1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế

68 586 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 22,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nông nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu các nghành kinh tế của Việt nam. Trong những năm trở lại đây Chính Phủ đã ban hành nhiều chương trình, chính sách để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nổi bật nhất hiện nay là chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới và phát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nông dân luôn là 2 nhiệm vụ song hành. Nói cách khác, phát triển sản xuất vừa là động lực, vừa là mục tiêu trong xây dựng nông thôn mới. Một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy sản xuất là ứng dụng tiến bộ khoa học, trong đó hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng.Trình độ sản xuất trong nông nghiệp vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, trong khi đó với trình độ dân trí không đồng đều, người nông dân có một tâm lý chung là ngại thay đổi tập quán để tiếp cận với những kỹ thuật sản xuất mới, giống mới và phương pháp mới. Trong bối cảnh đó hệ thống thông tin kiến thức nông được xem là yếu tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn. Thông qua việc tiếp nhận các kiến thức thông tin nông nghiệp được cung cấp, trình độ sản xuất của người nông dân được tăng lên, giúp họ có khả năng tiếp cận với những cái mới, nắm vững và xử lý thông tin một cách khách quan, hệ thống để có những quyết định đúng đắn trong sản xuất kinh doanh và đời sống gia đình. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy hiệu quả sản xuất nông nghiệp vẫn còn thấp chưa tương xứng với các tiềm năng sẵn có, điều này là do người dân tiếp nhận thông tin chưa tốt và thông tin chưa đầy đủ và rời rạc 11. Quảng Phú là xã đồng bằng thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cũng giống như những xã khác trong huyện ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ yếu trong thu nhập của các hộ nông dân. Cây trồng phổ biến và mang lại hiệu quả cao cho người dân trên địa bàn bên cạnh cây lúa là mía. Tuy nhiên để đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng hóa thì việc tiếp cận với các nguồn thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển sản xuất của hộ nông dân là rất quan trọng. Vì vậy việc thực hiện đề tài: “Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” là rất cần thiết.

Trang 1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Nông nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu các nghành kinh

tế của Việt nam Trong những năm trở lại đây Chính Phủ đã ban hành nhiềuchương trình, chính sách để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nổi bật nhấthiện nay là chương trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới vàphát triển sản xuất, nâng cao đời sống của nông dân luôn là 2 nhiệm vụ songhành Nói cách khác, phát triển sản xuất vừa là động lực, vừa là mục tiêu trongxây dựng nông thôn mới Một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy sảnxuất là ứng dụng tiến bộ khoa học, trong đó hệ thống thông tin kiến thức nôngnghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng

Trình độ sản xuất trong nông nghiệp vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế,trong khi đó với trình độ dân trí không đồng đều, người nông dân có một tâm lýchung là ngại thay đổi tập quán để tiếp cận với những kỹ thuật sản xuất mới,giống mới và phương pháp mới Trong bối cảnh đó hệ thống thông tin kiến thứcnông được xem là yếu tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệpnông thôn Thông qua việc tiếp nhận các kiến thức thông tin nông nghiệp đượccung cấp, trình độ sản xuất của người nông dân được tăng lên, giúp họ có khảnăng tiếp cận với những cái mới, nắm vững và xử lý thông tin một cách kháchquan, hệ thống để có những quyết định đúng đắn trong sản xuất kinh doanh vàđời sống gia đình Tuy nhiên, thực trạng cho thấy hiệu quả sản xuất nông nghiệpvẫn còn thấp chưa tương xứng với các tiềm năng sẵn có, điều này là do ngườidân tiếp nhận thông tin chưa tốt và thông tin chưa đầy đủ và rời rạc [11]

Quảng Phú là xã đồng bằng thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa ThiênHuế cũng giống như những xã khác trong huyện ngành nông nghiệp vẫn đóngvai trò chủ yếu trong thu nhập của các hộ nông dân Cây trồng phổ biến và manglại hiệu quả cao cho người dân trên địa bàn bên cạnh cây lúa là mía Tuy nhiên

để đáp ứng được nhu cầu sản xuất hàng hóa thì việc tiếp cận với các nguồnthông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển sản xuất của hộ nông dân là rất

quan trọng Vì vậy việc thực hiện đề tài: “Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” là rất cần thiết.

Trang 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài gồm:

- Tìm hiểu thực trạng phát triển cây mía tại xã Quảng Phú

- Tìm hiểu các nguồn thông tin và liên kết giữa các kênh thông tin kiếnthức hỗ trợ phát triển cây mía của xã Quảng Phú

- Đánh giá hiệu quả hoạt động của các kênh thông tin trong hệ thốngthông tin kiến thức hỗ trợ phát triển cây mía ở địa bàn nghiên cứu

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về hệ thống

Trong các hoạt động của con người, các thuật ngữ như hệ thống triết học,

hệ thống pháp luật, hệ thống kinh tế, hệ thống thông tin đã trở nên quen thuộc

Hệ thống là khái niệm được xuất phát từ rất lâu trong tự nhiên như hệ mặt trời,

hệ ngân hà, trong sinh học cơ thể người cũng là một hệ thống, trong vật lý hệthống máy móc, trong hoạt động trao đổi như hệ thống thông tin Một cách tổngquát hệ thống là tập hợp các thành phần liên kết với nhau, thể hiện qua mộtphạm vi, xác định các hoạt động kết hợp với nhau nhằm đạt đến những mục đíchxác định [4, 7]

Một cách đơn giản và vắn tắt, ta có thể hiểu: Hệ thống là một tập hợp vậtchất và phi vật chất như người, máy móc, thông tin, dữ liệu, các phương pháp xử

lý, các qui tắc, quy trình xử lý, gọi là các phần tử của hệ thống Trong hệ thống, cácphần tử tương tác với nhau và cùng hoạt động để hướng tới mục đích chung [4, 7]

2.1.2 Khái niệm thông tin, nguồn thông tin, kênh tin và nguồn nhận thông tin

* Thông tin (Information)

Là những ý tưởng, những kiến thức, những sự kiện con người có thể hiểubiết về nó nhờ có sự trao đổi với nhau hoặc do con người nhận biết bằng cácgiác quan Thông tin là điều kiện tất yếu tạo thành tri thức của con người [3, 14]

Thông tin là phương tiện con người dùng để giao tiếp và phát triển cộngđồng Thông tin thúc đẩy sự phát triển xã hội, xã hội càng phát triển nhu cầuthông tin càng cao Việc tận dụng các nguồn thông tin sẳn có để áp dụng vào sảnxuất, vào đời sống giúp con người rút ngắn thời gian tìm hiểu, nghiên cứu vàthúc đẩy phát triển kinh tế nhanh hơn [3, 15]

Công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam đòihỏi tăng cường thông tin chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới đếnnông dân để nông dân áp dụng vào sản xuất nâng cao dân trí và đời sống

Tầm quan trọng của thông tin

Theo truyền thống, những bức thông điệp của Khuyến nông thường dựavào kinh nghiệm của nông dân hoặc những kết quả của công tác nghiên cứukhoa học nông nghiệp Ở nhiều nước, chính sách của nhà nước là rất quan trọng

Trang 4

đối với việc đưa ra các quyết định của nông dân, ví dụ những chính sách vềthuế, chính sách về giá cả

Mô hình của một quá trình truyền thông tin

Khái niệm thông tin thường đi kèm với khái niệm truyền thông tin Vì vậychúng ta thường khảo sát thông tin trong một hệ thống truyền tin hơn là trongcác trường hợp khác Trong một hệ thống truyền tin, mô hình tổng quát nhất baogồm ba thành phần sau: (1) nơi phát hay còn gọi là nguồn phát hay nguồn tin(source of information, information source) ; (2) môi trường truyền hay lưu trữcòn được gọi là kênh tin (transmission media, storagemedia, channel); và (3) nơinhận tin hay còn được gọi là nguồn nhận hay nguồn thu (destination, sink) [7]

Mô hình 1: Mô hình truyền tin cơ bản

(Nguồn: Hồ Văn Quân, năm 200)

* Nguồn thông tin

Là yếu tố khởi xướng việc thực hiện quá trình truyền thông tin, yếu tố đó

có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức Khi sử dụng thông tincần quan tâm đến độ tin cậy, sự tín nhiệm và tính chính xác, mới mẻ, hấp dẫncủa thông tin [3, 15]

Nguồn thông tin là những người hay những nơi tạo ra và truyền đi cácthông tin Quá trình chuyển giao một ý tưởng, một thông tin: Ý tưởng chuyểnthành một bức thông điệp tạo ra những yếu tố vật chất (từ ngữ, hình ảnh) vớimột ý nghĩa tượng trưng (ý tưởng được mã hoá thành những cái tượng trưng đểgán ý nghĩa của nó vào) Nguồn hay người chuyển giao gửi thông điệp nàythông qua kênh nào đó đến với người nhận Người nhận giải mã những thôngđiệp như vậy và tạo ra các ý tưởng trong đầu mình, nó có thể được sử dụng haykhông được sử dụng (hiệu ứng của thông tin) Nguồn sẽ quan sát hiệu ứng này

và sử dụng nó để đánh giá tác động của thông điệp [8, 63]

Quá trình này có thể được cụ thể thông qua mô hình 2:

Nguồn  mã hoá  thông điệp kênh người nhận giải mã hiệu ứng

Mô hình 2: Mô hình MCRE (Source, Masage, Channel, Receiver, Effect)

(Nguồn: AW.Van den ban và H.S.hawkin, 1999)

Trang 5

Người nông dân sử dụng nhiều nguồn khác nhau để thu thập thông tin vàkiến thức cho việc sản xuất của họ Những nguồn này bao gồm:

Ở những người nông dân khác

Những tổ chức Khuyến nông của nhà nước

Những tư nhân buôn bán vật tư, cung cấp tín dụng và thu mua nông sảnNhững công ty của nhà nước, văn phòng tiếp thị và nhà làm chính sáchNhững tổ chức của nông dân và các thành viên của nó

Các tạp chí nông nghiệp, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, và cácphương tiện thông tin đại chúng khác

