Từ những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra, chúng tôi lựa chọn đề tài Khảo sát lời độc thoại nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh g Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị T
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lời nói là khái niệm có ý nghĩa tiền đề, là đối tợng nghiên cứu trung tâm
của ngữ dụng học Không nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng tĩnh với những quy luật và cấu trúc cứng nhắc, bất biến, ngữ dụng học chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ với những ngữ cảnh
và ngời dùng khác nhau Hớng tiếp cận này cho phép ngữ dụng học có thể nhận ra những dạng thức, quy luật hành chức sinh động và đa dạng của ngôn ngữ
1.2 Khi giao tiếp, lời nói đợc tổ chức thành hai dạng: lời đối thoại và lời
ĐTNT Lời đối thoại luôn thể hiện mối quan hệ tơng tác giữa một ngời nói và một ngời nghe trực tiếp, hiện diện trực quan trong quá trình nói năng Do vậy, nó là nguồn t liệu quan trọng để ngữ dụng học tìm ra những nguyên tắc, đặc tính hành chức của ngôn ngữ Lời ĐTNT thờng diễn ra ngầm ẩn, không hớng đến ngời nghe nào khác ngoài chính bản thân ngời nói Nó là dạng lời thoại đợc ngời nói sử dụng
để giao tiếp với chính mình - một ngời nghe đặc biệt Những tính chất này khiến việc nghiên cứu lời ĐTNT từ lý thuyết hội thoại hầu nh còn bỏ trống Một dạng sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp cha đợc tiếp cận đầy đủ, tức là ngời ta cha thể khám phá hết tính đa dạng, những quy luật hành chức phổ quát và đặc thù của ngôn ngữ trong đời sống
1.3 Lời ĐTNT tồn tại khá phổ biến trong thực tế sử dụng ngôn ngữ để giao
tiếp của con ngời nhng nó chỉ hiện diện rõ ràng, cụ thể ở tác phẩm nghệ thuật với hai thể loại chủ yếu là kịch và tiểu thuyết (truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn) Sự tái hiện vào tác phẩm nghệ thuật tất yếu không thể đảm bảo tuyệt đối tính khách quan, nguyên bản của dạng lời nói này nhng ở một mức độ nhất định, các tác giả luôn phải tôn trọng các đặc tính bản chất, các nguyên tắc nảy sinh, hành chức của
nó Vì thế, khi cha có điều kiện vật chất hoá lời ĐTNT ở đời sống thực, lời ĐTNT trong tác phẩm nghệ thuật là một nguồn t liệu đủ tin cậy cho phép việc nghiên cứu
về nó có thể đạt đợc những kết quả cơ bản bớc đầu Đồng thời, tìm hiểu dạng lời nói này trong tác phẩm văn học cũng là tìm hiểu một cách thức tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn, góp phần định hình phong cách ngôn ngữ tác giả
1.4 Sau 1975, văn học Việt Nam chuyển sang một thời kỳ phát triển mới,có
những chuyển đổi mạnh mẽ về t tởng và phơng pháp sáng tác Các tác phẩm tập trung thể hiện cuộc sống của con ngời cá nhân, những hậu quả mà chiến tranh để lại trong xã hội hoà bình Trong sự đổi mới đó, thể loại truyện ngắn đã đạt đợc nhiều thành quả nhất
Trang 2Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiên phong của tiến trình đổi mới văn học Truyện ngắn của ông, ngay từ những năm đầu của thập niên 80 (thế
kỷ 20), đã bộc lộ rõ khát vọng khám phá đời sống nội tâm con ngời trong thời đại mới, đặc biệt là ngời lính trở về sau chiến tranh Lời ĐTNT nhân vật là một phơng tiện ngôn ngữ đợc ông sử dụng rất hiệu quả để phản ánh phạm vi hiện thực này, góp phần tạo nên dấu ấn phong cách độc đáo của tác giả
So với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Thị Thu Huệ là những nhà văn thuộc về thế hệ sau Trong những năm 90 (thế kỷ 20), đây là hai tác giả truyện ngắn nổi tiếng Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất sắc sảo, thể hiện nổi bật trong lời thoại nhân vật Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ giàu nữ tính, phù hợp với việc tái hiện cuộc sống tâm hồn, tình cảm của các nhân vật nữ Khảo sát lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn của họ sẽ cho phép sự nghiên cứu về dạng lời nói này trở nên toàn diện, đầy đủ hơn
