Việt Nam là nước nông nghiệp vì vậy để phát triển nền kinh tế thì chúng ta phải chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa tới nông nghiệp về trồng trọt cũng như về công tác chăn nuôi thú y, để góp phần giải quyết về nhu cầu thực phẩm, sức cầy kéo và tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi, đặc biệt đối với cư dân vùng cao, vùng trung du, miền núi. Trong những năm gần đây nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích người cho người chăn nuôi như hỗ trợ cải tạo đàn giống, cho vay vốn ưu đãi, vệ sinh phòng trừ dịch bệnh và cải tiến quy trình chăn nuôi, vì vậy ngành chăn nuôi của ta đã đạt được những thành công nhất định. Bên cạnh những thành công đó ta vẫn phải kể đến những trở ngại do dịch bệnh gây ra, trong đó phải nhắc đến các bệnh ký sinh trùng. Hiện nay, các bệnh truyền nhiễm do siêu vi trùng và vi trùng đã được phòng chống tích cực bằng các loại vaccine, còn bệnh ký sinh trùng vẫn còn là vấn đề nan giải, vì chưa có vaccine phòng bệnh, nên không chủ động trong công tác phòng chống bệnh. Các bệnh này ở điều kiện khí hậu nóng ẩm ở nước ta đã diễn ra hết sức đa dạng và phong phú. Chúng thường làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, giảm chất lượng thực phẩm, giảm sức cầy kéo. Mặt khác ở dạng trưởng thành và dạng ấu trùng của ký sinh trùng đều gây tổn thương cho nhiều cơ quan trong cơ thể. Bệnh sán lá gan lớn Fasciolosis do hai loài Fasciola hepatica và Fasciola gigantica được coi là bệnh ký sinh trùng phổ biến và gây tác hại đáng kể cho ngành chăn nuôi trâu, bò ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, bệnh vẫn là mối hiểm họa lớn không những cho gia súc mà cả cho người. Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới, đây là điều kiện thuận lợi đối với bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng. Vòng đời phức tạp của Sán lá gan lớn cùng với sự chăn thả gia súc tự do và ý thức vệ sinh môi trường không tốt, là điều kiện thuận lợi cho bệnh Sán lá gan lan tràn và phát triển mạnh. Bởi vậy, trong công tác phát triển chăn nuôi đàn trâu bò ở Việt Nam, vấn đề theo dõi, kiểm tra tình hình dịch bệnh để có biện pháp phòng chống thích hợp là điều đáng được quan tâm. Xuất phát từ yêu cầu thực tế về dịch bệnh đối với sức khỏe đàn gia súc tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm sán lá Fasciola trên đàn trâu nuôi ở phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế và hiệu lực của thuốc tẩy Fasciolid và Phar – Detocid”.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôiluôn nhận được sự giúp đỡ tận tình, quý báu của nhà trường và địa phương Nhândịp hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành vàsâu sắc tới:
Ban giám hiệu và Lãnh đạo Khoa Chăn nuôi – Thú y Trường Đại học Nônglâm Huế cùng toàn thể các thầy cô giáo trong nhà trường
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình Giáo viên hướng dẫn đã tậntình giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Hợp tác xã An Đô, phường HươngChữ đã tạo điều kiện cho tôi thực tập và hoàn thành khóa luận này
Nhân dịp này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình,bạn bè đã động viên, chia sẻ và khuyến khích tôi trong quá trình học tập, nghiêncứu và hoàn thành luận văn này
Do hạn chế về mặt thời gian nên báo cáo không thể tránh khỏi những thiếusót Rất mong sự góp ý đánh giá của các thầy cô để báo cáo được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn
Huế, tháng 05 năm 2012Sinh viên thực hiện
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Phân biệt trứng sán lá gan và trứng sán lá dạ cỏ
Bảng 3.2: Bố trí thí nghiệm
Bảng 4.1: Tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola spp theo vùng sinh thái trên đàn
trâu phường Hương Chữ
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Fasciola theo lứa tuổi
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu sinh lý của trâu trước và sau khi tẩy
Bảng 4.4: Hiệu lực của 2 thuốc Phar- Detocid và Fasciolid
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola trên đàn trâu 4 làng phường
Hương Chữ
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu theo độ tuổi
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
MỤC LỤC 3
PHẦN 1 - ĐẶT VẤN ĐỀ 6
PHẦN 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
2.1 Tình hình nghiên cứu về Fasciola spp 8
2.1.1 Tình hình nghiên cứu Fasciola spp trên thế giới 8
2.1.2 Những nghiên cứu về Fasciola spp ở Việt Nam 9
2.3 Đặc điểm dịch tể học của sán lá gan trâu bò 18
2.3.1 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò 18
2.3.2 Tuổi gia súc mắc bệnh 19
2.3.3 Mùa mắc bệnh 19
2.3.4 Chất chứa mầm bệnh 19
2.4 Chẩn đoán 20
2.4.1 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng của bệnh 20
2.4.2 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học của bệnh 20
2.4.3 Chẩn đoán bằng xét nghiệm phân 21
2.4.4 Chẩn đoán bằng kháng nguyên: Dùng phản ứng biến thái nội bì 21
2.4.2 Chẩn đoán bằng mổ khám toàn diện 21
2.5 Một số thuốc sử dụng điều trị bệnh sán lá gan cho trâu bò 22
2.5.1 Fasciolid 22
2.5.2 Bio-clomectin 22
2.5.3 Phar - Detocid 22
2.5.3 Dertil B 22
2.6 Tình hình nhiễm sán lá gan ở người 23
PHẦN III - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm nghiên cứu 26
3.3 Thời gian thực tập 26
Trang 43.4 Nội dung nghiên cứu 26
3.5 Phương pháp nghiên cứu 26
3.5.1 Phương pháp lấy mẫu phân trâu 26
3.5.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu 27
