1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN biện pháp khắc phục sai lầm mà học sinh thường mắc khi học phần từ láy lớp 4 - 5

16 2,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chương trình tiểu học, môn tiếng Việt chiếm một thời lượng khá lớn về nội dung kiến thức nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết, ...) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, muốn học sinh lĩnh hội những nội dung – kiến thức nêu trên đòi hỏi người giáo viên phải thật sự kiên trì, phải có tâm huyết với nghề mới tìm ra được những giải pháp khắc phục những sai lầm, yếu kém của học sinh. Đặc biệt khi dạy phần từ láy trong phân môn luyện từ và câu.

Trang 1

ĐỀ TÀI:

BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI LẦM MÀ HỌC SINH THƯỜNG

MẮC PHẢI KHI HỌC PHẦN TỪ LÁY LỚP 4 - 5

Tác giả: Lê Thị Thùy Linh Đơn vị : Trường Tiểu học Bồng Sơn

A.MỞ ĐẦU

I Đặt vấn đề:

1.Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết.

Trong chương trình tiểu học, môn tiếng Việt chiếm một thời lượng khá lớn về nội dung - kiến thức nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết, ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, muốn học sinh lĩnh hội những nội dung – kiến thức nêu trên đòi hỏi người giáo viên phải thật

sự kiên trì, phải có tâm huyết với nghề mới tìm ra được những giải pháp khắc phục những sai lầm, yếu kém của học sinh Đặc biệt khi dạy phần từ láy trong phân môn luyện từ và câu Qua quá trình học sinh làm bài, kiểm tra, đánh giá, tôi mới phát hiện ra học sinh còn gặp nhiều lúng túng khi làm bài, suy nghĩ mơ hồ và sai lầm, khó tìm ra hướng giải quyết và thường

nhầm lẫn từ dạng này sang dạng khác ( từ láy, từ ghép, tổ hợp từ đơn).

Nếu không xác định cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu vững chắc thì học sinh sẽ không giải quyết được yêu cầu đề ra Trước tình hình thực tế như vậy, làm cho tôi phải trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi và nhìn nhận lại

sự việc, điều chỉnh lại hoạt động giảng dạy và hoạt động giáo dục để tìm ra

những giải pháp mới, thiết thực nhất nhằm giúp học sinh tìm ra những sai

Trang 2

lầm mà các em thường mắc phải khi học phần từ láy ở lớp 4-5 (đối với

học sinh trung bình) và nâng cao lên (đối với học sinh khá giỏi)

2.Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.

1 Giúp học sinh hiểu sâu hơn về từ láy

2 Học sinh phải đạt yêu cầu về tính chất cơ bản của từ láy, không mắc lỗi phổ biến và có khả năng nhận biết và vận dụng tốt từ láy vào các phân môn luyện từ và câu, tập làm văn và các môn học khác

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Nghiên cứu phần nội dung giảng dạy từ láy của học sinh lớp 4-5

Đề tài được nghiên cứu trong 3 năm học 2011-2012 , 2012-2013 và

2013 - 2014 tại trường tiểu học Bồng Sơn

II Phương pháp tiến hành

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm giải pháp của đề tài.

1.1 Cơ sở lý luận:

Muốn cho học sinh hiểu rõ khái niệm từ láy, ngoài việc đưa ra những

ví dụ cụ thể cho học sinh thực hành, đối chứng, nhận biết những sai lầm các em chưa nhận thấy, chưa kịp thời nắm bắt, giáo viên còn cho học sinh nắm định nghĩa về từ láy, các kiểu láy một cách cụ thể đầy tính thuyết phục

Vậy từ láy là gì? Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần(hoặc cả

âm đầu và vần) giống nhau Đó là từ láy (Tiếng Việt 4- trang 39- SGK

hiện hành).Và có 3 kiểu láy: láy âm, láy vần, láy cả âm và vần.

Theo như định nghĩa trên học sinh chỉ nghĩ: hễ những từ nào giống nhau về âm đầu, vần, thì đó là từ láy, theo cách nghĩ thông thường của các

Trang 3

em là như vậy Cho nên mới xảy ra nhận định sai lầm khi các em làm bài.