Chỉ một ít nông dân có thể liên hệ trực tiếp với các nhà nghiên cứu, nhất

là ở các nước đang phát triển, nơi mà số nhà nghiên cứu tính trên số nông dâncòn ít, giao thông khó khăn và có một khoảng cách xã hội giữa họ Nghiên cứuchỉ thực sự có tác động đến sản xuất nông nghiệp khi có những người làm côngtác thông tin giữa các nhà nghiên cứu với nông dân Việc thông tin những vấn

đề, những kinh nghiệm và tình hình thực tế của nông dân cho các nhà nghiêncứu cũng là điều quan trọng để nắm được những kết quả nghiên cứu có thực sựthích hợp và quan trọng cho sự phát triển của nông nghiệp hay không Sự pháttriển của những kỹ thuật có ích trong một hoàn cảnh nào đó sẽ yêu cầu một sựtổng hợp những kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau Sự tổng hợp này thườngphó mặc cho nông dân, mặc dù các nhà nghiên cứu và Khuyến nông đóng mộtvai trò quan trọng trong quá trình đó Việc tổng hợp là một phần quan trọngtrong công việc của những người làm nghiên cứu hệ thống nông nghiệp (FSR),những người đang cố gắng kết hợp những thông tin trong nghiên cứu của cácchuyên ngành khác nhau với những thông tin về tiến triển thị trường và các chínhsách của nhà nước Những nhà nghiên cứu chuyên ngành thường không muốn cácthông tin của họ kết hợp với các thông tin từ những nguồn khác trước khi nó trởnên có giá trị đối với việc giúp đỡ nông dân đưa ra quyết định [7, 28 - 29]

* Nơi nhận tin

Là nơi tiếp nhận thông tin từ kênh truyền và cố gắng khôi phục lại thànhthông tin ban đầu như ở bên phát đã phát đi Tin đến được nơi nhận thườngkhông giống như tin ban đầu được phát vì có sự tác động của nhiễu lên nó trongquá trình truyền [4, 9]

Trang 6

2.1.3 Kiến thức

* Kiến thức của nông dân

Rất nhiều kiến thức nông nghiệp được phát triển từ những thí nghiệm đơngiản mà người nông dân thực hiện, ví dụ khi trồng một cây trồng mới ở địaphương họ, hoặc khi họ thay đổi lịch bón phân Họ cũng đã cố gắng điều chỉnhnhững khuyến cáo của Khuyến nông phù hợp với tình hình nông hộ của họ Cácnhà nghiên cứu và Khuyến nông có thể hợp tác với nhau bằng việc giúp chongười nông dân làm tốt các thí nghiệm này và bằng việc giúp họ rút ra nhữngkết luận chính xác từ những kết quả thu được Sự hợp tác này sẽ làm tăng chấtlượng của các thông tin và làm giảm đi xác suất nông dân từ chối làm theo mộtkhuyến cáo nào đó Họ cũng có thể học được ngay từ những thí nghiệm củamình rằng một quan điểm hay một kỹ thuật nào đó không có tác dụng vì họ đãmắc sai lầm trong khi thí nghiệm Những thí nghiệm do nông dân làm thườngnảy sinh các thông tin về sự cần thiết của lao động và tiền vốn của các mùa vụkhác nhau cho các kỹ thuật mới, và khả năng đáp ứng nhu cầu về nguồn lực này.Những thông tin như vậy là cực kỳ quan trọng cho việc phát triển các kỹ thuậtthích hợp [7, 31]

Những kiến thức có giá trị mà nông dân có được, hay còn gọi là nhữngkiến thức cổ truyền, thường bị các nhà nghiên cứu lãng quên, mặc dù nhữngthông tin đó có thể khá quan trọng cho những khuyến cáo của một vùng nào đó

và cũng rất quan trọng cho việc phát triển một hệ thống nông nghiệp bền vững

2.1.4 Khái niệm hệ thống thông tin và kiến thức nông nghiệp AKIS

2.1.4.1 Khái niệm

Hệ thống thông tin: Hệ thống thông tin (information system) là một hệ

thống mà mục tiêu tồn tại của nó là cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt độngcủa con người trong một tổ chức nào đó Ta có thể hiểu hệ thống thông tin là hệthống mà mối liên hệ giữa các thành phần của nó cũng như mối liên hệ giữa nóvới các hệ thống khác là sự trao đổi thông tin

Hệ thống thông tin và kiến thức nông nghiệp AKIS: Theo AW Van den ban

và H.S.hawkin (1999), Hệ thống thông tin và kiến thức nông nghiệp (AKIS) được

định nghĩa: “Các cá nhân, các mạng lưới hoạt động, các cơ quan và những mối tương tác, liên kết giữa họ thu hút hay quản lý việc nảy sinh, chuyển đổi, chuyển giao, lưu trữ, hồi phục, tổng hợp, truyền bá và sử dụng những kiến thức và thông tin, và cùng phối hợp hành động để cải thiện đáng kể sự phù hợp giữa kiến thức, môi trường và kỹ thuật được sử dụng trong nông nghiệp” [8, 27]

Trang 7

Bản chất của AKIS là sự kết hợp giữa ba hệ thống kiến thức, chúng đượcxem như là một phần của hệ thống kiến thức nông nghiệp tổng hợp (sơ đồ 3) [6].

Mô hình 3: Bản chất của AKIS

(Nguồn: Bunting (1986) and Röling (1987))

AKIS được mở rộng dựa trên cơ sở của các tổ chức bao gồm các tổ chứccung cấp nguồn kiến thức nông nghiệp và tất cả các bên liên quan trong việc sảnsinh và phổ biến kiến thức nông nghiệp Cơ sở của AKIS được dựa trên các kháiniệm về hệ thống kiến thức nông nghiệp AKIS được mong đợi có thể xúc tiến,đẩy mạnh mối liên kết giữa các tổ chức nông nghiệp trong một vùng và giữa cácvùng với nhau, đồng thời nó thúc đẩy mối liên kết giữa các khâu, mắt xích trong

hệ thống AKIS là một sự đổi mới phương pháp trong quá trình tiếp cận các tổchức xã hội Nó gắn kết các tổ chức, những người liên quan trong mối liên kếtnông nghiệp bao gồm những mối liên kết bà con thân thuộc và sự tương tác gữahọ; những nảy sinh trong quá trình hình thành, biến đổi, lưu trữ, phục hồi, tổnghợp, phổ biến và sử dụng thông tin và kiến thức [8]

2.1.4.2 Vai trò và sự phân tích AKIS

Quan điểm của AKIS là người nông dân sử dụng rất nhiều nguồn khácnhau để thu thập kiến thức và thông tin mà họ cần cho sản xuất nông nghiệp vàquản lý nông hộ của hộ Những kiến thức mới không chỉ do cơ quan khoa họctạo ra, mà còn do nhiều tác nhân khác tạo ra và phát triển lên Điều này rất cóích khi phân tích xem tất cả những nguồn này bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau nhưthế nào, hoặc giữa chúng có mâu thuẫn gì hay không Nông dân sử dụng nhữngnguồn nào để thu thập kiến thức và thông tin, và làm thế nào để những nguồn đó

có được thông tin và kiến thức ấy AKIS cũng phân tích những luồng thông tin

từ người dân này tới các người dân khác, tới các nhà nghiên cứu, người làmchính sách và các nhà doanh nghiệp khác

Nhà nghiên cứu

Nông dân Khuyến nông

Trang 8

* Sự phân tích AKIS

Phân tích AKIS cho một vùng hay một lĩnh vực nào đó của nông nghiệp

là rất quan trọng để phát hiện ra những lỗ hổng đang kìm hãm sự phát triển củanông nghiệp, cũng như những sự chồng chéo đang làm lãng phí nguồn lực và cóthể gây ra những mâu thuẫn không đáng có Phân tích AKIS có thể là tráchnhiệm của dịch vụ Khuyến nông Các tổ chức của nông dân cũng đóng một vaitrò có giá trị trong tiến trình này bằng việc làm rõ các thông tin cần thiết của cácthành viên và khuyến khích các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức Khuyến nông

và các tác nhân khác cung cấp những thông tin đó

Thông tin nông nghiệp có thể được kết hợp trong những sản phẩm kỹthuật như thuốc trừ sâu, máy móc hoặc hạt giống và những bước đệm cho việc

sử dụng chúng Những cái đó được Bennett (1990) gọi là những kỹ thuật.Những thông tin và kỹ năng khác thường không được kết hợp trong một sảnphẩm, như việc dự tính dự báo sâu bệnh, thời vụ làm cỏ hay thời vụ luân canhcây trồng, Những việc này gọi là những thao tác (kỹ thuật canh tác) Các công

ty thương mại có thể thu được lợi nhuận từ việc bán và cung cấp những thôngtin về công nghệ, nhưng những thông tin về kỹ thuật canh tác thì chỉ được cácdịch vụ Khuyến nông cung cấp với nguồn tài chính lấy từ thuế hoặc do nông dânđóng góp [7, 31 - 32]

Tiến hành phân tích AKIS như vậy trước khi bắt đầu một dự án mới là rấtcần thiết và cực kỳ quan trọng Tuy nhiên những nhà đầu tư cho các dự ánthường không tăng cường hệ thống đang có sẵn mà tìm cách phát triển một hệthống, một tổ chức mới, trùng lặp với các yếu tố của hệ thống này và có xuhướng thất bại hoàn toàn ngay sau khi hết nguồn đầu tư

* Vai trò của AKIS

Sự phân tích AKIS thường chỉ ra rằng vai trò truyền thống của các tổchức Khuyến nông là chuyển giao kỹ thuật được tạo ra ở các cơ quan nghiêncứu đến với nông dân Tuy nhiên ở hầu khắp các nước phát triển vai trò chínhcủa họ là học hỏi kinh nghiệm của các nông dân tiên tiến nhất để dạy lại chonhững nông dân khác cách cải thiện việc quản lý nông trại của họ Ngoài ra

sự phân tích AKIS còn chỉ ra rằng vai trò của các tổ chức Khuyến nông còn

có thể là để:

- Giúp nông dân thí nghiệm các kỹ thuật mới hay hệ thống canh tác mới

Trang 9

- Thu được những thông tin thích hợp từ các nguồn thông tin khác nhau.