3.5.3 Đánh giá trọng lượng trâu 28
3.6 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 29
3.6.1 Vật liệu nghiên cứu 29
3.6.2 Dụng cụ nghiên cứu 30
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 31
3.7.1 Tính tỷ lệ nhiễm 31
3.7.2 Tính cường độ nhiễm 31
PHẦN V – KẾT LUÂN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 5PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là nước nông nghiệp vì vậy để phát triển nền kinh tế thì chúng taphải chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa tới nông nghiệp về trồng trọt cũng như
về công tác chăn nuôi thú y, để góp phần giải quyết về nhu cầu thực phẩm, sức cầykéo và tăng thêm thu nhập cho người chăn nuôi, đặc biệt đối với cư dân vùng cao,vùng trung du, miền núi
Trong những năm gần đây nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chínhsách khuyến khích người cho người chăn nuôi như hỗ trợ cải tạo đàn giống, chovay vốn ưu đãi, vệ sinh phòng trừ dịch bệnh và cải tiến quy trình chăn nuôi, vì vậyngành chăn nuôi của ta đã đạt được những thành công nhất định Bên cạnh nhữngthành công đó ta vẫn phải kể đến những trở ngại do dịch bệnh gây ra, trong đó phảinhắc đến các bệnh ký sinh trùng Hiện nay, các bệnh truyền nhiễm do siêu vi trùng
và vi trùng đã được phòng chống tích cực bằng các loại vaccine, còn bệnh ký sinhtrùng vẫn còn là vấn đề nan giải, vì chưa có vaccine phòng bệnh, nên không chủđộng trong công tác phòng chống bệnh Các bệnh này ở điều kiện khí hậu nóng
ẩm ở nước ta đã diễn ra hết sức đa dạng và phong phú Chúng thường làm giảmkhả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, giảm chất lượng thực phẩm, giảmsức cầy kéo Mặt khác ở dạng trưởng thành và dạng ấu trùng của ký sinh trùng đềugây tổn thương cho nhiều cơ quan trong cơ thể
Bệnh sán lá gan lớn Fasciolosis do hai loài Fasciola hepatica và Fasciola gigantica được coi là bệnh ký sinh trùng phổ biến và gây tác hại đáng kể cho
ngành chăn nuôi trâu, bò ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Ngày nay, bệnhvẫn là mối hiểm họa lớn không những cho gia súc mà cả cho người
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới, đây là điều kiện thuận lợiđối với bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng Vòng đời phứctạp của Sán lá gan lớn cùng với sự chăn thả gia súc tự do và ý thức vệ sinh môitrường không tốt, là điều kiện thuận lợi cho bệnh Sán lá gan lan tràn và phát triểnmạnh Bởi vậy, trong công tác phát triển chăn nuôi đàn trâu bò ở Việt Nam, vấn đềtheo dõi, kiểm tra tình hình dịch bệnh để có biện pháp phòng chống thích hợp làđiều đáng được quan tâm
Trang 6Xuất phát từ yêu cầu thực tế về dịch bệnh đối với sức khỏe đàn gia súc tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình nhiễm sán lá Fasciola trên đàn trâu nuôi ở phường Hương Chữ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế và hiệu lực của thuốc tẩy Fasciolid và Phar – Detocid”.
Trang 7PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Tình hình nghiên cứu về Fasciola spp
2.1.1 Tình hình nghiên cứu Fasciola spp trên thế giới
Nhà triết học Hy Lạp – Aristole, (384 - 322) trước công nguyên đã nói về cơchế phát sinh ký sinh trùng được sinh ra từ môi trường bên ngoài, về sau có nhiềucông trình nghiên cứu về sán và ký sinh trùng ở gia súc ra đời [15]
F hepatica được Johande phát hiện đầu tiên vào năm 1379 trên cừu và được gọi là sán lá gan cừu và đến năm 1758 Linnaeus đặt tên latinh là Fasciola hepatica Sau 130 năm sau Thomas (1882) và Leuckart (1882) ở Anh và Đức đồng thời xác định được vòng đời phát triển của F hepatica, sau đó Thomas tiếp tục nghiên cứu vòng đời phát triển của F gigantica Tác giả coi đó là vòng phát triển chung của loài sán thuộc lớp Treamtoda [9]
Thời kỳ trưởng thành của sán ở các loài động vật cũng khác nhau: ở bê là 84ngày (Alicata, 1938); 111 ngày ở dê, cừu (Kendall và Parfit, 1953); 132 ngày ở trâu[9]
Alicata, 1941 đã xác nhận F gigantica có thể ở gan bò 3 năm 4 tháng [9].
Hedonleyz, 1954 đã chế ra dung môi nuôi sán và đã nuôi sán sống được từ 72
phân nhánh hoặc ít khi chia nhánh [9]
P.Bergeon, 1970, quan sát ở Etiope cho biết: F.hepatica có tinh hoàn chia nhánh hình ống và hơi ngoằn ngoèo, F gigantica thì tinh hoàn hết sức ngoằn ngoèo gấp vào
nhau tạo thành 1 búi cuộn lại [9]
Ở khu vực Đông Nam á, Châu á các loài sán thường gặp ở bò là F gigantica,
F hepatica, Paramphistomata, Gigantocotyle explanatum (Joseph và Boray, 1994)
[35]
Ở Cameroun, Cardinale, (1994), cho biết bò nhiễm F gigantica từ 31 - 64%,
Trang 8nhưng với bê tỷ lệ nhiễm thấp hơn chỉ là 1,5% [30].
Chritian và cs, (2002) nghiên cứu trong 12 năm ở Pháp cho biết tỷ lệ nhiễmsán lá gan ở bò từ năm 1990 - 1993 tăng 13,6 - 15,2% tới năm 1999 giảm còn12,6% [31]
Tại Bécnin năm 2002 Youssao và Assogba, cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan từ7,5 - 52,4% tùy theo vùng và theo tháng trong năm [36]
Năm 2007 Blaise và Raccurt, nghiên cứu tại Haiti thấy tỷ lệ nhiễm F hepatica
2.1.2 Những nghiên cứu về Fasciola spp ở Việt Nam
Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh cho biết, sán lá gan loài F gigantica có kích
thước thân và trứng lớn hơn so với sán lá gan ở các nước khác [21]
Năm 1967, Drozdz và Malczewski, tiến hành mổ khám trâu nhiều vùng khácnhau ở miền Bắc cho biết tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 76%, ở bò là 36%, tác giả
cũng cho biết đã tìm thấy F hepatica ở trâu vùng núi tỉnh Tuyên Quang [32].
