Nghề nuôi lợn ở nước ta đang ngày càng được mở rộng và cải tiến theo xu thế tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới. Trong đó nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng, phát triển trên địa bàn rộng ở cả nông thôn, thành thị, miền núi với quy mô, số lượng ngày càng tăng nhằm mục tiêu sản xuất nhiều thịt phục vụ cho xã hội. Song song với sự phát triển của ngành chăn nuôi lợn thì dịch bệnh trên đàn lợn cũng ngày càng phức tạp. Bên cạnh những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi lợn phải kể đến bệnh ký sinh trùng. Lợn nuôi trong dân hiện nay chủ yếu là lợn Móng Cái và lợn lai F1, đây là nhưng giống lợn rất tạp ăn, dễ nuôi.Vì vậy, người dân thường tận dụng các loại phế phụ phẩm trong sản xuất và một số loại rau sẵn có để nuôi lợn. Bên cạnh đó, các biện pháp để xử lý chất thải trong chăn nuôi có nhiều nhưng rất ít người dân chăn nuôi áp dụng. Vì thế, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi chưa cao, lợn dễ mắc bệnh, nhất là trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp như hiện nay. Bệnh ký sinh trùng tuy không gây chết nhanh và nhiều như bệnh truyền nhiễm nhưng hầu như các loài gia súc nào cũng nhiễm ký sinh trùng. Như viện sĩ Skrjabin đã nói: Ký sinh trùng mở đường cho các bệnh truyễn nhiễm. Chính phương thức sống ký sinh trong đường tiêu hóa của các loài sán này đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, nhờ đó các loại mầm bệnh dễ xâm nhập gây viêm ruột, gây rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu, kích thích nhu động ruột, gây tiêu chảy và hiện tượng nhiễm trùng. Nhưng điều quan trọng hơn cả là phần lớn ký sinh trùng này gây bệnh cho súc vật nuôi ở thể mạn tính, các bệnh ký sinh trùng ít biểu lộ những dấu hiệu đặc trưng, gây khó khăn cho việc chẩn đoán và xử lý. Bởi vậy, nó là một trong những tác nhân mở đường cho bệnh truyền nhiễm xâm nhập và phát tán, gây thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi. Bệnh sán lá ruột lợn là một bệnh do ký sinh gây ra điển hình, căn bệnh được xác định là do ba loại sán sau: Fasciolopsis buski, Echinostoma malayanum, Gastrodiscodes hominis 1. Bệnh có ở cả miền Bắc và miền Nam nhưng có sự khác nhau về phân bố. Ở trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ tìm thấy hai loại là F. buski và G. hominis và cả hai loài này đều gây bệnh cho cả lợn và người 9. F. buski là loài sán có kích thước lớn, G.hominis có kích thước nhỏ hơn, đường lây nhiễm của cả hai loài đều qua các loại cây cỏ thủy sinh dùng làm thức ăn tươi cho lợn như rau muống, bèo dâu, bèo tấm vì vậy rất dễ xâm nhập vào cơ thể. Sán lá ruột ít khi gây chết nhưng lại làm giảm năng suất chăn nuôi một cách đáng kể. Khi lợn thịt bị nhiễm sán sẽ giảm tốc độ sinh trưởng, trong điều kiện nuôi dưỡng trước đây thì lợn con 5 đến 6 tháng tuổi chỉ nặng 1335kg 2tuy hiện nay điều kiện nuôi đã tốt hơn, thời gian nuôi được rút ngắn chỉ còn một nửa so với trước (3 – 4 tháng) nhưng ảnh hưởng của sán lá ruột vẫn gây thiệt hại cho người chăn nuôi. Đối với lợn nái, khi nhiễm sán lá ruột thì tác hại của sán còn ảnh hưởng đến đàn lợn con. Lợn nái bị nhiễm sán thường gầy còm nên thiếu sữa cho lợn con, dẫn đến sức đề kháng của lợn con thấp, tỷ lệ mắc bệnh lợn con đi phân trắng cao, sau cai sữa thường bị ỉa chảy, còi cọc 2 Những tác hại trên của bệnh sán lá ruột lợn (Fasciolopsis) đã gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi nước ta, năng suất chăn nuôi thấp, hiệu quả kinh tế mang lại không cao. Nguy hiểm hơn bệnh còn lây sang người làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Mặt khác, Tỉnh Thừa Thiên Huế là nơi có hệ thống sông, suối, ao, hồ, mương máng, ruộng nước thấp và tương đối nhiều, điều kiện khí hậu ẩm ướt, lụt lội thường xuyên cùng với thói quen dùng thực vật thuỷ sinh và rau sống cho lợn ăn vẫn còn phổ biến ở nhiều nông hộ làm nguy cơ mắc bệnh sán lá ruột lợn tương đối cao. Tập quán ăn sống các loại rau nhất là rau thủy sinh là nguyên nhân làm lây nhiễm sán lá ruột lợn cho người. Trong tình trạng an toàn vệ sinh thực phẩm đang diễn biến phức tạp, thực phẩm không đảm bảo chất lượng, quá trình chế biến ở các của hàng ăn uống không đảm bảo làm cho sự lây nhiễm gia tăng
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghề nuôi lợn ở nước ta đang ngày càng được mở rộng và cải tiến theo xuthế tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới Trong đó nuôi lợnchiếm một vị trí quan trọng, phát triển trên địa bàn rộng ở cả nông thôn, thànhthị, miền núi với quy mô, số lượng ngày càng tăng nhằm mục tiêu sản xuấtnhiều thịt phục vụ cho xã hội Song song với sự phát triển của ngành chăn nuôilợn thì dịch bệnh trên đàn lợn cũng ngày càng phức tạp Bên cạnh những bệnhtruyền nhiễm nguy hiểm gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi lợn phải kể đếnbệnh ký sinh trùng Lợn nuôi trong dân hiện nay chủ yếu là lợn Móng Cái và lợnlai F1, đây là nhưng giống lợn rất tạp ăn, dễ nuôi.Vì vậy, người dân thường tậndụng các loại phế phụ phẩm trong sản xuất và một số loại rau sẵn có để nuôi lợn.Bên cạnh đó, các biện pháp để xử lý chất thải trong chăn nuôi có nhiều nhưngrất ít người dân chăn nuôi áp dụng Vì thế, hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi chưacao, lợn dễ mắc bệnh, nhất là trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nhưhiện nay Bệnh ký sinh trùng tuy không gây chết nhanh và nhiều như bệnhtruyền nhiễm nhưng hầu như các loài gia súc nào cũng nhiễm ký sinh trùng.Như viện sĩ Skrjabin đã nói: "Ký sinh trùng mở đường cho các bệnh truyễnnhiễm" Chính phương thức sống ký sinh trong đường tiêu hóa của các loài sánnày đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, nhờ đó các loại mầm bệnh dễxâm nhập gây viêm ruột, gây rối loạn quá trình tiêu hóa, hấp thu, kích thích nhuđộng ruột, gây tiêu chảy và hiện tượng nhiễm trùng Nhưng điều quan trọng hơn
cả là phần lớn ký sinh trùng này gây bệnh cho súc vật nuôi ở thể mạn tính, cácbệnh ký sinh trùng ít biểu lộ những dấu hiệu đặc trưng, gây khó khăn cho việcchẩn đoán và xử lý Bởi vậy, nó là một trong những tác nhân mở đường chobệnh truyền nhiễm xâm nhập và phát tán, gây thiệt hại kinh tế cho người chănnuôi
Bệnh sán lá ruột lợn là một bệnh do ký sinh gây ra điển hình, căn bệnh
được xác định là do ba loại sán sau: Fasciolopsis buski, Echinostoma malayanum, Gastrodiscodes hominis [1] Bệnh có ở cả miền Bắc và miền Nam
nhưng có sự khác nhau về phân bố Ở trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ tìm
