1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông

204 499 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyển chọn - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao
Tác giả Nguyễn Thị Võn Anh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Xuân Trường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 25,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, do thời gian dạy học môn hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết về phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao và giải bài tập chưa được nh

Trang 1

BO GIAO DUC VA DAO TAO TRUONG DAI HOC VINH

NGUYEN THI VAN ANH

TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG

VÀ SỬ DỤNG HỆ THÓNG BÀI TẬP HỖ TRỢ

VIỆC TỰ HỌC CHO HOC SINH PHAN DAN XUAT

HIDROCACBON HOA HQC 11 NANG CAO

TRUONG TRUNG HOC PHO THONG

Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Hóa học

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYÊN XUÂN TRƯỜNG

NGHE AN - 2013

Trang 2

LOI CAM ON

Đề hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường đã giao đề tài, tận tình hướng

dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận Văn này

- Thầy giáo PGS.TS Cao Cự Giác và Cô giáo TS Nguyễn Thị Bích Hiền

đã dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn

- Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chú nhiệm khoa Hoá học cùng các thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá học trường ĐH Vinh đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệu các trường THPT Nghi Lộc 2, Nghi Lộc 5, Nghi Lộc 1, Nghi Lộc 3 va Phan Dang Lưu, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Nghệ An, tháng 10 năm 2013

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 3

MUC LUC

Trang

)601000Ẻ55 Ỏ 1 H4 àaadddOỶẶỶÝỶ 1

PM (| (voan na 2

E TS öoA ni n6 2

4 _ Đối tượng và khách thê nghiên cứu

BS Phurong 0 na on 2 1N, on 3

7 Giả thuyết khoa học -2-2c222222c2c++e222212121217111t.c.E.t.E xe 3

§ _ Những đóng góp của để tài -222222222121212171212 E2 xe 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VÈ TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP

;:07 0:9 9 4Q,AHAH,H )H, L 4

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu -2222222222222+2+2+2122212122121111111 2 ccecree 4

VB TU OC eee ccccccccececesessesesesesescssssvssssevasasecesasasusssisssssussavavavavsvsvacacsesescaeeseseseeeeeeeavaese 12 1.4 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở trường trung học phổ thông - -22222222+222222222EEEEEES222E2zczrzrrrrrrrrrrrr 22 Tiểu kết chương l -22222222E22222222221212222221717171711112122 2 1 eccce 35

Chương 2 TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THÓNG BÀI TAP HO TRO VIEC TU HOC PHAN DAN XUAT HIDROCACBON

HÓA HỌC 11 NÂNG CAO TRUONG TRUNG HOC PHO THONG 36

2.1 Nguyén tic xy dung ooo ccccccccccccsssssssssssessesesessesesesestanssnsnsnssesesessssseessetsnsasnsneceseeese 36

PA pc 38

243 Giới thiệu về hệ thống bài tập -2222222222222212111211212121212111221212121212122 e7 39

2.4 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải 22-222 22222222+222222121212221227212x+ 40 2.5 Hệ thống bài tập -2-2-22222.222212171717111111 2.2.2.1 re 94

2.6 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa hoe LL mang C80 n 136

Trang 4

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 232222 2222222421212 139

3.1 Mure 9 139

3.2 Đối tượng thực nghiệm -222122222272211111111222122.2212121.111121.1 e cce 139 3.3 Tiến hành thực nghiệm . -2222222222222221121212222222-2 121.1.11112121 xe 140

3.4 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm -:2222+2222E2222222222222ze 141

Trang 5

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Thế ki XX đã trôi qua, nhân loại đang bước vào thế ki mới Một trong những đặc điểm cơ bản của thế kỉ này là cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang phát triển

như vũ bão, thời đại của nền “kinh tế tri thức” đã và đang dẫn đến sự bùng nổ thông tin

Trước tình hình đó, để hội nhập với xu thế phát triển chung của thế IỚI, của thời đại, một yêu cầu hết sức cấp bách đang đặt ra với nền giáo dục nước ta là phải liên tục đổi mới, hiện đại hóa nội dung và phương pháp dạy học Mục đích cuối

cùng là để từng cá nhân, mỗi cá thể, mỗi công dân tự mình có ý thức tạo được một

cuộc cách mạng học tập trong bản thân mỗi người

Nhà trường phải giúp cho từng HS thay đổi triệt để quan niệm và phương pháp học tập phù hợp với yêu cầu của thời đại - thời đại mà mỗi người phải học tập suốt đời Để học tập không ngừng, học tập suốt đời, mỗi người phải biết cách tự học, biết phát huy cao độ tiềm năng của bản thân Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt lõi thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại

Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước, đổi mới nền giáo đục là trọng tâm của sự phát triển Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nhà trường phải tạo ra những con người có năng lực, đầy tự tin, có tính độc lập, sáng tạo, những người có khả năng tự học, tự đánh giá, có khả năng hòa nhập và thích nghi với cuộc sống luôn biến đổi Nghị quyết trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã xác định: “Phái khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bôi dưỡng cho IIS năng lực tư đuy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS và bồi đưỡng phương pháp học tập mà cốt lõi là tự học đề họ tự học suốt đời Có thể nói, dạy học chủ yếu là dạy cách hoc, day cach tư duy Dạy cách học chủ yếu là dạy phương pháp tự học

Một trong những phương pháp hỗ trợ HS tự học môn hóa học ở trường THPT là sử dụng HTBT BTHH đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện dé

Trang 6

chuyén tai kién thitc, phat trién tu duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất BTHH không chỉ củng có nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn

là phương tiện đề tìm tòi, hình thành kiến thức mới

Bên cạnh đó, do thời gian dạy học môn hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hoá lý thuyết về phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học 11 nâng cao và giải bài tập chưa được nhiều, không phải HS nào cũng đủ thời gian đề thấu

hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà GV truyền thụ ở trên lớp Vì vậy

việc tự học ở nhà của HS là rất quan trọng và cần thiết

Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “TUYẾN CHỌN - XÂY

DUNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THÓNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HOC SINH PHAN DAN XUAT HIDROCACBON HOA HOC 11 NANG CAO TRUONG

TRUNG HOC PHO THONG”

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon (hợp chất hữu

cơ có nhóm chức) hóa hoc 11 nang cao trường THPT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

3.2 Xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học

11 nâng cao trường THPT

3.3 Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lí, hiệu quả 3.4 TN sư phạm để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện

pháp đã đề xuất từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất 3.5 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ việc tự học cho

HS trong quá trình dạy học

4 Dối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học phần dẫn xuất hidrocacbon hóa học 11 nâng cao trường THPT

- Khách thê nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

Š Phương pháp nghiên cứu

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu lí luận về việc hỗ trợ HS tự học

- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học.

