1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích

97 429 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự án đã đào tạo được 388 cán bộ kỹ thuật, công nhân và nông dân thành thạo làm vườn ươm nhân giống vô tính và thâm canh 2 giống chè mới tại các vùng triển khai Dự án.. Trong thời gian t

Trang 1

BỘ nông nghiệp và phát triển nôngthôn

viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía bắc

báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước

hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính

bằng giâm cành và phát triển hai giống chè

chất lượng cao phúc vân tiên và keo am tích

M∙ số: kc 06.DA 19 NN Chủ nhiệm đề tài: TS nguyễn văn thiệp

Trang 2

Danh s¸ch c¸ nh©n tham gia thùc hiÖn dù ¸n

1 TS NguyÔn V¨n ThiÖp ViÖn KHKTNLN

miÒn nói phÝa B¾c

Chñ nhiÖm dù

¸n

2 TS NguyÔn V¨n T¹o ViÖn KHNN ViÖt Nam Céng t¸c viªn

3 TS §inh ThÞ Ngä ViÖn KHKTNLN miÒn

Trang 3

Bài tóm tắt

Hai giống chè Phúc Vân Tiên (PVT) và Keo Am Tích (KAT) là những giống có chất lượng tốt nhập nội từ năm 2001 đã có thời gian khảo nghiệm ở các vùng chè chính của Việt Nam và đã được Bộ NN & PTNT công nhận giống tạm thời năm 2003 và cho phép trồng thử trên diện rộng

Dự án triển khai nhằm hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành và kỹ thuật thâm canh cho hai giống chè mới, góp phần phát triển hai giống chè PVT và KAT ở một số vùng sinh thái thích hợp;

đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân và nông dân thành thạo về quy trình công nghệ nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành và thâm canh hai giống chè mới

Kết quả đã xác định được thời vụ để hom thích hợp nhất vào lứa hái chính tháng 8 hàng năm Thời gian nuôi hom trên vườn cây mẹ 3 tháng, cắm hom vào tháng 11-12 Trong quá trình nuôi hom thường xuyên bấm tỉa, tạo tán, điều chỉnh cành chè giống để thu được những hom khoẻ mạnh Xác định

được liều lượng, tỷ lệ các loại phân, thời kỳ và phương pháp bón phân cho vườn cây mẹ Nghiên cứu kỹ thuật điều chỉnh độ ẩm thích hợp cho từng giai

đoạn cây con trong vườn ươm, thiết bị, phương pháp tưới Nghiên cứu điều chỉnh ánh sáng, dùng lưới đen thay thế vật liệu giàn che bằng phên nứa đã góp phần làm giảm giá thành, chủ động điều chỉnh cường độ ánh sáng trực xạ phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cây con Tiến hành phân loại cây con vào thời điểm sớm, thích hợp sẽ tạo cho cây đồng đều và tăng tỷ lệ xuất vườn Xác

định được liều lượng và tỷ lệ các loại phân khoáng cho từng thời kỳ cây con trong vườn ươm: 2 tháng đầu không bón phân, từ sau tháng thứ 2 bắt đầu bón, lần đầu bón lượng ít, hoà loãng rồi tưới, những lần sau tăng dần Có thể bổ sung dinh dưỡng bằng cách hoà tan phân bón nồng độ 1% phun đều lên mặt luống sau đó phun lại bằng nước lã

Dự án cũng đã điều tra sinh trưởng, biện pháp kỹ thuật đã áp dụng ở một số vùng sản xuất, đã thử nghiệm các các kỹ thuật thâm canh hai giống chè PVT và KAT Kết quả đã xác định được mật độ trồng ở vùng Phú Thọ với

Trang 4

giống PVT từ 2,0-2,2 vạn cây/ha, với giống KAT từ 2,2-2,5 vạn cây/ha ở những vùng mưa nhiều và có các điều kiện thích hợp hơn như Quảng Ninh, mật độ trồng cho cả hai giống từ 2,2-2,3 vạn cây/ha Đốn tạo hình cho chè PVT có thể áp dụng lần thứ nhất đốn thân chính cao 25 cm, cành bên cao 40 cm; lần thứ hai đốn cao 40 cm Đối với chè KAT, lần thứ nhất đốn thân chính cao 20 cm, cành bên cao 35 cm; lần thứ hai đốn cao 35 cm Năm thứ 3 đến năm thứ 5 đốn năm sau cao hơn năm trước 5 cm

Bón phân: tăng cường bón phân hữu cơ, bón cân đối NPK, bón nhiều đợt trong năm làm tăng năng suất, chất lượng chè của hai giống mới Thực hiện

tủ rác giữ ẩm nương chè, tưới nước ở thời kỳ khô hạn, phòng trừ sâu bệnh kịp thời là những yếu tố cho chè sinh trưởng phát triển tốt và tăng năng suất

Dự án đã đào tạo được 388 cán bộ kỹ thuật, công nhân và nông dân thành thạo làm vườn ươm nhân giống vô tính và thâm canh 2 giống chè mới tại các vùng triển khai Dự án Góp phần quan trọng nhân nhanh, cung cấp giống tốt cho sản xuất

Trong thời gian triển khai Dự án, đã xây dựng được 6 vườn ươm chính

và hàng chục vườn ươm nhỏ tại các hộ gia đình ở các vùng triển khai dự án sản xuất và tiêu thụ hết 9,04 triệu bầu chè, trồng 5 ha mô hình hai giống mới, thu hồi vốn đầy đủ

Trang 5

Mục lục

Danh sách những người thực hiện Dự án

Bài tóm tắt

Mục lục

1 Thông tin tổng quát về dự án 1.1 Tổng quan chung

1.2 Mục tiêu

1.3 Nội dung thực hiện

1.3.1 Nghiên cứu Hoàn thiện công nghệ giâm hom

1.3.2 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình thâm canh

1.4 Sản phẩm

1.5 Kinh phí thực hiện Dự án 1.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của Dự án

1.7 Kết luận và đề nghị

2 Phương pháp nghiên cứu và thực hiện dự án

3 Kết quả thực hiện

3.1 Nghiên cứu Hoàn thiện công nghệ giâm hom

3.1.1 Kỹ thuật nuôi hom giống trên vườn cây mẹ

3.1.2 Hoàn thiện kỹ thuật vườn ươm

3.1.3 Kết quả xây dựng hệ thống vườn ươm

3.2 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình thâm canh

3.2.1 Làm đất, bón phân lót

3.2.2 Mật độ và trồng chè

3.2.3 Kỹ thuật đốn, hái

3.2.4 Bón phân cho chè

3.2.5 Kỹ thuật giữ ẩm, tưới nước cho chè

3.2.6 Phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại

3.4 Xây dựng mô hình

1

2

4

6

6

8

8

8

10

10

10

10

10

11

13

13

13

16

22

26

26

26

27

29

31

31

31

Trang 6

3.5 Kết quả đào tạo của Dự án

3.6 Kết quả thực hiện kinh phí Dự án

4 Đánh giá Hiệu quả

4.1 Hiệu quả kinh tế

4.2 Hiêu quả xã hội

4 kết luận và đề nghị

Tài liệu tham khảo Phụ lục Căn cứ để xây dựng quy trình Những điểm bổ sung trong quy trình Quy trình nhân giống vô tính chè PVT bằng giâm cành Quy trình nhân giống vô tính chè KAT bằng giâm cành Quy trình trồng, chăm sóc, thu hoạch giống chè PVT

Quy trình trồng, chăm sóc, thu hoạch giống chè KAT

32

32

34

34

35

35

37

39

40

40

42

50

57

68

Trang 7

Tên Dự án SXTN:

“Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và

phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân tiên và keo

am tích ” M∙ số: KC.06.DA.19.NN

Chủ nhiệm Dự án SXTN: TS Nguyễn Văn Thiệp

Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc,

Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

1 Thông tin tổng quát về dự án:

1.1 Tổng quan chung

Cây chè có vị trí quan trọng đối với vùng trung du miền núi Việt Nam,

chúng có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện của vùng đất

dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xoá đói giảm nghèo và dần

tiến tới làm giàu cho nhân dân trong vùng Đồng thời, cây chè còn có vai trò

to lớn trong việc che phủ đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái,

một trong những vấn đề đang rất được quan tâm của Đảng và Nhà nước ta

hiện nay Chính phủ đã có nhiều chính sách cụ thể cho phát triển cây chè Một

số tỉnh vùng trung du miền núi phía Bắc đã coi cây chè là cây kinh tế mũi

nhọn Vì vậy, những năm gần đây, diện tích, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu

của ngành chè đã tăng nhanh

Tuy vậy, năng suất và chất lượng chè nước ta thấp hơn nhiều nước trên

thế giới và trong khu vực Khắc phục tồn tại đó, chúng ta đang nỗ lực nghiên

cứu và áp dụng các biện pháp tiên tiến trong sản xuất chè Một trong những

giải pháp có hiệu quả là phải đẩy mạnh thay đổi cơ cấu giống chè theo hướng

chỉ trồng mới và thay thế các nương chè cũ kém hiệu quả bằng các giống có

chất lượng tốt, nhân giống vô tính bằng giâm hom Đó là phương pháp tiến bộ

và hệ số nhân giống lớn, giữ nguyên đặc tính cây mẹ, nương chè đồng đều,

năng suất và chất lượng tốt Hai giống chè Phúc vân tiên (PVT) và Keo am

tích (KAT) là những giống chè nhập nội có chất lượng tốt, đã có thời gian

khảo nghiệm ở các vùng chè chính của Việt Nam và đã được Bộ NN & PTNT

cho phép trồng thử trên diện rộng [1,2,3,4,5,6] Tuy nhiên, diện tích của hai

Trang 8

giống này còn hạn chế, kỹ thuật nhân giống chưa được hoàn thiện, nên hiệu quả nhân giống chưa cao Vì vậy, mở rộng qui mô nhân giống và mô hình thâm canh để hoàn thiện quy trình nhân trồng hai giống chè mới PVT và KAT

là cần thiết trong chương trình phát triển chè

Giống chè Phúc Vân Tiên thuộc hệ vô tính, là giống lai giữa Phúc Đỉnh

Đại Bạch Trà và Vân Nam, sinh trưởng mạnh, năng suất cao, ở tuổi 3 đạt 4,0 tấn/ha Giâm hom có tỷ lệ sống cao 80-90% Giống Keo Am Tích là giống vô tính có nguồn gốc ở Phúc Kiến Trung Quốc, sinh trưởng khá, năng suất ở tuổi

3 đạt từ 3,7-4,0 tấn/ha, chế biến chè xanh chất lượng rất cao

Phương pháp nhân giống vô tính chè bằng giâm hom được sử dụng phổ biến vì giá thành rẻ, dễ áp dụng [15] Cây chè vô tính trồng với mật độ thích hợp, phân bón đầy đủ, chế độ chăm sóc phù hợp đối với các giống sẽ có hiệu quả tốt Với các giống chè xanh chất lượng cao Trung Quốc, Nhật Bản trồng

từ 2,5-3,0 vạn cây/ha Phân hữu cơ bón lót với lượng lớn Nhật Bản ngoài bón lót, còn phủ một lớp phân hữu cơ dày 5-10 cm trên mặt áp dụng công nghệ tưới đảm bảo đầy đủ nhu cầu nước của cây chè [16,17,19]

ở nước ta, kỹ thuật nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã

được nghiên cứu và áp dụng trong sản xuất Kỹ thuật giâm hom ngày càng hoàn thiện cho các giống chè khác nhau và được áp dụng rộng rãi, đặc biệt sau khi ra đời giống chè mới PH1 có năng suất cao, sinh trưởng khoẻ và giống chè LDP1 được công nhận là giống quốc gia, các hộ ở khắp các vùng chè đều có khả năng làm vườn ươm nhân giống [11,12,14] Cũng bởi vậy mà hiện nay, hầu hết các nương chè trồng mới được trồng bằng cây chè nhân giống vô tính

Có thể nói kỹ thuật nhân giống vô tính bằng giâm hom đã tạo ra bước nhảy vọt về diện tích, năng suất và sản lượng đối với ngành chè Việt Nam trong những năm vừa qua

Mặc dù phương pháp nhân giống bằng giâm hom đã trở thành phổ biến, nhưng kỹ thuật giâm hom không thể áp dụng chung cho tất cả các giống chè,

mà nó đòi hỏi mỗi giống chè khác nhau cần phải có những điều chỉnh kỹ thuật

Trang 9

phù hợp thì mới có thể nâng cao tỷ lệ sống của cây con trong vườn ươm và tạo cho các cây giống có sức sinh trưởng mạnh Hai giống chè Phúc Viên Tiên và Keo Am Tích đã được trồng khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau, đều thể hiện khả năng thích ứng tốt, sinh trưởng mạnh, mật độ búp dày, năng suất cao, trong điều kiện thâm canh 3 tuổi có thể cho năng suất từ 3-4 tấn búp/ha Giống Phúc Vân Tiên chế biến chè xanh chất lượng khá cao, cánh nhỏ, xoăn, chắc, mặt hàng đẹp Chè đen làm từ giống này cũng rất tốt Giống Keo Am Tích chế biến chè xanh chất lượng rất cao [2,3,4,5]

Hai giống chè trên đang là những giống có nhiều triển vọng được sản xuất mong đợi Một số cơ sở đã thử nghiệm nhân giống nhằm sớm phát triển các giống này, nhưng tỷ lệ xuất vườn đạt được rất thấp Do vậy, hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích sẽ có tác động trực tiếp thúc đẩy phát triển nhanh hai giống chè ra sản xuất, góp phần thay đổi cơ cấu giống chè hiện nay

1.2 Mục tiêu

Hoàn thiện quy trình giâm cành và kỹ thuật thâm canh hai giống chè Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích phục vụ mở rộng diện tích sản xuất hàng hoá

1.3 Nội dung thực hiện

1.3.1 Nghiên cứu Hoàn thiện công nghệ giâm hom

a- Hoàn thiện kỹ thuật chăm sóc vườn giống gốc và nuôi hom nhằm tăng

hệ số nhân giống, tăng số lượng hom trên nương chè giống

- Xác định tiêu chuẩn lựa chọn vườn giống gốc;

- Xác định tiêu chuẩn cành và hom giống

- Kỹ thuật nuôi hom: xác định thời vụ để hom; bón phân, chăm sóc

vườn chè để hom giống

b- Hoàn thiện kỹ thuật vườn ươm gồm các nội dung:

- Kỹ thuật xây dựng vườn ươm

- Kỹ thuật điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng của vườn ươm

- Kỹ thuật bón phân vô cơ cho vườn ươm

- Kỹ thuật phân loại cây, luyện cây trước khi xuất vườn

Trang 10

- Xây dựng quy trình kỹ thuật vườn ươm

c- Xây dựng hệ thống vườn ươm

- Khảo sát địa bàn xây dựng vườn ươm

- Xây dựng vườn ươm

- Sản xuất thử nghiệm bầu chè giống

Các giải pháp công nghệ hoàn thiện công nghệ giâm hom

Qui trình công nghệ sẽ tác động chủ yếu trong Dự án

Tiêu chuẩn hoá chất lượng cây chè giống khi xuất vườn: Tỷ lệ xuất

vườn, chiều cao cây, số lá, đường kính thân, mức độ sâu bệnh

Kỹ thuật nuôi hom giống trên vườn giống gốc

Điều chỉnh ẩm độ tối ưu

Điều chỉnh ánh sáng tối ưu

Xác định số lượng

cành hợp lý trên tán

cây chè giống

Tỷ lệ, liều lượng, chủng loại phân bón hợp lý

Lượng nước tưới

Thời gian điều chỉnh

Trang 11

1.3.2 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình thâm canh

Liên kết với các địa phương sản xuất 6 triệu bầu

- Mô hình thâm canh 5 ha hai giống mới tại Viện

- Chế biến 100 kg chè xanh từ búp chè của hai giống chè mới

- Đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật (300 người) trên địa bàn các tỉnh thành thạo về nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom và thâm canh hai giống chè PVT và KAT

