1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ tóm tắt

28 713 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ
Tác giả Võ Văn Nhân
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Văn Sơn, TS. Tạ Anh Tuấn
Trường học Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng
Chuyên ngành Răng Hàm Mặt
Thể loại Luận án tiến sĩ y học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 462,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn triển khai kỹ thuật implant cho bệnhnhânKHM-VM tại Việt Namvà thực hiện nghiên cứu một cáchkhoa học, có hệ thống, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu cấy ghép implant ở

Trang 1

VÕ VĂN NHÂN

NGHIÊN CỨU CẤY GHÉP IMPLANT Ở BỆNH NHÂN

ĐÃ CẤY GHÉP XƯƠNG HÀM SAU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH KHE HỞ MÔI VÀ VÒM MIỆNG TOÀN BỘ

Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt

Mã số: 62.72.06.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS Lê Văn Sơn

2 TS Tạ Anh Tuấn

Phản biện 1:PGS.TS Trịnh Đình Hải

Phản biện 2:TS Lê Hưng

Phản biện 3: GS.TS Lê Gia Vinh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Việnvào hồi: giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

1 Thư viện Quốc Gia

2 Thư viện Viện NCKH Y Dược lâm sàng 108

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM) là dị tật bẩm sinhthường gặp nhất ở vùng đầu mặt cổ Theo Tổ chức sức khỏe thếgiới, tỉ lệ bệnh nhân có KHM - VM ước tính 1/500 trẻ em mớisinh ra Tỉ lệ này thay đổi tùy theo vùng và chủng tộc, thấp ởngười da đen nhưng cao ở người Nhật, người Trung Quốc vàngười Mỹ gốc Ấn Tại Việt Nam, tỉ lệ trẻ bị dị tật KHM - VM từ1/709 đến 1/1000 [2], [7]

Trên thế giới các tác giả như Verdi(1991) [139],Kearns(1997) [68],…đã áp dụng thành công implant cho bệnh nhânKHM-VM Tại Việt Nam, các nghiên cứu trên bệnh nhân KHM-

VM chủ yếu đánh giá dịch tễ học và kỹ thuật đóng KHM-VM[1],[3], [4], [5], [7],một số ít nghiên cứu ghép xương khe hở huyệtrăngnhư nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà (2009) [6], hay nghiêncứu cấy ghép implant trên bệnh nhân bình thường không có dị tậtKHM-VM của Tạ Anh Tuấn (2007) [8] Như vậy, cấy ghépimplant trên vùng xương ghépở khe hở huyệt răng và phục hìnhrăng trên implant cho bệnh nhân KHM-VM là vấn đề chưa đượcnghiên cứu toàn diện tại Việt Nam Trong khi đó, nhu cầu điều trị

là rất lớn vì hầu hết bệnh nhân KHM-VM từ trước đến nay chưatừng được phẫu thuật ghép xương và phục hình răng

Với mong muốn triển khai kỹ thuật implant cho bệnhnhânKHM-VM tại Việt Namvà thực hiện nghiên cứu một cáchkhoa

học, có hệ thống, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ”.

Trang 4

IV CẤU TRÚC LUẬN ÁN

Bản luận án gồm 121 trang không kể phần phụ lục và tài liệutham khảo Nội dung luận án gồm: Đặt vấn đề (2 trang), Tổngquan tài liệu (31 trang), Đối tượng và phương pháp nghiên cứu(29 trang), Kết quả nghiên cứu (20 trang), Bàn luận (36 trang),Kết luận (2 trang), Kiến nghị (1 trang) Luận án có23 bảng, 4 sơ

đồ, 12 biểu đồ, 69 hình ảnh, 144 tài liệu tham khảo (9 tiếng Việt,

135 tiếng Anh)

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHE HỞ MÔI VÒM MIỆNG

Dị tật bẩm sinh KHM - VM gây thiếu hổng và biến dạng mũi,môi, vòm miệng ảnh hưởng đến sự hình thành mầm răng, mọcrăng, rối loạn khớp cắn, ảnh hưởng chức năng nhai, biến dạngtầng giữa và tầng dưới mặt, ảnh hưởng đến phát âm, thẩm mỹ vàtâm lý người bệnh [94], [65] Do vậy, những người mắc phải dị tậtnày luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti, xa lánh cộng đồng

Điều trị dị tật KHM - VM là một quá trình lâu dài, từ khi trẻcòn trong bụng mẹ đến khi trưởng thành với sự phối hợp của