Trang 7

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi

7 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và sử dụng hợp lí, có hiệu quả HTBT hỗ trợ HS tự học phần

dẫn xuất hiđrocacbon hóa học II nâng cao thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học hóa học hiện nay ở trường THPT

8 Những đóng góp của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa, tác dụng của BTHH trong quá trình tự học của HS

- Đề tài đã đề cập đến nội dung và phương pháp hỗ trợ việc tự học của HS

- Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa hoc 11 nang cao dé hé tro HS tu hoc

- Đề xuất cách lựa chọn các dạng BTHH để hỗ trợ việc tự học của HS

- Giúp HS rèn luyện các kĩ năng giải BTHH góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT

~ Là tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình học hóa học ở trường THPT

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE TU HOC

VA BAI TAP HOA HOC

1.1 TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU

Vấn đề tự học của HS - SV đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm ở

nhiều góc độ khác nhau

1.1.1 Quan điển và tư tưởng về tự học trên thế giới

Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên thế giới Nó vẫn còn là vấn đề nóng bỏng cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại

và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo

e John Dewey (1859 - 1952) phát biểu "HS là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục" Một loạt các phương pháp dạy học theo quan điểm, tư tưởng này đã được đưa vào TN: "Phương pháp tích cực", "Phương pháp hợp tác", "Phương pháp cá thê hoá" Nói chung đây là các phương pháp mà người

học không chỉ lĩnh hội kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ

hoạt động tự học, tự tìm tòi lĩnh hội tri thức GV là người trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức giúp HS biết cách làm, cách học

e _T Makiguchi, nhà sư phạm nồi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 của thế kỷ XX đã cho rằng " Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập

và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi HS Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn HS tự học"

e_ “Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản 1982

đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn điện của mình

Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học

e Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” — Cark Rogers - một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái gì và học như thế nào ? Câu hỏi đạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp

Trang 9

e “Hiéu biét 1a strc manh của thành công” do Klas Mellander chủ biên, các tac giả

đã đề cập đến bí ân của việc học, trong đó nhắn mạnh vai trò của tự học, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện đề giúp chúng ta dễ đàng hơn trong quá trình học hỏi

e Năm 2007, cuốn “Để luôn đạt điểm 10” của GordonW Green Jr do Trần Vũ Thạch dịch đã được tái bản lần thứ 25 Với cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra cách kết hợp phương pháp đọc một quyên sách, phương pháp làm bài kiểm tra,

phương pháp trở thành sinh viên giỏi hơn, với nhau thành một hệ thống đề trở thành sinh viên đạt toàn điểm 10

e_ Năm 2008, cuốn “Tôi tài giỏi, bạn cting thé !” cia Adam Khoo do Tran Dang

Khoa và Uông Xuân Vy dịch đã được Nhà xuất bản Phụ nữ tái bản Với cuốn

sách này, tác giả đã chứng tỏ được khả năng trí tuệ tiềm ân và sự thông minh sáng tao của con người vượt xa hơn những gi chúng ta nghĩ và thường được nghe tới

1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân tA Vấn đề tự học được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi từ năm 1945, mà chú tịch Hồ chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là tắm gương để mọi người noi theo Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lay tự học làm cốt” Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát vì hồi đó chưa có chú trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rat déi dao và nội lực có gắng tìm học, tự học là nội

lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tắm gương sáng về tự học ở nước tA

Từ một GV trung hoc (1947), chi bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nồi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng

“học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao những tắm gương tự học thành tài”

Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học

Trang 10

Trần Anh Tuấn có bài viết: “Vấn đề tự học của HS từ góc độ đánh giá chất

lượng kỹ năng nghề nghiệp” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 năm 1996

PGS.TSKH Thái Duy Tuyên và Trần Thị Trúc có bài viết: “Tổ chức đạy học

trên lớp đề giúp sinh viên tự học” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 123 năm 2005

Tác giả Võ Thành Phước có bài viết: “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học

của của HS THCS” đăng trên Tạp chí Giáo dục sé 201 nim 2008

PGS.TS Đỗ Xuân Tháo và Lê Hải Yến có bài viết: “Đọc sách hiệu quá-Một

kỹ năng quan trọng đề tự học thành công” đăng trên Tạp chí Giáo đục số 198

năm 2008

Tác giả Võ Thành Phước có bài viết: “Quan niệm về tự học môn toán của HS

THCS” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo đục số 32 năm 2008

TS Ngô Quang Sơn có bài viết: “Thiết kế và sử dụng hiệu quả tài liệu tự học điện tử ở các trường Cao đăng và Đại học: Thực trạng và các biện pháp quản lí” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 43 năm 2009

PGS.TS Nguyễn Văn Bản có bài viết: “Dạy phương pháp học cho HS” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục số 50 năm 2009

TS Nguyễn Gia Cầu có bài viết: “Bồi dưỡng cho HS tính tích cực, chủ động trong quá trình tự học văn” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 237 năm 2009 Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như:

“Tôi tự học” -Thu Giang và Nguyễn Duy Cần đã đúc kết những kinh nghiệm

quý báu trong quá trình tự học và đưa ra 8 nguyên tắc đề làm việc

“Biển học vô bờ” — GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) và các tác giả đưa ra những lời khuyên chung về phương pháp học tập một số môn ở

trường THPT và giúp HS trả lời câu hỏi “Học như thế nào là tốt nhất 2 ”

Cuốn “Học và dạy cách học” do GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên,

NXB ĐHSP, xuất bản năm 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở

Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học”

Sau đó, năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nào

cho tốt” đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luật giúp người học thấy được các bước đi rỏ ràng để tiến nhanh đến đích, biết

Trang 11

cách giải quyết nhiều loại khó khăn trong quá trình tự học Hai cuốn sách này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học

Tuy vậy các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học

1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn hóa

Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học phải có tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng TN, năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập sang tao

Theo PGS.TS.Trinh Van Biéu, hoc không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thập thông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽ

hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người có thể học theo nhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá

trình học Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiện nhân cách của con người