1.5 Kinh phí thực hiện Dự án

Tổng kinh phí thực hiện dự án 5.549.777.960 đồng; Kinh phí hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước 1.600 triệu đồng; Kinh phí thu hồi trả lại ngân sách nhà nước là 948 triệu đồng (bằng 60% giá trị Hợp đồng)

1.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế và x∙ hội của Dự án 1.7 Kết luận và đề nghị

Trang 12

2 Phương pháp nghiên cứu và thực hiện dự án

- Nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm hom hai giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích trên cơ sở triển khai dự án sản xuất với quy mô lớn về số lượng bầu chè giống ở một số vùng khác nhau Mô hình vườn ươm tại Viện với trang thiết bị tốt, đội ngũ chuyên gia và kỹ thuật thành thạo về giống và nhân giống chè, nghiên cứu và sản xuất 3 triệu bầu hạ giá thành 25%

- Tổ chức thực hiện các thí nghiệm, thử nghiệm các các yếu tố kỹ thuật chính tác động lên các giai đoạn của quá trình sản xuất bầu chè giống như: tác

động vào vườn cây mẹ để cung cấp hom giống tốt cho các vườn ươm của dự

án; điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng, cung cấp dinh dưỡng, quản lý vườn và phòng trừ sâu bệnh để có cây chè giống đủ tiêu chuẩn và đạt tỷ lệ xuất vườn cao

- Tổ chức xây dựng vườn ươm ở Viện và các địa phương, sản xuất 9 triệu bầu cung cấp cho sản xuất

- Nghiên cứu, hoàn thiện quy trình thâm canh hai giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích tại Viện trên cơ sở trồng mô hình 5 ha; tiến hành các thí nghiệm, thử nghiệm về tác động kỹ thuật lên cây chè, tổng hợp các chỉ tiêu cấu thành nương chè tốt, năng suất cao kết hợp với điều tra các chỉ tiêu ngoài sản xuất để xây dựng quy trình thâm canh cho hai giống chè mới

- Đào tạo, tập huấn cho cán bộ, nông dân các vùng dự án về kỹ thuật nhân giống và thâm canh, quảng bá về tính ưu việt của hai giống chè mới phục

vụ mở rộng sản xuất

Phương án triển khai dự án:

Để đạt được mục tiêu sản xuất 6 triệu bầu hai giống chè mới ở điều kiện sản xuất bình thường của dự án, phải phối hợp và liên kết với một số cơ sở sản xuất nhằm đạt được mục tiêu:

- Có mặt bằng để xây dựng vườn ươm, có lực lượng lao động tại chỗ để tiến hành sản xuất vì sản xuất 1 triệu bầu cần từ 8-10 lao động trực tiếp chăm sóc thường xuyên, đặc biệt những giai đoạn có tính thời vụ cao như khâu vào

Trang 13

bầu đất và cắm hom, phân loại cần có 20-30 lao động/ ngày để sản xuất một triệu bầu

- Các cơ sở liên kết sản xuất sẽ đầu tư thêm vốn để sản xuất

- Những đơn vị liên kết sản xuất sẽ là nơi ứng dụng trồng các giống PVT và KAT, vì thế sẽ giảm chi phí vận chuyển bầu, từ đó sẽ giảm chi phí trồng chè mới

- Cán bộ Viện tổ chức bố trí các thực nghiệm và khảo nghiệm để kết luận các giải pháp kỹ thuật, tổng kết và biên soạn quy trình

Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc chuẩn bị đầy đủ hom giống gốc, xây dựng các định mức vật tư kỹ thuật và tổ chức đội ngũ cán bộ

có đủ trình độ về quản lý và chuyên môn kỹ thuật và đội ngũ công nhân lành nghề để tổ chức và triển khai nhân giống ở các điểm liên kết sản xuất

Phương án sản phẩm quả Dự án

Những cơ sở phối hợp triển khai Dự án là những đơn vị tiếp nhận sản phẩm, là khách hàng, là thị trường cho sản phẩm của Dự án Các cơ quan phối hợp triển khai Dự án đều đã có đơn đặt hàng tiếp nhận sản phẩm 2 giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích

Trang 14

3 Kết quả thực hiện

3.1 Nghiên cứu Hoàn thiện công nghệ giâm hom

3.1.1 Kỹ thuật nuôi hom giống trên vườn cây mẹ

3.1.1.1 Xác định tiêu chuẩn lựa chọn vườn giống gốc

Đã lựa chọn và tiến hành nghiên cứu tại các vườn giống gốc Phúc Vân

Tiên và Keo Am Tích là những nương chè kinh doanh có tuổi và cấp năng suất

khác nhau Theo dõi các chỉ tiêu nghiên cứu, kết quả cho thấy: vườn chè lấy

hom giống tốt nhất là sau 5 tuổi, khi cây chè đã phát triển ổn định Có thể xây

dựng vườn chuyên sản xuất hom giống, khi không có nhu cầu để giống nữa thì

chuyển sang thu hái búp Trong năm, vườn chè có thể thu hái búp vào thời

điểm không để hom, và thời gian nuôi hom giống thì không hái búp (ảnh 1)

Số lượng hom các giống đạt được như sau:

Chè PVT 4-5 tuổi: 100-200 hom/cây, tương đương 2,0-3,5 triệu hom/ha

Chè KAT 4-5 tuổi: 70-150 hom/cây, tương đương 1,5-3,0 triệu hom/ha

3.1.1.2 Kỹ thuật nuôi hom

a) Xác định thời vụ để hom

Có thể nuôi hom chè giống PVT và KAT quanh năm, nhưng thường

nuôi hom vào 2 thời vụ chính là vụ đông xuân và vụ hè thu Thời gian nuôi

cành chè thành hom đủ tiêu chuẩn giâm từ 2,5 đến 3 tháng

- Nuôi hom ươm vụ đông xuân: Đợt sinh trưởng thứ 3 của búp chè vào

cuối tháng 7 đến tháng 8 hàng năm không hái và để sinh trưởng tự nhiên Khi

những cành chè chính trong đợt sinh trưởng được 5-8 lá thật, tiến hành hái búp

ở những cành chè sinh trưởng yếu, ở mép tán, cành tăm hương, những cành

chè sinh trưởng sau, chỉ giữ lại trên mặt tán chè khoảng 10-20 cành chè sinh

trưởng khoẻ, phân bố đều trên mặt tán chè, để tiếp tục nuôi hom (nương chè

giống gốc 4-5 tuổi) Trước khi thu hoạch hom 10 -15 ngày, tiến hành bấm

ngọn để kích thích cho mầm nách sẵn sàng hoạt động và các hom có độ chín

sinh lý đồng đều

- Nuôi hom ươm vụ hè thu: Đợt sinh trưởng thứ nhất của búp chè vào

tháng 3 - 4 hàng năm không hái để nuôi hom, áp dụng kỹ thuật điều chỉnh

Trang 15

cành chè giống để lấy hom tương tự như vụ đông xuân Thời gian nuôi hom ngắn hơn khoảng 75-90 ngày

Bảng 1 là kết quả thí nghiệm về thời vụ nuôi hom tới sinh trưởng phát triển hom chè trong vườn ươm sau khi cắm

Bảng 1 ảnh hưởng của thời vụ nuôi hom đến sinh trưởng phát triển

hom chè hom PVT và KAT năm 2005 ở Phú Hộ

Giống chè Thời vụ Tỷ lệ sống

(%)

Bật chồi

(%)

Phân hoá rễ (%)

Phúc

Vân

Tiên

Tháng 8 Tháng 4

98.2 89.0

84.7 88.5

76.4 81.2

Keo

Am

Tích

Tháng 8 Tháng 4

96.1 78.2

81.4 79.1

72.0 72.6

Ghi chú: kết quả 1,5 tháng sau khi cắm hom

Từ kết quả thực tế thấy thời vụ nuôi hom bắt đầu từ tháng 7-8, đã cho những hom chè tốt, khi ươm tỷ lệ hom nảy mầm cao, sinh trưởng tốt, tỷ lệ sống đạt trên 98% Thời vụ bắt đầu nuôi hom từ tháng 3 - 4 mặc dù hom chè

to khoẻ nhưng khi ươm, tỷ lệ chết cao hơn, có kết quả như vậy có thể do nhiệt

độ mùa hè cao, nóng ẩm làm cho hom chè chết nhiều hơn

b) Bón phân, chăm sóc vườn chè để hom giống

Vườn giống gốc để lấy hom cần được chăm sóc chu đáo, luôn sạch cỏ, sạch sâu bệnh, khi trồng mới bón lót 30 - 60 tấn phân hữu cơ và 800 -1000 kg Super Lân cho 1 ha Hàng năm bón cân đối N:P:K, liều lượng, thời kỳ và phương pháp bón phân khoáng tương tự như nương chè hái búp