Trang 5

nhiều chuyên gia và các biện pháp kỹ thuật khác nhau bao gồm:

tư vấn tâm lý, phẫu thuật tạo hình đóng kín khe hở, phẫu thuậtghép xương khe hở huyệt răng, chỉnh nha, phục hình răng,…[101], [106]

1.2 GHÉP XƯƠNG KHE HỞ HUYỆT RĂNG

1.2.1 Sự cần thiết của việc ghép xương khe hở huyệt răng

Ghép xương khe hở huyệt răng giúp tạo môi trường xương

để chỉnh hình di chuyển răng 3 và răng 2 mọc vào trong khe hởhay để làm phục hình răng, giúp nâng đỡ xương của răng bêncạnh khe hở, không làm các răng bên cạnh bị xô lệch và bảo vệsức khỏe toàn bộ cung răng, tạo điều kiện để đóng kín lỗ rò trongghép xương thì 2 [138]

1.2.2 Các kỹ thuật chuẩn bị vạt cho vùng nhận ghép

Thiết kế vạt trong phẫu thuật ghép xương khe hở huyệt răng làcực kỳ quan trọng quyết định sự thành công của tiến trình phẫuthuật vì giúp khâu vạt che phủ toàn bộ vật liệu ghép mà không bịcăng vạt,hở vết mổ Có nhiều kỹ thuật thiết kế vạt như: kỹ thuậtvạt trượt bên,kỹ thuật vạt trượt chéo, kỹ thuật vạt xoay, vạt nềnmũi và vạt vòm miệng[18]tùy theo tình huống lâm sàng có thểchọn một hay phối hợp cùng lúc nhiều kỹ thuật để khâu đóng vạtgiảm căng tối ưu

1.2.3 Lựa chọn vật liệu ghép

Xương ghép tự thân có thể được lấy từ nhiều vùng khác nhau,xương chày là nơi đầu tiên được sử dụng, sau đó đến xương chậu,xương sườn, xương cằm và xương sọ (Sindet Perdersent vàEnermark 1988) [116].Một số tác giả đã có nhiều nỗ lực nghiêncứu vật liệu để thay thế xương tự thân trong ghép xương khe hởhuyệt răng như xương đông khô khử khoáng kết hợp với xươngxốp mào chậu của Steven (2009) [121], vật liệu tổng hợp β-

Trang 6

Tricalxium Phospate (TCP) của Ruiter (2012) [107] hay vật liệuBMP-2 (protein dạng xương) của Dickinson (2008) [39] nhưngcác nghiên cứu sử dụng những vật liệu này vẫn còn rất ít, chưađược áp dụng phổ biến Do đó, hiện nay xương ghép tự thân vẫnđược xem là tiêu chuẩn vàng cho vật liệu ghép phục hồi khe hởhuyệt răng.Nghiên cứu của Ananth (2005) tổng kết 110 trung tâmvới 240 ê kíp phẫu thuật khe hở môi vòm miệng tại Mỹ cho thấyxương mào chậu vẫn là vật liệu được sử dụng phổ biến nhấtchiếm tỉ lệ 83% [19]

1.2.4 Các kỹ thuật đặt xương ghép trong khe hở

Có nhiều kỹ thuật đặt mảnh ghép trong vùng khe hở như: Kỹthuật ghép xương xốp mào chậu [46], kỹ thuật ghép xương khốimào chậu [31], kỹ thuật dùng màng nhân tạo che vật liệu ghép[100], kỹ thuật ghép một mảnh xương vỏ mào chậu phía vòmmiệng [85] và kỹ thuật ghép hai mảnh xương vỏ vùng cằm [127].Tuy nhiên cho đến nay, các kỹ thuật dùng màng nhân tạo che vậtliệu ghép, kỹ thuật dùng xương khối, kỹ thuật một mảnh xương vỏhay kỹ thuật hai mảnh xương vỏ vẫn chưa được áp dụng phổ biếntrong ghép xương khe hở huyệt răng

1.2.5 Phương pháp đánh giá kết quả ghép xương

1.2.5.1 Phương tiện đánh giá

Một số tác giả đánh giá kết quả ghép xương bằng mô học [60]nhưng phổ biến nhất vẫn là sử dụng phim X-quang, bao gồm:phim quanh chóp, phim mặt nhai, phim toàn cảnh, phim CTtruyền thống và CT Cone Beam