Theo Phan Địch Lân, Lê Hồng Căn, (1972) thì ký chủ trung gian của sán lá
gan trâu, bò ở Việt Nam là 2 loài ốc nước ngọt: Limnaea swinhoei (H.Adams, 1886) và Limnaea viridis (Quay et Gaimard, 1832) Hai loài ốc này có khả năng tồn
tại quanh năm nhưng phát triển mạnh nhất vào vụ đông xuân và giảm vào vụ hè
thu Loài Limnaea viridis sống ở nơi nước xăm xắp, còn Limnaea swinhoei thích
nơi nước ngập để trôi nổi [10]
Bằng phương pháp mổ khám, Đào Hữu Thanh, (1976) xác định tỷ lệ nhiễnsán lá gan ở bò thuộc một số cơ sở chăn nuôi miền Bắc nước ta là 60%, cường
độ nhiễm trung bình từ 41 - 53 sán/con, cao nhất là 86 - 95 sán/con [20]
Năm 1978, Phan Địch Lân, công bố công trình nghiên cứu đầy đủ về sán lá
gan do loài F gigantica gây ra bao gồm hình thái, sinh thái, chu kỳ sinh học, tác
hại của bệnh đối với trâu, bò ở nước ta [8]
Phan Lục và cs, (1993) điều tra đàn bò nuôi ở đồng bằng sông Hồng thấy tỷ lệnhiễm sán lá gan là 61,2% [14]
Trang 9Vương Đức Chất (1994) cho biết, đàn bò sữa ở ngoại thành Hà Nội được chămsóc và nuôi dưỡng tốt vẫn bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ là 34,42% [1].
Năm 1995, Phan Lục và cs, cho biết: tỷ lệ nhiễm Fasciola spp ở phía Bắc trên
trâu là 70%, bò là 61,2%, dê là 20% Và tỷ lệ nhiễm sán khi mổ khám trâu ở 8 tỉnhphía Bắc là 47% [14]
Cũng trong năm 1995, Nguyễn Trọng Kim đã điều tra tỷ lệ nhiễm Fasciola
spp ở tỉnh Nghệ An cho thấy huyện Nghi Lộc nhiễm 25,27%, huyện Diễn Châunhiễm 32,65%, tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi của vật nuôi, thấp hơn 2 tuổinhiễm 10,9%, từ 3 - 5 tuổi nhiễm 23,33%, từ 6 - 8 tuổi nhiễm 53,58, trên 9 tuổinhiễm 76,68% [5]
Năm 1996, Hà Huy Ngọ, Nguyễn Thị Lê, kiểm tra đàn bò sữa ở Ba Vì cho biếtđàn bò sữa ở đây bị nhiễm sán lá gan tới 46,23% [17]
Theo Lương Tố Thu và cs, (1996) thì ở miền Bắc nước ta tỷ lệ nhiễm sán lágan chung ở trâu, bò là 44,53%, tác giả nhận xét tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan là54,21% nặng hơn trâu là 33,92% [24]
Năm 1997, Nguyễn Văn Diên cho biết: qua mổ khám bò ở Tây Nguyên bị
nhiễm Fasciola spp 58,06%, xét nghiệm phân thấy nhiễm 61,75% Tỉ lệ nhiễm tăng
dần theo lứa tuổi, bò nhỏ hơn 6 tháng nhiễm 8,08%, từ 7 - 12 tháng nhiễm 36,79%,
từ 13 - 24 tháng nhiễm 70,29% và trên 24 tháng nhiễm 87,09% Tác giả cũng chobiết tỷ lệ nhiễm cao nhất ở vùng trũng là 72,37%, vùng đồi núi, trung du là 63,05%,vùng cao nguyên là 46,09% [2]
Theo Lương Tố Thu và cs, (2000) khi kiểm tra phân trâu, bò ở Đông Anh - Hà
Nội thấy 100% số trâu, bò bị nhiễm Fasciola spp với cường độ nhiễm 13,8 - 16,5
trứng/1g phân [25]
Hà Huy Ngọ, Nguyễn Thị Lê, (1996) xác định loài ốc Paraƒossaralus stratulus là ký chủ trung gian của sán lá gan ở bò ở Ba Vì [17].
Vương Đức Chất, (1994) đã xét nghiệm ốc Limnaea swinhoei ở Sơn Tây thuộc
Hà Tây (cũ) và vùng phụ cận cho biết tỷ lệ nhiễm ấu trùng Fasciola spp là 14,69%.
Mẫu ốc ở Phúc Thọ, Phú Xuyên tỉnh Hà Tây (cũ) nhiễm ấu trùng như sau:
Limnaea viridis là 26,30% và Limnaea swinhoei là 30,58% [1].
Theo Phan Địch Lân, (2005) thì tỷ lệ nhiễm ấu trùng Fasciola spp của ốc là
17,75% tỷ lệ nhiễm vụ hè thu cao hơn vụ đông xuân [11]
Trang 102.2 Sán lá Fasciola và bệnh do Fasciola spp gây ra trên trâu bò
2.2.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Năm 1977 Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê, [26] đã phân loại 2loài sán này trong hệ thống phân loài như sau:
Liên ngành: Scolecida (Huxley, 1856; Beklemischev, 1944)
Ngành: Plathelminthes (Schneider, 1873)
Lớp: Trematoda (Rudolphi, 1808)
Bộ: Fasciolida (Skrjabin et Guschanskaja, 1962)
Phân bộ: Fasciolata (Skrjabin et Schulz, 1937)
Họ: Fasciolidae (Railliet, 1895)
Phân họ: Fasciolinae (Stiles et Hassall, 1898)
Giống: Fasciola (Linnaeus, 1758)