Từ những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra, chúng tôi lựa chọn đề tài
Khảo sát lời độc thoại nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh
g
Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ” với hy vọng góp một phần
nhỏ vào quá trình tiếp cận dạng lời ĐTNT từ góc độ ngữ dụng học
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những kết quả nghiên cứu có tính chất tiền đề về độc thoại nội tâm (monologue intérieur)
Mặc dù độc thoại xuất hiện từ khá sớm (gắn liền với sự ra đời của kịch - một loại hình nghệ thuật sân khấu) nhng ĐTNT chỉ bắt đầu đợc chú ý vào những năm cuối thế kỷ 18 và thực sự đợc tập trung nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20 Luận án khái quát những kết quả nghiên cứu về ĐTNT trên hai phạm vi: ở trong nớc và ở ngoài nớc
2.1.1 Những kết quả nghiên cứu độc thoại nội tâm ở ngoài nớc
Các nhà nghiên cứu nớc ngoài tập trung tìm hiểu lời ĐTNT nhân vật trên hai vấn đề:
Vấn đề thứ nhất là xác định t cách tồn tại của ĐTNT trong tiểu thuyết và truyện ngắn Có thể khái quát sự nghiên cứu vấn đề này thành hai xu hớng cơ bản:
ĐTNT với t cách là một kỹ thuật, một thủ pháp của nhà văn trong xây dựng tác phẩm và ĐTNT với t cách là một dạng lời thoại, đợc nhân vật sử dụng để thực hiện
sự giao tiếp
Vấn đề thứ hai là việc xác định ĐTNT, phân biệt nó với khái niệm dòng ý thức Một số tác giả đã đồng nhất hai khái niệm này, tiêu biểu là Tamara Motilova Tuy nhiên, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng: ĐTNT và dòng ý thức là hai khái niệm phân biệt, mặc dù giữa chúng có mối quan hệ gần gũi với nhau
2.1.2 Những kết quả nghiên cứu độc thoại nội tâm ở trong nớc
Trang 3ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên biệt về ĐTNT có số lợng rất hạn chế Tuy nhiên, các tác giả nh: Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà, Trần Đình
Sử đều có những sự chú trọng nhất định đến ĐTNT khi nói về sự đổi mới thi pháp truyện và tiểu thuyết hiện đại Bên cạnh việc chỉ ra vai trò của ĐTNT đối với thi pháp truyện, các tác giả còn đa ra những nhận xét, phân tích về ngôi nhân xng của
ĐTNT (Đặng Anh Đào), về vai nói, vai nghe và những biểu hiện về bản chất hành
động của ĐTNT (Nguyễn Thái Hoà)
Nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã nghiên cứu về ĐTNT với t cách là một dạng lời thoại của con ngời Đỗ Hữu Châu cho rằng, quá trình trao lời diễn ra trong
ĐTNT nhờ vào sự phân đôi nhân cách: nhân cách nghe và nhân cách nói Khi nghiên cứu về các hình thức dẫn thoại, Mai Thị Hảo Yến đã chú ý đến các loại hành động ngôn ngữ xuất hiện ở lời dẫn của ĐTNT…
Kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trớc về ĐTNT là những gợi ý tiền đề rất quan trọng cho luận án Tuy nhiên, việc cha có một công trình nào nghiên cứu
về ĐTNT nh một đối tợng chuyên biệt, xem xét nó với t cách là một dạng lời thoại
đợc con ngời sử dụng để giao tiếp khiến cho ĐTNT vẫn cha thực sự bộc lộ hết những đặc điểm hành chức cũng nh vai trò của nó khi xuất hiện trong tác phẩm văn học Luận án của chúng tôi đợc triển khai để bớc đầu giải quyết những vấn đề này
3 Đối tợng nghiên cứu và nguồn dẫn liệu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận án khảo sát và nghiên cứu lời ĐTNT do nhân vật trực tiếp thực hiện trong 94 truyện ngắn của NMC, NHT, NTTH
3.2 Nguồn dẫn liệu
Đề tài đợc triển khai trên nguồn dẫn liệu là truyện ngắn NMC, NHT, NTTH, giai đoạn những năm 80 - 90 của thế kỷ 20
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
- Nhận diện, xác định lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn của NMC, NHT, NTTH