Để giúp học sinh học tốt phần từ láy người giáo viên luôn học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sư phạm giúp học sinh khăc phục những sai lầm đó

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trong quá trình dạy học phần từ láy tôi nhận thấy mức độ nhận biết từ láy của học sinh chưa tốt, sai sót còn rất nhiều như chưa hiểu đầy đủ về khái niệm từ láy, lẫn lộn từ láy với từ ghép, chưa nhận biết và sử dụng tốt

từ láy Vì vậy để giúp học sinh khắc phục những tồn tại nêu trên tôi đã vận dụng một số giải pháp khắc phục sai lầm của học sinh khi học phần từ láy

và thấy có hiệu quả

2 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp.

Bản thân là giáo viên giảng dạy lớp 4-5 nhiều năm nên đã tiến hành thử nghiệm khảo sát học sinh; đối chiếu, so sánh, nghiên cứu tài liệu…để

có những giải pháp hữu ích vận dụng vào đề tài này

B NỘI DUNG

I Mục tiêu:

- Làm cho học sinh nắm chắc kiến thức từ láy và phân biệt cho được

từ láy và từ ghép

- Vận dụng thực hành vào các dạng bài tập trong chương trình đã quy định một cách có hiệu quả

- Qua học từ láy, từ ghép học sinh biết vận dụng vào quá trình viết bài tập làm văn hay hơn, hiệu quả hơn

II Mô tả giải pháp của đề tài

1 Thuyết minh tính mới.

Trang 4

1.1 Giải pháp 1: Đối với loại bài nhận dạng từ láy.

*Ví dụ 1

Trong đoạn văn sau đây, co tất cả bao nhiêu từ láy? Xếp các từ láy trong đoạn văn sau vào nhĩm thích hợp:

Bài: Cây nhút nhát

(Tiếng Việt 4 – tập 1 – trang 44 SGK hiện hành)

Giĩ rào rào nổi lên Cĩ một tiếng động gì lạ lắm những chiếc lá khơ lạt xạt lướt trên cỏ Cây xấu hổ co rúm mình lại Nĩ bỗng thấy xung quanh lao xao He hé mắt nhìn: khơng cĩ gì lạ cả Lúc bấy giờ nĩ mới mở bừng những con mắt lá và quả nhiên khơng cĩ gì lạ thật

Theo Trần Hồi Dương

- Học sinh dễ dàng tìm ra cĩ bao nhiêu từ láy cĩ trong đoạn văn này,

song một số học sinh cho rằng lạ lắm cũng là từ láy Cịn học sinh trung

bình, yếu khơng thể xếp các từ láy cĩ trong đoạn văn vào nhĩm thích hợp

* Nguyên nhân làm sai:

- Vì theo định nghĩa về từ láy học sinh thấy từ lạ lắm đều giống nhau

về âm đầu ( bị hình thức đánh lừa), khơng hiểu và khơng nắm được về kết cấu nghĩa, về mặt nghĩa

- Học sinh trung bình yếu chưa nắm được các kiểu láy

*Hướng giải quyết của giáo viên đối với học sinh:

-Giáo viên gợi cho học sinh dựa vào định nghĩa từ láy, nhớ lại đặc trưng của từ láy, từ láy được phân chia thành 3 kiểu để học sinh nhớ mà phân loại

- Giải thích cho học sinh từ lạ lắm khơng phải là từ láy, mà nĩ là tổ

hợp từ đơn (bị hình thức đánh lừa: phụ âm đầu giống nhau) vì xét về mặt kết cấu nếu quan hệ giữa các yếu tố trong một tổ hợp mà lõng lẻo, dễ tách rời, cĩ thể chêm xen một yếu tố khác từ bên ngồi vào mà nghĩa của tổ hợp

Trang 5

về cơ bản không thay đổi ( Đây là kiến thức về từ láy, từ ghép các em đã được học ở lớp 4)

Bằng cách này, học sinh sẽ tìm ra các từ láy trong đoạn văn là: nhút nhát, lao xao, lạt xạt, rào rào, he hé (5 từ)

Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào các kiểu từ láy: (láy

âm, láy vần, láy cả âm lẫn vần ) để ghi các từ láy cùng một kiểu như : Láy âm: nhút nhát

Láy vần : lao xao, lạt xạt

Láy cả âm lẫn vần: rào rào, he hé

*Ví dụ 2:

Cho các từ: đẹp đẹp, tốt tốt, khác khác, thích thích, những từ trên là

từ láy âm hay láy cả âm và vần?