Loài: Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
2.2.2 Hình thái học và vòng đời phát triển của Fasciola spp.
2.2.2.1 Hình thái học
F gigantica sán có hình lá, có chiều dài từ 2 7mm, chiều rộng từ 3
-12mm, hai bên mép dường như song song với nhau, không có vai, phần cuối thânhơi tù, cơ thể có hai giác bám là giác bụng và giác miệng, giác bụng có đường kính
từ 1,491 - 1,785mm, giác miệng có đường kính từ 1,092 - 1,555mm Hệ sinh dục
của F gigantica thuộc dạng lưỡng tính hai tinh hoàn phân nhánh xếp trên dưới
nhau ở phần sau của cơ thể Mỗi tinh hoàn thông với một ống dẫn tinh riêng rồigộp lại thành ống dẫn tinh chung đổ vào lỗ sinh sản ở mặt bụng Buồng trứng phânnhánh ở phía trước tinh hoàn, tử cung uốn khúc thành hình hoa ở giữa Trứng của
F gigantica phình rộng ở giữa và thon về 2 đầu, đầu nhỏ hơn có nắp, vỏ mỏng
gồm có 4 lớp bên ngoài phẳng có chiều dài từ 0,125 - 0,170mm, chiều rộng từ0,060 - 0,100mm, phôi bào phân bố đều và có màu vàng sáng [3]
- F hepatica thân có hình tam giác, ruột không chia nhánh hoặc ít khi chia
nhánh, có chiều dài từ 18 – 51mm, chiều rộng từ 4 - 13mm, thân dẹp hình lá, cómàu nâu nhạt, phần đầu hình nón dài từ 3 - 4mm có chứa 2 giác bám, giác bụnglớn hơn giác miệng, phía trước thân phình to và thon dần về cuối tạo thành vai rất
rõ Cấu tạo bên trong giống F gigantica trứng hình elip, các đầu hơi giống nhau
Trang 11chiều dài từ 0,130 - 0,145mm, chiều rộng từ 0,070 - 0,090mm, bên trong chứa phôibào hình hạt, có mầu vàng [3].
2.2.2.2 Vòng đời phát triển của Fasciola spp
Fasciola spp luôn luôn cần vật chủ trung gian là ốc nước ngọt và các cây rau,
cỏ thuỷ sinh làm vật môi giới truyền bệnh
Fasciola spp trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê, cừu…
Sau khi thụ tinh mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng, những trứng này cùng dịch mật
đổ vào ruột sau đó theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ từ 15 30°C, pH = 5 - 7,7 có ánh sáng, độ ẩm thích hợp, sau 10 - 15 ngày trong trứng hình
-thành Miracidium, dưới tác động của ánh sáng Miracidium đẩy bật nắp trứng chui
ra ngoài và bơi lội tự do trong nước không quá 40 giờ Nếu gặp ký chủ trung gian là
ốc Limnae auricularia, Limnae viridis, Galba tracatula, Radix ovata Miracidium chui vào cơ thể ốc di chuyển vào gan, mất hết lông và phát triển thành Sporocyst Sporocyst chứa nhiều tế bào phôi, những tế bào phôi này sau 15 - 30 ngày phát triển thành Redia, Redia hình suốt chỉ chứa nhiều tế bào mầm [9].
Bằng lối sinh sản vô tính mỗi Sporocyst sinh ra 5 - 15 Redia, mỗi Redia lại sinh ra nhiều redia con sau 32 - 40 ngày ấu trùng dài tới 1mm và có thể sinh ra 15 -
20 Cercaria Từ khi Miracidium vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần 50
-80 ngày, sau khi thành thục Cercaria qua miệng ốc chui ra ngoài môi trường và bơi
tự do trong nước Mỗi ốc có thể nhiễm 600 - 800 Cercaria Sau vài giờ bơi lội trong nước Cercaria rụng đuôi và tiết ra chất nhờn dính, sau vài phút chất nhờn đông đặc lại tạo thành vỏ bọc màu nâu, lúc này cercaria biến thành Adolescaria ở
trong nước hoặc bám vào cây cỏ xung quanh vùng lầy lội ẩm thấp, những vũngnước trên đồng cỏ [9]
Nếu trâu, bò, dê nuốt phải Adolescaria thì Adolescaria di chuyển đến ống dẫn
Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng phát triển thành dạng trưởng thành lại tiếp
tục đẻ trứng Từ khi Adolescaria được gia súc nuốt vào đến khi phát triển thành sán
Trang 12trưởng thành cần thời gian từ 3 – 4 tháng Fasciola spp trưởng thành có thể ký sinh
trong ống dẫn mật của gia súc từ 3 – 4 năm, có khi tới 11 năm [9]
Hình 2.1: Vòng đời của sán lá Fasciola ( nguồn: Vũ Đức Hạnh, 2009) [4].