Trước đây, kết quả ghép xương khe hở huyệt răng chủ yếuđược đánh giá bởi phim quanh chóp và phim mặt nhai [46], [54],[55], [72], [81] nhưng những phim nàykhông khảo sát được kíchthước theo chiều trước sau của mảnh ghép [77].Do vậy, phim CT

Trang 7

Hình 1.16: Thang Enermark [42]

Cone Beam ngày nay trở nên rất phổ biến và hữu dụng trong việcđánh giá sự thay đổi thể tích và kích thước mảnh ghép theo 3chiều [59], [137]

1.2.5.2 Thang đánh giá

Ngày nay, để đánh giá kết quả ghép xương khe hở huyệt răng, phần lớn cácnghiên cứu kết hợp sử dụng phimhai chiều (phim quanh chóp, phim mặt nhai) qua

các thang đánh giá sự hình thành

cầu xương trong khe hở với

phim CT Cone Beam để khảo

sát kích thước 3 chiều hay thể

tích của mảnh ghép [24], [26],

[61], [79], [128], [137] Có một

số thang đo được áp dụng sau

đây:Thang Enermark(1987) [42],thang Bergland (1986) [24] sử dụng phim quanh chóp và thang Kindelan (1997) [71] dùng phim

mặt nhai để đánh giá chiều cao cầu xương giữa các răng trong vùng khe hở, kết quả thành công khi có trên 50% xương lấp đầy trong vùng khe hở (Hình 1.16)

Các thang đo này rất phổ biến vì dễ áp dụng so với các thangLong [81] và thang Witherow [140]

1.3 IMPLANT NHA KHOA

Implant tích hợp xương được phát triển bởi giáo sưBrånemark vào những năm 1960, ngày nay đã trở thành phươngthức điều trị thường qui để phục hồi các răng mất cũng như tìnhtrạng thiếu răng bẩm sinh ở bệnh nhân có KHM-VM Năm 1991,Verdi [139] đã báo cáo ca đầu tiên ghép xương khe hở huyệt răng

và điều trị implant thành công, sau đó có một số báo cáo điều trịimplant trong những tình huống tương tự như Fukuda (1998) [50],

Trang 8

Kearns (1997) [68], Lilja (1998) [79], Takahashi [130], [131],…Nhờ phương pháp implant có trụ nâng đỡ nên các tác giả đã pháttriển nhiều giải pháp phục hình trên implant linh hoạt và uyểnchuyển để đáp ứng các tình huống đa dạng và phức tạp cho bệnhnhân KHM-VM sau khi ghép xương khe hở huyệt răng Tuynhiên, hầu hết các nghiên cứu nêu trên đều đánh giá thành công vềtích hợp xương trên implant chứ không đánh giá thẩm mỹ củaphục hình.

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên,sức khỏe tốt cho phép gây mê nội khí quản, đã được tạo hìnhKHM – VM toàn bộ, có khe hởhuyệt răngtoàn bộ một bên,thiếu mầm răng vĩnh viễn trong vùng khe hở và chưa được ghépxương khe hở huyệt răng

- Tiêu chuẩn loại trừ: Không có sự hiện diện khe hở huyệt răng,khe hở huyệt răng một phần hay khe hở huyệt răng 2 bên Bệnhnhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Đề tài này sử dụng phương pháp nghiên cứu tiến cứu thửnghiệm lâm sàng không đối chứng để đánh giá kết quả ghépxương khe hở huyệt răng và kết quả cấy ghép implant

Cỡ mẫu: 32 bệnh nhân tính theo công thức ước lượng trungbình

2.2.2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2010 đến 2/2014 2.2.3 Tiến trình nghiên cứu:

Trang 9

Đầu tiên, thu thập thông tin theo mẫu bệnh án Sau khi chỉnhnha và điều trị răng miệng tổng quát, tiến hành phẫu thuật ghépxương khe hở huyệt răng theo kỹ thuật ghép 2 mảnh xương vỏmào chậu 4-6 tháng sau ghép xương, tiến hành cấy ghép implant,

6 tháng sau cấy implant, tiến hành phục hình răng.Theo dõi kếtquả 15 và 18 tháng sau ghép xương

2.3 Qui trình phẫu thuật

2.3.1 Phẫu thuật lấy xương khối mào chậu

Bắt đầu bằng đường rạch da dài 5cm cách gai chậu trước trên1cm để tránh tổn thương thần kinh bì đùi ngoài, đường rạch trênđỉnh mào chậu, qua tổ chức dưới da, qua màng xương, sau đó bóctách màng xương để bộc lộ vùng xương mào chậu Dùng máy cắtxương siêu âm, cắt 4 đường, đường thứ nhất trên đỉnh mào chậudài 4cm cách xương vỏ phía ổ bụng 0,5cm, đường thứ 2 và đườngthứ 3 vuông góc với đường trên đỉnh mào chậu, 2 đường này có

