4 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục với đề tài : ”Đánh giá mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy tốt
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Đỗ Thị Thúy
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN
CỦA SINH VIÊN CHÍNH QUY TỐT NGHIỆP
NGÀNH ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN VÀ MÁY TÀU BIỂN
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội, năm 2012
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Đỗ Thị Thúy
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN
CỦA SINH VIÊN CHÍNH QUY TỐT NGHIỆP
NGÀNH ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN VÀ MÁY TÀU BIỂN
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI
Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong Giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Đức Ngọc
Hà Nội, năm 2012
Trang 33
LỜI CÁM ƠN
Trước hết, tác giả muốn gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Lê Đức Ngọc đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất để giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tác giả chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo, các anh chị trong Viện Đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cần thiết để tác giả có thể triển khai và hoàn thành đề tài đúng tiến độ
Tác giả chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban giám hiệu, các giảng viên thuộc 2 khoa: Khoa Điều khiển tàu biển; Khoa Máy tàu biển, các thầy thuộc Trung tâm Huấn luyện thuyền viên, Công ty vận tải biển Vicmac, Công ty VINIC thuộc trường Đại học Hàng hải đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong việc tiến hành điều tra, khảo sát theo đúng tiến độ đề ra
Tác giả rất mong muốn nhận được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến của Quý Thầy, Cô để hoàn thiện luận văn và rút kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau này
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Thị Thúy
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá
trong giáo dục với đề tài : ”Đánh giá mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh
viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển tàu biển và ngành Máy tàu biển Trường Đại học Hàng hải” là sản phẩm nghiên cứu của tôi; số liệu và kết luận
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa hề được công bố trên các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
Đỗ Thị Thúy
Trang 55
MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CÁM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 01
1 Lý do chọn đề tài 01
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 02
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 03
4 Phương pháp nghiên cứu 03
4.1 Câu hỏi nghiên cứu 03
4.2 Giả thiết nghiên cứu 03
4.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 04
4.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 09
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 11
1.2 Cơ sở lý luận thuộc về đề tài 18
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng thể và mẫu nghiên cứu 25
2.2 Tiến trình nghiên cứu 26
2.3 Xây dựng công cụ đo lường 28
2.4 Kiểm tra độ tin cậy, tính hiệu lực của công cụ đo lường 30
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số thông tin về khách thể nghiên cứu 35
3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ đáp ứng về kiến thức của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 39
3.3 Phân tích kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ đáp ứng về kỹ năng của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 55
Trang 66
3.4 Phân tích kết quả nghiên cứu về đánh giá mức độ đáp ứng về thái độ
nghề nghiệp của sinh viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 70
CHƯƠNG IV CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỀ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP HỆ CHÍNH QUY THUỘC 2 NGÀNH ĐI BIỂN ĐỐI VỚI YÊU CẦU CÔNG VIỆC TRÊN BIỂN 74
4 1 Các giải pháp đối với mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo và huấn luyện sinh viên ngành đi biển 74
4.2 Các giải pháp tăng cường trong công tác thực tập, nghiệp vụ tay nghề kỹ thuật, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ thuyền viên ngành đi biển 80
4 3 Các giải pháp tăng cường đầu tư để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên đào tạo, huấn luyện hàng hải 82
4 4 Nhu cầu cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và huấn luyện 83
4.5 Những đề xuất ý kiến về chính sách hỗ trợ cho sinh viên 83
PHẦN KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 77
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu thống kê số sinh viên ngành Điều khiển tàu biển 25 Bảng 2.2 Số liệu thống kê số sinh viên ngành Máy tàu biển 26
Bảng 2.3 Thống kê số lượng cựu sinh viên được điều tra thử nghiệm 30
Bảng 2.4 Hệ số độ tin cậy Alpha của các tiểu thang đo/thang đo điều
Bảng 2.5 Thống kê số lượng cựu sinh viên được điều tra chính thức 32
Bảng 2.6 Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng
về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành ĐKTB 34
Bảng 2.7 Tương quan điểm giữa các tiểu thang đo mức độ đáp ứng
về kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành MTB 34 Bảng 3.1 Mô tả đặc điểm về hệ đào tạo và khóa học của mẫu đối với
Bảng 3.2 Bảng thống kê mô tả đặc điểm năm sinh của mẫu đối với
Bảng 3.3 Bảng thống kê mô tả chức danh trên tàu của mẫu đối với
Bảng 3.4 Mức độ đáp ứng về mặt Nắm vững kiến thức của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 39
Bảng 3.5 Mức độ đáp ứng về mặt Thành thạo kiến thức của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 40
Bảng 3.6 Mức độ đáp ứng về mặt Hữu ích kiến thức của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 41
Bảng 3.7 Mức độ đáp ứng về mặt Tần suất kiến thứccủa cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 43
Bảng 3.8 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thứcgiữa
Bảng 3.9 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
Bảng 3.10 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
Bảng 3.11 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
Bảng 3.12 Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, tần suất sử dụng 48
Trang 88
kiến thức chuyên môn của các item (ĐKTB)
Bảng 3.13 Giá trị trung bình về mức độ thành thạo, hữu ích kiến thức
Bảng 3.14 Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, tần suất sử dụng
Bảng 3.15 Giá trị trung bình về mức độ thành thạo, hữu ích kiến thức
Bảng 3.16 Bảng thống kê tỷ lệ mức độ kiến thức có được của cựu sinh viên
ĐKTB có được khi tham gia các loại hình đào tạo khác nhau 54
Bảng 3.17 Mức độ đáp ứng về mặt Nắm vững kỹ năng của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 55
Bảng 3.18 Mức độ đáp ứng về mặt Thành thạo kỹ năng của cựu sinh
viên 2 ngành đi biển đối với công việc trên biển 56
Bảng 3.19 Mức độ đáp ứng về mặt Hữu ích kỹ năng của cựu sinh viên
Bảng 3.20 Mức độ đáp ứng về mặt Tần suất kỹ năng của cựu sinh viên
Bảng 3.21 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kỹ năng giữa sinh
Bảng 3.22 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kỹ năng giữa sinh
Bảng 3.23 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kỹ nănggiữa sinh
Bảng 3.24 So sánh điểm trung bình mức độ đáp ứng kiến thức giữa
Bảng 3.25 Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, thành thạo Kỹ năng
Bảng 3.26 Giá trị trung bình về mức độ Hữu ích và tần suất sử dụng
Bảng 3.28 Giá trị trung bình về mức độ nắm vững, thành thạo Kỹ năng
Bảng 3.29 Giá trị trung bình về mức độ Hữu ích và tần suất sử dụng
Bảng 4.1 Bảng tổng hợp về phân bố thời lượng đào tạo cho 2 ngành 74
Trang 99
Bảng 4.2 Bảng khảo sát tăng, giảm thời lượng lý thuyết và thực hành
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ mô tả đường phân phối chuẩn của kết quả đánh
giá kiến thức, kỹ năng, từ phái sinh viên và cán bộ quản lý 38
Biểu đồ 3.2 Đồ thị phân tán số liệu giữa 2 mức độ đáp ứng về kiến thức và
mức độ đáp ứng về kỹ năng của sinh viên ngành ĐKTB 69
Biểu đồ 3.3 Đồ thị phân tán số liệu giữa 2 mức độ đáp ứng về kiến thức và
mức độ đáp ứng về kỹ năng của sinh viên ngành MTB 69
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 101
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng trong khu vực châu Á, nằm trong khu vực
có mạng lưới vận chuyển hàng hóa bằng đường biển năng động vào bậc nhất trên thế giới Mặt khác, với hơn 3,260km bờ biển, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển vận tải biển và các dịch vụ khác liên quan đến biển
Tháng 2 năm 2007, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khoá X) đã
thông qua Nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020”, đây là Chiến lược
đầu tiên của Việt Nam về biển và cũng là kim chỉ nam để định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay Cùng với việc thực hiện các cam kết khi gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới, việc tổ chức thực hiện có hiệu quả các ngành, lĩnh vực kinh tế biển gắn với xây
dựng và phát triển “Thương hiệu biển Việt Nam” theo định hướng Chiến lược biển
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta “Tiến nhanh ra biển, trở thành Quốc
gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”, như tinh thần Nghị quyết 4 về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” đã yêu cầu
Ngành Hàng hải nói chung và vận tải biển nói riêng được xác định là ngành lợi thế lớn và trong những năm qua đã có bước phát triển vượt bậc mang tính quốc tế ngày càng cao và từng bước đáp ứng yêu cầu cho hoạt động vận tải biển ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Bên cạnh các yếu tố làm nên “Thương hiệu biển Việt Nam” thì nhân tố con
người trở thành nhân tố quyết định cho sự phát triển chung đó Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, với quan điểm lấy con người làm trung tâm, các chiến lược phát triển đều hướng vào phát triển nguồn nhân lực ở những khía cạnh chủ chốt về giáo dục và đào tạo, thể chất, chăm sóc sức khỏe Đầu