2.2.2.3 Đặc điểm hình thái các giai đoạn phát triển của Fasciola spp
- Trứng sán: có mầu vàng sẫm, hình bầu dục phình rộng ở giữa, thon dần vềhai đầu, đầu nhỏ có nắp Vỏ trứng mỏng có 4 lớp, lớp ngoài phẳng, tế bào noãnhoàng to xếp đều trong trứng, giữa các phôi bào không rõ ranh giới
Kích thước của trứng dài 0,125 - 0,175mm, rộng 0,060 - 0,1mm.[9]
- Ấu trùng Miracidium (Mao ấu) gồm túi đỉnh ở phía đầu, hai bên có tuyến
đỉnh, cơ quan bài tiết được tạo thành từ đôi tế bào hình ngọn lửa, khi mao ấu ởtrong trứng hay ở bên ngoài thì đôi tế bào này hoạt động rất mạnh Mắt của
Miracidium ở mặt lưng cấu tạo theo kiểu dấu nhân chéo nhau tạo thành khối màu
đen Xung quanh mao ấu bao bọc bởi lớp lông giúp mao ấu bơi lội, di chuyển trong
nước Trong nước khi yếu dần thì Miracidium chuyển động quay tròn lộn lên, lộn
xuống liên tục một lúc thì đứng yên, cơ thể từ dạng mũi mác sang dạng hình trứng,rụng lông và bóc ra các tế bào thân, cuối cùng cơ thể mao ấu rữa dần ra biến thành
1 khối nhạt màu
Kích thước của mao ấu dài 0,19mm, rộng: 0,026mm [9]
- Sporocyst (Bào ấu) là dạng ấu trùng thứ 2 của Fasciola spp, bào ấu có dạng
hình túi được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các cơ quan ở giai đoạn mao ấu mất đi
Trang 13và xuất hiện các cơ quan khác, không còn mắt, lông xung quanh và các tuyến đỉnhcũng mất đi và hình thành ống ruột và hầu Các bộ phận này nằm trong khối tế bàothân rất lớn Trong cơ thể bào ấu đôi tế bào ngọn lửa hoạt động mạnh, các đám tế
bào phôi do hiện tượng đơn sinh tính về sau phát triển thành các Redia Bào ấu có
mầu sáng ít hoạt động
Kích thước của bào ấu dài: 0,272mm, rộng: 0,167mm [9]
- Redia (Lôi ấu) có dạng hình giun hoạt động mạnh và xuất hiện 1 số nét của
sán trưởng thành: hầu hai mảnh hình hạt đậu, ống ruột chạy dọc cơ thể, cơ thể cómàu vàng đậm, các đám phôi rõ và lớn hơn
Kích thước Redia mẹ dài: 0,333 - 0,582mm, rộng: 0,140 - 0,156mm, trung
bình dài: 0,494mm, rộng: 0,134mm Cơ thể chỉ chứa các đám tế bào phôi, số lượng
Redia có từ 1 - 3 ấu trùng, thời gian hình thành giai đoạn này từ 8 - 14 ngày Từ
ngày thứ 15 kích thước của lôi ấu lớn dần lên và đã có hiện tượng ấu trùng sinh Số
lượng Redia con sinh ra từ Redia mẹ từ 4 - 5 ấu trùng, cấu tạo của giai đoạn này:
hầu còn là 1 khối u tròn toàn bộ cơ thể có mầu sáng, hoạt động chậm chạp, sau 28
ngày đã xuất hiện những redia con và có kích thước dài: 0,83 - 1,87mm, rộng: 0,10
- 0,31mm, trung bình dài: 1,43mm, rộng: 1,25mm [9]
- Cercaria (Vĩ ấu) thời gian từ khi mao ấu đến khi phát triển thành vĩ ấu cần
khoảng 50 - 80 ngày Vĩ ấu gần giống con nòng nọc, kích thước nhỏ Vĩ ấu nonphần thân dài hơn phần đuôi, vĩ ấu trưởng thành thì phần đuôi dài hơn phần thân.Thân vĩ ấu có hình tròn, chiều dài lớn hơn chiều rộng, phần đuôi làm cho vĩ ấuchuyển động Vĩ ấu có giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thànhhai manh tràng
Kích thước của vĩ ấu trưởng thành dài: 0,28 - 0,30mm, rộng: 0,23mm [9]
- Adolescaria (Kén) có hình khối tròn có 4 lớp, vỏ màu nâu hung, kích thước:
0,2 - 0,25mm, bên trong chứa phôi bào hoạt động, phôi có giác miệng và giác bụng rõ,
ruột phân nhánh và có túi bài tiết Adolescaria thường ở trong nước hay bám vào các
cây cỏ thuỷ sinh chờ cơ hôi để xâm nhập vào vật chủ [9]
Khi súc vật nuôi mới nhiễm bệnh sán non trong cơ thể di hành làm tổn thươngthành ruột, thành mạch máu, nhu mô gan, lách, phổi, tuyến tụy gây xuất huyết nhẹhay nặng Sán non phá hủy các tổ chức ở gan, trên đường di hành chúng để lạitrong gan những đường di hành đầy máu những đường này thường kéo dài đến lớp
Trang 14thanh mạc và các tổ chức gan bị phá hủy kết quả là gan bị tổn thương, bị viêm Khigia súc bị nhiễm sán nhiều thì gia súc bị viêm gan nặng, thiếu máu do xuất huyết cóthể làm gia súc bị chết Sau khi xuyên qua nhu mô gan, sán ký sinh ở ống dẫn mật
và phát triển về kích thước trở thành sán trưởng thành Sán trưởng thành thường
xuyên kích thích vào thành niêm mạc ống dẫn mật bằng gai cuticum trên cơ thể,
làm viêm ống dẫn mật Nếu trong ống dẫn mật có nhiều sán ký sinh thì gây tắc ốngdẫn mật và mật bị ứ lại thấm vào máu sinh ra hiện tượng hoàng đản [9]
2.2.2.4 Đặc điểm bệnh do Fasciola spp gây ra và cơ chế sinh bệnh