độ dài 2cm, đường thứ 4 vuông góc với đường thứ 2 và đường thứ

3 Bốn đường cắt nối nhau tạo thành hình chữ nhật Dùng đục đểtách mảnh xương khối bao gồm cả xương vỏ và xương xốp vớithể tích 4 x 2 x 0,5cm3 Sau đó, đặt spongel để cầm máu và khâuđóng 2 lớp: khâu đóng màng xương và khâu đóng dưới da Khốixương đã lấy được bảo quản trong cốc inox nhỏ, có nước muốisinh lý vừa đủ để giữ ẩm

2.3.2 Phẫu thuật ghép xương khe hở huyệt răng:

Thiết kế vạt: Đường rạch bắt đầu ở bờ khe hở, đi vòng hết

chu vi của khe hở, chia bờ khe hở làm 2 phần, sau đó đi xuống tớivùng sống hàm, đi sang hai bên tới cổ răng cạnh khe hở, tiếp tục

đi theo đường viền túi lợi từ răng hai bên khe hở về phía xa kéodài đến răng 4 hoặc răng 5 rồi hướng lên phía ngách tiền đình tạothành đường rạch theo chiều dọc Ở đầu đường dọc này, tiếp tục

Trang 10

Hình 2.32: Cố định xương vỏ phía tiền đình bằng vít Hình 2.33:

Khâu đóng vết thương Hình 2.31: Đặt xương xốp lấp đầy khe hở

Hình 2.29: Khâu đóng vạt phía nền mũi

Hình 2.30: Mảnh xương vỏ trên vạt nền mũi

Hình 2.28: Đường rạch tạo vạt phía tiền đình

rạch một đường về phía trước hợp với đường theo chiều dọc một

góc 120o để dễ dàng trượt vạt sang bên và xuống dưới (Hình

2.28) Sau đó, từ đường rạch trên sống hàm sát cổ răng (mặt bên)

của hai răng ở cạnh bờ khe hở, rạch tiếp theo đường viền túi lợi

phía vòm miệng, qua các răng hai bên khe hở

Khâu đóng vạt niêm mạc nền mũi với các mũi khâu bắt đầu

từ phía trong miệng ra phía ngoài ở một bên bờ vạt, sau đó, tiếp

tục đi từ phía ngoài vào phía trong ở bờ vạt đối bên, cuối cùng gút

chỉ (Hình 2.29)

Dựa trên cơ sở kỹ thuật ghép 2 mảnh xương từ vùng cằm của

Tadashi Mikoya (2010) [127], chúng tôi đã đưa ra kỹ thuật ghép

2 mảnh xương vỏ mào chậu để sử dụng trong nghiên cứu này với

các bước kỹ thuật như sau:

Bước 1: Ghép mảnh xương vỏ phía nền mũi: cắt khối xươngmào chậu thành hai mảnh Mảnh xương vỏ thứ nhất có kích thước

bằng với kích thước khe hở, đặt trên vạt niêm mạc nền mũi đã

được khâu kín (Hình 2.30) Sau đó, cho xương xốp lên mảnh

xương này cho đến khi gần đầy khe hở (Hình 2.31)

Trang 11

Bước 2: Đặt mảnh xương khối thứ hai gồm xương vỏvàxương xốp, có kích thước lớn hơn khe hở lên lớp xương xốpvừa được ghépvà cố định bằng vít với mục đích ép chặt xươngxốp bên trong và cố định mảnh xương vỏ này (Hình 2.32)

Bước 3: Khâu đóng vết mổ: bắt đầu bằng những mũi khâutrên sống hàm để đóng kín lớp niêm cốt mạc phía vòm miệng vớilớp niêm cốt mạc phía tiền đình Sau đó, khâu kín lớp niêm cốtmạc phía tiền đình hai bên bờ khe hở từ đỉnh sống hàm hướng vềngách tiền đình Tiếp tục khâu phục hồi đường viền túi lợi của cácrăng từ vùng khe hở Cuối cùng là khâu đóng niêm mạc ở đườngrạch giảm căng theo chiều dọc từ ngách tiền đình hướng về phíasống hàm (Hình 2.33)