Kỹ thuật đốn hái chè kiến thiết cơ bản áp dụng như nương chè hái búp

Để chuẩn bị nuôi hom giống cho năm sau, cuối năm trước khi để hom bón phân chuồng hoai mục 15-20 tấn/ha Trước khi để hom 2 tuần cần bón bổ sung vô cơ Với thời vụ nuôi hom từ tháng 7 - 8, bón theo quy trình ở các lần bón tháng 2,4 và 6 (bón phân vô cơ với tỷ lệ NPK là 3:1:1, tháng 2: 40%,

Trang 16

tháng 4: 30%, tháng 6: 20%) Từ tháng 8-10 bón theo sinh trưởng và màu sắc lá của từng giống Có thể áp dụng lượng bón như sau: đạm urê 10-12g; Kali Clorua 10-15g; Super Lân 20-25 g/cây Tuỳ theo tuổi, năng suất và tình hình thực tế của nương chè để tính toán lượng phân bón bổ sung cho hợp lý đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng nuôi hom giống sinh trưởng tốt Bảng 2 là kết quả thử nghiệm bón tăng phân hữu cơ, lân và kali

Bảng 2 Phân bón và sinh trưởng phát, triển của hom chè

Phúc

Vân

Tiên

CT1 CT2

98.2 72.6

84.7 78.6

76.4 74.2 Keo

Am

Tích

CT1 CT2

96.1 68.1

81.4 74.3

72.0 69.0

Ghi chú: kết quả 1,5 tháng sau khi cắm hom

3.1.1.3 Hoàn thiện các tiêu chuẩn cành và hom chè giống

Hom giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích có đặc điểm khác nhau

về quá trình chín sinh lý, quá trình chuyển màu nâu của cành hom nhanh hơn các giống phổ biến khác

Trang 17

Bảng 3 Tiêu chuẩn chất lượng hom chè giống PVT và KAT

Để đảm bảo chất lượng hom chè tốt, khi cắt cần chọn cành khoẻ, không

bị sâu bệnh, cắt vào sáng sớm hoặc chiều tối, quá trình vận chuyển không để làm dập nát cành, lá chè Bảo quản cành chè nơi râm mát, thường xuyên phun

ẩm nơi để hom và cành hom, đảm bảo độ ẩm không khí trên 90%, không để

đọng nước trên nền nơi bảo quản hom

Nên tiến hành cắt hom ngay, dụng cụ cắt hom bằng kéo sắc, vết cắt cần gọn, không được dập xước Tiêu chuẩn hom giống: có 1 mầm nách dài không quá 1 cm (không ngắt ngọn), vết cắt trên và dưới theo mặt chiếu bên của hom

có dạng hình thang cân

Khi vận chuyển hom đi xa cần bảo quản hom trong túi Polyethylen có kích thước rộng 80 cm, cao 100-120 cm (chứa được 3000 - 4000 hom/túi), phun ẩm, buộc kín miệng túi

3.1.2 Hoàn thiện kỹ thuật vườn ươm

Các nội dung kỹ thuật vườn ươm có nhiều khâu, đối với hai giống chè mới PVT và KAT, dự án tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các nội dung sau đây:

Điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng là những khâu mà hai giống chè mới yêu cầu khác biệt so với quy trình áp dụng cho các giống chè đang phổ biến trong sản xuất (ảnh 2)

Trang 18

¶nh 1 V−ên gièng gèc Phóc V©n Tiªn

¶nh 2 V−ên −¬m gièng chÌ PVT vµ KAT

¶nh 3 T−íi v−ên −¬m chÌ PVT vµ KAT

Trang 19

3.1.2.1 Điều chỉnh độ ẩm

Những kết quả nghiên cứu đã xác định, sau cắm hom 15 đến 30 ngày hom hình thành mô sẹo, sau 45 - 60 ngày thì hom ra rễ [7,11] Giai đoạn đầu sau 15 ngày, hom chè vừa tách ra khỏi cây mẹ sống tự lập, yêu cầu độ ẩm không khí 80 - 90%, độ ẩm đất 80%, vườn ươm cần che kín cả xung quanh Nếu trời không mưa, mỗi ngày tưới 2 lần, lượng nước tưới 1,5-2,0 lít/m2, dùng ống nước có lắp vòi ô doa trực tiếp từ máy bơm điện công suất 0,2-0,7kw hoặc

đảm bảo độ ẩm đất 75 - 80%

Giai đoạn từ 90 - 120 ngày, độ ẩm đất cần đảm bảo 70 - 80%, thường

cứ 2-3 ngày tưới 1 lần, lượng nước tưới 2 lít/m2 bầu Tuỳ theo điều kiện thời tiết mà điều chỉnh số lần tưới hợp lý

Giai đoạn từ 120 - 180 ngày: Thông thường, chiều cao cây con đạt từ 15

- 30 cm, đã phát triển hoàn chỉnh, một số cây đã đủ tiêu chuẩn xuất vườn

Đảm bảo độ ẩm đất ở phạm vi 70 - 75%, từ 2-3 ngày tưới 1 lần, lượng nước tưới 3 lít/m2

Trong thực tế, số lần tưới nước cần linh động tuỳ theo điều kiện thời tiết, trời mưa không cần tưới, nếu hanh khô, tăng thêm số lần tưới, đảm bảo đủ

độ ẩm để cây chè con sinh trưởng tốt Nếu có mưa kéo dài, độ ẩm cao, mở giàn che cho vườn thông thoáng Giai đoạn đầu không để vườn ươm quá ẩm

sẽ làm hạn chế phân hoá rễ của hom chè

Trang 20

3.1.2.2 Điều chỉnh ánh sáng

Điều tiết cường độ chiếu sáng ở từng thời kỳ cần căn cứ vào điều kiện

ánh sáng tự nhiên mạnh hay yếu, loại vật liệu che sáng, các giai đoạn phát triển cây con trong vườn ươm Kết quả nghiên cứu hoàn thiện công nghệ điều chỉnh ánh sáng cho thấy:

* Sử dụng vật liệu giàn che bằng lưới đen thay cho giàn che bằng phên

nứa đã làm giảm chi phí giá thành, dễ điều tiết ánh sáng, tạo cho cây con sinh trưởng tốt hơn (ảnh 4)

Vụ đông xuân: Sau 60 ngày cắm hom chỉ để 15 - 20% ánh sáng trực xạ,

ở giai đoạn này che kín cả trên mái và xung quanh, chỉ mở xung quanh khi trời râm Từ 60 - 90 ngày mở hết xung quanh giàn che Từ 90 - 120 ngày mở lưới che mái 30% ở phía rãnh Từ 150 - 180 ngày mở lưới che 50% diện tích,

mở luân phiên trên diện tích che để cây con thích nghi dần với điều kiện ánh sáng tự nhiên Sau 180 ngày mở toàn bộ lưới che phía trên và xung quanh

Đối với vụ hè thu: Thường bắt đầu vào cuối tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm, thời gian cây con trong vườn ươm kéo dài đến giữa năm sau Bởi vậy, thời kỳ từ cắm hom đến khi ra rễ phát triển thành cây con hoàn chỉnh trùng với giai đoạn nhiệt độ cao, cường độ ánh sáng mạnh, ẩm độ cao cần giữ cho

ánh sáng vừa phải Giai đoạn từ lúc cắm hom đến 30 ngày tuổi, che kín phía trên giàn, xung quanh vườn ươm bằng lưới đen từ 7 giờ sáng đến 17 giờ chiều (che kín hoàn toàn xung quanh vườn ươm cả ngày) Thời kỳ được 30 - 60 ngày, thường vào tháng 8 - 9 hàng năm, cường độ chiếu sáng mạnh, cần che kín phía trên giàn, che xung quanh từ 8 giờ đến 16 giờ, trước 8 giờ sáng và sau