Trong thời gian ký sinh sán thường xuyên tiết ra độc tố làm biến đổi thành ốngdẫn mật và nhu mô gan, độc tố thấm vào máu và gây trúng độc toàn thân, độc tố củasán còn làm cho protein trong máu bị biến chất, làm giảm lượng albumin, làmglobulin tăng Trong quá trình hoạt động những mô và tế bào bị phân hủy của sán cóchứa men tiêu hủy mạnh protein, lipit, glucoza gây tác hại cho cơ thể, những chất nàylàm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng lượng bạch cầu làm gia súc thiếu máu, gầy còm và cótriệu chứng thần kinh Quá trình phân hủy mật bị ứ đọng do sán làm tắc ống mật cũnglàm tăng trúng độc cho gia súc
Trong khi di hành ấu trùng còn mang theo nhiều loại vi trùng vào gan, máu vànhững cơ quan khác làm cho bệnh nặng hơn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cácbệnh truyền nhiễm khác phát sinh và phát triển Những vi trùng theo sán non xâmnhập vào những cơ quan gây ra những bọc mủ lớn Trong khi ký sinh ở ống dẫnmật sán còn hút máu của gia súc với khối lượng khá lớn, bằng phương pháp phóng
xạ cho thấy mỗi một sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy đi 0,2ml máu mỗi ngày, vớinhững gia súc nhiễm sán với số lượng lớn lên tới hàng trăm con thì số lượng máu
bị mất đi mỗi ngày là không nhỏ Gia súc có chửa bị mắc sán lá gan dễ bị đẻ non,con đẻ ra yếu, sinh trưởng chậm
Các triệu chứng thường thấy ở gia súc bị mắc bệnh sán lá gan là gầy còm, ốmyếu, suy nhược cơ thể, phân bị nhão không thành khuôn, có lúc đi ỉa lỏng, phânđen có mùi khắm thể hiện đường tiêu hóa bị tổn thương nặng Niêm mạc mắt nhợtnhạt, do thiếu máu kéo dài, lông xù, bị rụng nhiều, da mốc, hốc mắt sâu có dử, thùythũng ở mi mắt, ngực, yếm, gia súc cái dễ bị sảy thai và sản lượng sữa bị giảm tới50%
Trang 15Những thiệt hại kinh tế do bệnh sán lá gan gây ra trên trâu bò thường thể hiện
ở những mặt sau:
Khi bệnh phát sinh, lưu hành có tính chất địa phương, thường làm súc vật chếtnhiều, nhất là súc vật non Trường hợp này gặp ở thể cấp tính của bệnh
Bệnh tiến triển dưới thể mạn tính làm súc vật gầy còm, sút cân, kiệt sức Nếu
bò sữa mắc bệnh, sản lượng sữa bị giảm từ 40%, có trường hợp nhiều hơn nữa(Phạm Văn Khuê, 1996) [6]
Bệnh sán lá gan là một trong những nguyên nhân làm cho trâu bò cày kéo gầyyếu, giảm sức kéo, giảm tuổi sử dụng và tuổi thọ Tác động của sán lá gan gây tăngsinh mô liên kết, thoái hóa mô mềm, tức là một quá trình xơ hóa thoái biến Trongnhững trường hợp xâm nhiễm nặng hậu quả là biến loạn dạ dày, ruột, thiểu năngtuần hoàn, thiếu máu, gầy rạc, có thủy thũng ở mạc, có khi thủy thũng toàn thân(Nguyễn Trọng Nội, 1980) [18]
Khi mổ thịt phải bỏ những gan bị nhiễm sán Nguyên nhân là do sán lá gantrong quá trình di hành gây viêm gan, xơ gan, tạo những hang hốc trong gan trong
đó có nhiều ký sinh trùng, làm mất phẩm chất và năng suất sản phẩm, đồng thờicũng gây nguy hại đến sức khỏe con người
Chất lượng thịt, len và khả năng đẻ của những súc vật mắc bệnh bị giảm, gầyyếu, sút cân, sức sản xuất giảm, nhiều khi con vật không ăn, có khi bị ho, đi ỉa,hoàng đản, đau vùng gan, chất lượng thịt giảm; nhiều khi con vật không ăn, có khi
bị ho, nuôi dưỡng kém thường đẻ khó do hàm lượng canxi trong máu giảm
Khả năng chống đỡ bệnh truyền nhiễm và những bệnh khác ngày càng sútkém Cùng với việc bệnh làm cho trâu bò gầy yếu, lại cộng thêm với tác động cơhọc mà sự di hành của sán non diễn ra trong cơ thể trâu bò gây xơ hóa tổ chức nhu
mô gan, viêm loét đường tiêu hóa, hay tạo những hang hốc trong gan, đã làm tăngthêm tình trạng bệnh lý do sán lá gan gây ra Lúc này, niêm mạc (và cả da nữa) bịkhô, rách, chức năng bảo vệ suy giảm Các vi khuẩn đường ruột có hại trỗi dậy
cùng với các vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus xâm nhập gây viêm, hóa
mủ, hình thành các ổ loét sâu hơn, các khí quan này trở nên màu xám, nhợt nhạt dothiếu máu Sức khỏe giảm sút dẫn đến sức đề kháng giảm, đây là nguyên nhân làmgiảm khả năng chống đỡ với bệnh tật truyền nhiễm và nhiều bệnh khác nữa (ví dụ:bệnh cầu trùng trâu bò )
Trang 162.3 Đặc điểm dịch tể học của sán lá gan trâu bò
2.3.1 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò
Theo Drozt và Malczevsky (1967), tỷ lệ nhiễm bệnh sán lá gan khác nhau ởcác loài, các vùng Tỷ lệ nhiễm này cao nhất ở trâu 76,9%, bò 36%, thấp nhất là ở
dê, cừu 20% Bên cạnh cừu và gia súc thì heo và lừa cũng là những vật chủ chứa
đặc hiệu của sán lá gan lớn: Heo (27.1% nhiễm, trung bình 21,6 trứng/gam phân),
ước tính lượng trứng đẻ cho mỗi vật chủ /ngày từ 2.000-195.000), ở lừa (15.4%
nhiễm, trung bình 38.8 trứng/gam phân), ước tính lượng trứng đẻ trong cho mỗi vậtchủ/ ngày từ 9.000-808.000 [33]
Trâu bò Hà Giang nhiễm sán lá gan 79 - 96%, Nam Hà 51-57%, Lâm Đồng