- Đánh giá và giải thích những thông tin này trong các tình huống của họ

- Học hỏi những kinh ngiệm của họ

McDermott đã chỉ ra rằng sử dụng AKIS một cách khoa học và hiệu quảgiúp việc sử dụng thông tin một cách hiệu quả, tạo ra những kỹ thuật tốt nhấtcho một tình hình cụ thể nào đó thông qua việc tổng hợp thông tin từ các nhànghiên cứu, Khuyến nông và nông dân khác Tuy nhiên quá trình tổng hợp nàythường không được chú ý đúng mức AKIS giúp xóa mờ sự phân định giữa cácnhà nghiên cứu, Khuyến nông và nông dân vì họ đã tham gia vào một quá trìnhhọc hỏi để phát hiện ra những cách để cải tiến những hoạt động nông nghiệp.Trong tiến trình đó, mỗi nhóm đều có thể học hỏi được từ những người tham

dự kia [7, 33]

AKIS tạo ra một mạnh lưới thông tin gồm nhiều tác nhân khác nhau vàcần thiết, trong đó thông tin của mỗi nhóm đều có thể được tổng hợp lại Vai tròcủa mạng lưới hoạt động này có thể được thực hiện với những thông tin về kỹthuật sản xuất, cũng như đối với việc phát triển các mối quan hệ hiệu quả hơnvới thế giới bên ngoài, đặc biệt là thị trường

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Hệ thống thông tin và kiến thức nông nghiệp tại Việt Nam

Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về AKIS BộNông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với đại sứ quán Canadavừa tiến hành dự án Thông tin thị trường nông nghiệp Việt Nam (VAMIP).Theo VAMIP, có trên 80% hộ sản xuất bán hàng trực tiếp cho thương lái, dưới10% hộ tiêu thụ thông qua hợp tác xã, 8% hộ mang sản phẩm bán trực tiếp tạicác chợ địa phương Lý do là nông dân sản xuất tin tưởng vào thương lái hơncác thông tin từ ti vi, đài báo,… hầu hết hộ sản xuất các sản phẩm nông nghiệpđều ở nông thôn nên không được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin, nếu cónguồn thông tin nào đó thì cũng không có ích với họ [10]

Đa phần nông dân của chúng ta hiện vẫn đang canh tác theo cách thứctruyền thống, dù nhiều năm nay chúng ta đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹthuật trong canh tác nông nghiệp Tuy nhiên, hiệu quả của việc này vẫn chưaphát huy hết và đem lại lợi ích cho nông dân Lý do lớn nhất của việc này lànông dân đang bị thiếu thông tin Vì vậy, việc thiết lập hệ thống thông tin đếnvới nông thôn là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong bối cảnh này

Trang 10

Hệ thống thông tin nông nghiệp của Việt Nam chủ yếu được chuyển tảiqua các kênh truyền hình quốc gia và địa phương Tuy nhiên, thực tế thông tinvẫn còn dàn trải và không tập trung vào lợi ích thiết thực của nông dân ÔngBửu nhận xét, một ông chuyên gia nông nghiệp trên đài truyền hình không thểnói tất cả về mọi lĩnh vực trong nông nghiệp “Điều này vừa không chuyênnghiệp và thiếu thuyết phục Chưa kể một phần quan trọng mà nhà đài không để

ý đến là việc nông dân ba miền Bắc, Trung, Nam không thể nghe và hiểu đượccùng một giọng nói mà phát thanh viên chuyên về nông nghiệp nói…” Ngoài rathông tin cần phải đồng bộ, chuyên đề – nông thôn gắn với kinh tế thị trường

Hệ thống Khuyến nông Việt Nam ra đời từ năm 1993 vốn sớm có nhữngtrợ giúp thông tin cho sản xuất của người nông dân Tuy nhiên, cho tới nay, lựclượng làm công tác này vẫn còn quá mỏng so với nhu cầu

Theo ông Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện KHKT nông nghiệp miền Namthì một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả khuyến nông còn hạn chế là

do đầu tư còn thấp: “Đầu tư cho khuyến nông của mình một năm có nửa đô la

Mỹ một nông hộ thôi Trong khi đó, Thái Lan cách đây mười mấy năm họ đầu tư trên 40 đô la Mỹ trên một nông hộ” [9].

Những buổi khuyến nông mới chỉ dừng lại ở việc tổ chức các buổi tậphuấn tập trung, ngắn hạn và thông tin một chiều Thực tế là hàm lượng thông tinliên quan tới nông nghiệp – nông dân – nông thôn còn chưa nhiều Trong khikhả năng để nông dân có thể tiếp nhận tri thức và thay đổi thói quen sản xuất từcác chương trình này còn là một thách thức

Điều tra Xã hội học của Viện Lúa ĐBSCL tiến hành cho thấy: chỉ 10 –15% số nông dân theo dõi và làm theo các chương trình khuyến nông từ truyềnthông là thành công Trong khi đó, chưa kể việc truyền thông còn khiến nôngdân bị rối thông tin TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện KHKT nông nghiệp

miền Nam đưa ra một ví dụ: Một mặt rất là tích cực, đó là có những chương trình khuyến nông khuyên bà con nông dân là giảm bớt dùng hóa chất trên đồng ruộng nhưng mà sau chương trình khuyến nông đó rồi thì hàng loạt cái quảng cáo, không biết bao nhiêu cái quảng cáo tuyên truyền về thuốc về phân Thì nó rất là trái chiều với nhau.”[9].

Quyết định 119 tháng 1/2011 phê duyệt đề án phát triển thông tin, truyềnthông nông thôn giai đoạn 2011 – 2015 với tổng vốn đầu tư gần 25 nghìn tỷ đồngđặt ra mục tiêu tạo động lực cho phát triển nông nghiệp sẽ được tiếp cận thông tin

Trang 11

bằng nhiều nguồn đa dạng hơn nữa như hệ thống các điểm bưu điện – văn hóa xã,các điểm truy cập Internet cộng đồng, phát triển truyền thông đại chúng

Một thực tế đang diễn ra là lực lượng trực tiếp tham gia sản xuất trongnông nghiệp phần lớn đều lớn tuổi và đang có xu hướng già đi do dòng chuyển

cư thành thị kiếm việc làm của một bộ phận giới trẻ Theo thống kê, tuổi trung

vị ở khu vực nông thôn hiện nay là 27,4 và chỉ số già hóa là 34,8% Đó sẽ là trởngại với việc đưa nông dân tiếp cận với thông tin mới [12]

Nông dân thời hội nhập còn gặp khó khăn trong câu chuyện làm giàu từnhững tiềm lực vốn có Mà nguyên nhân là do sự hạn chế trong tiếp cận thôngtin, dẫn tới bị chậm chân so với nhu cầu thực tế, nhất là trong hội nhập quốc tế.Chiến lược thông tin về nông thôn tới đây cần phải tìm ra những cách làm mớimới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn Hiện nay cũng đã có nhiều môhình đưa thông tin về với người nông dân giúp họ tiếp cận được nhiều hơn vớithông tin về nông nghiệp điển hình như mô hình “cafe khuyến nông”, mô hìnhgiao tiếp truyền đạt qua thanh- thiếu niên do Nhật Bản tài trợ, chương trình

"Nông dân điện tử"…

Cà phê khuyến nông ở xã An Bình (Thoại Sơn, An Giang) mục đích thành

lập quán cà phê này nhằm chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung cấpthông tin về sản xuất nông nghiệp, giá cả thị trường nông sản, chủ trương chínhsách, pháp luật đến nông dân Sở dĩ chọn An Giang là tỉnh đầu tiên cả nước lậpquán "cà phê khuyến nông" vì An Giang là một trong những tỉnh sản xuất lúagạo đứng đầu khu vực ĐBSCL với diện tích trên 530.000ha, sản lượng3.200.000 tấn/năm Quán hội tụ nhiều nông dân với đủ cả trình độ Nhà nôngnên ai cũng thật lòng, có bao nhiêu kinh nghiệm cứ nói hết ruột gan Cũng có vàingười không biết chữ, nhiệt tình hỏi về kỹ thuật ghi trong các tờ bướm Thế lànhà nông xúm xít trả lời, ai biết thêm mớ nào chỉ thêm mớ đó Thành ra kẻ hỏi

có lợi mà người trả lời cũng có lời vì thu thập được các thông tin cần thiết khác.Quán có đủ loại sách báo về nông nghiệp với hơn hàng ngàn tờ bướm nói về kỹthuật trồng trọt [12]

Theo thống kê, 60% nông dân sản xuất giỏi ở địa phương này đều thamgia mô hình café khuyến nông Đến thời điểm này, Trung tâm khuyến nông AnGiang đã triển khai thí điểm trong tỉnh gần 20 quán “cà phê khuyến nông” “Càphê khuyến nông là địa điểm tập hợp những kinh nghiệm hay, cách làm mới vàsáng tạo của bà con nông dân” Trao đổi về việc thực hiện mô hình “cà phêkhuyến nông” trong thời gian tới, thạc sĩ Huỳnh Hiệp Thành, Giám đốc Trung

Trang 12

tâm Khuyến nông An Giang, cho biết sẽ kết hợp với chính quyền địa phươngcác huyện để từng bước nhân mô hình này trên toàn tỉnh [12].