thấy hai loại là F buski và G hominis và cả hai loài này đều gây bệnh cho cả lợn
và người [9] F buski là loài sán có kích thước lớn, G.hominis có kích thước nhỏ
hơn, đường lây nhiễm của cả hai loài đều qua các loại cây cỏ thủy sinh dùng
Trang 2làm thức ăn tươi cho lợn như rau muống, bèo dâu, bèo tấm vì vậy rất dễ xâmnhập vào cơ thể Sán lá ruột ít khi gây chết nhưng lại làm giảm năng suất chănnuôi một cách đáng kể Khi lợn thịt bị nhiễm sán sẽ giảm tốc độ sinh trưởng,trong điều kiện nuôi dưỡng trước đây thì lợn con 5 đến 6 tháng tuổi chỉ nặng 13-35kg [2]tuy hiện nay điều kiện nuôi đã tốt hơn, thời gian nuôi được rút ngắn chỉcòn một nửa so với trước (3 – 4 tháng) nhưng ảnh hưởng của sán lá ruột vẫn gâythiệt hại cho người chăn nuôi Đối với lợn nái, khi nhiễm sán lá ruột thì tác hạicủa sán còn ảnh hưởng đến đàn lợn con Lợn nái bị nhiễm sán thường gầy còmnên thiếu sữa cho lợn con, dẫn đến sức đề kháng của lợn con thấp, tỷ lệ mắcbệnh lợn con đi phân trắng cao, sau cai sữa thường bị ỉa chảy, còi cọc [2]
Những tác hại trên của bệnh sán lá ruột lợn (Fasciolopsis) đã gây thiệt hại
không nhỏ cho ngành chăn nuôi nước ta, năng suất chăn nuôi thấp, hiệu quảkinh tế mang lại không cao Nguy hiểm hơn bệnh còn lây sang người làm ảnhhưởng đến sức khỏe con người Mặt khác, Tỉnh Thừa Thiên Huế là nơi có hệthống sông, suối, ao, hồ, mương máng, ruộng nước thấp và tương đối nhiều,điều kiện khí hậu ẩm ướt, lụt lội thường xuyên cùng với thói quen dùng thực vậtthuỷ sinh và rau sống cho lợn ăn vẫn còn phổ biến ở nhiều nông hộ làm nguy cơmắc bệnh sán lá ruột lợn tương đối cao Tập quán ăn sống các loại rau nhất làrau thủy sinh là nguyên nhân làm lây nhiễm sán lá ruột lợn cho người Trongtình trạng an toàn vệ sinh thực phẩm đang diễn biến phức tạp, thực phẩm khôngđảm bảo chất lượng, quá trình chế biến ở các của hàng ăn uống không đảm bảolàm cho sự lây nhiễm gia tăng
Thị xã Hương Trà nằm ở đồng bằng của tỉnh Thừa Thiên Huế, là cửa ngõphía Bắc của thành phố Huế, có nhiều tuyến đường quốc lộ đi qua, ngoài ra còn
có nhiều nhánh của sông Hương chảy qua Ba phường Hương Hồ, Hương Chữ,Hương An cùng nằm trên địa hình đồng bằng của Thị xã Hương Trà, tuy nhiên
do phương thức chăn nuôi của các hộ gia đình và nguồn thức ăn chăn nuôi khácnhau nên tình hình dịch bệnh ở các phường cũng có nhiều điểm khác biệt nhau
Để có sự thay đổi cách nhìn nhận đối với bệnh ký sinh trùng này, gópphần xây dựng các biện pháp phòng chống bệnh có hiệu quả nhằm mang lại hiệuquả kinh tế cho các hộ chăn nuôi và hạn chế sự nhiễm sán lá ruột lợn cho conngười Vì thế, xuất phát từ thực tiễn chăn nuôi lợn kết hợp với mục đích của bảnthân và được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi - Thú y Trường Đại Học NôngLâm Huế, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Lê Thị Vân Hà, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm sán lá ruột lợn trên địa bàn một số phường ở Thị xã Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế và hiệu quả sử dụng thuốc tẩy Han- Dertyl B”
Trang 3II.CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột lợn trên thế giới và ở Việt Nam 2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột lợn trên thế giới
Bệnh sán lá ruột do Fasciolopsis buski (Lankaster, 1857; Odhner, 1802)
gây ra là một bệnh chung cho người và lợn Bệnh thường thấy ở một số nướcnhiệt đới nhất là các nước ở vùng Đông Nam Châu Á như: Việt Nam,Cambodia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Myanmar và ẤnĐộ [2],[10], [12]
Loài sán này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1843 do Busk tìm thấy
ở tá tràng của tử thi một người trong Hải quân Ấn Độ, tại bệnh viện hàng hải ởLuân Đôn Sau đó, vào năm 1837, Lankester đã mô tả về hình thái của sán này.Hai năm sau, Cobbold đã bổ sung thêm về hình thái Năm 1899, Loss xác định
vị trí của sán lá ruột về mặt phân loại Về vòng đời của sán lần đầu tiên doNakagawa (1921) và Barlow (1925) nghiên cứu thành công gây nhiễm cho lợn
và người ở Trung Quốc [2] Về vòng đời của sán, đầu tiên do Nakagawa (1921)
và Barlow (1925) nghiên cứu thành công gây nhiễm cho lợn và người ở TrungQuốc [2]
Theo một số tác giả Trung Quốc cho thấy trước đây tỷ lệ nhiễm bệnh ởTrung Quốc khá cao: Quảng Châu 10,15%, Triết Giang 36% (Trần Tâm Đào,
1935 và Ngô Quang, 1938) Theo số liệu trước đây số lượng người nhiễm sán
Fasciolopsis buski trên thế giới khoảng 100 triệu người (Pedro, 1987) [1].
Đối với loài Gastrodiscoides hominis được phát hiện ở người India và
lợn Sharma (1930) cho biết tỷ lệ của người Hindu nhiễm là 3,2 % Brau vàBruyant đã báo cáo một trường hợp ở người Cochin Trung Quốc Mathis vàLeger cũng đã tìm thấy loài này ký sinh ở lợn với tỷ lệ 5 % [13]
2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh sán lá ruột lợn ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, năm 1941 Đặng Văn Ngữ, Galliard cho biết lợn bị nhiễmsán lá ruột 6-12%, có khi tới 74% Mấy năm gần đây, trong chăn nuôi tập thểlợn, đã phổ biến nuôi lợn bằng thức ăn sống: có nhiều lợi ích kinh tế, nhưng dochưa làm tốt vệ sinh phòng bệnh nên bệnh sán lá ruột lợn đã có chiều hướngtăng ở miền núi, trung du và đồng bằng miền Bắc Việt Nam ( 17%, 35% và
Trang 450%- Phạm Văn Khuê, 1967- 1973) Cũng thấy bệnh ở người, tỉ lệ 0,08% ( ĐỗDương Thái 1959).[2]
Một số kết quả điều tra trước đây cho thấy lợn nhiễm sán lá ruột với tỷ lệrất cao, 72,4% ( Phan Địch Lân, 1963), 41% (Bùi Lập, 1965) [2][23] Trongnghiên cứu khá gần đây thì tỷ lệ nhiễm đã thấp hơn, khoảng 30 – 35% (NguyễnVăn Thọ,2003) [23]
Ở Việt Nam, bệnh sán lá ruột đã có từ lâu đời nhưng đến năm 1911Mathis, Leger và Bauche mới mô tả loài sán này khi thu thập mẫu vật từ ruột lợn
và một số người bệnh ở Bắc Bộ Các tác giả này cũng điều tra tình hình nhiễmsán ở lợn thấy tỉ lệ nhiễm là 6%, Hewdemen và Trần Thọ Huy(1925) cho biếtlợn nhiễm sán lá với tỉ lệ 73% Đăng Văn Ngữ và Galliard(1941) thấy tỉ lệnhiễm của lợn 6-12% vào tháng 3 và 47% vào tháng 12 Ở Huế, Railiet VàHenny cho biết 16% lợn nhiễm sán lá ruột lợn Đặng Văn Ngữ và Galliard(1941) đã thấy 5 người bi nhiễm sán lá ruột lợn [14]
Theo Phạm Chức (1986) cho biết lợn Hậu Giang nhiễm Echinostoma sp
9,3 % Theo Phạm Văn Khuê, Phan Văn Lục (1978) cho biết lợn 6 tỉnh đồng
bằng miền Tây và Đông Nam Bộ nhiễm Artyfechinostomum sufrartyfex với tỷ lệ
7,01 % Về phân loại theo Lê Văn Hòa, Lê Thị Mỹ San loài gặp ở lợn các tỉnh
phía Nam là loài Echinostoma malayanum (Leiper, 1911) đồng nghĩa với Artyfechinostoma sufrartyfex (Lane, 1915, Bhalerao, 1931) [12].