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường: Để việc học đáp ứng 4 trụ cột mà Unesco dé ra: Hoc dé hoc cach hoc, hoc dé làm, học để sang tao va hoc dé chung sống với người khác thì người học phải tuân theo công thức 4H: Học- Hỏi- Hiểu- Hành và học 6 mọi: Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi người, học trong mọi hoàn cảnh, học bằng mọi cách, học qua mọi nội dung theo như tính than GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn đã nêu trong cuốn “học và dạy cách học” “Sáu mọi” quan hệ

chặt chẽ với nhau, cái này tận dụng cái kia và là tiền đề cho cái kiA Nói đến cái

này thì trong đó lại thấp thoáng cái kia nên dễ có cảm tưởng “trùng lặp” nhưng nếu chỉ bớt đi một cái thì lại thấy thiếu Mới nghe tướng chừng như cách học “sáu mọi” rất căng thẳng, rất nhồi nhét Thực tế, nó rất nhẹ nhàng giống như cách học trong câu: “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Người học chỉ cần có ý thức “học ”và phải kiên trì, bén bi Vi vay, luyén dần cách học “sáu mọi” càng sớm càng tốt và đù

muộn vẫn hơn không

Cách học tích cực rất đa dạng, nhưng có chung một đặc trưng là khám phá và khai phá Nếu xét tổng quát, có 4 cách học mang lại cho ta sự khám phá và sự khai

phá tối đA Nói một cách nôm na, dễ hiểu, đó là ““4 bat kỳ”:

Trang 12

(1) Hoe bat ky lúc nào

Lúc đang giờ thầy dạy, đang thời gian ôn thi, học là đương nhiên Người tích cực học cả lúc giao tiếp, lúc dạo chơi, lúc ngắm trời, Đó là những lúc được học những bài học không tên, vô cùng tự nhiên và đễ dàng thấm thía

(2) Học bắt kỳ nơi nào

Tại lớp, tại nhà, trên Internet, chưa đủ và bị chật hẹp bởi nhiều không gian

“ảo” Cần mở rộng không gian thật qua những chốn thiên nhiên và xã hội, như học

ở ngoài trời, học trong công xướng, chỗ bán hàng, nơi triển lãm,

(3) Học bắt kỳ người nào

Không chỉ học ở người thầy chính diện, còn học ở “người thầy” phản diện Học ở bạn thân và cả người mình không thích, để rút tỉa kinh nghiệm sống

(4) Học bắt kỳ nguồn nào

Không chỉ trong sách vở, trên màn hình, còn có rất nhiều nguồn phong phú và

bổ ích không kém Đó là những kênh thông tin từ báo chí, từ du kháo, từ giao lưu,

Bốn cách học “bất kỳ” ấy cần được kết hợp liên hoàn Chúng sẽ giúp ta phát

triển trí tuệ và mang lại hiệu qua cao, cả khi học tập mọi bộ môn và khi làm việc trong mọi nghề

1.2 BÀI TẠP HÓA HỌC

Thực tiễn ở trường phô thông bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là phương pháp dạy học hiệu quả Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưng phán - hứng thú nhận thức - một yếu té tâm lý gop phan rat quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con nguoi, diéu này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển

12.1 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH

1.2.1.1 Các giai đoạn của quá trình giải BTHH

Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau:

4) Nghiên cứu đầu bài

+ Đọc kỹ đầu bài

+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ cho dé str dung)

Trang 13

+ Chuyền các giả thiết đã cho về các giả thiết co ban

+ Viết PTHH của các pư có thể xảy ra

b) Xây dựng tiến trình luận giải

Thực chất là đi tìm con đường đi tư cái cần tìm đến cái đã cho Bằng cách xét một vài các bài toán phụ liên quan Tính logic của bài toán có chặt chẽ hay không là

ở giai đoạn này Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựng cho mình một tiến trình luận giải tốt, tức là GV đã dạy cho HS bằng bài tập Thông qua đó HS không chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy luận, lập luận

để giải bất kỳ một bài tập nào khác Điều này được thông qua một số dạng câu hồi

như sau (GV gợi ý sau đó tập dần cho HS tự đặt câu hoi)

©) Thực hiện tiễn trình giải

Quá trình này ngược với quá trình giải mà thực chất là trình bày lời giải một

cách tường minh từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn là

đặt ân số, đựa vào mối tương quan giữa các ẩn sé dé lap phương trình, giải phương trình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần)

d) Đánh giá việc giải

Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi

đến kết quả bằng cách khác không? tối ưu hơn không ? tính đặc biệt của bài toán

là gì ? Trên thực tế ngay cả với những HS giỏi, sau khi tìm ra cách giải và trình bày lập luận của mình một cách sáng sủa, cũng xem như việc giải đã kết thúc Như vậy chúng ta đã bỏ mắt một giai đoạn quan trong va rất bổ ích cho việc học hỏi Việc nhìn lại cách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, HS có thể

củng có kiến thức và phát triển khả năng giải bài tập của mình Người GV phái hiểu và làm cho HS hiểu: không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ

cũng còn lại một cái gì để suy nghĩ Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thể hoàn thiện cách giải và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâu sắc hơn

Tuy nhiên, việc vận dụng các giai đoạn trên vào hướng dẫn HS giải một BTHH sao cho hiệu quả còn phụ thuộc nhiều vào sự khéo léo, linh hoạt của nBƯời

GV Việc đặt câu hỏi như thế nào, sử dụng phương pháp dạy học nào và tô chức các hoạt động của HS như thế nào để HS thực hiện tốt quá trình giải (đặc biệt là giai

Trang 14

đoạn luận giải) đồng thời nắm chắc cách giải của bài tập đề có thé vận dụng vào các bài tập tiếp theo thì chưa được đề cập

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTHH

- Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả quá trình nhận thức bao gồm “một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng và khái niệm lĩnh hội được, giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi có những đòi hỏi tương ứng”

- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích luỹ thêm kỹ năng sẽ trở thành công cụ tư duy của HS

- Theo M.A Đanilôp ““ Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động

lý thuyết cũng như thực tiễn Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức Kỹ năng chính là kiến thức trong hành động Còn kỹ xảo là hành động

mà những hợp thành của nó do luyện tập mà trở thành tự động hoá Kỹ xảo là mức

độ cao của sự nắm vững kỹ năng Nếu như kỹ năng đòi hói ở mức độ nhiều, ít sự tự kiểm tra, sự tự giác, tỉ mi thì kỹ xảo là hành động đã được tự động hoá, trong đó sự

tự kiểm tra, tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một tông thé, dé dang và nhanh chóng

- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: Biết, hiểu và vận

dụng được

+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến thức khác, kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu

mà HS cần đạt được trong giờ học tập

+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được

nó vào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân Nói cách khác, hiểu một kiến thức

là nêu đúng ngoại hàm và nội diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và

hệ thống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống quen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo

+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìm

được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ

mới Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc

Trang 15

hơn càng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khi vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau đồi, một số kỹ năng kỹ xảo được hình thành và cúng có, hứng thú học tập của HS được nâng cao

- Dé dam bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thức tập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ

dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theo

nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức

sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức ấy đề giải quyết các bài toán khác nhau Ở đây, chúng ta thấy rõ quan hệ biện chứng giữa nắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của HS:

1.2.2 Xu hướng phát triển của BTHH

Thực tế giáo dục hiện nay cho thấy có rất nhiều BTHH còn quá nặng về cách giải, về thuật toán trong khi đó các kiến thức về hóa học thì ít và không gắn với thực

tế Khi giải những bài toán này thì mát rất nhiều thời gian, trong khi đó kiến thức về hóa học lĩnh hội được từ bài toán đó thì không được bao nhiêu, còn hạn chế khả năng vận dụng các kiến thức hóa học mà HS được học vào đó Những bài tập này nhiều khi làm cho các HS học trung bình dé chan nan, tham chi 1a ca những HS khá,

giỏi nhiều khi cũng như vậy Vì bài tập này đòi hỏi quá nhiều thời gian, đôi khi nó

quá khó so với trình độ hiện có của HS

Theo định hướng xây dựng SGK mới của Bộ giáo duc và đào tạo (2002), quan điểm thực tiễn và đặc thà của bộ môn hóa học cần được hiểu như sau:

- Nội dung hóa học phải có tính chất gắn liền với thực tiễn đời sống, sản xuất, xã hội

- Nội dung hóa học gắn với thực hành thí nghiệm hóa học

- BTHH phải có nội dung phù hợp

Theo quan diém do thì xu hướng phát triển chung của BTHH hiện nay là:

- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích không nặng về tính toán mà tập trung vào rèn luyện và phát triển các kĩ năng cho HS, các năng lực tư duy của HS

Trang 16

- BTHH phai chu y toi viéc rén luyén cac ki nang, thao tac lam thi nghiém

- BTHH phải chú ý tới việc mở rộng kiến thức và có sự liên hệ với thực tiễn,

có sự ứng dụng vào giải quyết các van đề thực tiễn

- Các BTHH định lượng được xây dựng trên cơ sở không phức tạp hóa bởi các thuật toán mà chú trọng tới các phép tính được sử dụng nhiều trong hóa học

- Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyền các bài tập tự luận, tính toán sang bài tập trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng các bài tập về bảo vệ môi trường

- Da dang hoá các loại bài tập như: Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ

đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm

Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tư duy của HS ở cá 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những câu hỏi có

tính chất lí thuyết học thuộc sẽ giám dần thay vào đó là những bài tập có tính chất

rèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy của HS, phát huy khả năng tim tòi, sáng tạo, độc lập của HS

1.3 TỰ HỌC

1.3.1 Khái niệm tự học

- Theo GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động

cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có

chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) dé chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”

Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như

sau: Tu học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh trị thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định

1.3.2 Các hình thức tự học

"Theo Lí luận dạy học, tự học có 3 hình thức:

- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu dé đọc, hiểu, vận

dụng các kiến thức trong đó

Trang 17

- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác

- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học

Theo tài liệu của Khoa y sinh học - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:

- Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không

có sách và sự hướng dẫn của GV

Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quá của quá trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu Tới trình độ tự học này người học không thầy,

không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động

của mình

- Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có GV bên cạnh

Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:

Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:

Trường hợp này người học tự học đề hiều, để thắm các kiến thức trong sách qua đó sẽ phát triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời

Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:

Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa

thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng

phản ánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh gia

- Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, sau

đó sinh viên về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV

Trong quá trình học tập trên lớp, gười thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chat xúc tác thúc đây và tạo điều kiện dé trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa nội lực và

Trang 18

Ngoại lực, Ngoại lực dù quan trọng đến may cũng chỉ là chất xúc tác thúc đây nội lực phát triển

Trong quá trình tự học ở nhà, tuy zgười học không giáp mặt với thầy, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn những yêu cầu do GV đề rA Tự học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của GV, được GV định hướng về nội dung, phương pháp

tự học để người học thực hiện Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này quá trình tự học của sinh viên có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tó, trong đó có yếu tố tổ chức va quan ly quá trình dạy học của GV và quá trình tự học của sinh viên

Theo GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn, khi đã có hệ thống SGK thì việc tự học

có thê diễn ra theo 3 cách sau

- Có SGK rồi người học tự đọc lay mà hiểu, mà thắm các kiến thức trong sách, qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách (như thiếu kiên trì, thiếu tư tưởng tiến công, dễ thỏa mãn ) đó là tự học ở mức cao

- Có SGK và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu là

hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính

cách trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Dé là tự học có hướng dẫn

- Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay tại lớp Thầy làm việc hướng dẫn như ở trường hợp 2 Do là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn

Khách quan mà xét thì thuận lợi đối với người học tăng dần lên từ cách 1 đến

cách 3 Nhưng sự vật rất biện chứng, khó khăn và thuận lợi có thể chuyển hóa lẫn nhau Theo cách 1 thì người học gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi gặp chỗ không hiểu không biết hỏi ai, phải lúng túng loay hoay mắt nhiều thì giờ Nhưng những lúng túng, những loay hoay đó thật đáng quý xét về phương diện chúng đòi hỏi người học phải phát huy nội lực cao và do đó nội lực phát triển mạnh Cách thứ 3 có

nhiều thuận lợi nhất nhưng thuận lợi đó có thê biến thành khó khăn nếu thầy không

Trang 19

cảnh giác với việc làm thay trò (những việc mà trò tự làm được) và trò không cảnh

giác với việc ý lại vào thầy (gặp khó khăn 1 chút là hỏi thầy ngay)

Theo hftp://webdayhoc.net, tự học có các hình thức sau:

- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế,

học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự

học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học

- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay

làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết

quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ

- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình

- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và

không biết hỏi ai

- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV

ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quá nhất định Song nếu HS vẫn sử dụng

SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiền hành tự học vì thiếu

- Hướng dẫn HS làm việc với SGK và trả lời câu hỏi ở nhà trước khi học bài

- Hướng dẫn HS làm việc với SGK trong giờ học trên lớp

Trang 20

- Lam việc với SGK sau gid hoc [tu hoc cua sinh vién, tr.100]