Mô hình giao tiếp truyền đạt qua thanh- thiếu niên do Nhật Bản tài trợ:

Mô hình giao tiếp truyền đạt qua thanh- thiếu niên được Chính phủ NhậtBản hỗ trợ tại Việt Nam là mô hình đưa ra giải pháp khắc phục khó khăn chonhững người lớn tuổi làm nông nghiệp ở Việt Nam Cách làm mới của mô hình

là thanh thiếu niên ở địa phương sẽ được tham gia lớp học “Mô hình giao tiếptruyền đạt qua thanh- thiếu niên” được Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ tại ViệtNam Sau khi tham gia lớp học các thanh thiếu niên sẻ trở thành cầu nối giữacha mẹ - những nông dân trực tiếp sản xuất với các chuyên gia Sự nhanh nhạytrong tiếp cận với thông tin mới từ những người trẻ, vì thế mà được phát huy

Ở Nhật Bản, hơn 90% các vùng nông thôn có Internet Nông dân có thể

dễ dàng tiếp cận tin tức từ web, facebook, blog và ứng dụng vào thực tế Còn ởViệt Nam, mới chỉ có 5,4% số hộ ở nông thôn có máy tính và trong đó chỉkhoảng 15% nối mạng Internet Tuy nhiên, từ cách làm của các chuyên giaNhật Bản, điều có thể học hỏi là cách thu hút giới trẻ tham gia vào công việcnhà nông [12]

Nhằm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin kiến thức nôngnghiệp mà đặc biệt là thông tin về thị trường và giá cả nông sản cho mọi đốitượng mà tập trung chủ yếu vào nông dân, Trung tâm Tin học Bộ NN&PTNT đãtriển khai dự án xây dựng mạng lưới thông tin thị trường nông nghiệp, một trongnhững mục tiêu quan trọng của dự án là giúp hoạt động sản xuất gắn với thịtrường, hàng hóa làm ra phải phù hợp với tín hiệu của thị trường Điều này sẽnâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thếgiới, đồng thời mở rộng chủng loại hàng hóa xuất khẩu

Bước đầu tiên, dự án lựa đã chọn 3 tỉnh để thực hiện thí điểm trong năm

2004, gồm Vĩnh Long, ĐăkLăk và Lào Cai; sau đó, mở rộng phạm vi lên 10 tỉnhtrong năm 2005 và 20 tỉnh năm 2006 Những tỉnh này phải đảm bảo các tiêu chínhư: lãnh đạo địa phương phải hiểu được giá trị của thông tin thị trường và tíchcực ủng hộ; sẵn sàng xây dựng chương trình và đóng góp một phần tài chính,nhân lực và tạo thuận lợi cho việc thu thập, xử lý cũng như cung cấp, phổ biếnthông tin đến người dân [5]

Tuy nhiên, đã nảy sinh nhiều vướng mắc khi triển khai thực hiện thu thậpthông tin Đó là khả năng phân tích hạn chế nên dự báo thông tin về giá cả thị

Trang 13

chưa được tổng hợp, đánh giá, xử lý để có những dự báo chính xác, tránh thiệtthòi cho nông dân Mạng lưới cộng tác viên cung cấp thông tin còn mỏng [14].

Hệ thống đang rất thiếu những địa chỉ cung ứng về giống, đại lý thu mua, cơ sởchế biến Hay nông dân cũng đói thông tin về thời điểm thu hoạch của các loạinông sản trong nước cũng như nước ngoài để lựa chọn thời gian trồng, thu háithích hợp, tránh rớt giá Việc triển khai hệ thống thông tin nông nghiệp khôngđơn giản chỉ là cung cấp thông tin về giá cả hàng hóa, mà còn là kênh quantrọng giúp họ nâng cao hiểu biết kỹ thuật, từ đó sản xuất sản phẩm có giá thành

hạ, cạnh tranh Không những thế, đây còn là một trong những điều kiện thuậnlợi để thực hiện xúc tiến thương mại [2]

Trang 14

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng của nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu này bao gồm:

- Các hộ nông dân tham gia trồng mía tại xã Quảng Phú

- Cán bộ xã, cán bộ huyện, người am hiểu

- Các ban ngành quản lý, hiệp hội có liên quan đến việc cung cấp thôngtin kiến thức nông nghiệp liên quan đến cây mía

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh ThừaThiên Huế

- Phạm vi thời gian: Tìm hiểu thông tin từ tháng 9/1/2012 đến tháng 12/5/ 2012

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Tìm hiểu thực trạng phát triển cây mía tại xã Quảng Phú

- Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

+ Điều kiện tự nhiên

+ Điều kiện kinh tế - xã hội

+ Khó khăn thuận lợi của xã

- Tình hình sản xuất mía của địa phương và nhóm hộ điều tra

+ Tình hình sản xuất mía của địa phương

+ Tình hình sản xuất mía của huyện

+ Tình hình sản xuất mía của xã

+ Cơ cấu cây trồng của xã qua các năm

+ Tình hình sản xuất mía của các hộ điều tra

+ Tình hình chung của hộ

+ Cơ cấu thu nhập của hộ

+ Tình hình sản xuất mía của hộ

3.3.2 Tìm hiểu các nguồn thông tin và liên kết giữa các kênh thông tin kiến thức hỗ trợ phát triển cây mía của xã Quảng Phú

- Hệ thống thông tin kiến thức trên địa bàn nghiên cứu

+ Các cơ quan, tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

ở địa phương (ở ba thôn khảo sát)

+ Mô tả nguồn thông tin nông nghiệp cho sản xuất mía mà người dân tiếpcận được

Trang 15

+ Đánh giá nhu cầu thông tin, hiệu quả thông tin

+ Kênh thông tin và các phương pháp truyền thông thông tin

+ Mối liên kết giữa các nguồn thông tin

 Các mối liên kết

 Mức độ liên kết

3.3.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động của các kênh thông tin trong hệ thống thông tin kiến thức hỗ trợ phát triển cây mía ở địa bàn nghiên cứu

- Hiệu quả của các kênh thông tin

+ Chia sẻ thông tin

+ Những vấn đề của dòng thông tin

+ Thuận lợi – khó khăn của hộ trong quá trình tiếp nhận thông tin

- Những giải pháp mà chính quyền địa phương và người dân đưa ra cho

việc phát triển AKIS tại địa phương

+ Giải pháp do chính quyền đưa ra

+ Giải pháp do người dân đưa ra

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu

- Chọn điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại xã Quảng Phú –Quảng Điền – TT Huế

- Chọn mẫu nghiên cứu: Hộ điều tra được chọn ngẫu nhiên có phân loại

60 được chọn phỏng vấn gồm 20 hộ nghèo, 20 hộ cận nghèo và 20 hộ trênnghèo có tham gia sản xuất mía sản, dựa theo danh sách hộ trồng mía của xã vàthôn

3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập thông tin thứ cấp

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã

- Các báo cáo của huyện, xã và thôn,các tài liệu sách, báo, internet

* Thu thập thông tin sơ cấp:

Trang 16

Thực trạng cung cấp các thông tin, nguồn thông tin, các loại thông tinkiến thức nông nghiệp liên quan đến hoạt động trồng mía trên địa bàn xã.

- Phỏng vấn hộ:

+ Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phiếu khảo sát với bảng hỏi bán cấutrúc để phỏng vấn 60 hộ dân, kết hợp quan sát thực tế

3.4.3 Phương pháp phân tích xử lý số liệu

- Thống kê, mô tả để phân tích các thông tin bằng định lượng

- Sử dụng phương pháp so sánh/kết quả qua từng thời kì

- Phân tích định tính: Nghe, nhìn, dự đoán, dựa vào các báo cáo đã thuthập từ số liệu thứ cấp, số liệu ghi chép ở hiện trường

- Số liệu thu thập được xử lý bằng cách phân tích định tính và phần mềmExcel, SPSS

Trang 17

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đặc Điểm Của Địa Bàn Nghiên Cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Theo báo cáo kinh tế xã hội xã Quảng Phú năm 2011, Quảng Phú là xãđồng bằng thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh TT Huế Diện tích tự nhiên: 1.190 ha,ranh giới hành chính được xác định như sau:

Bản đồ xã Quãng Phú

(Nguồn: www.3.thuathienhue.org.vn)

+ Phía Bắc giáp xã Quảng Vinh

+ Phía Tây giáp huyện Phong Điền

+ Phía Đông giáp xã Quảng Thọ

+ Phía Nam giáp huyện Hương Trà

Toàn xã có 13 thôn: Phú Lễ, Hà Cảng, Hạ Lang, Vạn Hạ Lang, Bao La 1,Bao La 2, Bác Vọng Đông, Bác Vọng Tây, Xuân Tùy, Nghĩa Lộ, Đức Nhuận,Nam Phù, Nho lâm Thôn Vạn Hạ Lang sinh sống chủ yếu bằng ngư nghiệp vàkhai thác cát sạn Dân số giữa các thôn không đồng đều có 02 thôn dân số trên

Trang 18

2.500 khẩu, có 06 thôn dân số từ 700-1.100 khẩu còn lại 06 thôn dân số từ 150đến dưới 600 khẩu.

b Đặc điểm địa hình, khí hậu

+ Về địa hình: Quảng Phú là xã có địa hình tương đối thấp và bằng

phẳng, nhìn chung có thuận lợi cho việc canh tác, sản xuất lúa nước và cây côngnghiệp ngắn ngày Tuy nhiên hàng năm có một số vùng thấp thường xuyên phảichịu ngập úng vào mùa mưa, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nôngnghiệp, xói lỡ làm hư hỏng một số tuyến đường giao thông, nhất là ở khu vựcHTX Phú Hòa

+ Về khí hậu: Quảng Phú nằm trong vùng đồng bằng ven biển miền

Trung nên thời tiết tương đối khắc nghiệt, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt:Mùa khô nắng nóng bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 9đến tháng 02 năm sau

+ Nhiệt độ: Mùa mưa chịu ảnh hưởng của các đợt gió mùa Đông bắc, trời

nhiều mưa và lạnh kèm theo các đợt lụt Mùa nắng chịu ảnh hưởng của gió Làokhô và oi bức do vậy đã tác động không nhỏ vào thời vụ sản xuất lúa

+ Mật độ nắng bình quân trên địa bàn xã Quảng Phú khoảng 1.952giờ/năm Tuy nhiên có sự chênh lệch giữa hai mùa khoảng 100 - 120 giờ chiếusáng Số giờ chiếu sáng bình quân mùa nắng cao hơn mùa mưa từ 3-4 giờ

+ Lượng mưa trung bình trên địa bàn xã hàng năm khoảng 2.955 mm,năm cao nhất lên tới 4.927mm, năm thấp nhất khoảng 1.850 mm Số ngày mưabình quân/năm khoảng 160 ngày, chiếm 43% số ngày trong năm Mưa tập trungnhiều vào đầu tháng 9 đến tháng 12 hàng năm và thường xảy ra lũ lụt do lượngmưa những tháng này thường chiếm từ 70-75% lượng mưa của cả năm

c Đất đai, thổ nhưỡng

Xã Quảng Phú là xã thuộc vùng thứ 3 của huyện Quảng Điền, vùng cóđất đai màu mỡ, bằng phẳng, là một trong những vùng trọng điểm lúa củahuyện Là vùng đồng bằng ven sông, thành phần cơ giới chủ yếu cát pha, đấtthịt nhẹ và đất thịt trung bình vì vậy nó rất thích ứng với nhiều loại cây trồngkhác nhau như lúa, lạc, mía, nưa, khoai, sắn, ngô Và tạo cho xã một lợi thế

so sánh về mía

Trang 19

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã qua các năm 2009 - 2011

Chỉ tiêu

SL

Cơ cấu (%)