34,55%, khu vực Sài Gòn, Cần Thơ 33,66% Tỷ lệ nhiễm tùy theo từng vùng [3].Qua điều tra nhiều năm ở nhiều tỉnh trên đàn trâu, thấy tỷ lệ nhiễm như sau : CaoBằng 45%, Yên Bái 35%,Lào Cai 33%, Vĩnh Phúc 55%, Ninh Bình 57%, Nam Hà56%, Hải Hưng 52,6%, Thái Bình 61%, Hà Bắc 52%, Thanh Hóa 49,45%, HảiPhòng 51,5%, Hà Nội 25,5%, Nghệ An 50,5%, Tuyên Quang 52%
2.3.2 Tuổi gia súc mắc bệnh
Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại tăng theo tuổi, nó được thể hiện
qua các số liệu : từ 1-12 tháng tuổi : 23%, từ 13- 24 tháng tuổi là 30%, và trên 24
tháng tuổi là 47% (Trịnh Văn Thịnh,1978) [23]
Theo tác giả Phạm Khuê, Phan Lục (1996) [6]và cùng nhiều tác giả khácđều cho rằng : tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở loài động vật nhai lại tăng theotuổi
2.3.3 Mùa mắc bệnh
Mùa hè số gia súc bị nhiễm sán cũng tăng hơn so với các mùa khác trongnăm Đến mùa cuối thu và mùa đông bệnh thường phát ra Lúc này trong gan giasúc có nhiều sán trưởng thành Gan cũng có nhiều trứng sán Bệnh này thường phát
ra nặng có khi làm gia súc chết vào mùa này (Trịnh Văn Thịnh 1963) [22] Từ mùa
hè sang mùa đông sán lá gan hoàn thành vòng đời, gia súc bị bệnh thường phát vàomùa đông, khi thời tiết giá rét,cỏ thiếu, nguồn thức ăn dự trữ khan hiếm, gia súclàm việc nhiều làm cho sức đề kháng của gia súc giảm Bệnh có thể gép với một sốbệnh ký sinh trùng đường máu gây chết hàng loạt
Trang 17Ngoài ra, súc vật nhiễm bệnh thường tăng lên vào mùa ký chủ trung gian
phát triển và ở các vũng nước có nhiều cercaria, adolescaria cho nên những năm
mưa nhiều số súc vật bị nhiễm sán cũng tăng lên hơn những năm nắng ráo khô hạn
2.3.4 Chất chứa mầm bệnh
Nguồn gieo bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu, ) và những thú
dã mang Fasciola spp Một con sán lá gan một năm có thể thải theo phân khoảng 1
triệu trứng/tuần và nó có thể sống trong cơ thể gia súc khoảng 11 năm (Wainland
và Brand,1926 ; trích dẫn từ Nguyễn Thị Lê, 2000) [13] Bởi vậy, mỗi súc vậtmang sán mỗi năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và những nơi chăn
thả Những đồng cỏ ẩm thấy lầy lội là nơi cần thiết để mầm bệnh phát triển và
xâm nhập vào súc vật Những nơi này chẳng những thuận lợi cho trứng sán phát
trển thành miracidium mà thuận lợi cho ký chủ trung gian của Fasciola spp tồn tại
và phát triển
Từ một trứng sán phát triển thành miracidium, nếu gặp điều kiện thuận lợi
và chui vào trong những ký chủ trung gian, sau một thời gian có thể sinh ra chừng
150 - 200 cercaria Nếu tính cả 2 thế hệ redia, số cercaria còn nhiều hơn.Vì thế ký
chủ trung gian không những giúp ấu trùng phát triển đến giai đoạn có khả năng gâynhiễm mà còn tăng gấp bội số lượng những ấu trùng này, gieo rắc mầm bệnh ramôi trường ngoài
Những đồng cỏ bãi chăn thường xuyên ẩm thấp, lầy lội còn là nơi cần thiết
để cercaria ra khỏi ký chủ trung gian để biến thành adolescaria mầm bệnh có đầy
đủ khả năng phát sinh bệnh Fasciola spp (Trịnh Văn Thịnh 1963) [22].
2.4 Chẩn đoán
2.4.1 Chẩn đoán dựa vào triệu chứng của bệnh
Trâu bò bị bệnh sán lá gan thường có các biểu hiện ở hai thể bệnh: cấp tính
và mãn tính
2.4.2 Chẩn đoán dựa vào dịch tễ học của bệnh
Điều kiện khí hậu nóng và ẩm ướt nước ta rất thích hợp cho sự phát triển củatrứng sán lá gan cũng như ốc - vật chủ trung gian của bệnh này
Với địa hình phức tạp: miền núi cao dốc tạo nhiều suối, ruộng bậc thang là
môi trường sống thích hợp cho loài ốc Limnaea visidis Còn ở vùng đồng bằng,
miền ven biển có nhiều ao hồ, sông nhỏ, chân ruộng bậc Có nước quanh năm là
Trang 18điều kiện sống thích hợp cho sự phát triển của loài ốc Limnaea swinhoei vật chủ
trung gian của sán lá gan trâu bò
Như vậy, căn cứ vào sự có mặt, sinh sôi và nảy nở của ốc nước ngọt Limnaea
mà đánh giá được khái quát về mặt dịch tễ học bệnh sán lá gan
Theo Phan Địch Lân (1978) [8]: Tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo các vùng là:Vùng biển: nhiễm 73,7% trâu dưới 3 tuổi; 22,5% trâu từ 3 - 5 tuổi và 31,68%trâu từ 5 - 8 tuổi và trâu trên 8 tuổi là 39,66%
Ở miền núi: Tỷ lệ nhiễm ở các tuổi tương ứng như trên là 14,7%; 44,99%,35,51% và 44%
Ở vùng trung du: Tỷ lệ nhiễm tương ứng: 16,4%, 32,77%, 4,4% và 50,32% Vùng đồng bằng: Tỷ lệ nhiễm tương ứng: 19,62%, 34,42%, 49,84%, 61,32%
2.4.3 Chẩn đoán bằng xét nghiệm phân
Xét nghiệm phân của súc vật bằng phương pháp gạn rửa nhiều lần (phương
pháp lắng cặn) phát hiện trứng Fasciola spp Phương pháp này dùng phổ biến nhưng chưa phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm Fasciola spp, nhất là những
súc vật nhiễm ít hoặc ở gian đoạn sán còn non