4 giờ chiều mở lưới che xung quanh Giai đoạn từ 60 - 90 ngày, che kín phía trên giàn, che xung quanh từ 10 giờ sáng đến 15 giờ chiều Từ 90 - 120 ngày sau cắm hom, phía trên giàn mở lưới che mái 20 - 30% ở phía rãnh tuỳ theo cường độ ánh sáng trong ngày để điều chỉnh cho hợp lý Từ 150 - 180 ngày

mở lưới che 50% diện tích, mở luân phiên trên diện tích che Sau 180 ngày mở toàn bộ lưới che phía trên và che xung quanh

Trang 21

Kết quả nghiên cứu cường độ ánh sáng thấy: giai đoạn 1,5 tháng đầu giữ cường độ ánh sáng mức 2000 – 3000 lux, hom chè nảy mầm khá tốt và đồng

đều (Khi cắm hom tháng 11-12 dùng loại lưới đơn làm giàn che sẽ đáp ứng cường độ ánh sáng như trên) Giai đoạn sau 3-4 tháng, cường độ ánh sáng từ 5000-6000 lux, mầm chè sinh trưởng phát triển tốt Bảng 4 là kết qủa thí nghiệm về ánh sáng ảnh hưởng tới sinh trưởng cây chè con trong vườn ươm

Bảng 4 ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây chè trong vườn ươm

Chỉ tiêu

Lux chỉ tiêu Lux chỉ tiêu Lux chỉ tiêuBật mầm sau 1,5 tháng(%) 1114 85,42 850,8 80,12 2288 96,25 Cao cây sau 4 tháng(cm) 3373 8,70 2574 6,47 5721 10,38 Cao cây sau 8 tháng(cm) 18650 37,40 14326 28,83 31632 38,26

Thí nghiệm tiến hành trong thời vụ cắm hom tháng 12 năm 2005

Dùng 2 loại lưới đen che vườn ươm là lưới đơn và lưới kép sẽ có cường

độ ánh sáng trong vườn khác nhau ở thời vụ cắm hom tháng 11-12, cường độ

ánh sáng yếu, nhiều ngày không có nắng, chúng tôi mở lưới hoàn toàn, cường

độ ánh sáng đạt 2000-3000 lux (công thức không che), những ngày nắng phải che lại

Giai đoạn đầu giữ cường độ ánh sáng mức 2000 – 3000 lux, hom chè nảy mầm khá tốt và đồng đều (trên 90% số hom nảy mầm), (cắm hom tháng 11-

12 loại lưới đơn sẽ đáp ứng cường độ ánh sáng này) Giai đoạn sau 3-4 tháng, cường độ ánh sáng từ 5000-6000 lux, cây chè sinh trưởng phát triển tốt (những ngày không nắng, mở lưới hoàn toàn, cường độ ánh sáng 5721 lux, cây chè cao 10,38 cm trong khi dùng lưới kép và che liên tục, cường độ ánh sáng cùng thời điểm là 2574 lux, cây chè chỉ cao 6,47 cm) Giai đoạn sau 5 tháng, tương ứng với mùa hè, cường độ ánh sáng tăng dần, lượng ánh sáng đi qua lưới đủ để cây chè con sinh trưởng (tháng thứ 8 ở cả 3 công thức, cây chè con cao từ 28,83 - 38, 26 cm và đều đạt tiêu chuẩn xuất vườn: ≥ 22 cm )

Trang 22

Như vậy, ươm chè vụ đông xuân nên sử dụng lưới đơn che nắng và những ngày không nắng mở lưới cho đủ ánh sáng, tạo điều kiện để hom chè bật mầm đồng đều và sinh trưởng mạnh ngay từ đầu là tiền đề cho vườn ươm tốt

và có tỷ lệ xuất vườn cao

Phân loại cây con sớm

Kỹ thuật phân loại cây con trong vườn ươm là lựa chọn những cây có kích thước và sinh trưởng tương tự nhau xếp cùng một vị trí theo chiều dọc luống chè cây lớn ở trong, cây nhỏ ở ngoài, để thuận tiện cho đầu tư, chăm sóc những cây nhỏ hơn, huấn luyện những cây lớn hơn, từ đó tăng được tỷ lệ xuất vườn đồng thời cây giống khi trồng có tỷ lệ sống cao hơn do được huấn luyện tốt hơn (ảnh 5)

Thử nghiệm về thời gian phân loại cây đã khẳng định đối với cây chè con giống PVT và KAT phân loại vào giai đoạn được 6-7 tháng tuổi, khi đó vườn ươm có khoảng 40% số cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn là tốt nhất

3.1.2.3 Cung cấp dinh dưỡng hợp lý

Hom chè từ khi cắm hom đến 60 ngày tuổi chưa có rễ nên chưa được bón phân bón ở bất cứ hình thức nào Sau 60 ngày tuổi, cần bón thúc bằng phân vô cơ đầy đủ kết hợp với bổ sung các yếu tố dinh dưỡng vi lượng tương ứng với từng giai đoạn sinh trưởng cây con Nguyên tắc bón cho vườn ươm là

từ không bón đến bón, từ bón ít đến bón nhiều Lượng phân bón được tăng dần theo tháng tuổi của cây con Tuỳ theo điều kiện thời tiết và sức sinh trưởng cây con để bón thúc, bổ sung thêm lượng phân bón cho hợp lý Trên cơ sở kết quả các thử nghiệm về liều lượng phân khoáng bón cho các giai đoạn trong vườn ươm, lượng bón cho hai giống chè như ở bảng 5, tham khảo ảnh 6

Trang 23

Bảng 5 Lượng phân khoáng bón thúc ở từng giai đoạn trong vườn ươm

Phương pháp bón phân: Hoà tan lượng phân bón NPK thêm nước cho

loãng rồi tưới đều trên mặt luống tưới rửa lá bằng nước lã sạch Các giai đoạn

sau 5 tháng tuổi, tuỳ tình trạng cây con có thể phun thêm phân bón lá và phân

vi lượng, phun với lượng1 lít dung dịch cho 5m2 vườn ươm, kết hợp với phun

thuốc phòng trừ sâu bệnh

3.1.3 Kết quả xây dựng hệ thống vườn ươm

3.1.3.1 Khảo sát địa bàn, xây dựng vườn ươm

Căn cứ vào nhu cầu giống chè mới, khả năng hợp tác huy động vốn và

khả năng tiếp nhận công nghệ mới Chúng tôi đã khảo sát các địa bàn và lựa

chọn vùng sinh thái để tiến hành xây dựng vườn ươm Đã xây dựng vườn ươm

và ươm chè tại các địa điểm:

- Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc,TX Phú Thọ

- Huyện Phù ninh, tỉnh Phú Thọ

- Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

- Công ty Chè Liên Sơn, Yên Bái

- Công ty Chè Sông Cầu, Thái Nguyên

- Huyện Hải Hà, Quảng Ninh

Trang 24

¶nh 4 VËt liÖu giµn che v−ên −¬m gièng chÌ PVT vµ KAT

¶nh 5 Ph©n lo¹i c©y V−ên −¬m sau khi ph©n lo¹i

¶nh 6 ThÝ nghiÖm bãn ph©n

Trang 25

3.1.3.2 Kết quả sản xuất bầu giống

Đã khảo sát và xây dựng vườn ươm sản xuất bầu chè tại 4 tỉnh

Bảng 6 Xây dựng vườn ươm nhân giống (năm 2005-2007)