- Thống kê, miêu tả các hành động ngôn ngữ trong lời ĐTNT nhân vật và các nhân tố chi phối việc lựa chọn hành động ngôn ngữ khi nhân vật ĐTNT
- Miêu tả các nhóm ngữ nghĩa của lời ĐTNT và chỉ ra các nhân tố chi phối ngữ nghĩa của lời
- Khái quát những đặc tính cơ bản của lời ĐTNT trong truyện ngắn, vai trò của chúng đối với lý thuyết hội thoại, đối với việc thể hiện những phơng diện quan trọng của tác phẩm văn học nh: nhân vật, phong cách ngôn ngữ của nhà văn, thi pháp truyện
5 Phơng pháp nghiên cứu
Trang 4Thực hiện đề tài này, luận án sử dụng phối hợp các phơng pháp nghiên cứu sau
- Phơng pháp thống kê - phân loại - miêu tả
- Phơng pháp phân tích ngữ nghĩa - hoạt động
- Phơng pháp phân tích - tổng hợp
- Phơng pháp so sánh đối lập trong
6 Đóng góp của đề tài
Tiến hành thực hiện đề tài Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng
tôi xác định những đóng góp của luận án trên một số phơng diện sau đây:
Thứ nhất, luận án chủ yếu đi sâu tìm hiểu lời ĐTNT dới ánh sáng của lý thuyết hội thoại và ngữ dụng học, nghiên cứu nó với t cách là một dạng lời thoại
đ-ợc con ngời sử dụng để giao tiếp
Thứ hai, từ những kết quả nghiên cứu đạt đợc, luận án sẽ khẳng định thêm một số vấn đề của lý thuyết hội thoại (vai trò của nhân tố ngời nghe, sự chi phối của những nhân tố ngoài ngôn ngữ đến việc sử dụng ngôn ngữ, bản chất hành động của lời nói… ), khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa ngôn ngữ học và những ngành khoa học liên cận nh văn hoá học, thi pháp học, lý luận văn học, xã hội học, tâm lý học
Thứ ba, những phơng diện quan trọng của tác phẩm văn học nh: nhân vật, phong cách ngôn ngữ tác giả, thi pháp truyện… sẽ đợc nhìn nhận từ đặc điểm hành chức của lời ĐTNT - một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ
Cấu trúc luận án gồm 4 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chơng 2: Hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Chơng 3: Ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Chơng 4: Vai trò đặc trng của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 5Chơng 1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Một số khái niệm của lý thuyết hội thoại liên quan đến lời độc thoại nội tâm
ĐTNT là một dạng thức tổ chức ngôn ngữ thành lời nói của con ngời để thực hiện sự giao tiếp Do vậy, ĐTNT vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với những khái niệm cơ bản của lý thuyết hội thoại Việc phân tích các khái niệm: cuộc thoại, lợt lời, ngữ cảnh giao tiếp, vai nói và vai nghe sẽ tạo nên tiền đề lý luận làm sáng rõ những
đặc điểm hành chức của lời ĐTNT
1.2 Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn
1.2.1 Các khái niệm: độc thoại, độc thoại nội tâm và dòng ý thức
1.2.1.1 Khái niệm độc thoại (monologue)
Luận án phân biệt hai cách hiểu về độc thoại: độc thoại sân khấu – lời nói của các nhân vật trên sân khấu (chủ yếu là kịch), không trực tiếp hớng đến ngời đối thoại để nhận đợc câu trả lời và độc thoại hiểu theo nghĩa rộng – tất cả những phát ngôn và văn bản đợc tác giả (ngời nói và ngời viết) trình bày liên tục, trọn vẹn nội dung của chúng mà không trực tiếp (hoặc rất ít) nhận đợc sự phản hồi từ phía ngời nhận Trong hai cách hiểu này, độc thoại sân khấu có mối quan hệ chặt chẽ với
ĐTNT
1.2.1.2 Khái niệm độc thoại nội tâm (monologue intérieur)
Sau khi nêu ra những định nghĩa tiêu biểu về ĐTNT của các tác giả đi trớc,
luận án đa ra một khái niệm về ĐTNT để làm việc trong luận án: ĐTNT là một dạng lời thoại đợc ngời nói sử dụng để thực hiện sự giao tiếp với chính mình, không trực tiếp hớng đến ngời nghe thứ hai Nó thờng diễn ra ngầm ẩn trong nội tâm, phản ánh những suy nghĩ, cảm xúc, phản ứng … của ng của ng ời nói trong một ngữ cảnh nhất định, với một cấu trúc cú pháp phù hợp.