Những năm gần đây, một số kết quả điều tra cho thấy lợn nhiễm sán láruột lợn với tỷ lệ rất cao 85%( Yakovlev, 1963), 78,4%( Phan Địch Lân, 1963),41%( Bùi Lập, 1965), và 45,4- 86,4%( Nguyễn Trọng Nội, 1966) Những kếtquả điều tra của nhiều tác giả đã xác định bênh sán lá ruột lợn phân bố rộngkhắp ở các tỉnh thuộc miền núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng venbiển từ Bắc đến Nam nước ta ( Bùi Lập,1977; Nguyễn Đăng Khải, 1977; PhạmVăn Khuê, 1982; Lương Văn Huấn, 1994 )[14]
2.2 Vị trí trong hệ thống phân loại:
2.2.1 Fasciolopsis buski:
Ngành : Plathelminthes
Lớp sán lá : Trematoda
Phân lớp : Prosostomidea
Bộ : Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ : Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ : Fasciolidae Raillet, 1895
Phân họ : Fasciolopsinae Odhner, 1910
Trang 5Giống : Fasciolopsis Loss, 1899
Loài : Fasciolopsis buski Lankaster,1857 [3],[7],[11]
2.2.2 Echinostoma malayanum
Ngành Plathelminthes
Lớp sán lá : Trematoda
Phân lớp : Prosostomidea
Bộ : Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ : Echinostomata Szidat, 1936
Họ : Echinostomatidae Dietz, 1909
Phân họ : Echinostomatinae Odhner, 1911
Giống : Echinostoma Rudolphi, 1809
Loài : Echinostoma sp Bui, 1966 [7]
Phân họ : Watsoniinae Nasmark, 1937
Giống : Gastrodiscoides Leiper 1913
Loài : Gastrodiscoides hominis Lewis et McConnell, 1876;
Á cũng thường bị nhiễm sán lá ruột Fasciolopsis buski (Lý Như Thức, 1965;
Trang 6nằm ở mặt bụng có hình cốc Nhờ có 2 giác bám sán có thể bám vào niêm mạcruột và có thể di động được.[1], [2]
Manh tràng không phân nhánh, xếp đối xứng 2 bên thân Tinh hoàn phânnhánh cành cây, xếp trên dưới nhau nằm ở phần sau cơ thể Buồng trứng phânnhánh nằm phía trước tinh hoàn, xếp hơi lệch về bên phải Tử cung uốn khúc nốiliền túi trứng và đổ ra ngoài ở gần chỗ giác bụng bởi âm đạo Tuyến noãn hoànghình hạt xếp hai bên thân sán.[2]
2.3.1.3 Hình thái trứng
Trứng màu vàng nhạt hoặc vàng sẫm, trứng có hình bầu dục, giữa phình
to hai đầu thon nhỏ, đầu nhỏ có nắp trứng tuy nhiên nắp trứng thường khó phânbiệt rõ
Kích thước trứng lớn, chiều dài từ 0,125 – 0.147mm, rộng từ 0,063 –0,084 mm Vỏ trứng mỏng, bên trong chứa đầy tế bào phôi, ranh giới giữa các tếbào không rõ ràng.[1],[2]
2.3.1.4 Chu trình phát triển của Fasciolopsis Buski
1 Trứng 5 Cercariae ở môi trường
2 Trứng trong môi trường nước 6 Aldolescariae (nang ấu)
3 Miracidium (mao ấu) 7,8 Sán trưởng thành trong lợn và người
4 Ốc vật chủ trung gian
4a Sporocyst (bào ấu)
Trang 74b Rediae (lôi ấu)
4c Cercariae (vĩ ấu)
Sán lá ruột lợn phát triển gián tiếp qua một vật chủ trung gian là các loài ốc
nước ngọt sau: Planorbis schmacheri, P.coeno Segmentina Calathus, S largillierti, H umbilicalis, Hippeulis cantori, Gyraul Convexiuseulus, G.saigonensis, P.henisphaerula, Gsinensis [2]
Sán trưởng thành thải trứng theo phân, mỗi ngày 1 sán có thể đẻ được từ15.000 – 48.000 trứng Trứng sau khi thải ra ngoài nếu gặp điều kiện ngoại cảnhthuận lợi ; to : 25 – 30oC, pH : 6 – 7, có ánh sáng và nước thì sau 2 – 3 tuần trứng
phát triển thành mao ấu (miracidium) chui ra khỏi trứng, bơi lội tìm vật chủ
trung gian Về mùa hè, mao ấu có thể sống trong nước 6 – 8 giờ nhưng nếu gặpthời tiết lạnh mao ấu có thể sống 1 đến 3 ngày).[1], [2],[8] [18]
Mao ấu sau khi chui vào ốc vật chủ trung gian sẽ tới khối gan tụy của
ốc, ở đây nó phát triển thành lôi ấu (Sporocyst), bào ấu ( Redia I và II), vĩ ấu (Cercaria), thời gian từ khi mao ấu chui vào vật chủ trung gian đến khi hình
thành vĩ ấu mất khoảng 25 – 30 ngày Vĩ ấu sau khi chui ra khỏi vật chủ trunggian bơi lôi tự do trong nước một thời gian ngắn rồi bám vào cây cỏ thủy sinhnhư bèo dâu, rau muống, rau lấp, bèo cái,…rồi rụng đuôi, tiết chất nhờn tạo
vỏ bọc xung quanh tạo thành kén (Aldolescaria), kén cũng có thể thả trôi theo
dòng nước
Nếu lợn hoặc người nuốt phải những kén này thì khi xuống tới ruột vỏbọc ngoài bị phân hủy nhờ tác dụng của dịch ruột và dịch mật, ấu trùng đượcgiải phóng và phát triển thành dạng trưởng thành và tiếp tục đẻ trứng Giai đoạn
từ trứng đến kén phát triển khoảng 50 – 60 ngày, thời gian này còn tùy thuộcvào điều kiện môi trường, nếu vào mùa đông thì thời gian có thể dài hơn hoặcthời gian phát triển có thể ngắn hơn nếu trời mùa hè [2].Từ khi kén vào ruột vàgiải phóng ấu trùng đến khi trưởng thành mất từ 84 – 96 ngày Sán có thể sốngtrong cơ thể lợn 2 năm, trong cơ thể người đến 4,5 năm) [1], [2],[8] [18]
2.3.1.5 Đặc điểm ấu trùng:
- Mao ấu (Miracidium): có hình quả lê, chiều dài 0,123 mm, rộng 0,049
mm, bên ngoài bao phủ một lớp màng mỏng có lông tơ, về mặt lưng có một đôimắt hình chấm tròn, trong cơ thể có hệ tiêu hóa sơ sinh, mô thần kinh, hai tế bào
Trang 8ngọn lửa và rất nhiều tế bào phôi Mao ấu phải chui vào trong cơ thể của ốc như:Polypylis, Gyraulus, nhất là ốc còn non thì mới tiếp tục phát triển được Khimao ấu vừa mới nở, nhờ có lông nên chuyển động ở nước rất mạnh Mao ấu saukhi nở trong khoảng 1- 2 giờ có khả năng chui vào trong cơ thể ốc rất mạnh, sau
đó thì yếu dần.[2]
- Bào ấu (Sporocyst): Khi không cử động, bào ấu có hình tròn hơi dài,
kích thước khoảng 0,131 X 0,083 mm: khi co rút có kích thước 0,094 X 0,050mm: khi dãn ra có kích thước 0,169 X 0,034 mm Ở thời kỳ đầu bào ấu có mắt,nhánh ruột có hai tế bào ngọn lửa và một số ống bài tiết nhỏ, có 30 – 40 phôibào Ở thời kỳ cuối, bào ấu có kích thước 0,308 X 0,108 mm, phôi bào dần pháttriển thành redia mẹ [2]