0,86 1,24

0,64 0,30

1,50 1,54

2 Huyện Phù Ninh: Vụ 2005

Vụ 2006 2007

0,28 0,15

0,30 0,10

0,10 0,10

0,40 0,20

1,05 0,14

0,50 0,11

1,55 0,25

Sau hai năm thực hiện Dự án, đã sản xuất được 6,04 triệu bầu chè giống

Phúc Vân Tiên và 3 triệu bầu Keo Am Tích đạt mức doanh thu đạt 4.311,6

triệu đồng Về tiêu chuẩn chất lượng cây chè giống xuất vườn đảm bảo cây

con sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh Chỉ tiêu số lá thật đạt trung bình 8,6 lá/cây vượt mức kế hoạch đề ra Chỉ tiêu mức độ hoá nâu đạt 1/2 thân chính Các chỉ

tiêu về tiêu chuẩn cây con xuất vườn đạt mức cao so với một số nước trồng

chè chủ yếu trên thế giới: Sri Lanka, Trung Quốc, Đài Loan

Bảng 7. Kết quả sản xuất và doanh thu bầu chè giống PVT và KAT

phẩm

Đ.vị tính

Số lượng

doanh thu*

6,04 2.871,74

2 Bầu chè giống

KAT

Triệu bầu

3,00 1.439,86

- Yên Bái: CTCP chè Liên Sơn

- Thái Nguyên: Công ty chè Sông Cầu

- Phú Thọ: Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc, huyện Phù Ninh, thị xã Phú Thọ

- Quảng Ninh: CTCP Chè Đường Hoa

Trang 26

Tại Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đã sản xuất 3,04 triệu bầu chè giống, áp dụng các biện pháp để giảm giá thành sau: thực hiện tốt quy trình kỹ thuật nuôi hom giống trên vườn cây mẹ, đáp ứng

được yêu cầu về kích thước hom để tăng khả năng quang hợp nuôi hom giống sau khi cắm; sử dụng cả hom loại 1 và hom loại 2 đã làm giảm đáng kể giá thành hom chè giống; sử dụng vật liệu giàn che bằng lưới đen, tăng hiệu quả

điều tiết ánh sáng, phù hợp với nhu cầu cây con trong vườn ươm; tưới theo nhu cầu về độ ẩm của cây con, tạo cho vườn ươm đủ ẩm và đồng đều, từ đó tiết kiệm nước tưới, tiết kiệm điện năng, giảm chi phí lao động Tỷ lệ xuất vườn tăng so với sản xuất bầu tại các địa phương Giá thành giảm so với sản xuất

đại trà: 131 đồng/bầu tương ứng 25,2%

Bảng 8 Tiêu chuẩn, chất lượng cây chè giống PVT và KAT xuất vườn

Mức chất lượng Tên sản phẩm và chỉ

tiêu chất lượng chủ yếu Đơn vị đo Kế hoạch Thực hiện

mm lá

3 – 4 Trên 6 lá

xanh vàng sáng Sạch sâu bệnh

100 Cứng cáp

9,04 ≥ 27 1/2

3 – 4 8,6 lá

xanh vàng sáng Sạch sâu bệnh

100 Cứng cáp

- Tỷ lệ xuất vườn: vườn ươm tại Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc đã

đạt tỷ lệ xuất vườn khá cao: Giống Phúc Vân Tiên xuất vườn trung bình đạt 91,2%, Giống Keo Am Tích xuất vườn 84,6% Vườn ươm tại các địa phương xuất vườn trung bình 85,0 % với giống Phúc Vân Tiên và 80,0% với giống Keo Am Tích

Trang 27

3.2 Nghiên cứu hoàn thiện quy trình thâm canh

Các kỹ thuật chủ yếu trong thâm canh chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích đã đ−ợc tác động:

Trang 28

Tỷ lệ chè con chết sau trồng 6 tháng là 3,27% với chè PVT và 4,12% với chè KAT, đây là tỷ lệ chết khá thấp khi trồng mới nương chè

3.2.3 Kỹ thuật đốn, hái

3.2.3.1 Đốn chè kiến thiết cơ bản

Sau khi trồng, cây chè con sinh trưởng và phân cành, để phân cành tốt cần phải bấm ngọn ở độ cao 55 cm đối với chè Keo Am Tích và 60 cm đối với chè Phúc Vân Tiên Sau 1 năm, khi nương chè sinh trưởng tốt có 70% cây cao 65-100 cm, đường kính gốc 1,0 cm trở lên thì đốn tạo hình lần thứ nhất Không nhất thiết là đốn lần 1 khi chè phải đủ 2 tuổi Chúng tôi đã thí nghiệm

đốn chiều cao thân chính và cành bên của hai giống chè ở 3 mức khác nhau

Bảng 9 Thí nghiệm về chiều cao vết đốn chè lần thứ nhất và thứ hai

Công thức Đốn lần 1 (12/2005) Đốn lần 2 (12/2006) CT1 Thân chính 15 cm, cành bên 30 cm Đốn bằng, cao 30 cm CT2 Thân chính 20 cm, cành bên 35 cm Đốn bằng, cao 35 cm CT3 Thân chính 25 cm, cành bên 40 cm Đốn bằng, cao 40 cm Theo dõi các chỉ tiêu về số cành cấp 1, cành cấp 2, số búp/cây, trọng lượng búp, tỷ lệ búp mù xoè (báo cáo thí nghiệm đốn) thấy rằng với giống chè PVT các chỉ số ở công thức 3 cao hơn các công thức khác; với chè KAT ở công thức 2 có số cành, số búp nhiều hơn các công thức khác Do vậy, đốn tạo hình cho chè PVT có thể áp dụng lần thứ nhất đốn thân chính cao 25 cm, cành

Trang 29

bên cao 40 cm; lần thứ hai đốn cao 40 cm Đối với chè KAT, lần thứ nhất đốn thân chính cao 20 cm, cành bên cao 35 cm; lần thứ hai đốn cao 35 cm

Năm thứ 3 đến năm thứ 5 đốn năm sau cao hơn năm trước 5 cm

3.2.3.2 Kỹ thuật hái chè PVT và KAT

Hái búp là phá vỡ ưu thế sinh trưởng đỉnh, đồng thời phá vỡ thế cân bằng

bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất, có tác dụng thúc đẩy sự hình thành búp mới, tăng số lứa hái, số lượng búp Năng suất búp chè có quan hệ chặt với số lá trên cây Với đặc điểm của cây chè mỗi một búp sinh ra từ 1 nách lá, do vậy

có nhiều lá mới cho nhiều búp, năng suất cao nên hái búp và chừa lá có tương quan chặt đến năng suất chè Hái đúng kỹ thuật làm tăng năng suất chè, tăng chất lượng sản phẩm và tạo cho cây chè sinh trưởng khoẻ, bền vững

Kỹ thuật hái chè

Sau lần đốn thứ nhất, đợt hái đầu tiên khi những búp chè ở độ cao 55 cm

đối với giống chè KAT và 60 cm đối với giống chè PVT, hái kỹ và tạo tán chè thành mặt phẳng để thuận lợi cho thu hái sau này, đồng thời sẽ taọ điều kiện cho chè bật búp và sinh trưởng đồng đều hơn Từ sau lần hái đầu tiên, có thể hái theo hai phương pháp là hái san trật và hái kỹ theo lứa

Các hình thức hái khác nhau đã cho búp nguyên liệu có độ dài ngắn khác nhau và làm cho độ non già của búp cũng khác nhau, tuy nhiên, mức độ non già của búp còn được quyết định bởi tỷ lệ bánh tẻ Vì vậy trong phân loại phẩm cấp chè búp tươi có qui định mức độ non già và tiêu chuẩn phẩm cấp búp như sau:

Trang 30

Do vậy trong mô hình trồng tại Viện đã bón lót phân hữu cơ với lượng 60 tấn/ha

b- Bón thúc cho chè kiến thiết cơ bản:

Sinh trưởng của cây chè con phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai, giống, bảo vệ thực vật khi các điều kiện trên được đảm bảo thì sinh trưởng của cây chè con phụ thuộc nhiều vào phân bón Do đó lượng phân bón cho chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích giai đoạn kiến thiết cơ bản như sau:

Bảng 10 Bón phân cho một ha chè kiến thiết cơ bản

Loại chè Loại phân Lượng

phân(kg)

Số lần bón

Thời gianbón (Vào tháng)