SL

Cơ cấu (%)

SL

Cơ cấu (%) Tổng diện tích

100

51,9074,8222,551,750,8832,3614,271,4715,8120,0664,13

1190

606,95459,91130,7610,785,5386,06175,5417,452,763,511,19

100

50,9975,7721,541,780,9132,7914,751,4715,8120,0664,13

1190

595,92453,09126,5510,785,5389,88186,7517,452,763,511,19

100

50,0776,0321,241,810,9232,7615,701,4715,8120,0664,13

(Nguồn: UBND xã Quảng Phú, 2012)

Qua bảng 2 ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên qua 3 năm là không đổi với

1190 ha Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm dần, đấtchuyên dùng, đất thổ cư ngày càng tăng Đây cũng là xu hướng phổ biến ở cácvùng nông thôn khi mà dân số ngày càng tăng

Năm 2009, tổng diện tích sử dụng vào sản xuất nông nghiệp là 595,92 ha chiếm50,07% diện tích đất tự nhiên, diện tích này vào năm 2008 là 606,95 ha và năm

2007 là 617,58 ha Trung bình mỗi năm diện tích đất nông nghiệp giảm 0,9 ha,chủ yếu là giảm về diện tích trồng lúa, hoa màu và cây hàng năm

Qua bảng số liệu ta thấy sự tăng lên của đất thổ cư Với tốc độ tăng dân sốcủa xã qua các năm làm cho diện tích đất thổ cư tăng lên một cách đáng kể.Vào năm 2009, diện tích đất thổ cư là 169,86 ha chiếm 14,27% diện tích đất

tự nhiên, năm 2010 diện tích này là 175,54 ha chiếm 14,75% và đến năm

2011 thì diện tích này tăng lên là 186,75 ha chiếm 15,7% Như vậy, từ năm

2009 đến 2011 diện tích đất thổ cư đã tăng 16,89 ha Xã hội ngày càng pháttriển, dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu sử dụng đất đai của con người đểlàm nhà, đất cho các công trình, đất sản xuất kinh doanh, phi nông nghiệp

Trang 20

ngày càng gia tăng Do đó, diện tích đất nông nghiệp một phần cũng bị thu hẹp,một phần lấy từ quỹ đất chưa sử dụng của địa phương.

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Lao động phi nông nghiệp Lao động 2862 42,2

5 Các chỉ tiêu bình quân

* Nhân khẩu/lao động Lao động 1,83

(Nguồn: Số liệu của UBND xã Quảng Phú, 2012)

Qua bảng cho thấy năm 2011 dân số xã Quảng Phú là 12.415 người với

2725 hộ Quy mô gia đình bình quân trên xã khá lớn với gần 5 khẩu trong mỗigia đình Quảng Phú có thế mạnh là một xã ven đô, nếp sống người dân có đặcthù Hạ tầng cơ sở tương đối đồng bộ, phát triển nhiều ngành nghề trong nôngthôn, các loại hình dịch vụ phát triển nhờ vậy nên tỷ lệ lao động tham gia vàonông nghiệp so với lao động phi nông nghiệp chênh lệch không quá lớn Năm

2011 toàn xã có 6782 lao động thì có khoảng 3920 lao động nông nghiệp chiếm57.8% Tỷ lệ này có xu hướng giảm dần chuyển sang các nghành nghề phụ cóthu nhập cao hơn Đặc điểm lao động của địa phương tương đối trẻ, lực lượngnày phần lớn có trình độ và có khoảng 50% đã qua đào tạo nghề Tuy nhiên, đa

số lực lượng này đã đi làm ăn ở ngoại tỉnh, số lao động trẻ trong nông nghiệpcòn lại rất ít

Nếu so sánh giữa nhân khẩu và lao động thì bình quân nhân khẩu trên laođộng là 1,83 người và bình quân lao động trên hộ là 2,5 người Tỷ lệ này cũngkhá cao gây khó khăn trong việc trích lũy đầu tư sản xuất Đây là gánh nặng chonhững lao động phải bởi tỷ lệ người phụ thuộc trong gia đình cao

Trang 21

b Cơ sở hạ tầng

- Giao thông

Xã Quảng Phú có cả hệ thống giao thông đường thủy lẫn giao thông đường

bộ Giao thông đường thủy được hình thành do sự ngăn cách giữa con sông Bồvới thị trấn Tứ Hạ Giao thông đường bộ gồm có: Tuyến đường tỉnh lộ 11A chạyqua với chiều dài khoảng 2,2 km nối xã Quảng Phú với thị trấn Sịa và quốc lộ 1A.Tuyến đường liên xã dài 7 km, rộng là 19,5 m chạy dọc nối các thôn trong xã.Ngoài ra xã còn có hệ thống đường liên thôn chằng chịt đã được bê tông hóa gần100% Với hiện trạng giao thông như thế này sẽ tạo điều kiện cho người dân xãphát huy lợi thế của mình trong sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Điện và thủy lợi

Về hệ thống điện: Hiện nay, toàn xã có 24 tuyến, 12 trạm biến áp với tổngcông suất 780 KVA Hệ thống dây điện hạ thế 14,4 km; trong đó có 13,2 km đạtchuẩn còn 1,2 km dự án Điện REII đã nghiệm thu đưa vào sử dụng Hiện naythực hiện chủ trương chung HTX dịch vụ tiêu thụ điện đang tiến hành bàn giaocho Công ty điện lực quản lý và tiếp tục nâng cấp đảm bảo đúng chuẩn theo quyđịnh Số hộ dùng điện trên địa bàn toàn xã đạt 100%, hệ thống điện luôn đượcđầu tư nâng cấp, sữa chữa đảm bảo phục vụ nhu cầu về điện của nhân dân cảđiện sinh hoạt, sản xuất và phát triển dịch vụ

Về thủy lợi: Toàn xã có 13 trạm bơm cơ bản đáp ứng được nhu cầu sảnxuất, tổng chiều dài hệ thống kênh mương, thủy lợi của xã là 50,952 km.Trong đó số km kênh mương do xã quản lý là 19,9 km, số km được đầu tưxây dựng kiên cố từ nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước và nhân dân đóng góp là16,6 km còn lại 3 km cần được kiên cố hoá đồng thời cần xây dựng thêm một

số tuyến kênh mương phục vụ cho cây màu Nhìn chung, nhờ có lợi thế củasông Bồ nên xã đảm bảo, chủ động nhu cầu về tưới tiêu, phục vụ sản xuất,trên địa bàn xã không có các hồ đập cấp nước

- Thông tin liên lạc

Xã có 01 điểm Bưu điện văn hoá được bố trí nơi thuận lợi để phục vụnhân dân, bên cạnh đó hệ thống máy điện thoại bàn của nhân dân tương đốinhiều, bình quân khoảng 12 máy/100 dân và Mạng Internet đã được nối vềđịa bàn xã ở các thôn thuộc HTX Phú Thuận nhằm phục vụ cho nhu cầu nắmbắt, cập nhật thông tin của nhân dân Điều này góp phần giúp người dân trong

xã tiếp cận được với thông tin khoa học kỹ thuật và những chính sách chủtrương của nhà nước một cách kịp thời

Trang 22

c Cơ cấu kinh tế

Xã Quảng Phú là một xã nông nghiệp kiêm nghành nghề, dịch vụ Tổnggiá trị sản xuất của xã năm 2011 là 220.874,25 triệu đồng, trong đó thu nhập từnông nghiệp là 80.882,1 triệu đồng chiếm khoảng 36,62% Năm 2011 giá trị sảnxuất của ngành chăn nuôi 24.083,6 triệu đồng chiếm 29,77% giá trị nông nghiệp

và giá trị nuôi trồng thủy sản là 930 triệu đồng chiếm 1,16% giá trị sản xuấtnông nghiệp Tổng giá trị ngành tiểu thủ công nghiêp - xây dựng ước đạt 84,990triệu đồng chiếm 38,48%

Về ngành nghề - dịch vụ: nhiều ngành nghề, dịch vụ phát triển đáp ứng nhucầu đời sống và phát triển sản xuất trên địa bàn Nhiều mô hình sản xuất trên địa bànđang mang lại hiệu quả kinh tế cao như khai thác cát, chằm nón, đúc bờ lô

Bảng 4.3: Cơ cấu giá trị sản xuất của xã năm 201

Chỉ tiêu Giá trị (triệu đồng) Cơ cấu (%)

(Nguồn: Số liệu của UBND xã Quảng Phú,2012)

4.1.3 Một số thuận lợi và khó khăn của xã trong phát triển kinh tế xã hội

Một số thuận lợi và khó khăn chính của vùng nghiên cứu:

+ Thuận lợi

Quảng Phú là xã thuộc vùng thứ 3 của huyện Quảng Điền có nhiều điềukiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Với vị trí địa lý nằm ven sông Bồ đấtđai màu mỡ, hàng năm được bồi đắp một lượng phù sa rất lớn, thành phần cơgiới của đất chủ yếu là đất cát pha và đất thịt nhẹ Đây là một điều kiện thuận lợitrong việc nâng cao năng suất cây trồng Ngoài ra do xã thực hiện thành côngcông tác dồn điền đổi thửa năm 2003 và quy hoạch đất đai thuộc chương trìnhnông thôn mới đầu năm 2011 nên xóa được trình trạng đất manh mún Đất đai

Trang 23

tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đầu tư thâm canh nâng cao năngsuất, tiết kiệm chi phí đầu vào.

