NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG CỦA NHU MÔ PHỔI Ở BỆNH NHÂN BỤI PHỔI SILIC BẰNG KỸ THUẬT CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH Trịnh Hiến Chương Trương Văn Nguyên Hoàng Văn Tăng Nguyễn Trường G
Trang 1NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG CỦA NHU MÔ
PHỔI Ở BỆNH NHÂN BỤI PHỔI
SILIC BẰNG KỸ THUẬT CHỤP
CẮT LỚP VI TÍNH
Trịnh Hiến Chương Trương Văn Nguyên Hoàng Văn Tăng Nguyễn Trường Giang
Lê Anh Đức
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bụi phổi silic là một trong những bệnh thường gặp nhất trong các bệnh bụi phổi nghề nghiệp, chiếm từ 21 đến 54% các bệnh nghề nghiệp nói chung trên Thế giới
Hậu quả của bệnh bụi phổi silic là tình trạng
xơ hóa phổi và suy giảm chức năng hô hấp
Trang 3 Hiện tại việc giám định bệnh bụi phổi silic
vẫn được dựa vào phim chụp phổi thường quy phối hợp với phim mẫu theo ILO
Cho đến nay một số tác giả cho rằng phim
chụp phổi thường quy là phương pháp có độ nhậy thấp và không đặc hiệu
Trang 4 Chụp cắt lớp vi tính được cho là phương pháp
có độ nhậy và độ đặc hiệu cao hơn cho đánh giá các bệnh phổi nói chung và bệnh bụi phổi nói riêng
mô phổi ở bệnh nhân bụi phổi Silic bằng kỹ
thuật chụp cắt lớp vi tính.
Trang 5II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chuẩn 1: Được chẩn đoán nhiễm bụi phổi
ở các mức độ khác nhau dựa vào:
Phim chụp phổi thường quy phối hợp với phim
mẫu ILO và được Hội đồng Giám định y khoa bệnh nghề nghiệp khẳng định
Trang 6 Tiêu chuẩn 2 ( Chụp cắt lớp vi tính):
Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao
Chụp cắt lớp vinh tính xoắn ốc
Có 34 bệnh nhân đáp ứng đủ 2 tiêu chuẩn trên
và được chọn vào đối tượng nghiên cứu
Trang 72 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian thực hiện nghiên cứu từ năm 2006 đến hết năm 2008
Địa điểm nghiên cứu: Khoa X-Quang, Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên và
Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Thái
Nguyên
Trang 83 Phương pháp nghiên cứu:
4 Xử lý số liệu:
y học, sử dụng phần mềm thống kê SPSS
Trang 96 Đọc kết quả:
carina phế quản.
phổi dưới.
Tổng cộng hai phổi có 6 vùng được đánh giá ( phổi phải có 3 vùng: 1,2,3; Phổi trái có 3 vùng 4,5,6)
Trang 10 Đánh giá tổn thương bụi phổi về kích thước
và mật độ tổn thương theo thang điểm của
ILO (1980)
Mật độ tổn thương:
0: Không có hình ảnh của bệnh bụi phổi
nhưng không nhất thiết phải là hình ảnh
X-quang bình thường
1: Có những hạt mờ tròn nhỏ, nhưng số
lượng ít thường thấy ở vùng giữa của hai phổi
Trang 112: Nhiều hạt mờ tròn ở cả hai phổi.
3: Rất nhiều hạt mờ tròn nhỏ ở cả hai phổi, trong mức độ này hình lưới phổi bình thường bị mất hẳn
Kích thước tổn thương mờ:
- p: < 1.5mm
- q: 1.5 - 3mm
- r: 3 - 10mm
Trang 12III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới:
Tỷ lệ nam giới chiếm một tỷ lệ rất cao (94%), gấp 15 lần
so với nữ (6%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0,001
Trang 13Bảng 2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo
trong độ tuổi từ 40-50 tuổi chiếm tỷ lệ 67%, tiếp theo đó
là nhóm tuổi trên 30-40 chiếm tỷ lệ 21%.