Trộn đều, bón 8cm, cách gốc 25-30cm, lấp kín Chè tuổi 2

Trộn đều,bón sâu 8cm, cách gốc 25-30cm, lấp kín

Trộn đều, bón rạch sâu15-20cm, lấp kín.Chè

Trộn đều, bón sâu 8cm, cách gốc30-40cm, lấp kín

Trang 31

6-3.2.4.2 Bón phân cho chè kinh doanh

Thời kỳ bón phân cho chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích cũng như các giống chè khác, căn cứ vào tính chất của đất trồng chè, quy luật phân bổ sản lượng búp tươi hàng tháng và khả năng cho năng suất để bón Xác định lượng phân bón cho hai giống chè mới tính theo tuổi

Bảng 11 Bón phân cho một ha chè kinh doanh

Loại chè Loại

phân

Lượng phân(kg)

Số lần bón

Thời gianbón (Vào tháng) Phương pháp bón

sâu15-Chè 4 tuổi N

P2O5

K2O

100-120 40-60 60-80

Trộn đều, bón rạch 20cm

sâu15-giữa hàng, lấp kín Bón 20-30-10% hoặc 40-30-30%N; Lân bón 100%

Trộn đều, bón sâu 6-8cm, giữa hàng, lấp kín Bón 40 -20-30-10% hoặc 40-30-30%N ;100%P2O5; 60-40%K20

Sử dụng phân bón lá:

Ngoài các thời gian trên đây, tuỳ theo tình trạng sinh trưởng của cây chè

có thể bón bổ sung thêm N, K vào các tháng 5,7,9 và tháng 10 Có thể dùng phân bón lá phun trực tiếp lên lá chè ngay sau khi thu hoạch xong lứa hái

Trang 32

3.2.5 Kỹ thuật giữ ẩm, tưới nước cho chè

Rễ chè lấy nước và dinh dưỡng ở trong đất chủ yếu là tầng từ 0-40 cm Diễn biến độ ẩm tầng đất này liên quan chặt đến diễn biến lượng mưa và ẩm

độ không khí Độ ẩm đất tăng dần theo lượng mưa, tuy nhiên vẫn xảy ra hạn cục bộ trong các tháng mùa mưa giữa 2 đợt mưa cách nhau Việc giữ ẩm và tưới nước cho chè sẽ đem lại hiệu quả đáng kể

Các biện pháp giữ ẩm cho đất chè:

Sâu bệnh hại chè có liên quan chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh và điều kiện canh tác Vào những năm khô hạn, trên đất thiếu dinh dưỡng, hoặc bón quá nhiều đạm dẫn đến hiện tượng rụng lá chè vào mùa hạ, làm cho rầy xanh, nhện đỏ và bọ cánh tơ phát sinh mạnh

Hai giống chè PVT và KAT cũng như nhiều giống chè khác đều bị các loài sâu trên gây hại Để phòng trừ tốt sâu bệnh hại, cần áp dụng tổng hợp các biện pháp phòng trừ Chăm sóc cho chè luôn khoẻ mạnh, có sức chống chịu tốt: bón đầy đủ phân hữu cơ, bón đầy đủ và cân đối phân vô cơ; làm sạch cỏ, trồng đầy đủ cây bóng mát; thời kỳ sâu phát sinh mạnh tháng 3-5, tháng 7-9 cần hái theo lứa và hái triệt để để loại bỏ sâu và trứng sâu, sau khi hái phun thuốc trừ sâu, như vậy, kéo dài được khoảng cách lứa hái sẽ tăng được thời gian cách ly với thuốc trừ sâu, sản phẩm sẽ an toàn hơn

3.4 Xây dựng mô hình

Dự án đã triển khai các mô hình vườn ươm sản xuất 3,04 triệu bầu chè giống Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích giảm giá thành 25,2% tại Viện KHKT

Trang 33

Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc và các vườn ươm sản suất 6 triệu bầu tại các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên và Quảng Ninh

Năm 2005, dự án đã trồng 5 ha mô hình thâm canh tại Viện, trong đó 3

ha giống chè Phúc Vân Tiên và 2 ha là giống Keo Am Tích Nương chè mô hình đang ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, đã đốn tạo hình lần thứ nhất

3.5 Kết quả đào tạo của Dự án

Kết thúc Dự án đã thực hiện được các nội dung phục vụ cho công tác

đào tạo Đã xây dựng được 2 Quy trình kỹ thuật nhân giống vô tính giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích bằng giâm cành, 2 Quy trình thâm canh cho 2 giống chè Trong thời gian triển khai Dự án, đã mở được 10 lớp đào tạo cán

bộ, công nhân kỹ thuật và nông dân thành thạo kỹ thuật nhân giống vô tính hai giống chè PVT và KAT Tổng số cán bộ, công nhân kỹ thuật và nông dân

được đào tạo 388 người (ảnh 7)

3.6 Kết quả thực hiện kinh phí Dự án

Đã sản xuất và tiêu thụ 9,04 triệu bầu chè giống

Đã trồng mô hình thâm canh 5 ha hai giống chè mới tại Viện

Đã sản xuất 100 kg chè xanh từ nguyên liệu hai giống chè mới Đánh giá chất lượng, giống Phúc Vân Tiên đạt 16,58 điểm, giống Keo Am Tích đạt 17,76 điểm, cả 2 giống xếp loại khá

Tổng kinh phí thực hiện dự án 5.549.777.960 đồng; Kinh phí hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước 1.600 triệu đồng; Kinh phí thu hồi trả lại ngân sách nhà nước là 948 triệu đồng (bằng 60% giá trị Hợp đồng)

Đã sử dụng ngân sách nhà nước để sản xuất và hoàn thiện công nghệ là

1600 triệu đồng, vốn huy động và liên kết là 3.949.777.960 đồng

Vốn ngân sách đã thu hồi là 948 triệu đồng

Trang 34

¶nh 6 Trång chÌ PVT ChÌ KAT trång xen l¹c

¶nh 7 TËp huÊn, tham quan ph¸t triÓn gièng chÌ míi PVT vµ KAT

¶nh 8 KiÓm tra dù ¸n

Trang 35

4 đánh giá Hiệu quả:

4.1 Hiệu quả kinh tế

Khi kết thúc dự án, đã sản xuất và tiêu thụ được 9,04 triệu bầu hai giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích, doanh thu đạt 4.311,6 triệu đồng Mô hình sản xuất giảm giá thành từ 521 đồng/bầu xuống 390 đồng/bầu (quy mô thực hiện 3,04 triệu bầu), đã tiết kiệm được 131 đồng/bầu Dự án đã tiết kiệm

được 398,24 triệu đồng Khi áp dụng rộng ngoài sản xuất, bình quân mỗi ha trồng mới bằng giống chè PVT và KAT giâm cành sẽ giảm giá thành đầu tư giống: 22.000 cây/ha x 131 đồng/bầu = 2,882,000 đồng/ha

Do ảnh hưởng của dự án, các gia đình khu vực Viện và các tỉnh ở các vùng chè đã và đang sản xuất số lượng khá lớn 2 giống chè mới Tại Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc, năm 2007, ngoài số lượng bầu chè giống của

dự án, Công ty Tư vấn đầu tư phát triển chè và cây nông lâm nghiệp đã sản xuất 750.000 bầu chè giống Phúc Vân Tiên (Báo cáo Công ty tư vấn 2007) Thống kê sơ bộ năm 2007 ở một số tỉnh phía Bắc, diện tích trồng chè giống Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích đã có khoảng 690 ha, trong đó: Yên Bái đã trồng 489,36 ha, Thái Nguyên đã trồng 103,5 ha, Phú Thọ, Quảng Ninh

và Hà Giang đã trồng 100 ha (nguồn số liệu do Sở nông nghiệp các tỉnh cung cấp) Diện tích chè giống mới đã trồng tương ứng với 16 triệu cây chè giống mới đã được sản xuất Diện tích chè hai giống mới vẫn đang tiếp tục tăng lên,

đặc biệt là diện tích giống Phúc vân Tiên tăng khá nhanh do giống này có tính thích ứng rộng, khả năng chống chịu hạn và sâu bệnh tốt, năng suất cao, chất lượng khá [2,3,4,5] được sản xuất đón nhận Như vậy, do ảnh hưởng của dự án

mà các địa phương đã sản xuất thêm trên 7 triệu bầu giống chè Phúc Vân Tiên

và Keo Am Tích, góp phần tăng thêm diện tích và thay đổi cơ cấu giống chè mới

Hai giống chè mới có năng suất cao, chất lượng tốt, giai đoạn kinh doanh những năm tiếp theo, hiệu quả kinh tế sẽ mang lại nhiều hơn

