá ngủ của các củ in
vitro trước khi trồng ra vườn ươm vì một mặt để rút ngắn thời gian một thế hệ củ.
Mặt khác để tránh củ in vitro ở lâu trong đất dễ bị các loại sâu bệnh phá hoại làm thiệt hại Do đó, chúng tôi đã phá ngủ các giống củ lily in vitro bằng xử lý lạnh ẩm ở
nhiệt độ 2 - 50C trong 8-10 tuần đối với 6 giống Kết quả cụ thể được nêu ở Bảng 9
Kết quả Bảng 9 cho thấy các củ bi của 6 giống thí nghiếm nếu không xử lý lạnh
ẩm mà chỉ để ở nhiệt độ phòng 280C, độ ẩm 85% thì sau 8-10 tuần tỉ lệ củ nảy mầm rất thấp Còn nếu đem xử lý lạnh ở nhiệt độ 2-50C, độ ẩm 85% thì tỉ lệ nảy mầm xê dịch từ 82-97% tuỳ theo giống Nhìn chung, xử lý lạnh ở 2– 50C trong 8-10 tuần, tỉ lệ nảy mầm ở các củ bi ở cả 6 giống không khác nhau mấy, tỉ lệ sai khác chỉ 2-5% Do đó, ta có thể xử
lý lạnh ở nhiệt độ từ 2-50C, độ ẩm 85% sau 8 tuần là có thể đem trồng được không cần thiết phải để đến 10 tuần để tiết kiệm chi phí và thời gian
Bảng 9 Kết quả xử lý lạnh ẩm để phá ngủ củ giống in vitro trên một số giống hoa lily
Tên giống Nhiệt độ , độ ẩm Thời gian
(tuần) mầm (%) Tỷ lệ nảy
8 10,0 Không xử lý t0 trong phòng 27-280C
Trang 318 16,5 Đối chứng nhiệt độ trong phòng 27-280C
Như vậy, qua những kết quả thí nghiệm nêu ở trên Dự án đã thành công trong
viêc tạo củ in vitro và xử lý lạnh để phá ngủ thúc đẩy quá trình nảy mầm để trồng tạo củ
thương phẩm Kết quả nhân giống liên tục trong phòng thí nghiệm , chúng tôi đã thu được hơn 30.000 củ/năm đối với các giống thí nghiệm
b Tạo củ bằng phương pháp truyền thống củ giống ban đầu đạt 30 vạn củ
Song song với công việc tạo củ bằng in vitro để nhân nhanh một số lượng lớn củ
sơ cấp chúng tôi còn tiến hành áp dụng phương pháp nhân giống truyền thống để tạo củ
lily bổ sung cho phương pháp in vitro Quá trình được thực hiện như sau:
Thu hoạch củ con: Các củ con từ cây mẹ sau khi thu hoạch hoa xong chúng ta có thể thu hoạch củ mẹ và luôn cả củ con Thông thường mỗi củ mẹ sau khi đã thu hái hoa cho từ 2-5 củ con có kích cỡ 0,5 - 1cm đường kính Chúng ta thu các củ này cẩn thận, tránh làm dập nát, rửa sạch đất, hong ở phòng mát, sau đó đưa vào bảo quản trong kho lạnh ở nhiệt độ 2-50C, độ ẩm 85%
Đóng gói: trải đều củ con trên hộp hoặc sọt nhựa, cứ mỗi lớp củ lại cách một lớp giá thể bằng mùn cưa đã xử lý, hoặc dớn đã vô trùng Dớn hay mùn cưa đều được làm
ẩm Mỗi khay kích cỡ 40 x 30 x 80 có thể xếp được 4-5 lượt củ Khay hoặc sọt có thể xếp trồng lên nhau rồi đưa vào phòng lạnh
Thời gian bảo quản: 8 - 10 tuần trong phòng lạnh nhiệt độ 2-50C, độ ẩm 85%
Phá ngủ: sau 8-10 tuần đưa khay củ ra khỏi phòng lạnh để ở nhiệt độ bình thường
15-250C rồi đem trồng trên đất phù sa, đất cát pha , luôn giữ độ ẩm 80 - 85%
Sau 2 - 3 vụ trồng tuỳ thuộc vào giống, làm lạnh, phá ngủ liên tiếp như vậy ta sẽ thu được củ thương phẩm Tất nhiên sau mỗi vụ trồng ta lại phải xử lý lạnh, rồi phá ngủ thì mới đảm bảo tỉ lệ nảy mầm cao Quá trình này được minh hoạ bằng các hình ảnh dưới đây
Trang 32Củ giống lily in vitro giai đoạn in vivo
Củ lily giống in vitro khi đưa ra khỏi bình nuôi cấy
Cây lily từ củ in vitro sau 6 tháng trồng ởvườn ươm
Cây và củ lily (thương phẩm) từ củ in vitro sau 2 năm trồng trong vườn ươm đã