2.3.3 Phẫu thuật cấy ghép implant và phục hình răng

[29]

+ Cấy implant theo tiêu chuẩn implant vùng thẩm mỹ: Sử

dụng máng hướng dẫn phẫu thuật implant để đảm bảo: Hướng implant đi qua cạnh cắn của phục hình sau này;Theo chiều ngoài trong, mặt ngoài của implant cách xương vỏ mặt ngoài 2mm; Theo chiều trên dưới: Bờ vai của implant cách bờ nướu tự do của răng cạnh khe hở 3mm;Theo chiều gần xa: Implant cách chân

răng kế cận ít nhất 1,5mm

+ Phục hình răng: 6 tháng sau cấy ghép implant, phẫu thuật

thì 2 mở nướu gắn ốc lành thương, chờ 3 tuần, sau đó lấy dấu làmphục hình răng

2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả

2.4.1 Tình trạng mô mềm ở vùng nhận xương ghép

- Tốt: Vạt niêm mạc hồng, vết mổ khô, kín, liền sẹo

- Trung bình: có hở vết mổ nhưng không lộ mảnh ghép

- Xấu: nhiễm trùng hayhở vết mổ và lộ xương ghép

Trang 12

2.4.2 Lỗ rò miệng mũi

- Đóng kín: Khám lâm sàng cho thấy lỗ rò được đóng kín

- Không đóng kín: Khám lâm sàng cho thấy vẫn tồn tại lỗ rò

2.4.3 Đánh giá kết quả ghép xương khe hở huyệt răng

- Đánh giá kết quả ghép xương trên phim quanh chóp

Sử dụng thang đo Enermark đánh giá cầu xương hình thànhtrong khe hở theo [42] theo 4 mức độ:

• Loại I: phục hồi được 75% - 100% so với bình thường

• Loại II: phục hồi được 50% -75% so với bình thường

• Loại III: phục hồi được 25%- 50% so với bình thường

• Loại IV: phục hồi được 0%-25% so với bình thường Thành công bao gồm Loại I và loại II Thất bại 1 phần gồmloại III Thất bại hoàn toàn gồm loại IV

- Đánh giá kết quả ghép xương trên phim CT Cone Beam

• Chiều trên dưới:ký hiệu là d, được đo từ điểm thấp nhất vàđiểm cao nhất của xương trên lát cắt CT qua trục định vị cảngquang trên máng hướng dẫn

• Chiều ngoài trong:ký hiệu là r, là trung bình chiều ngoàitrong của 1/3 trên (a), 1/3 giữa (b) và 1/3 dưới (c) của xương ở látcắt qua trục định vị r = (a + b + c) /3

• Theo tiêu chuẩn của Franck Renouard đủ điều kiện xương

để cấy implant khi d tối thiểu là 7mm và r tối thiểu là 4mm [47]

2.4.4 Tiêu chí đánh giá kết quả cấy ghép implant

- Đánh giá kết quả tích hợp xương của implant theo tiêu chuẩn của Misch 2008 [89] gồm 4 mức độ:

o Implant thành công: Implant không đau khi hoạt động

chức năng, implant không di động, mất xương quanh cổ implant

ít hơn 2 mm và không có chảy dịch

o Implant tồn tạikhông có dấu hiệu bệnh lí: Implant

Trang 13

không đau khi hoạt động chức năng, mất xương quanh cổ implant

từ 2-4mm và không có chảy dịch

o Implant tồn tại có dấu hiệu bệnh lí cần điều trị: Implant

có thể nhạy cảm khi hoạt động chức năng, implant không di động,mất xương trên 4mm nhưng không quá 50% chiều dài implant, độsâu túi trên 7mm và có thể đi kèm với chảy dịch

o Implant thất bại: khi implant có một trong những dấu hiệu

sau: (1) đau khi thực hiện chức năng, (2) di động, (3) mất xươngtrên 50% chiều dài implant, (4) chảy dịch không kiểm soát hoặc(5) không còn hiện diện trong miệng