Về điều kiện tưới tiêu như đã nói ở trên, lợi thế của xã là có dòng sông Bồchảy qua với lưu lượng nước rất lớn đảm bảo cung cấp nước đầy đủ cho tất cảdiện tích gieo trồng của xã Đồng thời, để xây dựng nông thôn mới những nămgần đây xã đã kiên cố hóa hệ thống kênh mương, trạm bơm góp phần đáp ứngnước chủ động cho cây mía góp phần nâng cao năng suất

Bên cạnh đó, trên địa bàn xã có rất nhiều các dịch vụ nông nghiệp như:phân bón, bảo vệ thực vật, tưới tiêu, làm đất do HTX cung cấp Do vậy, ngườisản xuất có những yếu tố đầu vào đầy đủ và đúng thời điểm, phát hiện và phòngngừa sâu bệnh phá hoại kịp thời Hơn thế nữa những năm gần đây huyện, tỉnh đã

có một số chương trình, chính sách trong việc xây dựng các mô hình sản xuất cóhiệu quả, các chính sách ưu đãi đến với người dân

+ Khó khăn

Trước hết đây là vùng có địa hình thấp trũng thường xuyên xảy ra ngậpúng vào mùa mưa lũ gây thiệt hại lớn trong sản xuất nông nghiệp, gây khó khăntrong việc bố trí thời vụ cây trồng Thời tiết ảnh hưởng rất lớn không chỉ gâydịch bệnh mà còn ảnh hưởng đến thu hoạch mía Mía thường thu hoạch vào cuốimùa đông, nếu đông kéo dài mía sẽ không bán được làm ảnh hưởng chất lượngmía và thời gian gieo trồng vụ sau

Tình hình sâu bệnh thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến sản xuất Ởmía các loại sâu đục thân, đục gốc thường xuyên diễn ra trên diện rộng rất khóphát hiện và phòng trừ Điều này đòi hỏi sự quan tâm chăm sóc của bà con nôngdân và quá trình nghiên cứu của các nhà kỹ thuật để tìm ra biện pháp giải quyếtkịp thời

Cơ sở hạ tầng mặc dù được đầu tư xây dựng nhưng vẫn chưa đáp ứngđược nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội, lưu thông, trao đổi hàng hoá của địaphương

Điều kiện kinh tế của nhân dân không đồng đều, địa bàn rộng, ý thức củamột bộ phận người dân trong việc chấp hành, thực hiện một số nhiệm vụ của địaphương còn hạn chế Vấn đề giá cả không ổn định, tình hình thời tiết, thiên tai,dịch bệnh phức tạp đã làm ảnh hưởng đến việc đầu tư phát triển kinh tế của nhândân trong xã

Dân số ngày càng tăng trong khi quỹ đất nông nghiệp không tăng làm chotình trạng thiếu đất canh tác ngày một nhiều

Trang 24

Mặc dù nguồn lực lao động nhiều nhưng số đông đã đi làm ăn xa, tỷ lệ laođộng có trình độ và đã qua đào tạo còn thấp.

Tuy nhiên, những khó khăn này chỉ là tạm thời Việc xây dựng nông thônmới đang tạo đà và là nền móng cho Quảng phú phát triển phù hợp với tiềm năng

và thế mạnh vốn có của xã

4.2 Tình hình sản xuất mía của địa phương và nhóm hộ điều tra

4.2.1 Tình hình sản xuất mía của địa phương

4.2.1.1 Tình hình sản xuất mía của huyện

Quảng Điền là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh TT Huế, là vùng trũngthấp của tỉnh, đất đai bằng phẳng, màu mỡ Địa hình được chia làm 3 vùng rõrệt: vùng 1 bị tách khỏi huyện bởi phá tam Giang, vùng 2 chủ yếu là đồi đất cát(80%), vùng 3 là vùng có đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho phát triển nôngnghiệp đặc biệt là cây lúa và cây công nghiệp ngắn ngày Trọng điểm của vùng

là trồng lúa, ngoài ra lạc và mía cũng đóng một vai trò khá quan trọng góp phầnxóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập của người dân

Theo số liệu thống kê của huyện Quảng Điền, diện tích mía của huyệnhầu như không giảm qua các năm (bảng 4.4) Diện tích mía năm 2011 là 51 hakhông thay đổi so với năm 2010 và tăng 24,3% so với năm 2009 Diện tích trồngmía tập trung ở 3 vùng chính là thị trấn Sịa, xã Quảng Vinh và Quảng Phú với98,43% diện tích toàn huyện Trong đó xã có quy mô lớn nhất về diện tích là xãQuảng Phú – có thể xem đây là vùng trọng điểm về trồng mía của huyện Các xãcòn lại những năm trước cũng có trồng mía Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây

do trồng không có hiệu quả nên đã chuyển đổi sang trồng các loại cây côngnghiệp ngắn ngày khác

Xét về năng suất, sản lượng năm 2011: năng suất mía toàn huyện là 400tạ/ha, sản lượng toàn huyện đạt được là 2040 tấn Hầu hết các xã trồng mía trongnăm 2011 đều đạt chung một mức năng suất là 400 tạ/ha Tuy nhiên, về sảnlượng thì có sự chênh lệch theo diện tích trồng ít hay trồng nhiều Riêng QuảngPhú là vùng đã phát triển trồng mía lâu đời, đồng thời điều kiện đất đai rất phùhợp cho mía sinh trưởng, phát triển, điều kiện tưới tiêu chủ động do đó sảnlượng cao nhất huyện đạt 1828 tấn chiếm 89,6%

Trang 25

Bảng 4.4: Tình hình sản xuất mía của huyện Quảng Điền trong các năm 2009 - 2011

10015,5402,8580,31

51,00,10.82,547,6

1000,1961,574,993,33

51,020,82.545.7

1003.921,574,989,6

II Năng suất( tạ/ha)

10033,33033,3333,33

420,0420,0420,0420,0420,0

10025252525

400400400400400

10025252525

10013,84020,7665,40

1621,24,233,6105,01478,4

1000,262,0736.4891,2

204080321001828

1003,921,564.989,6

(Nguồn: Chi cục thống kê huyện Quảng Điền, 2012)

Trang 26

4.2.1.2 Tình hình sản xuất mía của xã Quảng Phú

Quảng Phú là một xã thuần nông có kinh nghiệm lâu đời trong sản xuấtmía Cây mía được người dân trồng như là một đối tượng cây trồng chính từnhững năm 70 của thế kỷ XX Trước năm 1975, người dân xã Quảng Phú đãphát triển sản xuất cây mía Mừng (thuộc nhóm mía ăn) nhưng hiệu quả khôngcao, không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Do đó, người dân chuyểnsang trồng sản xuất giống mía Mỹ Lợi – là loại mía ăn có chiều cao khoảng 2 –2,5m, thân to, vỏ cứng, có màu xanh nhạt và nhiều phấn trắng bao quanh, có vịngọt ít Loại mía này tồn tại đến khoảng năm 2002 thì bị thay thế hoàn toàn bằngloại mía ăn khác có chất lượng và hiệu quả cao hơn – mía Tím còn được gọi làmía Cẩm Tân Cây mía ngày càng chiếm ưu thế trong cơ cấu cây trồng của hộ

do đặc tính của nó là thịt mền, nhiều nước, có vị ngọt rất thanh, đặc biệt giá trịkinh tế trên mỗi đơn vị diện tích là rất lớn Diện tích trồng mía Cẩm Tân của xã

có hướng tăng lên qua các năm Năm 2009 diện tích trồng mía là 31,5 ha đếnnăm 2010 tăng lên 47,6 ha và đến năm 2011 có xu hướng giảm diện tích nhưngkhông đáng kể, diện tích toàn xã năm 2011 còn 45,7 ha Với sự biến động vềdiện tích sản xuất như vậy thì năng suất và sản lượng cũng có những biến độngtheo Năm 2009 năng suất toàn xã là 400 tạ/ha, sản lượng đạt 1512 tấn Năm

2010 diện tích sản xuất mía tăng lên nên năng suất và sản lượng cũng tăng lên,năng suất đạt 420 tạ/ha, sản lượng 1478,4 tấn Năm 2011 năng suất đạt 400 tạ/hasản lượng đạt 1828 tấn (hình 4.1)

Hình 4.1: Tình hình sản xuất mía của xã năm 2009,2010, 2011

(Nguồn: UBND xã Quảng Phú, 2012)

Trang 27

4.2.1.3 Cơ cấu cây trồng của xã qua các năm

Bảng 4.5: Cơ cấu cây trồng của xã năm 2011

Loại cây trồng Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Rau màu và cây trồng khác 45

(Nguồn: UBND xã Quảng Phú, 2012)

Theo số liệu của UBND xã Quảng Phú cơ cấu cây trồng tại xã bao gồmnhững loại cây: lúa, sắn, lạc, mía, rau màu và các loại cây trồng khác (kê, ngô,khoai) Trong đó, cây trồng chiếm diện tích lớn nhất là lúa với 800 ha Vì QuảngPhú là xã thuộc vùng đồng bằng hàng năm có sông Bồ bồi đắp một lượng lớnphù sa nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất lúa Cây trồng chiếm diện tíchlớn thứ hai phải kể đến là lạc với diện tích là 208,9 ha, diện tích này bao gồm cảdiện tích trồng đơn canh và xen canh với mía, sắn, ngô Sỡ dĩ, diện tích gieotrồng lạc chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu cây trồng của xã là do lạc có khảnăng thích ứng cao, có thể trồng dưới hình thức luân canh, xen canh mang lạihiệu quả kinh tế cao Mía là cây trồng có hiệu quả kinh tế khá cao tuy nhiên chỉđứng thứ tư về diện tích gieo trồng sau sắn với 45,7 ha Điều này được lý giải vìtrồng mía đòi hỏi phải chủ động trong việc tưới tiêu, đất phải có các chỉ tiêudinh dưỡng thích hợp nên toàn xã chỉ có 3 thôn có thể trồng mía được là thôn HạLang, Hà Cảng và Phú Lễ