đạt kích cỡ 2,5 - 4 cm đường kính
Ngoài củ bi từ củ mẹ sinh ra, trong quá trình trồng hoa, nách lá cũng xuất hiện những củ con có màu xanh hoặc tím tuỳ theo đặc tính của giống
Trang 33Khi củ đạt được kích cỡ như trên thì ta phải bảo quản ở trong kho lạnh ẩm trong vòng 8-10 tuần để trồng năm sau Ở Việt Nam, điều lưu ý nhất là phải tính sao cho khi thu hoạch củ thương phẩm và sau khi cho củ ngủ trong kho lạnh, thời điểm phá ngủ đem
đi trồng phải đúng vào vụ Đông - Xuân ở Đồng bằng sông Hồng thì mới thu hoạch hoa vào dịp Tết Nguyên Đán hoặc ngày lễ 8/3 Nếu thời gian ngủ trong kho lạnh phải kéo dài hay rút ngắn sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ nảy mầm của củ, giảm chất lượng hoa hoặc tăng chi phí
Ở nước ta, Sa Pa - Lào Cai và chân núi Langbiang - Lạc Dương - Đà Lạt là 2 nơi
có đủ điều kiện nhiệt độ, độ ẩm để nuôi củ lily giống Tuy nhiên ở Sa Pa thì cần chú ý đến thời điểm để đúng thời vụ trồng như nêu trên Điều này khác với các nước Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Vì những nước này có mùa đông băng giá, thời vụ trồng lily của họ là mùa hè, để củ ngủ qua đông sang xuân, thu hoạch củ đem trồng là được Còn ở Việt Nam phải để trong kho lạnh nên chi phí sẽ tốn kém hơn Chúng tôi
cũng đã có những khảo nghiệm so sánh giữa củ trồng từ nuôi cấy in vitro so với củ trồng
từ tách củ con sau khi thu hoa thì thấy rằng các đặc tính nông sinh học, tốc độ sinh trưởng
và khả năng nhiễm sâu bệnh ở các giống lily màu là tương đương nhau, không có sự khác biệt giữa 2 phương pháp nhân giống Do đó, tận dụng các củ con sau khi trồng hoa
thương phẩm chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng cả 2 phương pháp nhân giống: in vitro bằng công nghệ tế bào và in vitro bằng thu củ con (mini) từ củ mẹ hay nách lá (tuỳ theo
giống) để có thể bổ sung vào quá trình nhân giống và giảm giá thành tạo củ giống thương phẩm trong quá trình sản xuất củ giống hoa lily Vì ngay cả ở chu kỳ 2 và 3, củ giống đã đẻ ra những củ bi con khá nhiều (Xem ảnh minh hoạ) Qua 30 tháng thực hiện bằng cả hai phương pháp nhân giống, chúng tôi đã tự sản xuất được 30.000 củ giống thương phẩm
Cây mẹ sau khi thu hoạch hoa 3 tháng Củ con từ cây mẹ
Trang 34Tóm tắt quy trình tạo của sơ cấp (in vitro):
Củ giống (từ những giống được thị trường chấp nhận) sạch bệnh đã được lựa chọn
Cấy chuyển vảy củ bi hoặc cắt củ bi để nhân
nhanh củ bi trong môi trường MS+1gKinetin/l+0,5gBAP/l+90gSacasorse
Trồng ra giá thể ở vườn ươm để phát triển thành
cây và cho củ lớn hơn
Tiếp tục nuôi củ bi trên môi trường MS+90g đường + 1g Kinetin + 1 g than hoạt tính + 1g BAP
để thu củ thứ cấp có kích cỡ 0,5-1cm
Cấy vảy củ đã khử trùng vào môi trường MS+ 90g đường Sacarose + 1 mg BAP + 1 mg Kinetin + 1 g than hoạt tính nuôi trong tối, nhiệt độ phòng 25-
27)C để tạo củ bi
Tách vảy củ, và khử trùng kép bằng HgCl2 0,2 %
trong 7 phút
Trang 353) Kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh để sản xuất củ thương phẩm có đường kính từ 2-4 cm, và sản xuất hoa thương phẩm có 3-5 bông/cành tương đương với tiêu chuẩn của Công ty Hasfarm với số lượng 20.000 bông: Đã hoàn thành nội dung này với 10 000 củ giống thương phẩm và 20.000 cành hoa lily thương phẩm tiêu thụ tại thị trường nội địa như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình,