Trang 36

4.2 Hiệu quả xã hội

Các nội dung hoàn thiện, chuyển giao công nghệ và xây dựng hệ thống

vườn nhân giống tại các địa phương góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển diện tích chè bằng giống mới Bởi vậy Dự án góp phần quan trọng giải quyết đời sống việc làm ổn định không chỉ cho khoảng 2000 người dân sản xuất và kinh doanh trên 390 ha chè trực tiếp từ dự án (1 ha chè cần 5 lao động nông nghiệp

và công nghiệp, cùng hệ thống dịch vụ Ngành chè phát triển) Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tạo điều kiện giao lưu giữa miền xuôi và vùng cao Đồng thời góp phần phủ

xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái

5 kết luận và đề nghị

5.1 Kết luận

- Dự án đã thực hiện đúng tiến độ, đã xây dựng vườn ươm nhân giống Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích ở 6 địa điểm và đã ươm 9,04 triệu bầu Đã tiêu thụ 3,04 triệu bầu tại Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, các địa phương trồng và tự tiêu thụ 6 triệu bầu Các địa phương tự ươm thêm khoảng 7 triệu bầu

- Cây chè con trong vườn ươm sinh trưởng phát triển tốt Các vườn ươm tại Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc có tỷ lệ xuất vườn cao: giống Phúc Vân Tiên đạt 91,2%, Giống Keo Am Tích 84,6% Vườn

ươm tại các địa phương xuất vườn trung bình 85,0 % với giống Phúc Vân Tiên

và 80,0% với giống Keo Am Tích

- Đã trồng mô hình 5 ha hai giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích, hiện đang còn ở giai đoạn kiến thiết cơ bản Tỷ lệ sống sau trồng 6 tháng đạt 95-96%, cây chè con sinh trưởng khoẻ, phân cành tốt

- Dự án đã tập huấn 10 lớp, đào tạo được 388 công nhân, cán bộ kỹ thuật

và nông dân thành thạo kỹ thuật nhân giống và thâm canh hai giống chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích

Trang 37

- Đã sản xuất 100kg chè xanh từ nguyên liệu của 2 giống chè mới Đánh giá chất lượng, giống Phúc Vân Tiên đạt 16,58 điểm, giống Keo Am Tích đạt 17,76 điểm, cả 2 giống xếp loại khá

- Thu hồi đủ số tiền vốn để trả lại ngân sách nhà nước

5.2 Đề nghị

- Dự án triển khai đã tạo ra động lực quan trọng để đẩy nhanh quá trình thay đổi cơ cấu giống chè, tăng tỷ trọng diện tích chè giống mới chất lượng cao Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng, các Sở Nông nghiệp các tỉnh, các doanh nghiệp và Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc để phổ biến quy trình kỹ thuật hai giống chè mới

- Cho phép phát triển rộng rãi giống chè Phúc Vân Tiên ở vùng trung du miền núi phía bắc, tiến tới công nhận là giống quốc gia

- Đề nghị cho phép áp dụng quy trình kỹ thuật nhân giống vô tính và thâm canh hai giống chè mới Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích, nhanh chóng phát huy hiệu quả trong sản xuất

Trang 38

Tài liệu tham khảo

1 Báo cáo Tổng Công ty Chè Việt Nam: Kết quả nhập khẩu 2 triệu hom chè giống và kế hoạch khảo nghiệm, Hà Nội, 2001

2 Báo cáo: Nghiên cứu tính thích ứng các giống chè nhập nội vào Việt Nam năm 2000, Viện Nghiên cứu chè, 2002

3 Báo cáo: Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học các giống chè nhập nội vào Việt Nam năm 2000, Viện Nghiên cứu chè, 2003

4 Báo cáo: Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học các giống chè nhập nội vào Việt Nam năm 2000, Viện Nghiên cứu chè, 2004

5 Báo cáo: Đánh giá khả năng sinh trưởng các giống chè nhập nội tại Phú Hộ, Viện Nghiên cứu chè, 2005

6 Báo cáo: Khảo nghiệm các giống chè nhập nội từ Trung Quốc và Indonesia vào Việt Nam năm 2000, Viện Nghiên cứu chè, 2002

7 Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Văn Niệm Kỹ thuật giâm cành chè; NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1978

8 Đỗ Ngọc Quỹ Trồng chè NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1980

9 Quyết định 43/1999/TTg - Định hướng phát triển Ngành chè Việt Nam đến năm 2010

10 Nguyễn Ngọc Kính Giáo trình cây chè, NXB Nông nghiệp, Hà nội, 1980

11 Ngân hàng phát triển Châu á, Dự án phát triển chè và cây ăn quả, Viện Nghiên cứu chè Sổ tay kỹ thuật trồng chăm sóc, chế biến chè Hà Nội, 2002

12 Nguyễn Văn Niệm (1998) Quỏ trỡnh chọn tạo đưa giống chố PH1 ra sản xuất Tuyển tập cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về chố 1988-1997 NXB Nụng nghiệp, tr.152-156

13 Nguyễn Văn Tạo (1998) Phương phỏp quan trắc thớ nghiệm đồng ruộng chố Tuyển tập cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về chố 1988-1997 NXB Nụng nghiệp, tr.339-348

14 Nguyễn Văn Toàn và CTV Phương phỏp nhõn giống chố Tuyển tập cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về chố 1988-1997 NXB Nụng nghiệp, tr.326-338

Trang 39

15 Agriculture Bureau of Minstry of Agriculture and and TRI, Chinese Academy of Agricultural Science Collection on the Improved Tea varieties in China Shanghai scientific & technical Publish, 1989

16 Chamber of tea Association of Shizuoka Prefecture- Japanese green tea in Shizuoka, 2002

17 Takayuki Nakano, Agrotechnology of tea in Japan

18 TRI of Sri Lanka- Twentieth century tea research in Sri Lanka, 2003

19 TRI, Chinese academy of Agri-sciences China Tea science Society – 2005 international symposium on innovation in tea science and sustainable development in tea industry, 2005

20 K.C Willson and M.N Clifford- Tea cultivation to consumption, 1994

Ngày đăng: 23/08/2014, 09:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. ảnh hưởng của thời vụ nuôi hom đến sinh trưởng phát triển - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 1. ảnh hưởng của thời vụ nuôi hom đến sinh trưởng phát triển (Trang 15)
Bảng 4. ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây chè trong vườn ươm - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 4. ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây chè trong vườn ươm (Trang 21)
Bảng 7.  Kết quả sản xuất và doanh thu bầu chè giống PVT và KAT - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 7. Kết quả sản xuất và doanh thu bầu chè giống PVT và KAT (Trang 25)
Bảng 8.  Tiêu chuẩn, chất l−ợng cây chè giống PVT và KAT  xuất v−ờn  Mức chất l−ợng - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 8. Tiêu chuẩn, chất l−ợng cây chè giống PVT và KAT xuất v−ờn Mức chất l−ợng (Trang 26)
Bảng 11. Bón phân cho một ha chè kinh doanh - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 11. Bón phân cho một ha chè kinh doanh (Trang 31)
Bảng 1. Kết quả sản xuất bầu chè năm 2005-2007 - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 1. Kết quả sản xuất bầu chè năm 2005-2007 (Trang 94)
Bảng 2. Sinh tr−ởng cây chè giống trong v−ờn −ơm thời kỳ xuất v−ờn - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 2. Sinh tr−ởng cây chè giống trong v−ờn −ơm thời kỳ xuất v−ờn (Trang 94)
Bảng 6. Sinh trưởng cây chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích ở mốt số địa - Hoàn thiện công nghệ nhân giống vô tính bằng giâm cành và phát triển hai giống chè chất lượng cao Phúc Vân Tiên và Keo An Tích
Bảng 6. Sinh trưởng cây chè Phúc Vân Tiên và Keo Am Tích ở mốt số địa (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w