- Đánh giá thẩm mỹ của phục hình trên implant + Theo tiêu chuẩn thẩm mỹ hồng và thẩm mỹ trắng của Belser 2009 [23],thẩm mỹ hồng: gai nướu phía gần, gai nướu phía

xa, độ cong của nướu mặt ngoài, chiều cao của đường viền nướumặt ngoài, màu sắc và cấu trúc mô nướu; Thẩm mỹ trắng: hìnhdáng răng, thể tích răng, màu sắc răng, cấu trúc bề mặt, độ trong

mờ của răng so với răng đối bên, nếu giống được 2 điểm, hơi khác

1 điểm, khác rõ rệt 0 điểm.Theo đó, tổng điểm thẩm mỹ hồng vàthẩm mỹ trắng trên 12 điểm là phục hình đạt thẩm mỹ, bằng 12điểm là thẩm mỹ chấp nhận lâm sàng và dưới 12 điểm là phụchình thất bại về mặt thẩm mỹ

+ Mức độ hài lòng của bệnh nhân về phục hình trên implantbằng thang điểm từ 1 đến 9 với điểm 1, 2 hay 3 là hoàn

toàn không hài lòng, điểm 4, 5 hay 6 là hài lòng và điểm 7, 8 hay

9 rất hài lòng [43]

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu

Trang 14

- Tổng cộng 32 bệnh nhân có tuổi trung bình 20,2(15 – 29), có

23 nữ và 9 nam, có 23 khe hở bên trái và 9 khe hở bên phải 100%bệnh nhân có lỗ rò mũi miệng và lệch lạc răng quanh vùng khe hởnên tất cả cần điều trị chỉnh nha trước phẫu thuật, thời gian chỉnhnha trung bình là 12,5 tháng

- Tình trạng khớp cắn hạng I chiếm 53,1%, hạng III Angle chiếm28,1%, tình trạng khớp cắn ngược, cắn đối đầu hay cắn hở vùng răngcửa trong khi vùng răng cối vẫn là khớp cắn hạng I Angle chiếm18,7% Mỗi bệnh nhân có trung bình có 9,8 răng sâu

3.2 Kết quả ghép xương khe hở huyệt răng

3.2.1.Tình trạng niêm mạc tại vùng nhận xương ghép

7 ngày sau phẫu thuật ghép xương, có29 trường hợp chiếm90,6% bệnh nhân có tình trạng niêm mạc tốt, có 3 trường hợpchiếm 9,4% có niêm mạc xấu do bị hở vết mổ, lộ xương ghépnhưng không có nhiễm trùng, 3 trường hợp này được xử lý lấymột phần xương ghép, tạo vạt và khâu đóng nên 4 đến 6 thángsau, 100% bệnh nhân có niêm mạc tốt và tất cả các lỗ rò miệngmũi được đóng kín

3.2.2 Kết quả ghép xương khe hở huyệt răng

3.2.2.1.Kết quả phục hồi xương theo thang đánh giá của Enermark

Ở thời điểm từ 4 đến 6 tháng sau ghép xương, kết quả chothấy cầu xương loại I chiếm 90,6%, loại III chiếm 9,4% Kết quảnày ổn định, không có sự thay đổi sau 12 và 15 tháng

Sau 18 tháng, 28 trường hợp (87,5%) có cầu xương loại I, 1trường hợp (3,1%) có cầu xương loại II do có 1 implant bị tiêuxương nên mức độ cầu xương chuyển từ loại I sang loại II và 3trường hợp (9,4%) không cấy implant có sự tiêu xương tiếp tục từ

Ngày đăng: 22/08/2014, 17:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.29: Khâu  đóng vạt phía nền mũi - Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ tóm tắt
Hình 2.29 Khâu đóng vạt phía nền mũi (Trang 10)
Hình 2.32: Cố định xương vỏ phía tiền đình bằng vít Hình 2.33: - Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ tóm tắt
Hình 2.32 Cố định xương vỏ phía tiền đình bằng vít Hình 2.33: (Trang 10)
Bảng 3.31: Kết quả tích hợp xương của implant ở các thời điểm: - Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ tóm tắt
Bảng 3.31 Kết quả tích hợp xương của implant ở các thời điểm: (Trang 16)
Bảng 3.32: Kết quả thẩm mỹ của phục hình trên implant ở các thời điểm 9 và 12 tháng sau cấy implant (n=32) - Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ tóm tắt
Bảng 3.32 Kết quả thẩm mỹ của phục hình trên implant ở các thời điểm 9 và 12 tháng sau cấy implant (n=32) (Trang 17)
Bảng 3.33: Kết quả hài lòng của bệnh nhân về mặt thẩm mỹ của phục hình trên implant sau 9 và 12 tháng cấy implant (n=29). - Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ tóm tắt
Bảng 3.33 Kết quả hài lòng của bệnh nhân về mặt thẩm mỹ của phục hình trên implant sau 9 và 12 tháng cấy implant (n=29) (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w