Trong quá trình sản xuất hoa lily việc chọn giống và nhân giống để sản xuất củ thương phẩm là việc làm có tính chất quyết định Tiếp sau đó là việc trồng các củ thương phẩm để thu được hoa cắt cành phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu Do đó, trong Dự án này chúng tôi đã tập trung vào hai khâu quan trọng của vấn đề này
a Kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh để sản xuất củ thương phẩm
Sau khi nhận được một số lượng lớn củ bi bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro và in
vivo các giống đã được đánh giá là có triển vọng phát triển trong sản xuất như Sorbonne,
Tiber, Acapulco, Bernini chọn mỗi giống 6.000 - 7.000 củ có kích cỡ đồng đều nhau từ 0,5-0,8cm đường kính, đem xử lý lạnh ở nhiệt độ 2 - 50C trong thời gian 8-10 tuần, độ ẩm 85% để phá ngủ Sau đó đem ra trồng ở những luống đất đã chuẩn bị sẵn tại Tam Đảo và Sapa Chọn đất cần chú ý đất phải tơi xốp, đánh luống cao 50 cm x 10m x 0,70m Để đảm bảo cho luống đất tơi xốp, phải trộn thêm các giá thể như trấu hun, xơ dừa, hoặc bọt núi lửa nghiền nhỏ bằng hạt ngô, hoặc xỉ than lò gạch nghiền nhỏ với phân hữu cơ ủ mục Mục đích của việc làm này là đảm bảo cho đất luôn tơi xốp, giữ được độ ẩm và bảo đảm dinh dưỡng cho cây sau này
Vì hoa lily rất nhạy cảm với hàm lượng muối hoặc Clo trong đất cũng như pH của đất, do đó trước khi trồng củ lily từ 4 - 6 tuần ta phải lấy mẫu đất để phân tích kiểm tra hàm lượng muối và Clo trong đất Nếu hàm lượng muối hoặc Clo trong đất cao thì phải dùng vôi và nước rửa đất, đồng thời điều chỉnh độ pH cho phù hợp với các yêu cầu của các giống lily (Hệ lai Châu Á: pH thích hợp từ 6-7; Lily thơm hay loa kèn: pH 5,5 - 6,5)
Để chỉnh độ pH thấp xuống ta có thể dùng một lớp than bùn rải lên trên bề mặt luống Khi bón phân dùng loại phân bón có chứa Urê để hạ thấp độ pH Còn để nâng cao độ pH của đất, trước khi trồng ta dùng hỗn hợp mùn trộn với vôi bột hoặc dùng vôi bột có chứa
Trang 36Mg trộn thật đều với đất Chú ý sau khi dùng vôi ít nhất 1 tuần sau mới được trồng Trong quá trình sinh trưởng tốt nhất nên dùng phân Nitratamon NH4NO3 để tăng cao độ
pH
b Phân bón lót
Lượng phân bón lót đầy đủ là rất quan trọng, nó không chỉ bảo đảm chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát dục của hoa lily mà còn làm cho đất tơi xốp, thay đổi cấu trúc của đất, rất có ích cho sự hấp thụ dinh dưỡng của bộ rễ Do đó, trước khi trồng cần xem xét kết cấu của đất, hàm lượng dinh dưỡng và muối trong đất mà ta bón phân hữu cơ đã ủ mục theo những liều lượng khác nhau Thông thường dùng 1m3 phân chuồng
ủ mục bón lót cho 100 m2 hay 200 - 300 kg cho 100 m2 Tuyệt đối không dùng phân hữu
cơ tươi chưa ủ, vì phân tươi nóng dễ gây cháy rễ Nếu đất có tỷ lệ sét cao thì phải trộn thêm 10 - 20% than xỉ hoặc bọt núi lửa và phân chuồng ủ mục để bón thì kết cấu của đất mới tơi xốp
Trong thí nghiệm của chúng tôi, đất ở Sa Pa khá tơi xốp Còn ở Tam Đảo (đá), Đông Anh (sét) và Văn Giang (sét) phải dùng đất phù sa thay thế, nên phải dùng phân chuồng ủ mục (1 năm) với trấu, tro, vôi bột và cỏ xanh với lượng 500 kg/100m2