- Lôi ấu (Redia): Redia mẹ dài 0,600 - 0,800 mm, rộng 0,100 - 0,200 mm,
trong đó có khoảng 22 khối phôi bào và một số Redia con đang phát triển ở cácgiai đoạn khác nhau Redia mẹ có túi miệng, ruột hình túi dài và rộng, có lỗ sinhsản và một đôi cơ quan phụ Redia con dài 0,736 - 0,896 mm, rộng 0,159 - 0,165
mm Ruột của Redia con thay đổi hình thái, có hình bán nguyệt, có khi thànhhình chấm tròn, trong cơ thể có khoảng 1 - 45 vĩ ấu đã thành thục [2]
- Vĩ ấu (Cercaria): vĩ ấu dài 0,639 mm Cơ thể chia làm hai phần: thân và
đuôi Thân dài 0,195 mm, rộng 0,145 mm Phần trước của thân và mặt bụng cógai nhỏ, có hai giác bám Giác miệng to hơn hầu và giác bụng Cercaria sau khichui ra khỏi ốc thì chuyển động rất mạnh trong nước, trong một thời gian rấtngắn thì Cercaria rụng đuôi và tiết chất nhờn bọc thành kén Aldolescaria Từ lúc
bắt đầu tạo kén đến khi hình thành chỉ cần 1 - 3 giờ Cercaria nhờ có giác
miệng, giác bụng bám trên vật môi giới, sau đó rụng đuôi, tiết chất nhờn tạothành hai lớp màng - lớp màng ngoài dễ vỡ, lớp màng trong chắc chắn, rất bền,dịch vị không tiêu hóa được, chỉ khi tới ruột non, do tác dụng của dịch ruột vàdịch mật mới phân giải được màng trong Kích thước của kén là 0,216 x 0,187
mm, nếu không tính màng ngoài thì chỉ có 0,148 x 0,138 mm [2]
Trang 9Echinostoma malayanum đồng nghĩa với Euparyphium malayanum (Leiper, 1911), Artyfechinostomum sufartifex (Lane, 1915 Bhalerao, 1931) Sán
dài 12 mm, rộng 3 mm, giác miệng nhỏ hơn giác bụng có hình vành khăn Trênvành khăn miệng có 42 - 43 gai xếp thành hai hàng Toàn thân phủ đầy gai Túisinh dục dài nằm trước giác bụng Buồng trứng hình hạt đậu nằm ở giữa thân.Hai tinh hoàn phân thùy xếp trên dưới nhau mỗi tinh hoàn chia 4 - 6 thùy Tuyếnnoãn hoàng dày đặc hai bên thân [1]
Trứng ra ngoài sẽ phát triển thành Miracidium xâm nhập vào ốc Limnae luteola, sau 6 tuần sẽ hình thành Cercaria giải phóng ra ngoài và tiếp tục xâm nhập vào ốc Limnae, Indoplanorbis, cá Barbus và ốc bươu Fila sau 3 tháng Khi
lợn ăn phải vật chủ trung gian thứ hai sau 3 - 4 tuần sẽ thành sán trưởng thành ởruột non.[1]
Sán có hình lê hay trái tim, phía đầu thon nhỏ, phía sau phình rộng, màu
đỏ, dài từ 12,5 – 15,0 mm, nơi rộng nhất (vị trí buồng trứng) có thể đo được từ7,5 – 9,0 mm Giác miệng nhỏ ở đỉnh đầu Giác bụng rất lớn nằm ở phần sau cơthể và to hơn hẳn giác miệng Ruột là hai ống ngoằn nghèo và to nhỏ không đềunằm hai bên thân
Trang 10Hai tinh hoàn có chia thùy, nằm dọc ở giữa thân Buồng trứng hình bầudục nằm giữa tinh hoàn sau và giác bụng Tuyến noãn hoàng phân bố phía sauthân dọc hai bên nhánh ruột.[2]
C cyclostomoides và ốc Helicorbis coenosus
Lợn mắc bệnh thải trứng qua phân, trứng rơi vào môi trường thích hợp sẽ
phát triển thành miracidium, miracidium chui vào vật chủ trung gian phát triển tới giai đoạn cercaria Cercaria ở môi trường nước sau vài giờ sẽ tạo thành Aldolescaria Khi lợn và người ăn phải kén sẽ phát triển thành sán trưởng thành
trong ruột già [1],[2]
2,4 Dịch tễ học bệnh sán lá ruột
2.4.1 Nơi phát hiện
Việt Nam: Nam Bộ, Sài Gòn (1908, 1910, 1913), Nha Trang, Thừa Thiên
Huế, Hà Nội (1908, 1911, 1925, 1941, 1963, 1966), Hải Phòng (1911), Sơn
La (1960), Hà Bắc, Vĩnh Phú, Thái Bình, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Yên, Hà Tĩnh
Thế giới: Đông Dương, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Mianma,Malaysia [7], [11]
2.4.2 Vùng nhiễm bệnh
Bệnh sán lá ruột lợn phân bố ở các nước và vùng lãnh thổ nhiệt đới châu
Á như: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Campuchia, Lào, Malaysia,Inđônêxia, Philippin, Ấn Độ, Thái Lan, Srilanca…
Ở nước ta bệnh phân bố rộng ở khắp các tỉnh, từ miền núi, trung du đếnđồng bằng, bệnh phổ biến ở vùng Bắc bộ và đồng bằng Thanh-Nghệ-Tĩnh Bệnhsán lá ruột phân bố theo từng vùng, bệnh thường xuất hiện ở những vùng có khíhậu nhiệt đới, có nhiều ao hồ, có nhiều loài ốc vật chủ trung gian và cây thủysinh làm thức ăn sống cho người và lợn Tuy nhiên vùng đồng bằng ven biểnthường có tỷ lệ nhiễm thấp
Trang 11F buski: được tìm thấy ở Nam Bộ, Sài Gòn, Nha Trang, Huế, Hà Nội Hải
Phòng, Sơn La, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Thái Bình, Ninh Bình, Hải Dương, NamĐịnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Yên…[3],[7]
Echinostoma sp: được tìm thấy ở Thanh Hóa, Long An, Kiên Giang, TP
Đó là hai yếu tố thuận lợi cho sán lá phát triển từ giai đoạn mao ấu thành kéngây nhiễm [4], [19]
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê, sự biến động của Fasciolopsis buski giữa các mùa không có sự thay đổi rõ rệt, nghĩa là quanh năm lợn đều bị
nhiễm ấu sán từ bên ngoài vào cơ thể (Đỗ Dương Thái và cs 1978), có thể nhiễm ở
cả 4 mùa, nhưng tỷ lệ nhiễm giảm vào tháng 5, 6, sau đó tăng dần và tăng cao nhất
ở tháng 9, 10, sau đó lại giảm dần (Phạm Văn Khuê, 1982) [20]
2.4.4 Tuổi nhiễm bệnh
Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột lợn theo qui luật tăng dần theo tuổi Theo số liệuđiều tra của bộ môn Ký sinh trùng trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội chothấy lợn 3 - 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm tăng dần từ 74,19 - 95,72 % [1]
Tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm F buski càng tăng.
Dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 16,6 %
Từ 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 45,8 %
Từ 5 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 58,3 %
Trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 70,8 % [16],[17], [19]
Theo Lương Văn Huấn (1990) tỷ lệ nhiễm Echinostoma malayanum cũng
tăng dần theo lứa tuổi lợn
Dưới 3 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 0,5 %
Từ 3 - 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 5 %
Từ 5 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 8,5 %
Trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 8,8 % [13]
Lợn càng lớn thì tỷ lệ thức ăn sống trong khẩu phần càng lớn, lợn luôntiếp xúc với mầm bệnh nên bị tái nhiễm, bội nhiễm nhiều lần, mầm bệnh tích tụtrong cơ thể Bên cạnh đó tập quán nuôi lợn và các biện pháp vệ sinh thú y trongchăn nuôi chưa được áp dụng nhiều , do đó đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tỷ
Trang 12lệ nhiễm tăng cao Lợn nái và lợn đực giống có tỷ lệ nhiễm cao hơn cả, điều nàyhoàn toàn phù hợp với quy luật tuổi mắc bệnh, vì thời gian nuôi hai loại lợn nàythường dài và thức ăn của chúng đa dạng [1].
2.4.5 Giống nhiễm bệnh
Mọi giống lợn ở nước ta đều bị nhiễm sán Các giống lợn nội và nhập nộinhư Ỉ Bắc Ninh, Ỉ Nam Định, Ỉ Quảng Hải, Móng Cái và Yorkshire đều cảmnhiễm sán lá ruột mà không có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ (Phạm Văn Khuê,1965)[2]
2.4.6 Phương thức cho ăn
Bệnh sán lá ruột là bệnh lây nhiễm qua đường ăn uống vì vậy phươngthức cho ăn và loại thức ăn sử dụng ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ nhiễm bệnh vàcường độ nhiễm bệnh
Theo kết quả nghiên cứu của Bộ môn chăn nuôi tiểu gia súc, trường Đạihọc Nông Nghiệp I (1968 – 1969) Khi cho lợn ăn thức ăn sống thuộc các loạirau, bèo nước có nhiều kén Aldolescaria lợn thường nhiễm sán lá cao hơn (từ bađến bảy lần) so với lợn ăn thức ăn chín [15] Lợn ở vùng núi và vùng màuthường được cho ăn các loại rau cỏ trên cạn, tỷ lệ nhiễm sán lá ruột rất thấp.Cùng ở Hà Bắc nhưng ở vùng núi tỷ lệ nhiễm sán lá chỉ có 14% trong khi ởđồng bằng bị nhiễm tới 62,5% Ở Hải Phòng thì vùng màu có tỷ lệ nhiễm là32,5%, chỉ bằng 1/2 so với vùng lúa (59,5%)[2]
2.4.7 Sức đề kháng của trứng và nang ấu
Sức đề kháng của trứng Fasciolopsis buski không cao Trứng sán bị diệt ở
nhiêt độ trên 40oC; pH > 8 và pH <5 Nếu ủ phân 18 ngày có thể diệt đượctrứng Nếu trứng sán tiếp xúc với vôi được ủ cùng với phân theo tỷ lệ 1/1000 –1/10000 thì sẽ bị chết trong vài giờ đến vài ngày
Sức đề kháng của kén Aldolescaria phụ thuộc vào môi trường Nhiệt độ
trong nước từ 4 - 5oC kén tồn tại 25 ngày, ở 24 – 28oC trên 60 ngày, ở 32 - 39oCtrên 90 ngày Lấy kén để trong điều kiện khô và nhiệt độ 28 – 30oC thì chỉ sốngđược 10 ngày
Nếu Aldolescaria lấy từ cây cỏ dưới nước cho lên giấy thấm ướt giữ ở
nhiệt độ 28 – 30oC có thể sống trên dưới 10 ngày Nếu kén bám ở cây cỏ ít nước
có ánh nắng chiếu trực tiếp, sau 10 phút kén mất sức sống [2][12][18]
2.4.8 Vật chủ trung gian
Vật chủ trung gian của sán lá ruột là các ốc nước ngọt Planorbis coenusus, Segmentina nitidella, S calathus, S schmachkeri, S hemisphaerula, Gyraulus saigonensis và Hippeulis cantori (Barlow, 1925); Segmentina
Trang 13calathus (Wallace, 1936); S largillierti (Nakagawa, 1922); H cantori, G.
saigonensis (Ngô Quang, 1937) [2],[5],[12]
Ở nước ta vật chủ trung gian của sán lá ruột lợn là Polypilis hemispherula
và Gyraulus chinensis [1] Qua nghiên cứu 41365 ốc thuộc 14 loài thường phân
bố ở ao, hồ, mương, cống rãnh, đồng ruộng…quanh khu vực chăn nuôi gia đìnhvùng ngoại thành (Gia Lâm, Đông Anh) Hà Nội thì chỉ phát hiện được 2 loài
nhiễm Cercaria của sán lá ruột lợn là Polypilis hemispherula (9,2 %) và Gyraulus chinensis (5,6 %) [21].