1.2.1.3 Độc thoại nội tâm và dòng ý thức
Sự phân biệt giữa ĐTNT và dòng ý thức thể hiện chủ yếu trên ba phơng diện: cấu trúc hình thức, nội dung thể hiện, hình thức diễn đạt
1.2.2 Lời độc thoại nội tâm nhân vật và lời tác giả
Khi ĐTNT, lời nhân vật có thể bị tác giả gmợn vai” để phát biểu những suy nghĩ, đánh giá, nhận thức của mình về cuộc sống Trong lời ĐTNT các nhân vật, ngời ta có thể nhận thấy đặc điểm ngôn ngữ, giọng điệu của nhà văn Tuy nhiên, ở một mức độ nhất định, nhân vật vẫn là một cá nhân tồn tại tơng đối độc lập với tác giả, có đời sống tâm hồn, tình cảm, nhu cầu nhận thức và tính cách riêng biệt Do
Trang 6đó, cho dù có sự gxâm nhập” của tác giả, những lời ĐTNT do nhân vật trực tiếp thực hiện vẫn là đối tợng khảo sát của luận án
1.2.3 Các dạng độc thoại nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn
Trong truyện ngắn, ĐTNT của nhân vật tồn tại dới hai dạng: ĐTNT trực tiếp
và ĐTNT gián tiếp Luận án chỉ tập trung tìm hiểu dạng ĐTNT trực tiếp
1.3 Tiêu chí nhận diện lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Luận án đa ra 4 tiêu chí để xác định lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn NMC, NHT, NTTH: tiêu chí hình thức, tiêu chí cấu trúc, tiêu chí ngữ cảnh và tiêu chí chủ thể
1.4 Tiểu kết chơng 1
Xác định ĐTNT là một dạng lời thoại đợc con ngời sử dụng để thực hiện sự giao tiếp, luận án đã đa ra và vận dụng một số khái niệm của lý thuyết hội thoại vào việc xem xét sự hành chức của ĐTNT trong truyện ngắn Khái niệm về cuộc thoại, lợt
lời, ngữ cảnh giao tiếp, vai nói, vai nghe vừa cho phép xác định và phân biệt giới hạn
của một lợt lời ĐTNT (còn gọi là một lời ĐTNT) vừa bớc đầu chỉ ra một số điểm đặc thù của dạng lời nói ngầm ẩn này trên phơng diện giao tiếp
Lời ĐTNT là một khái niệm mà sự ra đời cũng nh nội dung của nó gắn bó chặt
chẽ với hai khái niệm: độc thoại và dòng ý thức Mặc dù vậy, ĐTNT không phải là
hiện tợng trung gian giữa độc thoại và dòng ý thức Sự tồn tại của nó trong truyện ngắn đóng vai trò quan trọng, có tính chất phổ biến khi ngời ta muốn phản ánh những cảm xúc, nhận thức ngầm ẩn của nhân vật
ĐTNT là một dạng lời thoại đợc con ngời sử dụng để thực hiện sự giao tiếp với chính mình Vì thế, khi nhận diện lời ĐTNT trong truyện ngắn, luận án đã dựa vào một hệ thống tiêu chí chủ yếu gắn liền với những khái niệm quan trọng của lý thuyết hội thoại và ngữ dụng học nh: hình thức dẫn thoại, từ xng hô, hành động ngôn ngữ, ngữ cảnh… Việc đáp ứng đầy đủ những tiêu chí này càng khẳng định t cách lời thoại của ĐTNT
Trang 7Chơng 2 Các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân Vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ
Từ những khái niệm, cách hiểu của các tác giả đi trớc, trong luận án này,
chúng tôi sử dụng thuật ngữ hành động ngôn ngữ để chỉ các hành động ở lời Đó là
những hành động đợc thực hiện ngay khi chúng ta đa ra một phát ngôn trong một ngữ cảnh, hớng đến một ngời nghe nhất định, nhằm đạt đợc một mục đích nhất định Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc về ngôn ngữ, tác động trực tiếp đến
ng-ời nghe và gây ra một phản ứng ngôn ngữ tơng ứng ở ngng-ời nghe