Từ những quan điểm về các hình thức tự học nêu trên, chúng tôi đi đến phân

loại các hình thức tự học như sau: tự học hoàn toàn (không có thầy hướng dẫn), tự học có hướng dẫn thì chia thành 2 dạng:

- Có hướng dẫn nhưng không giáp mặt: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác

- Có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học

Theo tac gia Nguyễn Ngọc Quang thì việc tự học có thẻ diễn ra theo 2 cách sau:

* Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV

- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế,

học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự

học của mình Tir do HS dé chan nan va không tiếp tục tự học

-_ Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ

- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình

- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và

không biết hỏi ai

- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV

ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quá nhất định Song nếu HS vẫn sử dụng

SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu

sự hướng dẫn về phương pháp học

Trang 21

* Tự học có hướng dẫn

Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích, nội dung và phương pháp phù hợp Hình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm day học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS

Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển, chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Hình thức tự học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong tự học

có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và

trực tiếp từ GV

Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Hóa học thường chỉ trình bày kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động đề dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khi học xong cũng không thê tự rút ra được điều gì về phương pháp làm việc để vận dụng cho các bài sau Dé khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động đề phát

hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá

kết quả

Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lóp: Hiện nay theo quy định của Bộ Giáo dục đào tạo, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian từ

2,5- 3 tiếU tuần, thời gian đó nếu đề giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diện

nếu để HS hoàn toàn tự học thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa GV và HS đề GV tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho

HS những kĩ năng tự học cụ thể Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của

GV, hầu như không có thói quen tự học, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thẻ tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thé rút ra phương pháp chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng có, nâng cao và bổ sung

Trang 22

thêm, bởi vậy tốt nhất là nên dành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó

Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực,

tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới

những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của HS chuyền từ trạng thái bị động sang chú động HS biết tự sắp xếp,

bé tri các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện,

phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết

quả hoạt động tự học của chính mình

Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện học tập như tài liệu tự học có hướng, dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,

HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ tự học Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó

Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định

hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo

ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân

Thời (2): 7 thể hiện

Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu

Trang 23

của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phâm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học

Thời (3): 7ự kiểm tra, tự điều chỉnh

Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phâm khoa học (tri thức)

1.3.4 Vai trò của tự học

Theo PGS.TS Trịnh Văn Biều, tự học có các vai trò sau:

- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người

“Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyễn cho, một thứ, quan trọng hơn nhiễu, do mình tự tìm lấy ”~ Gibbon

Chính vì vậy ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà

lo truyền dạy phương pháp tự học cho HS

- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi nguoi

- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi TPƯỜI

- Tự học khắc phục nghịch lí: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn

- Tự học góp phần dân chú hóa, xã hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng

Theo GS TSKH Nguyễn Cánh Toàn:

- Cốt lõi của việc học cũng chính là tự học Như vậy tự học chính là con đường quan trọng nhất giúp người học chiếm lĩnh được tri thức, thành đạt trong học vấn

- “Tự học không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người thầy: “Không thầy đó mày làm nên” Nhưng “mày” chỉ làm nên nếu “thầy” biết cách giúp “mày” phát triển khả năng tự học Tự học không chỉ là van dé trí dục mà còn là vấn đề đức dục

và thể dục Chỉ có tự học thì mới học được suốt đời, học một cách chủ động, giảm đến mức thấp nhất giá thành đào tạo

PGS.TS Hoàng Anh, PGS.TS Nguyễn Thị Châu đã nêu vai trò của tự học thành may diém nhu sau [tw hoc cua SV, tr.125-126]:

- Tự học là phương thức tao ra chất lượng thực sự lâu bên, là điều kiện quyết định trực tiếp đến chất lượng học tập của người học

Trang 24

- Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn tri thức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và công tác sau này

- Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học Tự học sẽ rèn luyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động trong công việc

- Tự học còn giúp người học khắc phực được những nét tính cách không phù hợp, giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn

Theo tài liệu của Khoa y sinh học - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở đại học nói riêng, GV luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của HS Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù GV có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến máy nhưng HS không chịu đầu

tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao được

Vì vậy, có thể khang định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị tri rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập

- Thứ nhất, tự học giúp HS nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai Chính trong quá trình tự học HS đã từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho HS hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, cúng có ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới

- Thứ hai, tự học không những giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú thói quen và phương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay

- Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp HS

mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp HS hình thành được những phẩm chất trí

Trang 25

tuệ và rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa học

- Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, néu bồi dưỡng được ý chí

và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở HS tiềm năng to lớn vốn có của

họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của GV và tap thé

HS trong nhà trường Các lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyến khích hướng dẫn HS tự học một cách đúng hướng và hiệu quả

Trong xã hội phát triển vai trò của giáo đục ngày càng quan trọng, là động

lực thúc đây sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phái đào tạo được thế hệ trẻ

năng động, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống

xã hội, làm phát triển xã hội Muốn Vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là khả năng tự học, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấp tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoá vốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hành trang bước vào cuộc sống

"Theo tôi tự học có vai trò như sau:

- Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối

lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Nó giúp khắc phục nghịch lý: học van thì vô hạn mà tuôi học đường thì có hạn

- Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của

sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quá học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

- Tự học là con đường thử thách rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi con người trên con đường lập nghiệp

Trang 26

- Tu hoc cia HS THPT con co vai tro quan trong đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vi vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông

- Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc biệt đối với HS THPT Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng HS sẽ khó thích

ứng do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt

- Tự học đang trở thành chìa khóa vàng trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay

1.4 THỰC TRANG VE VIEC SU DUNG HE THONG BAI TAP VA VIEC

TỰ HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHO THONG

1.4.1 Mục đích điều tra

1.4.1.1 Về phía HS

- Tìm hiểu thái độ tình cảm, nhận thức của HS về BTHH

- Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS

- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập

- Tim hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học

- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học

- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học

1.4.1.2 Về phía GV

- Tim hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV

- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy học hóa học

- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH

- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học, tự làm bài tập

Trang 27

1.4.2 Đối tượng điều tra

Chúng tôi tiền hành điều tra trên hai đối tượng: HS và GV hóa học

- Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 32 GV hóa

học ở các trường THPT ở Nghệ An và học viên lớp cao học LL và PPGD hóa học

K19) Số phiếu thu hồi được là 66 phiếu

- Chúng tôi cũng đã gởi phiếu điều tra đến 618 HS (16 lớp) ở các trường THPT khác nhau ở Nghệ An Số phiếu thu hồi được là 597 phiếu