2.4.9 Vật môi giới truyền bệnh:
Theo Ngô Quang (1936 - 1938) các loại cây, cỏ sống dưới nước sau đây
có khả năng làm vật môi giới truyền bệnh: Eicchornia crassipes, Trapa natans, Eliocharis tuberosa, Salvia natans, Lemna polyrhiza, Trapa natans var
(Wallace, 1936) [2]
Theo Hứa Bằng Như (1964), các loại cây cỏ thuỷ sinh khác như: bèo Nhật
Bản (Eichhornia crassipes Solm), tóc tiên nước (Vallisneria spiralis Linn), bèo ong (Salvinia natans Hoffm), bèo dâu (Azolla pinnala R Br), rong đuôi chó (Geratophyllum demersum Linn), rong nhám (Hydrilla verticillata)… đều là vật
môi giới truyền bệnh sán lá ruột lợn [2]
Về cây cỏ sống ở nước làm vật môi giới truyền bệnh sán lá ruột lợn, năm
1966, Phạm Văn Khuê đã làm thí nghiệm lấy ba loại rau muống, rau lấp, bèodâu được bón phân lợn tươi, cho 60 lợn ăn riêng từng loại thức ăn sống kể trên,thì cả ba lô (53 con) đều bị nhiễm sán lá ruột; lô đối chứng ăn chín không bị
nhiễm Chứng tỏ ba loại rau bèo trên đều có nang kén Aldolescaria [2]
2.4.10 Điều kiện lây truyền bệnh:
Bệnh sán lá ruột muốn phát ra phải có đủ các yếu tố sau:
Nguồn dịch: đó chính là lợn và người bị nhiễm bệnh, trứng sán sẽ theophân của lợn và người phát tán vào môi trường xung quanh Làm ô nhiễm nguồnnước sinh hoạt, chăn nuôi, và trồng trọt.[20]
Vật chủ trung gian: là các loài ốc nước ngọt họ Planorbidae, thường được người dân gọi là ốc đĩa như: Planorbis planorbis, P coenurus, P hemisphaerula, Gyraulus chinensis , G saigonensis, Segmentina calathus, S largillieri,…Trong cơ
thể các loài ốc nước ngọt này ấu trùng sán lá sẽ phát triển đến giai đoạn cuối cùng
để biến thành kén aldolescaria, là giai đoạn có thể cảm nhiễm.[20]
Trang 14Vật môi giới truyền bệnh: là những loài cây cỏ thủy sinh dùng làm thức
ăn cho người và lợn như : bèo tấm, bèo Nhật Bản, bèo cái, rau lấp, rau muống,rau dừa nước, bèo hoa dâu, bèo tai chuột, cây súng…Đây là những loài thực vật
có nhiều ở các vùng đồng trũng, ao hồ, kênh rạch…những nơi này cũng là nơi
thích hợp cho các loài ốc nước ngọt trong đó có ốc họ Planorbidae sinh sống.
[20]
Tập quán của người dân: bao gồm tập quán về chăn nuôi, trồng trọt vàsinh hoạt của người dân
Về chăn nuôi: lợn là loài tạp ăn vì vậy trong chăn nuôi nông hộ người dân
thường tận dụng các loại phế phụ phẩm nông nghiệp và các loại thức ăn sẵn có
để nuôi lợn trong đó có rau xanh Các loại rau bao gồm cả trên cạn và dưới nướcđược cho ăn tùy theo mùa vụ, vì vậy lợn có thể bị nhiễm kén khi ăn các loại rau
ở nước Trong chăn nuôi còn một vấn đề nữa đó là xử lý chất thải chăn nuôi,phân lợn chứa trứng sán lá không được ủ kỹ là nguồn phát tán mầm bệnh vàomôi trường, nhất là ở những vùng thấp trũng.[20]
Về sinh hoạt: Thói quen ăn sống các loại rau thủy sinh của người dânchính là nguyên nhân lớn nhất làm lây nhiễm sán lá, bên cạnh đó việc xây dựngnhà vệ sinh không hợp vệ sinh cũng là nguyên nhân làm phát tán trứng sán vàomôi trường.[20]
Về trồng trọt: ở một số nơi người dân vẫn còn thói quen sử dụng phântươi hoặc phân chưa ủ kỹ để bón ruộng, điều này không chỉ ảnh hưởng đến năngsuất cây trồng mà còn làm cho mầm bệnh có cơ hội gặp vật chủ trung gian vàlàm ô nhiễm nguồn nước.[20]
2.5 Bệnh sán lá ruột lợn
2.5.1 Cơ chế sinh bệnh
Sán có hai giác bám vì thế nó có thể bám chặt vào niêm mạc ruột hoặc dichuyển trong ruột, quá trình vận động này kích thích vào thành ruột , tạo điềukiện cho việc nhiễm trùng thứ phát, gây viêm ruột
Sán ký sinh quá nhiều có thể gây tắc ruột và tắc các tuyến tiêu hóa
Độc tố của sán gây hiện tượng rối loạn tiêu hóa ở lợn con 3 - 4 tháng tuổi.Khi xâm nhập vào máu, độc tố của sán gây hiện tượng nhiễm độc toàn thân, làmgiảm sức đề kháng của con vật
Trang 15Khi sán ký sinh trong ruột, sán lấy dưỡng chấp trong ruột làm thức ăn đểnuôi sống cơ thể và sinh sản Đây là hoạt động cướp chất dinh dưỡng của sánlàm vật chủ thiếu dinh dưỡng [2]
Trang 162.5.2 Triệu chứng và bệnh tích
Biểu hiện rõ nhất của lợn nhiễm sán là còi cọc, thiếu máu suy nhược cơthể, lông xù, ăn uống thất thường, sụt cân, da sần sùi, niêm mạc mắt nhợt nhạt,chậm lớn do sán chiếm đoạt chất dinh dưỡng Lợn nhiễm sán, nhất là lợn con 3 -
4 tháng tuổi vẫn ăn khoẻ nhưng tăng trọng rất thấp Sự giảm tăng trọng phụthuộc vào cường độ cảm nhiễm sán của lợn Lợn nhiễm nặng có triệu chứng nônmửa, ỉa chảy, phân tanh, có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời Độc
tố của sán cũng gây ra hiện tượng rối loạn tiêu hoá ở lợn con 3 - 4 tháng tuổi,khi ỉa táo, khi phân lỏng, làm cho lợn còi cọc và chậm lớn [16], [19], [22], ngoài
ra còn làm cho con vật có triệu chứng thần kinh [13]
Lợn nái thường có tuổi thọ cao vì vậy tỷ lệ cũng như cường độ nhiễm sáncũng cao Đối với những lợn nái đang nuôi con bị nhiễm sán lá thì không chỉgầy còm mà còn giảm lượng sữa, lợn con bị thiếu dinh dưỡng sẽ phát triểnchậm, giảm sức đề kháng, nguy cơ mắc bệnh cao hơn vì thế tỷ lệ hao hụt lợncon sau cai sữa cũng cao hơn so với những lợn nái khỏe mạnh
Những tác động cơ giới của sán làm tổn thương thành ruột, gây viêmnhiễm, lợn thường có biểu hiện của bệnh viêm ruột như: tiêu chảy, phân tanh, cóthể dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện và chữa bệnh kịp thời
Ở những lợn bị rối loạn tiêu hóa do độc tố của sán tiết ra có thể có triệuchứng lúc tiêu chảy, lúc táo bón, làm cho lợn còi cọc vì không hấp thu đượcchất dinh dưỡng
Lợn trưởng thành từ 6 – 8 tháng tuổi trở lên, khi bị nhiễm sán thường thấy
có bệnh tích ở ruột như ruột non bị sùi lên, niêm mạc ruột dày ra, làm giảmnăng suất chăn nuôi Khi bị nhiễm sán thì nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm
và nội khoa cũng cao hơn do sức đề kháng của con vật bị suy yếu đây là cơ sởkhoa học cho việc tẩy ký sinh trùng trước khi tiêm phòng cho không chỉ lợn màtất cả các loài gia súc, gia cầm khác
Người nhiễm sán thường có tổn thương cơ thể bệnh học rõ rệt Niêm mạcruột non bị phù và viêm, xung huyết hoặc xuất huyết Trường hợp nhiễm nhiềusán ruột bị tắc, nếu có bội nhiễm vi khuẩn thì các hạch màng treo ruột viêm,sưng Độc tố của sán gây tổn thương và rối loạn chung Toàn thân bị phù, tràndịch ở ngoại tâm mạc Bệnh nhân thiếu máu, số lượng bạch cầu giảm, huyết sắc
Trang 17tố giảm, bạch cầu toan tính tăng Sán chiếm đoạt dinh dưỡng, bệnh nhân có thểchết trong tình trạng suy kiệt (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) Trong 65 bệnhnhân bị bệnh sán lá ruột ở Tân Hội, Trung Quốc thì tỷ lệ chết là 21,5% (TrangTrạch, 1956) [2]
2.6.Chẩn đoán
Có thể dùng một số biện pháp chẩn đoán sau:
2.6.1 Căn cứ vào đặc điểm dịch tễ học
Quan sát điều kiện môi trường và phương thức chăn nuôi có thể giúpchũng ta biết được nơi đó có hay không có bệnh sán lá ruột Cần phải tìm hiểucác thông tin sau: Cách cho lợn ăn, nguồn thức ăn, cách xử lý chất thải chănnuôi, ngoài ra còn phải xem xét vùng chăn nuôi đó thuộc vùng lúa hay vùngmàu, miền núi, trung du hay đồng bằng… để đưa ra kết luận
2.6.2 Kiểm tra phân tìm trứng sán
Sán lá đẻ rất nhiều trứng, một con sán mỗi ngày đẻ từ 15.000 – 48.000trứng nên kiểm tra phân rất dễ phát hiện trứng sán
Phương pháp kiểm tra thường là phương pháp lắng cặn, nếu không códụng cụ chuyên dụng thì có thể kiểm tra bằng phương pháp trực tiếp, tuy nhiênkết quả không thể chính xác bằng phương pháp lắng cặn
2.6.3 Mổ khám và điều trị để chẩn đoán
Nếu có đủ điều kiện thì có thể mổ khám phi toàn diện nhằm tìm sán non
và sán trưởng thành trong ruột Biện pháp này tốn kém vì vậy nên kết hợp đểchẩn đoán nhiều loại ký sinh trùng khác nhau
Ngoài ra còn có thể dùng thuốc tẩy thử một vài con lợn rồi theo dõi phân
từ 24 – 48h sau khi cho thuốc, nếu có sẽ thấy con sán màu hồng ra theo phân
2.6.4 Chẩn đoán bằng kháng nguyên tiêm nội bì
Có thể chế kháng nguyên từ sán trưởng thành sau đó pha với nồng độ1/250 tiêm nội bì Phương pháp này cho kết quả tốt, có thể chẩn đoán được bệnhkhi sán còn non, chưa kịp đẻ trứng, phát tán mầm bệnh ra môi trường Tuy nhiênvẫn có trường hợp cho phản ứng dương tính hoặc âm tính giả, bên cạnh đó kỹthuật tiến hành rất phức tạp nên khó áp dụng trong thực tế
Trang 182.7 Biện pháp phòng trừ
Căn cứ vào đặc điểm sinh học và dịch tễ học của sán lá ruột, để phòng trừcăn bệnh phải giải quyết hai khâu, đó là : tẩy trừ căn nguyên ở trong cơ thể giasúc và diệt trừ mầm bệnh ở môi trường bên ngoài Hai khâu này phải thực hiệncùng lúc, nếu tách rời hoặc thực hiện không đồng bộ thì không thể đạt kết quảtốt Để đạt được mục đích cần những biện pháp cụ thể như sau:
2.7.1 Tẩy ký sinh trùng cho lợn bệnh và mang sán
Đối với dịch tễ học, Việc nghiên cứu thời gian tẩy sán trước lúc trưởngthành, sán chưa kịp đẻ trứng rất quan trọng vì như vậy môi trường bên ngoài sẽkhông bị ô nhiễm trứng sán, tránh được hiện tượng tái nhiễm lợn và lây bệnhcho người Trong sản xuất, tẩy sán lúc còn non sẽ hạn chế được tác hại của sánlên quá trình sinh trưởng và sinh sản của lợn, như vậy sẽ làm giảm thiệt hại vềkinh tế do sán gây ra cho người dân
Do lợn có thể bị nhiễm sán quanh năm chứ không theo mùa nên cần tẩysán thường xuyên cho lợn, thường là 3 tháng tẩy một lần Dựa vào thời gian pháttriển trưởng thành của sán trong cơ thể ký chủ ( 90 ± 6 ngày) ta nên tẩy sántrước ngày thứ 84 và không được muộn quá ngày thứ 96, nếu không trứng sán sẽphát tán ra môi trường bên ngoài Khi tẩy sán cho lợn, không chỉ chữa chonhững con mắc bệnh mà phải tẩy cho toàn đàn, như vậy mới có ý nghĩa trongphòng bệnh lâu dài
Hiện nay trên thị trường có nhiều loại thuốc có thể tẩy sán lá ruột, bêncạnh đó sử dụng các bài thuốc nam cũng là một cách thay thế trong trường hợpkhông mua được thuốc để tẩy cho lợn Sau đây là tên một số loại thuốc tân dược
và một số bài thuốc nam:
Vime - Ono: 1 g/10 - 15 kg P, uống một liều duy nhất
Vimedazol: 1 g/10 kg P, uống một liều duy nhất
( Không sử dụng cho gia súc già và gia súc đang mang thai)
Han - Dertil – B: 1 viên/50 kg P
Trang 19Sắc lên lấy 30 ml, chia làm 3 lần uống, mỗi lần cách nhau nửa giờ Sau 3
-4 giờ sán sẽ ra Nếu lợn con từ 15 - 20 kg thì chỉ cần dùng nửa liều trên
Chú ý: vỏ rễ lựu rất độc, khi sử dụng phải cẩn thận Nếu tẩy đại trà cho
nhiều lợn nên tẩy thí điểm trước vài con để rút kinh nghiệm rồi mới dùng tẩycho nhiều con khác [6],[24]
2.7.2 Xử lý phân để diệt trứng
Bên cạnh việc tẩy trừ sán trong cơ thể vật nuôi còn cần quan tâm đến việc
xử lý chất thải chăn nuôi, bao gồm phân rác, thức ăn thừa, nước tiểu và nước rửachuồng Chất thải chăn nuôi là nguồn chứa trứng sán và phát tán ra môi trường,
vì vậy cần có các biện pháp xử lý phù hợp để cắt đứt chu trình phát triển khôngchỉ của sán lá ruột mà của nhiều loài ký sinh trùng khác có trong cơ thể lợn
Nguyễn Văn Thọ (2005) đã đề xuất biện pháp phòng chống sán lá ruộtcho lợn trong đó có đưa ra phương pháp quản lý và xử lý chất thải chăn nuôinhư sau:
Cách ủ: cứ một lớp phân lợn phủ một lớp lá xanh, tro bếp ) đánh thành
đống hình khối chóp, phía ngoài cùng trát một lớp bùn Sau 12 ngày, nhiệt độ
đống phân tăng cao đến 50 - 540C Ở nhiệt độ này, trứng F buski và các trứng
giun sán khác đều bị tiêu diệt
Quản lý phân lợn và diệt trứng F buski trong bể Biogas:
Trứng F buski bị diệt khi được giữ trong bể Biogas 30 ngày, nếu bổ sung
chế phẩm EM nồng độ 1% vào bể Biogas thì thời gian trứng bị diệt là 20 ngày
Vì vậy, cần vận động các hộ nuôi lợn xây dựng bể Biogas để xử lý phân, diệt
trứng F busk [9].