Qua thống kê cho thấy: Đa số học sinh trả lời các từ nêu trên là từ láy

cả âm và vần

* Nguyên nhân sai lầm:

- Vì các em nhìn thấy cả âm đầu, vần, thanh đều giống nhau

- Do các em không nắm được quy luật biến đổi

- Không nắm được cách chuyển thanh điệu

* Hướng giải quyết của giáo viên đối với học sinh.

Gặp trường hợp này, giáo viên phải chỉ ra cho học sinh biết được sự biến đổi phụ âm cuối và thanh điệu ở tiếng đứng trước Cụ thể, dạng đầy

đủ và dạng biến đổi của từng từ là:

đẹp đẹp đèm đẹp

tốt tốt tôn tốt

khác khác khang khác

thích thích thinh thích

Quy luật biến đổi diễn ra như sau:

p m

Trang 6

t n

c ng

ch nh

Các âm cuối có cùng đặc trưng về bộ phận cấu âm sẽ hoán vị cho nhau (ví dụ: p biến thành m; t biến thành n, )

Về thanh điệu: Chuyển từ hai thanh điệu lặp lại nhau ( đẹp đẹp, tốt tốt,

) sang hai thanh điệu cùng nhóm: nhóm bỗng (ngang - sắc - hỏi), nhóm trầm (huyền -nặng - ngã ) (đèm đẹp, tôn tốt, ) Từ các nhìn nhận, xử lí

nói trên theo cách khác Cụ thể, đối chiếu các từ trên với định nghĩa về từ láy và các kiểu từ láy SGK hiện hành ta có thể yên tâm xếp các từ này vào

kiểu từ láy âm.

1.2 Giải pháp 2: Đối với loại bài phân biệt từ láy, từ ghép.

* Ví dụ 1

Gạch dưới từ láy trong các từ ngữ sau đây: nhà cửa, mặt trời ,bối rối, may mắn, đi đứng, bao bọc, xám xịt, đất đai, vỡ bờ, giã giò,

Qua thống kê học sinh làm Vỡ bờ, giã giò, đi đứng, bao bọc đều cho

là từ láy.

* Nguyên nhân làm sai:

Vì học sinh thấy giống nhau âm đầu Đó là những sai lầm của học sinh thường hay mắc phải

*Hướng giải quyết của giáo viên đối với học sinh:

Dạng bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh như sau :

Trước hết cần loại bỏ những trường hợp không phải là từ mà là cụm

từ, gồm hai từ đơn như: vỡ bờ, giã giò.(nhấn mạnh cho học sinh hiểu quan

hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp còn lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể chêm xen một yếu tố khác từ bên ngoài vào mà nghĩa của tổ hợp về cơ bản không thay đổi

Trang 7

Dựa vào những đặc trưng của từ láy, loại bỏ tiếp những từ mà hai

tiếng không có hình thức âm thanh giống nhau như: nhà cửa, mặt trời.

Những từ mà hai tiếng có quan hệ về âm thanh nhưng cả hai tiếng đều

co nghĩa đó là từ ghép như đi đứng, bao bọc.

* Ví dụ 2

Cho các từ sau: mặt mũi: tươi tốt; đi đứng; nhỏ nhẹ; buôn bán; hoàn toàn, sửa chữa, đòi hỏi,

Các từ trên là từ láy hay từ ghép?

Qua thống kê ta thấy đa số học sinh trả lời là từ láy

*Nguyên nhân làm sai:

+ Bị hình thức đánh lừa ( thấy phụ âm đầu giống nhau)

+ Không để ý các tiếng trong từng từ đều có nghĩa

*Hướng giải quyết của giáo đối với học sinh :

Giáo viên cần phân tích kĩ cho hoc sinh thấy rằng các từ nêu trên đều

là từ ghép Vì: Láy là một phương thức cấu tạo từ do đó nhiều nhất chỉ có một yếu tố có nghĩa, có thể cả hai yếu tố đều không mang nghĩa, nếu hai