Trang 37Phân chuồng được ủ 1 năm Trộn tro và trấu
Bón lót
c Khử trùng tiêu độc cho đất
Vì cây hoa lily rất mẫn cảm với sâu bệnh, nhất là khi ta trồng những củ bi ra đất
nên phải khử trùng tiêu độc cho đất trước khi trồng
Ở các nước tiên tiến như Hà Lan, Nhật Bản, người ta thường dùng các ống dẫn hơi nước có đục lỗ cắm sâu vào đất 25 - 30 cm, các ống cách nhau 40 cm, trên mặt luống phủ một lớp nilon, rồi phun hơi nước liên tục ở nhiệt độ 75 - 80OC trong 1 giờ Phương pháp này tiêu diệt hầu hết các vi sinh vật gây bệnh trong đất, các ấu trùng sâu bọ Phương pháp này hiệu quả cao nhưng giá thành đắt Do đó có thể dùng thuốc Formalin 40% pha loãng tỷ lệ 1/50 hay 1/100 phun vào luống đất với liều lượng 25ml/1m2 ở nhiệt độ 18-
20OC rồi dùng nilon phủ kín luống sau 1 tuần thì rỡ bỏ nilon trước khi trồng
Trong điều kiện Việt Nam, những doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài trồng hoa ở Đà Lạt và Sơn La dùng phương pháp thứ nhất Còn trong Dự án vì kinh phí có hạn, giá thành cao thị trường Hà Nội không chấp nhận nên chúng tôi dùng phương pháp thứ 2
để vệ sinh cho đất nên hạn chế được nhiều loại sâu bệnh hại củ bi lúc trồng và cây con sau này
Trang 38d Làm đất
Làm đất là khâu chuẩn bị cuối cùng của việc trồng lily Thông qua việc cày xới,
dọn cỏ, vệ sinh tạp chất có hại cho cấu trúc của đất như gạch, đã, sỏi trộn phân lót làm cho đất dễ thấm nước, có độ thông thoáng cho các loại vi sinh vật hoạt động, tăng nhanh
sự phân giải và chuyển hoá các chất hữu cơ, làm cho đất tơi xốp có lợi cho sự phát triển của hệ rễ
Khi làm đất cần chú ý đến độ ẩm thích hợp, tiến hành làm đất khi độ ẩm trong đất
là 40-50%, sau đó ta lên luống để thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý vườn Độ cao thấp của luống căn cứ vào điều kiện khí hậu, mùa vụ, địa hình và chất đất vùng đó để quyết định Nếu là vùng có độ mưa nhiều như Sa Pa, Tam Đảo địa thế thấp thì phải làm luống cao ≥ 50 cm, còn nếu vùng có địa thế cao, mưa ít thì làm luống thấp ≤ 50 cm để tiện cho công tác tưới tiêu Thí dụ như ở Đông Anh, Văn Giang vào vụ Đông - Xuân, trời ít mưa, khí hậu lại khô hanh nên ta có thể làm luống ≤ 50 cm Mặt luống thường rộng từ 60 cm đến 1m Giữa các luống có rãnh để thoát nước và đi lại khi chăm sóc cho tiện
Dùng đất phù sa bãi Phay đất, làm luống
Tiến hành trồng
Trang 39e Trồng củ
Ở các nước tiên tiến, người ta thường trồng trong nhà kính có hệ thống điều khiển
nhiệt độ, độ ẩm không khí và đất Do đó có thể trồng hoa lily quanh năm Còn ở Việt Nam, nếu ở Đà Lạt - Lâm Đồng, Sa Pa - Lào Cai và Tam Đảo - Vĩnh Phúc có thể trồng hầu như quanh năm , tốt nhất trong nhà màn và nhà plastic thông thoáng và bảo đảm độ chiếu sáng Còn ở Đồng bằng sông Hồng chỉ trồng được vào vụ cuối Thu năm trước sang Đông - Xuân năm sau Tức là từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Trong Dự án này để trồng củ lily sơ cấp, chúng tôi đã sử dụng các luống đất làm đúng quy định kỹ thuật đã nêu ở trên, trồng mật độ 100 củ/m2, khoảng cách 10 x 10 cm Vì trồng để lấy củ
có kích cỡ lớn hơn chứ không phải trồng lấy hoa thương phẩm, nên mỗi giống trồng