1.4.3 Mô tả phiếu điều tra

Với mục đích điều tra trên, chúng tôi sử dụng 2 phiếu điều tra: phiếu điều tra cho GV và phiếu điều tra cho HS (phụ lục 1, 2)

1.4.3.1 Phiếu điều tra cho HS

Gồm 17 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:

a) Tim hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH (câu 1, câu 4, câu 10) b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS (câu 2, câu 3, câu 5,

1.4.3.2 Phiếu điều tra cho GV

Chúng tôi nêu lên 12 câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung:

- Tim hiéu về tình hình xây dựng HTBT của GV (câu 2, câu 3, câu 4, câu 5,

Trang 28

1.4.4, Két qua diéu tra

1.4.4.1 Phiếu điều tra cho HS: Gồm 17 câu hỏi xoay quanh 6 vấn đề:

a) Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH

Câu 1: Thái độ của HS đối với các giờ BTHH

Nhận xét: Số HS thích va rat thích giờ bài tập chiếm 49,8 % Như vậy, gần

1⁄2 số HS có thái độ tích cực đối với giờ bài tập Số HS chưa nhận thức được tác

dụng của giờ bài tập cũng khá cao ( bình thường: 45.2 % : không thích: 5,0 %) Nguyên nhân mà HS chưa thích giờ bài tập sẽ được làm rõ hơn ở câu 10

Câu 10: HS chưa thích giờ bài tập ở những điểm:

Về vấn đề này HS đã nêu nhiều ý kiến khác nhau Chúng tôi tổng kết được

một số ý kiến đáng lưu ý như sau:

- Thời gian dành cho giờ bài tập ít trong khi đó số lượng bài tập nhiều

- Nhiều dạng bài tập nên GV không thể giải chỉ tiết hết từng dạng

- Ít có bài tập tương tự từ dễ đến khó

- Bai tập tương tự không có dap sé

- Kiến thức rộng, khó bao quát

- Bài tập khó, đữ kiện phức tạp nên không biết bài toán thuộc dạng nào

Câu 4: Ứng xứ của HS khi gặp một bài tập khó

Xem kỹ bài mẫu GV đã hướng dẫn 243 40,6

Tham khảo lời giải trong sách bài tập 156 26,1

Nhận xét: Có đến 40,6 % HS xem kỹ bài mẫu GV đã hướng dẫn: 26,1%

tham khảo lời giải trong sách bài tập khi gặp bài tập khó, như vậy HS có nhu cầu

Trang 29

xem bai mau dé dinh hướng giải cho bài tập Chỉ có 19,7 % HS tích cực mày mò tìm lời giải và cũng có số lượng nhỏ hơn HS chán nản không làm ( 13,6 %

b) Việc chuẩn bị cho tiết bài tập và giải bài tập của HS

Câu 2: Thời gian HS dành đề làm BTHH trước khi đến lớp

Thời gian Số ý kiến Tỉ lệ %

của HS còn tùy hứng (thời gian không rõ - không có định)

Câu 3: Chuẩn bị cho tiết bài tập

Phương án Số ý kiến Tỉ lệ % Làm trước những bài tập về nhà 237 39,7

Đọc, tóm tắt, ghi nhận những chỗ chưa hiểu 147 24.6

bị kỹ, làm trước bài tập về nhà chỉ 39,7 % Vì vậy để HS chú ý chuẩn bị bài tập ở

nhà tốt hơn cần phải giúp HS nhận thức rõ hơn tác dụng của BTHH và tài liệu hỗ trợ đề các em có niềm tin, tập trung chuẩn bị bài

Câu 5: Số lượng bài tập HS làm được

Trang 30

Câu 7: Việc giải bài tập tương tự của HS

Nhận xét: Có đến 92,5 % HS không thường xuyên và chưa bao giờ tìm giải

bài tập tương tự ở nhà Như vậy, hầu hết HS chưa có thói quen làm bài tập tương tự

ở nhà rèn kỹ năng giải bài tập: có thé do chưa có HTBT tương tự cho HS tự học và chưa có phương pháp giải cũng như bài giải mẫu giúp HS nắm rõ các bước giái của

dạng bài tập đó Đây có thể là một nguyên nhân khiến số lượng bài tập mà HS làm

được còn thấp (câu 5)

e) Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu

tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập

Câu 6: Thời gian GV dành đề giải bài mẫu 6 lớp

Sô ý kiên Tỉ lệ %

Dư đê theo dõi và ghi chép 36 6,0

Vừa đủ để theo dõi và ghi chép 348 58.3

Đủ đề theo dõi nhưng chưa kịp ghi chép 144 24,1 Không đủ đề theo dõi và ghi chép 69 11,6

Nhận xét: Có đến 35,7 % HS không kịp theo dõi và ghi chép lại bài mẫu của GV ở lớp Như vậy, việc soạn sẵn bài mẫu cho từng dạng là hết sức cần thiết Câu 8: Những khó khăn mà HS gặp phải khi giải BTHH

Sô ý kiên Tỉ lệ %

- Các bài tập lộn xộn không theo dang 321 53,8

- Các bài tập không được xép tir dé dén kho 291 48,7

- Không có đáp sô cho bài tập tương tự 297 49,8

Trang 31

Nhận xét: Có hơn 50 % HS gặp khó khăn vi thiếu bài tập tương tự, không

có bài giải mẫu và các bài tập lộn xộn không theo dạng: ít hơn 50% HS gặp khó khăn vì các bài tập không được xếp từ đễ đến khó và không có đáp số cho bài tập tương tự

Câu 9: Yếu tố giúp HS giải tốt bài tập

Số ý kiến Tỉ lệ %

- Em xem lai bai tap da giai 381 63,8

- Em ty lam lai bai tap da giai 297 49,7

- Em từng bước làm quen va nhận dạng bài tập 351 58,8

- Em làm các bài tập tương tự 351 58,8

Như vậy, những yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập xếp theo

mức độ cần thiết giảm dần là:

1- GV giải kỹ một bài mẫu

2- HS xem lại bài tập đã giải

3- Em từng bước làm quen và nhận dạng bài tập

3- Em làm các bài tập tương tự

5- Em tự làm lại bài tập đã giải

đ) Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học

Câu 11: Sự đầu tu dé học tốt môn Hóa học

Sốý | Tilệ% | Xếp

Học thêm (ở nhà GV hoặc trung tâm) 387 64.8 1

Dành nhiều thời gian tự học có sự hướng dẫn

Trang 32

Câu 12: Sự cần thiết của tự học để đạt kết quả cao trong các kì thi hoặc

kiểm tra

Sô ý kiên Tỉ lệ % Rat can thiét 351 58,8

Can thiét 201 33,7

Binh thường 36 6.0

Nhận xét: Hầu hét HS (92,5%) déu cho ring dé đạt kết quả cao trong các ki thi hoặc kiểm tra, tự học đóng vai trò quan trọng Tỉ lệ TẤt cao, ngược lại với tỉ lệ ở câu 11 Nhu vay, HS bi ap luc tam li, co thể HS đã nhận thức được vai trò của tự học nhưng vẫn dao động, chưa tự tin để chọn tự học thay vì học thêm GV cần giup