2.2 Phân biệt hành động ngôn ngữ trong đối thoại và hành động ngôn ngữ trong độc thoại nội tâm
Trên phơng diện hành động ngôn ngữ, lời đối thoại và lời ĐTNT có sự phân biệt rất rõ về: khả năng thể hiện bản chất hành động của lời, hớng tác động của hiệu lực ở lời và vai trò của động từ ngữ vi trong việc thể hiện hành động
2.2.1 Khả năng thể hiện bản chất hành động của lời
Trong đối thoại, bản chất hành động của lời đợc thể hiện trực quan, rõ ràng Phản ứng, việc làm, thái độ… của ngời nghe sau khi tiếp nhận phát ngôn trao lời
Trang 8của ngời nói là những biểu hiện tiêu biểu, đặc thù nhất cho loại hành động ngôn ngữ đợc sử dụng
Trong độc thoại, ngời nói dùng lời nói để tác động, thay đổi những suy nghĩ, tình cảm, việc làm của bản thân Tuy vậy, sự tác động này diễn ra ngầm ẩn chứ không trực quan, rõ ràng nh đối thoại
2.2.2 Hớng tác động của hiệu lực ở lời
Khi sử dụng một hành động ngôn ngữ nào đó trong đối thoại, hớng tác động chủ yếu của hiệu lực ở lời là về phía ngời nghe Trong khi đó, hiệu lực của hành
động ngôn ngữ trong lời ĐTNT tập trung tác động vào chính bản thân ngời nói, thay đổi nhận thức, tình cảm, định hớng hành động của chính ngời nói
2.2.3 Vai trò của động từ ngữ vi đối với việc thể hiện hành động ngôn ngữ
Trong đối thoại, động từ có những vai trò cụ thể nh: biểu đạt các hành động
ở lời tơng ứng, nhấn mạnh trách nhiệm thực thi hiệu lực hành động của ngời nói, thể hiện một số sắc thái tình cảm, thái độ của ngời nói…
Trong ĐTNT, động từ ngữ vi ít khi đợc sử dụng trong cấu trúc nội tại của lời
mà thờng đứng ngoài, tạo thành lời văn miêu tả của tác giả để dẫn dắt, báo hiệu sự xuất hiện của lời độc thoại Đồng thời, chúng không có khả năng nhấn mạnh những sắc thái ngữ dụng nh trong lời đối thoại
2.3 Tiêu chí xác định loại hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật
2.3.1 Căn cứ vào động từ ngữ vi xuất hiện trong lời độc thoại nội tâm
2.3.2 Căn cứ vào những phơng tiện thể hiện hành động
2.3.3 Căn cứ vào đích ở lời
Trong ba căn cứ xác định hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT nhân vật nói trên, tiêu chí đích ở lời là tiêu chí đóng vai trò quan trọng nhất
2.4 Thống kê, miêu tả các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
2.4.1 Kết quả thống kê, phân loại
2.4.1.1 Kết quả thống kê về tần số xuất hiện lời ĐTNT
Nhân vật của NMC trò chuyện nội tâm nhiều nhất với tần số 0,358 lần/ trang Nhân vật trong truyện ngắn NTTH có nhu cầu độc thoại ít hơn với tần số xuất hiện 0, 339 lần/ trang Nhân vật của NHT thực hiện ĐTNT ít nhất: 0,192 lần/ trang
2.4.1.2 Kết quả thống kê về các hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT
Bảng thống kê 2.2 đã liệt kê 40 loại hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT với
số liệu cụ thể cho mỗi loại hành động Ba nhóm hành động ngôn ngữ xuất hiện phổ biến trong lời ĐTNT bao gồm: nhóm hành động nhận thức (tiêu biểu là hành động hỏi, khẳng định); nhóm hành động biểu cảm (tiêu biểu là hành động chửi) và nhóm
Trang 9hành động cầu khiến (tiêu biểu là hành động ra lệnh) Nhóm hành động ngôn ngữ thiết lập quan hệ: chào, thăm hỏi, chúc, giới thiệu… không xuất hiện trong 467 lời
ĐTNT đợc khảo sát