âm tiết giống nhau về phụ âm đầu, giống nhau về phần vần nhưng cả hai

âm tiết đều có nghĩa thì đó không phải là từ láy Vậy các tiếng trong từ trên đều có nghĩa; quan hệ giữa hai tiếng trong từng từ chủ yếu là quan hệ về nghĩa (nghĩa tổng hợp), các từ này có hình thức âm thanh ngẫu nhiên giống

từ láy

1.3 Giải pháp 3: Đối với loại bài ta thường gọi là từ láy đặc biệt.

*Ví dụ: Cho các từ:

a Ấm áp; im ắng; ít ỏi; óng ả; ép uổng, êm ái; ế ẩm; o ép;

b Ấp úng; oái oăm; óc ách; õng ẹo; ỏn ẻn; ỡm ờ; i eo;

c Cập kênh; cồng kềnh, cũ kỹ, kém cỏi, quanh co, cong queo;

Các từ trên có phải là từ láy không?

Trang 8

Qua bài làm của học sinh cho thấy: Đa số cho rằng không phải là từ láy

*Nguyên nhân làm sai:

Trường hợp (a) và (b).

- Các em cho rằng do các từ trên không có bộ phận nào giống nhau

- Không thấy đặc trưng ngữ nghĩa của những từ này cũng gần giống với đặc trưng ngữ nghĩa nói chung của từ láy

Trường hợp (c): Học sinh không biết phụ âm “cờ” được lặp lại, láy lại,

được ghi bằng chữ cái khác nhau “c”, “k”, “q”

* Hướng giải quyết của giáo viên đối với học sinh.

- Gặp trường hợp (a) và (b) giáo viên nên cho học sinh thấy rằng các

từ trên đều giống nhau về hình thức ngữ âm, ở các tiếng trong từ cùng vắng khuyết phụ âm đầu Bên cạnh đó đặc trưng ngữ nghĩa của những từ này cũng gần giống với đặc trưng ngữ nghĩa nói chung của từ láy Mặt khác, về các tiếng (âm tiết) được biểu hiện trên chữ viết không có phụ âm đầu trong các từ trên vì ở vị trí đầu mỗi tiếng tồn tại một phụ âm tắc – thanh hầu ( phương thức phát âm phụ âm này là phương thức tắc: bộ phận tham gia cấu âm là thanh hầu), nhưng phụ âm đó không được biểu hiện trên chữ viết (giống như trong 6 thanh điệu tiếng Việt có một thanh không dấu, gọi là thanh ngang) Vì vậy, cho học sinh biết rằng những từ trên đều là từ láy

- Ngoài ra, giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu: Không để hình thức chữ viết của từ đánh lừa

- Gặp trường hợp (c) cập kênh, cồng kềnh, cũ kỹ, kém cỏi, quanh co,

… là những từ láy âm (Vì phụ âm đầu “cờ” được lặp lại, láy lại, được ghi bằng những chữ cái khác nhau – chữ cái “c”, “k”, “q” )

Mặt khác, ta biết phụ âm đầu “cờ” trong tiếng Việt được ghi bằng 3 chữ cái: “c”, “k”, “q” (Các tiếng trong từ nói trên mở đầu bằng “c”, “k”,

“q” Như vậy có thể kết luận: Đây là từ láy phụ âm đầu “cờ”(từ láy âm).

Trang 9

1.4 Giải pháp 4: Đối với loại bài phân biệt từ láy với tổ hợp từ đơn.

* Ví dụ :

Cho các từ: Sáng sớm, bế bé, lên lớp, học đọc, Các từ trên là từ láy hay từ ghép?

Qua kiểm tra cho thấy các em đều cho là láy phụ âm đầu

* Nguyên nhân làm sai:

+ Vì theo định nghĩa về từ láy học sinh thấy các từ trên đều giống nhau về âm đầu (bị hình thức đánh lừa)

+ Không hiểu và không nắm được về kết cấu nghĩa, về mặt nghĩa của các từ trên

*Hướng giải quyết của giáo viên đối với học sinh:

- Giáo viên nên cho học sinh xem xét về hai phương diện:

+ Về kết cấu nghĩa:

Cụ thể: Về mặt kết cấu nếu quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp mà lỏng lẻo, dễ tách rời, có thể chêm xen một yếu tố khác từ bên ngoài vào mà nghĩa của tổ hợp về cơ bản không thay đổi thì tổ hợp ấy là hai từ đơn Ví

dụ như các từ trên: sáng sớm, bế bé, lên lớp, đều là tổ hợp từ đơn.( nếu

cho học sinh xét theo định nghĩa về từ đơn trong SGK: “Từ chỉ gồm một tiếng gọi là từ đơn” không đúng với yêu cầu của bài nêu trên.( theo sách

tiếng Việt 4 – T1- hiện hành)