Quản lý và xử lý triệt để nước rửa chuồng:
Trứng F buski có thời gian lưu giữ ngắn trong bể Biogas, khi theo nước
thải ra ngoài vẫn còn khả năng phát triển Vì vậy, biện pháp xử lý đơn giản làxây 2 - 3 bể chứa nước thải trước cửa thải của bể Biogas để làm lắng trứng, giữtrứng lại trong bể mà không cho phát tán ra ngoại cảnh [9],[20]
Trang 202.7.3 Diệt ốc vật chủ trung gian và kén Aldolescaria
Vật chủ trung gian là một mắc xích vô cùng quan trọng, để hạn chế sựnhiễm bệnh phải tiêu diệt vật chủ trung gian, cắt đứt chu trình phát triển của ký
sinh trùng Các loài ốc đĩa thuộc họ Planorbidae là vật chủ trung gian của sán lá
ruột, đây là những loài ốc nước phổ biến trong ruộng rau, lúa, bèo, ta có thểdùng các biện pháp sau để diệt ốc:
Dùng một số loại hóa chất để diệt ốc: có thể dùng vôi bột với nồng độ1/1000 – 1/10.000 hoặc nước vôi 5 – 10%, dung dịch sunfat đồng (CuSO4)5/10.000 để diệt ốc Khi sử dụng sunfat đồng cần chú ý vì có thể gây ô nhiễmmôi trường và ngộ độc cho người và súc vật[16] Nếu có điều kiện nên bón vôivào ruộng rau thủy sinh làm thức ăn cho người và lợn, vừa diệt được ốc vừa diệtđược trứng sán và ấu trùng cercaria [2]
Nuôi vịt để bắt ốc, biện pháp này không những diệt được ốc mà còn tậndụng được nguồn thức ăn tự nhiên cho vịt và không gây ảnh hưởng đến môi
trường.Trong điều kiện khô hạn, cả kén aldolescaria và ốc vật chủ trung gian
đều bị chết vì vậy ở những nơi có điều kiện có thể luân phiên trồng cây thức ăn,chuyển ruộng trồng cây dưới nước thành trồng cây trên cạn để diệt cả ốc và kén
aldolescaria [2],[12]
Hiện nay vẫn chưa có biện pháp thích hợp để diệt kén bám trên rau, bèo vìvậy khi sử dụng các loại rau thủy sinh làm thực phẩm cho người và chăn nuôicần được rửa sạch và nấu chín để phòng bệnh
Biện pháp vệ sinh thú y và nuôi dưỡng quản lý:
Thực hiện các biện pháp vệ sinh thú y tốt không những phòng được bệnhsán lá ruột mà còn làm giảm nguy cơ mắc các bệnh khác cho gia súc, như vậy sẽtiết kiệm được chi phí thức ăn, chữa bệnh cho người chăn nuôi
Một số biện pháp vệ sinh thú y phổ biến như sau: định kỳ tẩy giun sán chođàn lợn, vệ sinh thức ăn, nước uống, phân rác và nước rửa chuồng được ủ trướckhi đưa ra môi trường bên ngoài, không sử dụng phân tười để bón ruộng…Những biện pháp trên đơn giản, dễ làm và có hiệu quả cao trong phòng bệnh,nên được sử dụng phổ biến để hạn chế sự phát tán và nhiễm bệnh
2.7.4 Sán lá ruột ở người
Sán lá ruột phân bố từ miền trung Trung Quốc đến Bengal và nhiều nước
ở bán đảo India Stoll (1947) ước tính rằng có khoảng 10 triệu người nhiễm sánphần lớn là người Trung Quốc Barlow cho biết có nhiều làng mạc ở Trung
Trang 21Quốc tỷ lệ người nhiễm 100 % [5] Tại Trung Quốc, có nơi trẻ nhiễm đến 80 –
86 %; tại Thái Lan, bệnh sán lá ruột chiếm đến 10 % số ca nhiễm ký sinh trùngnày ở đường ruột (Wiwanitkit và cộng sự, 2002) [8]
Tại Việt Nam, thời gian từ năm 2000 - 2005, 16 tỉnh, thành trong cả nước
có người nhiễm sán lá ruột lợn Fasciolopsis buski (Yên Bái, Tuyên Quang, Cao
Bằng, Bắc Cạn, Phú Thọ, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Nam Định, NinhBình, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Đắc Lăk, Cần Thơ và An Giang Tỷ lệ nhiễmchung trung bình là 1,23 % (0,16 – 3,82 %)) Sán lá ruột trưởng thành thu thập
từ bệnh nhân khi điều tra tại 7 tỉnh, thành Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa,Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ và An Giang đã được xác định loài là
Fasciolopsis buski qua phương pháp hình thái học và sinh học phân tử [8].
Trang 22III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn được nuôi tại nông hộ trên địa bàn 3 phường Hương Chữ, Hương An
và Hương Hồ thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ ngày 02/01/2012 đến ngày 05/05/2012
3.3 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên địa bàn 3 phường Hương Hồ, Hương An vàHương Chữ thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
Mẫu được xét nghiệm tại phòng thí nghiệm ký sinh trùng, bộ môn kí sinhtrùng khoa Chăn Nuôi Thú Y - Trường Đại học Nông Lâm Huế
3.4 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình nhiễm sán lá ruột lợn trên địa bàn 3 phường Hương Hồ,Hương An, Hương Chữ thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tình hình nhiễm ấu trùng sán lá ruột trong ốc vật chủ trung gian ở 3 phườngHương Hồ, Hương An, Hương Chữ, thị xã Hương trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đánh giá hiệu quả tẩy sán lá ruột khi sử dụng thuốc tẩy Han - Dertyl B
3.5 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở lợn trên địa bàn 3 phường Hương Hồ, Hương
An, Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm sán lá ruột lợn ở các nhóm tuổi:
Sơ sinh đến 2 tháng tuổi
- Mật độ ốc và tỷ lệ ốc nhiễm ấu trùng sán lá ruột lợn ở các phường Hương
Hồ, Hương An, Hương Chữ thuộc Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tỷ lệ ra sán lá ruột lợn
- Tỷ lệ sạch sán lá ruột lợn sau khi tẩy 5 ngày, 10 ngày và 15 ngày
Trang 233.6 Phương pháp nghiên cứu và vật liệu nghiên cứu
Phương pháp lấy mẫu:
Chọn gia súc ngẫu nhiên, lấy mẫu từng cá thể, phân do lợn mới thải ra.Lấy nhiều điểm trên đống phân, không lấy phần tiếp xúc với mặt đất, mỗi mẫulấy 10 – 15 g, cho vào túi nilon có ghi đầy đủ thông tin: số mẫu, địa điểm, tênchủ hộ, …và các thông tin khác được ghi trong sổ số liệu thô
Phương pháp kiểm tra mẫu:
Phương pháp lắng cặn :
Nguyên lý : dựa vào sự chênh lệch tỷ trọng của trứng với nước lã (d =1)
để tách trứng ra khỏi phân
Các bước tiến hành :
Bước 1: Lấy 5 - 10 g phân cho vào cốc thuỷ tinh, cho vào một lượng nước
vừa để khuấy tan phân, lọc qua rây vào cốc tam giác ta được dung dịch lọc
Bước 2:
- Đổ nước vào đến vạch 500 ml, chờ trong thời gian 15 – 30 phút sau đó
đổ nước ra
- Đổ nước vào chờ thời gian t2 < t1, làm như vậy 3 - 5 lần cho 1 mẫu
Bước 3: Sau khi đổ nước lần cuối ra, đổ cặn vào đĩa petri rồi nhỏ một giọt
xanh methylen vào để nhuộm màu các cặn và dễ phân biệt trứng sán
Bước 4: Dùng ống hút nhỏ hút cặn lên lam kính, đặt lamen lên và kiểm
tra dưới kính hiển vi
Bước 5: Đọc và ghi kết quả.
Phương pháp đếm trứng Stoll:
Nguyên lý: dựa vào tính nhớt của dung dịch NaOH 0,1N để hòa đều
trứng trong dung dịch
Các bước tiến hành:
Bước 1: Cân 4g phân cho vào cốc đong.
Bước 2: Cho dung dịch NaOH 0,1N vào cốc đong đến vạch 60ml, sau đó
lấy đũa thủy tinh khuấy tan phân