2.4.2 Điều kiện sử dụng hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm
Điều kiện thực hiện hành động ngôn ngữ trong lời đối thoại và việc xác định chúng luôn phải đặt trong mối quan hệ hội thoại giữa ngời nói và ngời nghe Trong
ĐTNT, việc xét điều kiện thực hiện hành động chủ yếu đợc tiến hành từ phía ngời nói
2.4.3 Điều kiện sử dụng các hành động ngôn ngữ tiêu biểu của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Dựa vào số lần xuất hiện của mỗi loại hành động, chúng tôi chỉ tập trung phân tích những loại hành động tiêu biểu, có số lần xuất hiện từ 10 lần trở lên Theo đó, các hành động ngôn ngữ tiêu biểu sẽ bao gồm: hỏi, khẳng định, đoán
định, kết luận, đánh giá, chửi, phủ định, ra lệnh, cảm thán Các hành động này sẽ lần lợt đợc mô tả trên những điều kiện về: sự trải nghiệm của ngời nói (trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm tâm lý); nội dung và hiệu lực đối với ngời nói; thái độ và
sự phản ứng của ngời nói Nội dung mô tả mỗi loại hành động đều cho thấy sự khác biệt giữa lời đối thoại và lời ĐTNT trong khi thực hiện những hành động ngôn ngữ
cụ thể
2.5 Những nhân tố chi phối việc lựa chọn hành động ngôn ngữ của lời
độc thoại nội tâm
Những hành động ngôn ngữ tiêu biểu trong lời ĐTNT nhân vật nh: hỏi, khẳng định, đánh giá… của ng đợc sử dụng khá thờng xuyên, chiếm số lợng lớn trong
truyện ngắn NMC, NHT, NTTH Sự xuất hiện của chúng không mang tính cá biệt, riêng lẻ, ngẫu nhiên mà ở một mức độ nhất định, đã biểu lộ tính quy luật, tính phổ biến Đó là những hành động ngôn ngữ có khả năng hành chức tơng thích trong thoại trờng độc thoại Nói cách khác, khi sử dụng lời thoại để giao tiếp với chính mình, nhân vật chỉ lựa chọn một số lợng không nhiều những hành động ngôn ngữ thích hợp, dới sự chi phối của một số nhân tố cụ thể
Khác với lời đối thoại, việc lựa chọn hành động ngôn ngữ của lời ĐTNT chỉ chịu sự chi phối của những đặc điểm gnhân thân” từ phía ngời nói, trong đó, ba nhân tố có khả năng chi phối mạnh nhất là: mục đích và định hớng giao tiếp của ngời nói, nhu cầu nhận thức của ngời nói, đặc điểm tính cách của ngời nói
2.6 Tiểu kết chơng 2
Trong truyện ngắn NMC, NHT, NTTH, các nhân vật đã thực hiện 467 lời
ĐTNT, sử dụng nhiều loại hành động ngôn ngữ khác nhau Các loại hành động
Trang 10ngôn ngữ của lời ĐTNT có những đặc điểm riêng, hoàn toàn phân biệt với lời đối thoại về khả năng xuất hiện các loại hành động, điều kiện sử dụng hành động cũng
nh các nhân tố chi phối việc lựa chọn hành động ngôn ngữ của nhân vật
Nhân vật trong truyện ngắn từng tác giả cũng có những điểm khác nhau trong việc sử dụng hành động ngôn ngữ Sự khác nhau này thể hiện tập trung ở số l-ợng, tỷ lệ xuất hiện của một số loại hành động cụ thể
Chơng 3 Ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm Nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
3.1 Khái niệm ngữ nghĩa của lời
Tiến hành xác định ngữ nghĩa của một lời ĐTNT, chúng tôi xuất phát từ các thành tố ý nghĩa của từ, từ đó xác định ý nghĩa tự thân (ý nghĩa miêu tả) của câu và
đa ý nghĩa tự thân này về những phạm vi hiện thực nhất định Ngữ nghĩa lời ĐTNT chính là những thông tin về sự vật, hiện tợng, con ngời trong đời sống hiện thực đợc