Trang 14Bảng 3: Phân bố đối tượng theo thời gian tiếp xúc với bụi:
Trang 15Tổn thương bụi phổi chủ yếu ở mức độ 1/0p tập
trung nhiều ở vùng giữa và dưới hai phổi (vùng 2,
Bảng 4: Phân loại mức độ bụi phổi theo
vùng phổi trên phim chụp phổi thường
quy:
Trang 16Bảng 5: Phân loại mức độ bụi phổi theo vùng
phổi trên phim chụp cắt lớp vi tính.
Mật độ tổn thương được đánh giá trên CT với mức
độ nhiều hơn và ưu thế chủ yếu là 1/1p chiếm tới 53% và 76% ở vùng phổi 2 và 3; 53% và 62% ở
Trang 17IV BÀN LUẬN
1 Một số đặc điểm chung của nhóm đối tượng
nghiên cứu.
thương của phổi trong bệnh bụi phổi Silic chủ yếu là nam giới (94%), tuổi tập trung ở nhóm tuổi trên 40 (67%), và thâm niêm công tác tiếp xúc trực tiếp và liên tục trên 20 năm (76%) Các đặc điểm này phù hợp với bệnh học về diễn biến của bệnh bụi phổi silic
Trang 182 Các tổn thương phổi do bụi silic trên phim chụp phổi thường quy và phim chụp cắt lớp vi tính phổi phân giải cao
phát hiện được trên phim chụp phổi thường quy
mà được phát hiện trên phim chụp cắt lớp vi tính.
nhưng trên phim thường quy không thể xác định được vị trí của tổn thương và khó có thể chẩn đoán phân biệt được tổn thương nốt nhỏ với các cấu trúc mạch máu hay các nhiễu ảnh do “chồng hình”
Trang 19 Vị trí tổn thương
hơn ở nửa dưới hai phổi, cụ thể là ở góc dưới
carina phế quản Sự phân bố này khác với sự phân
bố trong nghiên cứu của Chong (2006), theo tác giả này sự phân bố nhiều hơn ở thùy trên hai phổi.
sự khác biệt giữa phổi phải và phổi trái trong các tổn thương phát hiện trên chụp cắt lớp vi tính cũng như trên phim chụp phổi thường quy
Trang 20 Mức độ tổn thương
Mức độ tổn thương chủ yếu là 1/0p trên
phim chụp phổi thường quy Tuy nhiên trên phim chụp cắt lớp vi tính cho thấy tổn
thương có mật độ bụi cao hơn và được đánh giá chủ yếu ở mức độ 1/1p
Trang 222 Đặc điểm hình ảnh tổn thương của bụi phổi.
Trên phim phổi thường quy ít gặp các tổn
thương hạt bụi ở vùng đỉnh phổi hai bên; Vùng giữa và dưới hai phổi mật độ tổn thương nhiều hơn và chủ yếu là mức độ 1/0p, chỉ có một vài tổn thương nhỏ mật độ 1/1p (chiếm khoảng 3% các vùng phổi)
Trang 23 Các tổn thương hạt bụi trên phim cắt lớp vi tính được phát hiện rất rõ ở tất cả các vị trí khác nhau của hai phổi; Tổn thương bụi tập trung nhiều
hơn ở vùng giữa, dưới hai phổi và chủ yếu là
1/1p; Các tổn thương nặng hơn như 2p chỉ có từ
3 đến 12%
Trang 24VI KHUYẾN NGHỊ
Nghiên cứu cần được phát triển rộng hơn ở nhiều trung tâm và ở nhiều chuyên ngành liên quan nhằm đưa ra được một thang điểm cũng như tiêu chuẩn đánh giá thống nhất, khách
quan trong công tác chẩn đoán cũng như giám định bệnh bụi phổi nghề nghiệp
Trang 25 Nghiên cứu tiếp theo cần phối hợp với
thăm dò chức năng hô hấp để đánh giá mối liên quan giữa các hậu quả của bệnh bụi
phổi trên phim chụp cắt lớp vi tính với thực trạng của chức năng hô hấp trên bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi silic