4.2.2 Tình hình sản xuất mía của các hộ điều tra

4.2.2.1 Một số đặc điểm chính của hộ điều tra

Kết quả điều tra về tình hình chung của các hộ khảo sát được tổng hợpqua bảng 4.6 Qua bảng số liệu ta thấy, tuổi trung bình của chủ hộ thuộc ba loại

hộ khảo sát không chênh lệch nhiều, giao động từ 51 - 57 tuổi Sự khác biệt rõnhất giữa nhóm hộ nghèo, cận nghèo và trên nghèo là trình độ học vấn của chủ

hộ Dựa vào số liệu ta thấy nhóm hộ nghèo là những hộ có trình độ học vấn thấpnhấp trung bình là 3,95; nhóm hộ cận nghèo là 5,2 còn nhóm hộ trên nghèo là6,2 Điều này cho thấy giữa nhóm hộ nghèo và trên nghèo có khoảng cách vềtrình độ học vấn khá lớn, còn nhóm hộ cận nghèo và trên nghèo khoảng cách vềtrình độ học vấn là không đáng kể

Trang 28

Bảng 4.6: Một số đặc điểm chính của hộ điều tra

Chỉ tiêu Nghèo Loại hộ (mean) Cận nghèo Trên nghèo

Khẩu/hộ 4,00 ± 0,918 4,35 ± 0,671 4,55 ± 0,945Lao động/hộ 2,75 ± 0,716 3,00 ± 1 3,65 ± 0,988

Về nguồn lực đất đai giữa 2 nhóm hộ nghèo và cận nghèo không có sựchênh lệch nhiều nhưng giữa 2 nhóm hộ này với hộ trên nghèo thì chênh lệchkhá lớn Bình quân diện tích trồng lúa của nhóm hộ nghèo là 3,15 sào/hộ, nhóm

hộ cận nghèo là 3,55 sào/hộ trong khi đó nhóm hộ trên nghèo là 5,1 sào/hộ Diệntích trồng sắn của hộ nghèo là 1,06 sào/hộ, hộ cận nghèo là 1,33 sào/hộ và hộtrên nghèo là 1,53 sào/hộ Tương tự về diện tích trồng mía của nhóm hộ nghèo

là 2,45 sào/hộ của nhóm hộ cận nghèo là 2,9 sào/hộ còn nhóm hộ trên nghèo là4,25 sào/hộ Ngoài diện tích trồng lúa, sắn và mía, nhóm hộ cận nghèo và trênnghèo còn có diện tích sản xuất cây trồng khác, trong đó nhóm hộ cận nghèo là

1 sào/hộ còn nhóm hộ trên nghèo là 1,33 sào/hộ Sở dĩ có sự khác biệt như vậytheo kết quả điều tra là do nhóm hộ trên nghèo có điều kiện về kinh tế và laođộng hơn nên ngoài số đất được cấp hộ còn thuê thêm đất để canh tác Đất trồngmàu thì không có sự khác biệt nhiều lắm giữa các nhóm hộ điều tra Sự chênhlệch về diện tích sản xuất cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về thunhập giữa 3 nhóm hộ

4.2.2.2 Cơ cấu thu nhập của hộ

Trang 29

Nguồn thu của hộ có liên quan chặt chẽ tới hoạt động tạo thu nhập và diệntích sản xuất của hộ Hộ có diện tích sản xuất lớn, đa dạng về hoạt động tạo thunhập thì về cơ bản thu nhập sẽ cao hơn so với những hộ có ít nguồn thu Kết quảđiều tra cho thấy hoạt động tạo thu nhập của hộ chủ yếu là hoạt động trồng trọt(lúa, màu), chăn nuôi (lợn, trâu bò, gia cầm) và dịch vụ Ngoài các hoạt động tạothu nhập được thể hiện ở bảng 4.7 thì hộ còn có nguồn thu khác mà chủ yếu ởđây là do con cái làm ăn xa gởi về Cơ cấu thu nhập của 60 hộ điều tra được thểhiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 4.7: Cơ cấu thu nhập của hộ (ĐVT 1000đ / hộ / năm).

Lúa 3.905 ± 1188,12 4.605 ± 1616,32 4.725 ±5250,67Lạc 1.880 ± 1275,52 2.560 ±1497,86 2.033,33±1929,52Mía 3.370± 1892,12 4.950±2012,461 9.130±5889,107Cây trồng khác 1.333,33 1.500 ± 500 2.033,33±1525,34

cơ bản là do hộ cận nghèo và trên nghèo có tham gia vào hoạt động chăn nuôi

Trang 30

trâu, bò mà hộ nghèo không tham gia Điều này được lý giải là do hoạt độngchăn nuôi trâu, bò cần một nguồn vốn khá lớn, thời gian nuôi dài nên hộ nghèothường không có điều kiện

Xét về thu nhập từ ngành nghề - dịch vụ hộ trên nghèo vẫn là hộ có thunhập lớn nhất so với 2 nhóm hộ còn lại Hoạt động nghành nghề - dịch vụ chủyếu ở đây là chằm nón, buôn bán, sửa xe, may mặc Các hoạt động ngành nghềdịch vụ ở đây hiện đang khá phát triển và chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấuthu nhập của nhóm hộ trên nghèo

Ngoài các nguồn thu trên thì hộ còn có nguồn thu khác mà chủ yếu là từcon cái đi làm ăn xa Tuy nhiên, nguồn thu này chiếm tỷ trọng rất nhỏ Theo kếtquả phỏng vấn hộ, con cái đi làm ăn xa đều đã trưởng thành nên phải lo chocuộc sống của mỗi người, do vậy số tiền gởi về hàng năm là một khoản nhỏ chỉ

để phụ gia đình

Tóm lại, kết quả khảo sát cho thấy rằng hoạt động tạo thu nhập của 3nhóm điều tra không khác nhau nhiều nhưng mức thu nhập có sự chênh lệch khálớn Trung bình hộ nghèo thu nhập 21.835,5 nghìn đồng/ năm, hộ cận nghèo là31.825.6 nghìn đồng/ năm trong khi đó hộ trên nghèo là 49.974 nghìn đồng/năm Như vậy, thu nhập của hộ nghèo chỉ bằng 43,7% hộ trên nghèo và bằng68,6% hộ cận nghèo, còn thu nhập của hộ cận nghèo bằng 63,68% hộ trênnghèo Sự khác nhau về thu nhập giữa 3 nhóm hộ được lý giải là do sự khácnhau về ngành nghề dịch vụ mà hộ tham gia, về nguồn lực đất đai và khả năngđầu tư sản xuất của 3 nhóm hộ

4.2.2.3 Tình hình sản xuất mía của hộ

Kết quả nghiên cứu về tình hình sản xuất mía của các hộ khảo sát đượctổng hợp theo hình sau:

Hình 4.2: Thu nhập từ trồng mía của hộ khảo sát

(Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2012)

Bảng 4.7 cho ta thấy diện tích trồng mía trung bình của nhóm hộ nghèo là

Trang 31

nghèo là 4,25 sào/hộ Sự chênh lệch về diện tích sản xuất phần nào ảnh hưởngtới thu nhập bình quân từ mía của hộ/năm với hộ nghèo là 3.370 nghìnđồng/năm, hộ cận nghèo là 4.950 nghìn đồng/năm và nhóm hộ trên nghèo là9.130 nghìn đồng/năm Như vậy, thu nhập bình quân từ trồng mía của hộ nghèochỉ bằng 36,91% hộ trên nghèo và bằng 68% hộ cận nghèo và nhóm hộ cậnnghèo bằng 54,21% hộ trên nghèo (hình 4.2).

Hình thức trồng mía của người dân xã Quảng Phú không phải trồng đơncanh mà xen canh với cây lạc Theo người dân, nếu kết hợp xen canh hợp lý sẽlàm giảm được tỷ lệ sâu bệnh và cỏ dại trên ruộng mía, điều hòa được các chấtdinh dưỡng, cải tạo và nâng cao được độ phì của đất đai như làm tăng độ tơixốp, khả năng giữ ẩm, giữ phân bón của đất, giảm sâu bệnh

Bảng 4.8: Hiệu quả mô hình mía – lạc

(1000đ/sào) 5610 ± 804,53 6475 ± 785,98 7250 ± 1069,92Chi phí cho trồng mía

Theo ông Lê Quang Xô thôn Hạ Lang sự chênh lệch về thu nhập là do:

"Sở dĩ có sự chênh lệch lớn về thu nhập là do các hộ nghèo và cận nghèo diện tích sản xuất ít hơn Mặt khác do hộ không có nguồn vốn để đầu tư sản xuất, không có thời gian để chăm sóc mà trồng mía đòi hỏi công chăm sóc nhiều nên hiệu quả sản xuất mía của hộ không cao Bên cạnh đó một nguyên nhân khác nữa khá quan trọng đó là các hộ trên nghèo thường trồng với diện tích lớn nên hay được tham gia các lớp tập huấn do hợp tác xã hay các dự án

tổ chức do vậy kinh nghiệm trồng mía của những hộ đó thường giỏi hơn so với các hộ khác”.

Trang 32

cho hộ Mặc dù nguồn thu đó không lớn, nhưng theo hộ nó giúp lấy ngắn nuôidài, giảm được một phần gánh nặng về chi phí trồng mía Hộ có thể sử dụng sốtiền sau khi thu hoạch lạc để đầu tư cho mía vì mía trồng 1 năm 1 vụ Về hiệuquả lạc trồng xen: bình quân năng suất từ lạc trồng xen của hộ nghèo là 0,95tạ/sào, hộ cận nghèo là 0,93 tạ/sào còn hộ trên nghèo là 1 tạ/sào Năng suấtkhông có sự chênh lệch nhiều nhưng thu nhập bình quân thì chênh lệch nhauđáng kể Như đã đề cập ở trên, những hộ trên nghèo có diện tích sản xuất lớn,khả năng đầu tư cao, nên chất lượng lạc tốt hơn, giá bán sản phẩm cao Từ đóthu nhập từ lạc của hộ cũng cao hơn so với 2 loại hộ còn lại.