2.4.4 Chẩn đoán bằng kháng nguyên: Dùng phản ứng biến thái nội bì
Kháng nguyên chẩn đoán là toàn bộ cơ thể sán lá nghiền nhỏ, sấy khô pha vớinước sinh lý Độ loãng 1/200 1/300, tiêm 0,2 ml vào dưới tai hoặc khấu đuôi.Sau đó chỗ tiêm sưng lên, chung quanh đỏ, đường kính đo được khoảng 0,2 - 4 cmthì dương tính, ngược lại là âm tính (Trịnh Văn Thịnh, 1963) [22]
2.4.2 Chẩn đoán bằng mổ khám toàn diện
Phương pháp này được áp dụng với những gia súc chết
Mục đích phương pháp này là mổ khám để tìm Fasciola spp ở giai đoạn ấu
trùng và trưởng thành trong ống mật, xoang bụng và những nơi khác Phương pháp
này chính xác hơn cả (có độ chính xác cao) tìm được Fasciola spp cả giai đoạn ấu
trùng lẫn giai đoạn trưởng thành (Trịnh Văn Thịnh và cộng sự, 1963) [22], (PhạmVăn Khuê và Phan Lục, 1996) [6]
2.5 Một số thuốc sử dụng điều trị bệnh sán lá gan cho trâu bò
2.5.1 Fasciolid
Thành phần: trong 100ml thuốc có 25g Nitroxynil
Trang 19Liều dùng: 10mg/1kg P/SC hay 0,4ml/10kg P/SC Dùng một liều duy nhất, ởnhững nơi ô nhiễm nặng sau 3 tháng tiêm nhắc lại Khi tiêm thuốc đặc có thể chổtiêm sưng tấy hoặc phù nề Do đó nên pha loãng thuốc với nước cất để tiêm vàtiêm ngay sau khi pha, để thuốc nơi mát và tránh tuyệt đối ánh sáng mặt trời
Thuốc dùng với liều 4 mg/kg thể trọng, cho qua đường miệng
Cách dùng: cho qua đường miệng
Ưu điểm: Hiệu lực cao, ít ảnh hưởng tới cơ thể gia súc
2.6 Tình hình nhiễm sán lá gan ở người
Theo Nguyễn Phước Tương (2000): Bệnh sán lá gan trâu bò gây ra bởi loài
“sán lá gan lớn” Fasciola hepatica có mặt ở nhiều nơi trên thế giới tại các nước ôn
đới cũng như nhiệt đới và lây sang người: đó là bệnh sán lá gan ở người [37]
Người ăn phải các loại rau thuỷ sinh (loại rau mọc hoặc trồng dưới nước) nhưcải soong, rau cần, rau ngổ, rau đắng, rau muống ao, uống nước lã có ấu trùng sán
lá gan lớn là bị nhiễm bệnh [37]
Khi ăn phải ấu trùng sán lá gan lớn vào đường tiêu hoá, sau 1 giờ, ấu trùngthoát kén và xuyên qua thành ruột Sau 2 giờ xuất hiện trong ổ bụng, chúng tiếp tụcxuyên vào gan và đến gan vào ngày thứ 6 [37]
Trang 20Sau khi thoát kén, nếu vật chủ thích hợp, chúng tiếp tục di hành đến ký sinhtrong đường mật Thời gian từ khi nhiễm đến khi xuất hiện trứng trong phân tùythuộc vật chủ, ở cừu và trâu bò là 2 tháng (6-13 tuần), ở người là 3-4 tháng Thờigian này còn phụ thuộc số lượng sán (sán càng nhiều, thời gian trưởng thành càngdài) Tuổi thọ của sán lá gan lớn ở người từ 9-13 năm (PGS.TS Nguyễn Văn
Đề (Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung Ương).
Người là vật chủ chưa thích hợp nên nhiều trường hợp sán lá gan lớn nằmtrong nhu mô gan gây những ổ hoại tử lớn mà không đi vào đường mật để đẻtrứng Có trường hợp sán non còn di chuyển xuống đại tràng hoặc ra thành ngựchoặc đến tuyến vú hoặc chui ra khớp gối đã gặp ở Việt Nam
Ở người, bệnh sán lá gan do Fasciola hepatica trước tiên biểu hiện dưới một
dạng nhiễm bệnh - nhiễm độc trong giai đoạn xâm nhập (di hành của vĩ ấu trongnhu mô gan): suy nhược, các cơn đau thượng vị và vùng hạ sườn phải, sốt nhẹ kiểucảm cúm tiến triển với việc tăng bạch cầu của eosin Tiếp đó là giai đoạn toàn phátđồng thời với sự có mặt của sán lá trưởng thành trong các ống dẫn mật: viêm túimật mạn tính, cơn đau gan, kèm theo những hiện tượng tăng dị ứng đối với khángnguyên của ký sinh trùng (nổi mẩn, phù Quinke), những rối loạn đó có thể rất rõrệt (Nguyễn Phước Tương - Trịnh Văn Thịnh, 2000) [37]
Theo bác sĩ Đoàn Thị Hạnh Nguyên, Trưởng khoa khám bệnh-Viện
SR-KST-CT TƯ, tính từ ngày 1/1-25/8/2006, Viện đã tiếp nhận 202 trường hợp bệnh nhânnhiễm sán lá gan
So với các năm trước, số bệnh nhân nhiễm sán lá gan nhập viện ở Viện KST-CT TƯ đã tăng mạnh Năm 2003, Viện chỉ điều trị có 7 bệnh nhân Sang năm
SR-2004, Viện tiếp nhận 45 bệnh nhân sán lá gan Năm sau, 2005, 55 bệnh nhân sán lánhân đến Viện điều trị Và, cho đến quý 3 năm 2006, số bệnh nhân nhiễm sán lágan đã tăng gấp 4 lần so với cả năm trước [37]
Số liệu khảo sát của Viện SR-KST-CT TƯ vào tháng 8/2004, toàn quốc có27/64 tỉnh, thành có người bị nhiễm sán lá gan Tuy nhiên, đến nay, sau hai năm,theo TS Đặng Thị Cẩm Thạch, Trưởng Khoa Ký sinh trùng, Viện SR-KST-CT
TƯ, tính đến tháng 8/2006, toàn quốc đã có 45 tỉnh, thành bị nhiễm sán lá gan vớitổng số 1.465 người bị nhiễm (đến bệnh viện) [37]
Trang 21Hình 2.2: Bản đồ phân bố sán lá gan do Viện SR-KST-CT TƯ lập
Các địa phương bị nhiễm theo con số trên bản đồ là 1 Hà Giang, 2 Lào Cai,3.Yên Bái, 4 Tuyên Quang, 5 Sơn La, 6 Hòa Bình, 7 Bấc Giang, 8 Phú Thọ, 9