60-70 m2 , với tổng số là 6.000 củ Kết quả và tỉ lệ nảy mầm, chiều cao cây và kích cỡ củ sau một chu kỳ trồng được nêu ở Bảng 10
Bảng 10 Tỉ lệ nảy mầm, chiều cao cây và kích cỡ củ sau một chu kỳ trồng
tháng 3 - 6 /2005 tại thị trấn Tam Đảo - Vĩnh Phúc - vụ thứ nhất
Mọc cây Cây sống Giống (Kích cỡ củ) Số lượng củ Số
cây
Tỷ lệ (%)
Số cây
Tỷ lệ (%)
Chiều cao cây (cm)
Kích cỡ
củ lúc thu hoạch (cm) Sorbonne 7.000 (0,5-0,7) 6.650 95 6.550 98,5 48,5± 1,9 1,7-1,9 Tiber 6.000 (0,5-0,7) 5.820 97 5.616 96,5 39,6± 2,5 1,6-1,8 Bernini 6.000 (0,5-0,7) 5.874 97,9 5.662 96,4 39,3± 2,7 1,6-1,7 Yelloween 6.000 (0,5-0,7) 5.892 98,2 5.727 97,2 44,7±2,4 1,4-1,6 Qua dẫn liệu ở Bảng 10, ta thấy rất rõ là: số lượng cây mọc và tỷ lệ sống của cây đến lúc thu hoạch ở mỗi giống hoa lily thí nghiệm là khác nhau Tuy nhiên sự khác biệt
đó không lớn Chúng xê dịch từ 95% ở giống Sorbone đến 98,2% ở giống Yelloween Tỷ
lệ sống của các cây hoa lily ở các giống thí nghiệm cũng có những bức tranh tương tự
Độ sống xê dịch từ 96,4% ở giống Bernini đến 98,5% ở giống Sorbonne
Như vậy đặc điểm của giống cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ mọc và sống của cây đến lúc thu hoạch Khi xem xét đặc tính chiều cao cây và kích cỡ củ lúc thu hoạch, chúng
Trang 40tôi thấy rằng chiều cao cây có độ khác biệt giữa các giống Cao nhất là giống Sorbnne đạt 88,2 cm lúc thu hoạch Còn giống có chiều cao thấp nhất là giống Bernini 77,6 cm Kích
cỡ củ cũng có sự khác biệt giữa các giống lily thơm và không thơm Còn các giống lily thơm không có sự khác biệt lớn có ý nghĩa
Qua dẫn liệu ở Bảng 10, ta thấy giống lily không thơm Yelloween sau 1 vụ trồng kích cỡ củ có đường kính đạt 1,4 - 1,6 cm Trong khi đó các giống lily thơm như Sorbonne đạt 1,7-1,9 cm; Tiber đạt 1,6 - 1,8 cm và Bernini đạt 1,6 - 1,8 cm Như vậy sau một vụ trồng kích cỡ củ lily ở tất cả các giống thí nghiệm đã tăng từ 2 - 3,5 lần
Thời gian sinh trưởng và đặc tính chống chịu sâu bệnh của 4 giống thử nghiệm cũng được chúng tôi tập trung nghiên cứu Kết quả về vấn đề này được nêu ở Bảng 11
Bảng 11 Thời gian sinh trưởng và đặc tính nhiễm một số bệnh chính của 4 giống lily thử
nghiệm tại Tam Đảo - Vĩnh Phúc tháng 3-7/2005 - Vụ thứ nhất
Giống Thời gian
sinh trưởng (ngày)
Chú thích: + Sâu hại nhẹ 1- 5% * Bệnh hại nhẹ 1-5%
++ Sâu hại trung bình 5-10% ** Bệnh hại trung bình 5-10%
Dẫn liệu ở Bảng 11 cho thấy thời gian sinh trưởng từ lúc trồng củ bi cho đến lúc
thu hoạch củ ở chu kỳ trồng ra đất lần thứ nhất ở các giống lily thí nghiệm là khác nhau tùy theo giống Giống có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là giống Yelloween: 89 ngày và giống dài nhất là giống Sorbonne: 105 ngày Trong điều kiện trồng ở Tam Đảo và Sa Pa, thời gian sinh trưởng của các giống đều kéo dài hơn ở Đồng bằng sông Hồng vào vụ Đông - Xuân từ 18 - 20 ngày Điều này cũng phù hợp với kết quả khảo nghiệm các giống hoa lily thương phẩm của chúng tôi Các giống cũng phản ứng với các loại sâu bệnh là rất khác nhau Trong 4 giống thí nghiệm, giống Sorbonne có khả năng chống chịu sâu bệnh khá nhất Sau đó là đến giống Tiber Giống Bernini là mẫn cảm với sâu bệnh nhất Do