Trong hoạt động sản xuất mía – lạc các yếu tố cần thiết phải đầu tư đó là:phân bón hóa học, tre, dây gấc, nước tưới, vôi, chi phí làm đất, công lao động,giống Qua bảng 4.8 thấy được có sự gia tăng tổng mức đầu tư chi phí sản xuấtgiữa các nhóm hộ Bình quân hộ nghèo có mức chi phí là 4325 nghìn đồng/sào,

hộ cận nghèo 4725 nghìn đồng/sào, nhóm hộ trên nghèo là 4240 nghìn đồng/sào

Lý giải về sự chênh lệch mức chi phí, theo các hộ điều tra do hộ trên nghèo cóđiều kiện về vốn nên không phải mua chịu sản phẩm đầu vào cho sản xuất Các

hộ nghèo, cận nghèo do không có điều kiện về vốn nên phải mua chịu HTX vàcác hộ kinh doanh dịch vụ Cuối vụ thu hoạch, khi họ thanh toán sẽ phải chịu giácao hơn so với thanh toán liền nên khi tính chi phí sẽ cao hơn

Cũng theo số liệu của bảng trên ta thấy được nếu chỉ trồng đơn canh míathì thu nhập mà hộ thu được đối với hộ nghèo là 1285 nghìn đồng/sào/vụ, hộ cậnnghèo 1725 nghìn đồng/sào/vụ còn hộ trên nghèo là 2965 nghìn đồng/sào/vụ.Nhưng nếu trồng xen canh mía – lạc thì thu nhập của hộ tăng lên từ 565 đến

1005 nghìn đồng/sào/vụ Điều này cho mô hình trồng xen mía – lạc có hiệu quảhơn so với đơn canh mía Từ kết quả điều tra hộ, với một luống mía, hai hànglạc sau 3 tháng sản xuất lợi nhuận người dân thu về đạt từ 1,5 đến 4 triệuđồng/sào/vụ Quá trình phỏng vấn hộ và người am hiểu cho biết, trồng xenkhông những đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân, mà còn góp phần nâng caonăng suất của cây trồng chính (mía) từ 10 - 20%

Thị trường tiêu thu mía của người dân chỉ thông qua 2 kênh phân phối làthương lái và đưa đi bán ở các chợ lân cận Trong đó, theo phỏng vấn người amhiểu và phỏng vấn hộ thì người dân bán mía cho thương lái khoảng 70% sốlượng sản phẩm, 30 % còn lại bán tại các chợ lân cận bao gồm tại chợ Sịa

Trang 33

Hình 4.3: Tỷ lệ bán sản phẩm thông qua các kênh phân phối

(Nguồn: Phỏng vấn hộ, người am hiểu, năm 2012)

Tuy hiệu quả của mô hình mía xen lạc là khá cao nhưng trong quá trìnhsản xuất người dân gặp phải một số khó khăn sau:

- Hoạt động sản xuất mía – lạc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống

là chính Theo kết quả điều tra hộ có 75% số hộ trả lời không được tham gia tậphuấn kỹ thuật nào của HTX hay các tổ chức, chương trình dự án phát triển Điềunày phần nào ảnh hưởng đến năng suất cũng như hiệu quả của mía – lạc

- Tình hình sâu bệnh là mối quan tâm hàng đầu của các hộ sản xuất mía –lạc Hiện nay trên địa bàn xã Quảng Phú các loại sâu gồm: sâu đục thân, rệp,bệnh thối thân đỏ, bệnh thối ngọn, bệnh thối gốc ở mía đang làm ảnh hưởng rấtlớn đến năng suất và phẩm chất cây trồng

- Có gần 92% số hộ được phỏng vấn cho rằng họ còn thiếu thông tin vềthị trường đầu ra đã làm cho giá bán sản phẩm chênh lệch lớn giữa các thời điểmbán Đây là điều kiện để tư thương ép giá, khiến cho nhiều hộ đánh giá rằng giásản phẩm bán ra thấp

4.3 Hệ thống thông tin kiến thức trên địa bàn nghiên cứu

4.3.1 Các cơ quan, tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở địa phương (ở ba thôn khảo sát)

Các tổ chức, cơ quan và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cómặt thường xuyên ở địa phương, chi tiết được thể hiện ở bảng 4.9

Trang 34

Bảng 4.9: Các cơ quan tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

thường có mặt ở địa bàn khảo sát.

Đơn vị

Thôn Hạ Lang

Thôn Hà Cảng

Thôn Phú Lễ

Thương lái, người

** Số lượng chung cho ba thôn

+ Số lượng ít nhưng không thống kê được

++ Số lượng nhiều không thống kê được

Kết quả nghiên cứu về AKIS và kiến thức sản xuất mía cho người dân baogồm 9 kênh sau:

Thứ nhất: Nông dân khác

Những nông dân có tham gia cung cấp, chia sẻ thông tin thường số lượngnhiều, không thống kê được vì người dân có rất nhiều mối quan hệ với nhữngngười nông dân khác trong cuộc sống Những mối quan hệ của họ gồm quan hệ

bà con thân thuộc, những người hàng xóm, bạn bè Các thông tin chia sẻ trongnguồn này rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực và được chia sẻ dưới hình thứctruyền miệng tức là nông dân truyền đạt cho nông dân

Thứ hai: Hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp

Từ những hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp tức là các hộ cung cấp đầuvào như phân bón, thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật (BVTV) cho hộ sản xuất mía.Theo kết quả ước tính của người dân và một số cán bộ thôn, người am hiểu sốlượng các hộ kinh doanh vật tư nông nghiệp trên địa bàn khoảng 7 hộ Nguồn này

Ngày đăng: 22/08/2014, 12:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Phạm Kim Oanh, Vũ Trọng Sơn, sổ tay phương pháp thông tin Khuyến Nông, nhà xuất bản nông nghiệp - Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sổ tay phương pháp thông tin KhuyếnNông
Nhà XB: nhà xuất bản nông nghiệp - Hà Nội
[6]. F .W. NDUNGU, C. NKONGE and D. J. REES, agricultural knowledge and information systems (akis) paradigm: its potential in disseminating soil management technologies, website:http://www.kari.org/Legume_Project/Legume2Conf_2000/72.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: agricultural knowledgeand information systems (akis) paradigm: its potential in disseminating soilmanagement technologies
[7] H.S.Hawkins & A.W.Van den Ban, Khuyến Nông, Nhà xuất bản nông nghiệp - Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến Nông
Nhà XB: Nhà xuất bản nôngnghiệp - Hà Nội
[8]. Ismail Moumouni Moussa; Impact of Privatization of Advisory Services on Agricultural Knowledge and Information Systems: Evidence from ‘LEC’Knowledge Management in Banikoara, Benin; Rural Sociology Department, Humboldt University of Berlin, Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of Privatization of Advisory Services onAgricultural Knowledge and Information Systems: Evidence from ‘LEC’"Knowledge Management in Banikoara, Benin
[10]. Sgtt.com.vn, Vì sao nông dân tin vào thương lái hơn thông tin của đài báo?, Website:http://sgtt.com.vn/Detail41.aspx?ColumnId=41&NewsId=41257&fld=HTMG/2008/1002/41257 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao nông dân tin vào thương lái hơn thông tin của đàibáo
[1] Trịnh Tiến Bộ, Trưởng phòng Đào tạo và Kiểm nghiệm, Sở NN&PTNT ĐăkLăk Khác
[4] Lý thuyết thông tin – Hồ Văn Quân, khoa CNTT, đại học bách khoa Hà Nội [5] TS. Đặng Kim Sơn, Giám đốc Trung tâm Tin học Bộ NN&PTNT Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã qua các năm 2009 - 2011 - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã qua các năm 2009 - 2011 (Trang 19)
Bảng 4.5: Cơ cấu cây trồng của xã năm 2011 - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.5 Cơ cấu cây trồng của xã năm 2011 (Trang 27)
Bảng 4.6: Một số đặc điểm chính của hộ điều tra - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.6 Một số đặc điểm chính của hộ điều tra (Trang 28)
Hình 4.2: Thu nhập từ trồng mía của hộ khảo sát - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.2 Thu nhập từ trồng mía của hộ khảo sát (Trang 30)
Bảng 4.8: Hiệu quả mô hình mía – lạc - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.8 Hiệu quả mô hình mía – lạc (Trang 31)
Hình 4.3: Tỷ lệ bán sản phẩm thông qua các kênh phân phối - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.3 Tỷ lệ bán sản phẩm thông qua các kênh phân phối (Trang 33)
Bảng 4.9: Các cơ quan tổ chức  hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thường có mặt ở địa bàn khảo sát. - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.9 Các cơ quan tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp thường có mặt ở địa bàn khảo sát (Trang 34)
Bảng 4.10: Loại thông tin liên quan đến sản xuất mía thông qua các kênh truyền thông khác nhau ở địa phương - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.10 Loại thông tin liên quan đến sản xuất mía thông qua các kênh truyền thông khác nhau ở địa phương (Trang 40)
Bảng 4.11: Các loại thông tin và mức độ mà các hộ nhận được  (% số hộ trả lời phỏng vấn bán cấu trúc) - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.11 Các loại thông tin và mức độ mà các hộ nhận được (% số hộ trả lời phỏng vấn bán cấu trúc) (Trang 43)
Hình 4.5: Các phương pháp khuyến nông được sử dụng trong truyền tải thông tin kiến thức nông nghiệp ở Quảng Phú - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.5 Các phương pháp khuyến nông được sử dụng trong truyền tải thông tin kiến thức nông nghiệp ở Quảng Phú (Trang 47)
Hình 4.6: Mức độ liên kết với các kênh thông tin của 3 nhóm hộ khảo sát (Nguồn: Phỏng vấn, 2012) - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Hình 4.6 Mức độ liên kết với các kênh thông tin của 3 nhóm hộ khảo sát (Nguồn: Phỏng vấn, 2012) (Trang 49)
Bảng 4.13: Đánh giá về tình hình cung cấp thông tin, chất lượng và mức độ hài lòng của người dân(% số hộ được phỏng vấn). - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
Bảng 4.13 Đánh giá về tình hình cung cấp thông tin, chất lượng và mức độ hài lòng của người dân(% số hộ được phỏng vấn) (Trang 52)
PHỤ LỤC 1: HÌNH ẢNH VỀ NGUỒN CUNG CẤP THÔNG TIN - Tìm hiểu hệ thống thông tin kiến thức nông nghiệp hỗ trợ phát triển cây mía ở xã quảng phú, huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế
1 HÌNH ẢNH VỀ NGUỒN CUNG CẤP THÔNG TIN (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w