HS nhận thức đúng vai trò của tự học và tạo niềm tin giúp các em tự học

Câu 13: Lý do HS cần phái tự học

Số ý kiên | Tỉ lệ %

Giúp HS hiểu bài trên lớp sâu săc hơn 375| 62,8

Giúp HS nhớ bài lâu hơn 399|_ 66,8

Kích thích hứng thú tìm tòi nâng cao mở rộng kiến thức 324L 543 Tập thói quen tự học và tự nghiên cứu suốt đời 294 49,2 Rèn luyện thêm khả năng suy luận logic 369|_ 63,7 Nội dung đang học thường đê cập trong các kì thi 384| 643

Một lần nữa, câu hỏi này giúp tìm hiểu nhận thức của HS về vai trò của tự học Kết quả thăm dò trên chứng tỏ ti lệ HS nhận thức rõ vai trò của tự học chưa cao Điều này có nghĩa là tỉ lệ HS đã có ý thức tốt về nhiệm vụ học tập, đặc biệt là van dé tu hoc chưa cao

e) Tim hiéu về van dé sử dụng thời gian và cách thức tự hoc

Cau 14: HS sử dụng thời gian tự học

Số ý kiến | Ti lệ%

Để đọc lại bài trên lớp 390 65.3

Đề chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn 318 53,3

Trang 33

Tỉ lệ HS dành nhiều thời gian để đọc lại bài và chuẩn bị bài trên lớp theo

hướng dẫn cao hơn tỉ lệ HS dành thời gian để đọc tài liệu tham khảo Như Vậy, VIỆC

GV soạn tài liệu hướng dẫn HS theo nội dung đã học ở lớp là hết sức cần thiết Câu 15: Cách thức tự học của HS

Chi học bài, làm bài khi cần thiết 336| 56.3

Học theo hướng dẫn, có nội dung cau hoi, bai tap cua GV 327| 54.8 Chi hoc phan nào quan trọng, cảm thây thích thú 339| 56,8

Kết quả thăm dò trên cho thấy GV cần hướng dẫn cụ thể cho việc học tập

hơn nữa, soạn thêm tài liệu học tập, tham khảo có hướng dẫn cụ thể để hệ thống hóa kiến thức và hỗ trợ cho HS tự học

Câu 17: Những tác động đến hiệu quả của việc tự học

Niêm tin và sự chủ động của HS 357 59,8 3

Sự tô chức, hướng dẫn của thây 372 62,3 1

Tài liệu hướng dẫn học tập 366| 613 2

Câu hỏi này giúp tìm hiểu nhận thức của HS về vai trò của GV và HS trong quá trình tự học Kết quả thăm dò trên chứng tỏ ti lệ HS đã nhận thức được vai trò

Trang 34

của niềm tin và sự chủ động của bản thân chưa cao HS vẫn đánh giá đánh giá cao

vai trò của sự tô chức, hướng dẫn của thầy và tài liệu hướng dẫn học tập Chúng tôi

thiết nghĩ giai đoạn giúp các em làm quen với tự học thì việc biên soạn tài liệu hướng dẫn cũng như sự tô chức, hướng dẫn của GV là hết sức cần thiết

1.4.4.2 Phiếu điều tra cho GV

Chúng tôi nêu lên 12 câu hỏi, xoay quanh 4 nội dung:

a) Tình hình xây dựng HTBT của GV

Câu 2: Sự đầy đủ các dạng và bao quát kiến thức của BTHH trong SGK và

Câu 5: Nguồn gốc của HTBT mà thầy cô đã sử dụng thêm

Sô ý kiên T¡ lệ % sách tham khảo 50

Trang 35

Câu 6: HTBT được thiết kế theo

- GV giải bài mẫu, HS về nhà làm bài tập

tương tự có kèm theo dap sé

Trang 36

c) Tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH

Câu8: Số lượng bài tập trung bình mà GV hướng dẫn giải trong 1 tiết học

Số bài tập được thực hiện trong một tiết học trung bình là 3,6 bài

Câu 9: Số HS làm được bài tập (ở lớp)

Câu 10: Những khó khăn mà thầy cô gặp phải trong khi dạy BTHH

Điểm trung bình các khó khăn gần bằng nhau

e) Biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học, tự làm bài tập

Câu 11: Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học

Sô ý kiên T¡ lệ % Rât cân thiệt 62 93,9

Trang 37

Hầu hết các GV đều cho rằng tắt cần thiết phải xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học

Câu 12: Mức độ cần thiết của các biện pháp xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học

1.4.5 Những kết luận rút ra từ kết quả điều tra

1 Số HS thích giờ bài tập không cao, HS chưa chuẩn bị kĩ cho tiết bài tập

Nguyên nhân chú yếu là do HS không biết nhận dạng, chưa nắm phương pháp giải từng dạng không giải được bài tập dẫn đến chán nân

2 Số lượng bài tập và số HS làm được bài tập không cao; HS chưa có thói quen tìm các bài tập tương tự đề giải ở nhà

3 Thời gian dành cho việc theo dõi và ghi chép các bài tập ở lớp chưa đủ

4 Các bài tập xếp lộn xộn, không theo dạng là khó khăn chính khiến HS không giải được bài tập

5 HS có mong muốn GV giúp HS từng bước nhận đạng giải kỹ bài mẫu cho từng dạng và cho các bài tập tương tự đề các em giải thành thạo một dang bài tập

Trang 38

6 Hau hét GV déu nhin nhan vai tro quan trong cua BTHH trong day hoc hóa học

7 GV đã chú ý soạn thêm HTBT ngoài bài tập ở SGK và bài tập, chú yếu soạn theo chuyên đề, chương

§ Khó khăn lớn nhất của GV khi dạy BTHH là không đủ thời gian, do đó số bài tập mà GV phải dạy trong một tiết học khá nhiều (3,6 bài) Một khó khăn

không nhỏ là không có HTBT chất lượng hỗ trợ HS tự học

9.GV cho rằng việc xây dựng HTBT hỗ trợ HS tự học là rất cần thiết Theo

các thầy cô, HTBT hỗ trợ tốt cho HS tự học là HTBT có phân dạng, xếp từ đễ đến

khó, có bài giải mẫu cho từng dạng, có bài tập tổng hợp để HS hệ thống và củng

cố kiến thức, được soạn chỉ tiết theo từng bài học và có đáp số cho các bài tập tương tự