Ngược lại, nếu mối quan hệ giữa các yếu tố trong tổ hợp chặt chẽ, khó

có thể tách rời, tạo thành một khối vững chắc, mang tính cố định, ổn định thì đó là tổ hợp từ ghép

+ Về mặt nghĩa:

Trang 10

Nếu tổ hợp đó gọi tên, định danh một sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, biểu đạt một khái niệm ( về sự vật hiện tượng), thì tổ hợp ấy

là một từ ghép

Ngược lại, nếu tổ hợp ấy gọi tên, định danh 2 hay nhiều sự vật, hiện tượng, biểu đạt nhiều khái niệm ( về sự vật hiện tượng) thì tổ hợp ấy là sự kết hợp của 2 hay nhiều từ đơn

Theo những giải pháp trên ta có thể kết luận những từ trên không phải

là từ láy mà cũng chẳng phải là từ ghép, mà là tổ hợp từ đơn.

1.5 Giải pháp 5: Đối với loại bài tìm từ láy và đặt câu với từ tìm được:

Nhìn chung trong chương trình tiếng Việt 4 bài tập về sử dụng từ láy chủ yếu là tìm các từ láy có tiếng chứa âm đầu, chứa vần hay tiếng có chứa thanh điệu và đặt câu với từ tìm được

* Ví dụ: Tìm từ các từ láy và đặt câu với từ tìm được.

Có tiếng chứa thanh hỏi / thanh ngã

Có tiếng bắt đầu bằng th

- Nhiều học sinh tìm được các từ có chứa thanh ngã ( giã giò, vỡ bờ ),

có tiếng bắt đầu là th ( thân thiện )

*Nguyên nhân làm sai:

- Chưa nắm được phương thức cấu tạo từ láy

*Hướng giải quyết của giáo viên đối với học sinh:

Với dạng bài tập trên, sau khi tìm được từ các em cần xem xét về kết cấu nghĩa của từ và lưu ý láy là một phương thức cấu tạo từ do đó nhiều nhất chỉ có một yếu tố có nghĩa, có thể cả hai yếu tố đều không mang nghĩa nếu hai âm tiết giống nhau về phụ âm đầu, giống nhau về phần vần nhưng

cả hai âm tiết đều có nghĩa thì đó không phải là từ láy Vì vậy từ giã giò,

vỡ bờ, thân thiện mà các em vừa tìm không phải là từ láy.

Trang 11

Sau khi tìm được từ chính xác, các em sẽ tiến hành đặt câu Ví dụ từ

nhễ nhại các em lựa chọn các kiểu câu phù hợp với nghĩa của từ láy vừa

tìm Ví dụ : Bác đưa thư mồ hôi nhễ nhại

1.6 Giải pháp 6: Cần cho học sinh nhận dạng tạo từ từ một tiếng gốc cho sẵn.

Ví dụ: Điền tiếng vào chỗ trống để có:

Vậy dựa vào kiến thức từ ghép, học sinh khắc sâu thêm về kiến thức

từ láy đó là:

- Ghép các tiếng có nghĩa lại với nhau đó là từ ghép

- Phối hợp các tiếng có âm đầu hay vần ( hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau đó là từ láy

Song trong quá trình giảng dạy giáo viên cần chú ý trường hợp đặc biệt đó là: Những từ đơn đa âm tiết như: chôm chôm, đu đủ, cào cào, châu chấu…, để đơn giản hơn cho học sinh tiểu học, “tạm thời” xếp chúng vào nhóm từ láy

1.7 Giải pháp 7: Khi dạy từ láy cần lưu ý đến tính gợi hình, gợi

âm thanh.

Một đặc điểm của từ láy đó là có tính gợi hình ản và âm thanh rất cao Giáo viên cần đưa ra một số bài tập vận dụng viết câu văn hoặc đoạn văn nhằm giúp học sinh học tốt tập làm văn để câu văn trong bài làm văn có sức gợi tả, gợi cảm mãnh liệt hơn

Ngày đăng: 22/08/2014, 06:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w