10 HS cũng đánh giá cao vai trò của tự học đối với kết quả của các kỳ thị, kiểm trA Các em đã nhận thức được để tự học tốt thì bản thân phải có niềm tin và

sự chủ động, mong muốn GV soạn tài liệu hướng dẫn cũng như tổ chức, hướng dẫn

cụ thể hơn cho việc học tập

Trang 39

TIEU KET CHUONG 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày những vấn dé cơ bản về cơ sở lý luận va thực tiễn của đề tài

- Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới, trong lịch sử giáo dục Việt

Nam và đối với bộ môn Hóa học

- Quá trình giải BTHH, hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH, xu hướng phát triển của BTHH

- Tự học: Khái niệm, các hình thức tự học, chu trình tự học của HS, vai trò của tự học

Kết quả điều tra thực trạng việc sứ dụng hệ thống BTHH hỗ trợ việc tự học cho HS trong quá trình dạy học ở trường THPT cho thấy cần có HTBT hỗ trợ HS tự học đề khắc phục những khó khăn mà các em gặp phải trong quá trình giải BTHH Qua đó, chúng tôi nhận thay xây dựng va sử dung HTBT hỗ trợ HS tự học là một xu hướng đổi mới đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học hiện nay

Trang 40

Chương 2

TUYỂN CHỌN - XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THÓNG

BAI TAP HO TRO VIEC TU HOC PHAN DAN XUAT HIDROCACBON HOA HOC 11 NANG CAO TRUONG TRUNG HOC PHO THONG

2.1 NGUYEN TAC XAY DUNG

SGK Hóa học được coi là một trong những nguồn cung cấp tri thức cơ bản cho HS và là phương tiện để GV tổ chức các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất

lượng kiến thức, rèn luyện khả năng tự học, tự lĩnh hội kiến thức cho HS Với

mong muốn hỗ trợ HS tự học nhằm nâng cao kết quả học tập, khi xây dựng HTBT chúng tôi đặc biệt chú ý các nguyên tắc sau:

2.1.1 Đảm bảo tính khoa học

Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yêu của việc lựa chọn nội dung Theo nguyên tắc này, bảo đâm tinh co ban là phải đưa vào hệ thống BTHH những kiến thức cơ bản về hoá học Bảo đảm (ính hiện đại tức là phải đưa trình độ của môn học đến gần trình độ của khoa học

Điều kiện quan trọng đề thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống của kiến thức, thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng: dùng phương pháp khái quát hoa dé diễn đạt kiến thức: tập trung vào kiến thức trọng tâm

2.1.2 Dam bao tinh logic

Tính logic được hiểu một cách đơn giản chính là hợp li Hop li trong cả việc

chọn nội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT (ở đây là những HS

học chương trình nâng cao) và hợp lí trong việc trình bày các kiến thức đó HTBT

phải được trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng

2.1.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng

- Thông qua HTBT, HS tái hiện hầu hết các kiến thức cần nhớ

- Đầy đủ các dạng bài tập thường gặp

2.1.4 Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập

Sắp xếp các dạng bài tập một cách có quy củ và có sự liên tục để người sử dụng thấy được chúng là những bộ phận có liên hệ chặt chế với nhau

2.1.5 Đảm bảo tính vừa sức

Tính vừa sức cần hiểu theo 2 khía cạnh:

Ngày đăng: 21/08/2014, 06:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1.  Các  lớp  TN  và  ĐC - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
Bảng 3.1. Các lớp TN và ĐC (Trang 144)
Dùng  để  so  sánh  độ  phân  tán  trong  trường  hợp  2  bảng  phân  phối  có  giá  trị - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng để so sánh độ phân tán trong trường hợp 2 bảng phân phối có giá trị (Trang 146)
Bảng  3.2.  Bảng  điểm  bài  kiểm  tra  15  phút - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.2. Bảng điểm bài kiểm tra 15 phút (Trang 147)
Hỡnh  3.1.  Dộ  thị  đường  lủy  tớch  bài  kiểm  tra  15  phỳt - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
nh 3.1. Dộ thị đường lủy tớch bài kiểm tra 15 phỳt (Trang 148)
Bảng  3.4.  Tổng  hợp  kết  quả  học  tập  bài  kiểm  tra  15  phút - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.4. Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra 15 phút (Trang 148)
Bảng  3.5.  Tổng  hợp  các  tham  số  đặc  trưng  bài  kiểm  tra  15  phút - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.5. Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra 15 phút (Trang 149)
Bảng  3.6.  Bảng  điểm  bài  kiểm  tra  1  tiết - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.6. Bảng điểm bài kiểm tra 1 tiết (Trang 149)
Bảng  3.7.  Phân  phối  tần  só,  tần  suất  và  tần  suất  lũy  tích  bài  kiểm  tra  1  tiết - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.7. Phân phối tần só, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra 1 tiết (Trang 150)
Hình  2.3.  Dô  thị  đường  lũy  tích  bài  kiểm  tra  1tiét - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
nh 2.3. Dô thị đường lũy tích bài kiểm tra 1tiét (Trang 151)
Bảng  3.8.  Tổng  hợp  kết  qua  học  tập  bài  kiểm  tra  1  tiết  Lớp  %  Yếu  -  Kém |  %  Trung  bình  %Khá  %  Giỏi - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.8. Tổng hợp kết qua học tập bài kiểm tra 1 tiết Lớp % Yếu - Kém | % Trung bình %Khá % Giỏi (Trang 151)
Bảng  3.9.  Tổng  hợp  các  tham  só  đặc  trưng  bài  kiểm  tra  1  tiết - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.9. Tổng hợp các tham só đặc trưng bài kiểm tra 1 tiết (Trang 151)
Bảng  3.10.  Nhận  xét  của  GV  về  HTBT - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.10. Nhận xét của GV về HTBT (Trang 152)
Bảng  3.12.  Nhận  xét  của  HS  HTBT - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ việc tự học cho học sinh phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao trường trung học phổ thông
ng 3.12. Nhận xét của HS HTBT (Trang 155)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w