tư cho con người luôn là dạng đầu tư an toàn nhất và có hiệu quả nhất Tháng 3/2007, hội nghị trung ương lần thứ 4 đã khẳng định Chiến lược biển Việt Nam với
định hướng: Kinh tế biển (trong đó có ngành Hàng hải ) sẽ đem về cho đất nước
53,55% GDP Chiến lược trên đặt ra cho ngành Hàng hải phải vươn lên mạnh mẽ về mọi mặt Quyết định của Thủ tướng đề cập đến nhiều biện pháp, trong đó nhấn
mạnh: phải tăng cường phát triển nguồn nhân lực theo hướng nâng cao chất lượng
Trang 11Lao động hàng hải thuộc nhóm đặc thù, công việc phức tạp do môi trường làm việc chịu ảnh hưởng sóng, gió, bão tố và mức độ rủi ro cao, đòi hỏi thuyền viên phải
có sức khỏe tốt, ý thức kỷ luật, tinh thần đoàn kết, ý thức làm việc, lao động cao, trình
độ kỹ thuật, nghiệp vụ, chuyên môn vững vàng và tinh thông ngoại ngữ Tuy vậy, thực trạng nhân lực ngành hàng hải nói chung vẫn trong tình trạng yếu và thiếu Trong năm 2010, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đang triển khai kiểm tra việc thực hiện các công ước quốc tế quy định về vấn đề đào tạo thuyền viên, việc cấp các chứng chỉ có liên quan cho thuyền viên tại các cơ sở đào tạo có đáp ứng các yêu cầu
đề ra trong công ước quốc tế không? Như vậy, việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo và huấn luyện thuyền viên của Trường Đại học Hàng hải ngày càng trở nên cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững nguồn nhân lực Hàng hải
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về việc nâng cao năng lực đào tạo hàng hải Việt Nam nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành hàng hải, tuy nhiên việc đi sâu, tìm hiểu mức độ đáp ứng công việc trên điều kiện môi trường biển của sinh viên chính quy khi tốt nghiệp ra trường chưa được triển khai, các thông tin,
thống kê còn thiếu Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “ Đánh giá mức độ
đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy tốt nghiệp ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển của Trường Đại học Hàng hải” làm hướng nghiên cứu
với mong muốn đóng góp một phần cải thiện chất lượng đào tạo và huấn luyện nguồn nhân lực các ngành đi biển chất lượng cao cho trường Đại học Hàng hải
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thực hiện việc tìm hiểu mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy đã tốt nghiệp Trường Đại học Hàng hải thông
Trang 123
qua trình độ kiến thức, kỹ năng làm việc và thái độ đối với công việc mà sinh viên
đã được trang bị khi còn học trong Nhà trường Trên cơ sở phân tích, xử lý, đánh giá các kết quả đã thu được để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, công tác huấn luyện cho nguồn nhân lực đi biển của Trường Đại học Hàng hải, đảm bảo đưa ra được những sản phẩm nguồn nhân lực hoàn thiện nhất đáp ứng tốt các yêu cầu của công việc trên biển
3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đề tài giới hạn ở mức độ phân tích, đánh giá khả năng đáp ứng công việc trên biển của sinh viên chính quy thuộc 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển đã tốt nghiệp Trường Đại học Hàng hải đang làm việc trên tàu thuộc các công ty vận tải biển trong nước và nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Câu hỏi nghiên cứu:
+ Các mức độ về kiến thức của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp ứng ở mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
+ Các mức độ về kỹ năng của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp ứng ở mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
+ Các mức độ về thái độ nghề nghiệp của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển được đào tạo trong nhà Trường được trang bị đã đáp ứng ở mức nào trước những yêu cầu công việc trên biển?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu:
+ Các kiến thức mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển tàu biển
và Máy tàu biển được đào tạo trong Nhà trường đáp ứng tương đối khá tốt những yêu cầu công việc trên biển
+ Các kỹ năng mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển được luyện tập trong Nhà trường đáp ứng tốt những yêu cầu công việc trên biển
Trang 134
+ Thái độ nghề nghiệp mà sinh viên chính quy tốt nghiệp 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển được rèn luyện trong Nhà trường đáp ứng tốt những yêu cầu công việc trên biển
4.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.3.1 Đối tượng nghiên cứu,
Đối tượng nghiên cứu là các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ nghề nghiệp của sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển
đã được đào tạo và huấn luyện trong Trường Đại học Hàng hải đáp ứng được những
yêu cầu công việc trên biển
4.3.2 Khách thể nghiên cứu:
+ Sinh viên hệ chính quy đã tốt nghiệp ra trường từ 3 năm trở lại đây (khóa
45, 46, 47) của 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển đang làm việc trên các con tàu thuộc một số công ty vận tải biển trong nước và nước ngoài
+ Ngoài ra, để tăng độ tin cậy của các thông số từ phía sinh viên, đề tài sẽ lấy dữ liệu, một số thông tin từ đội ngũ cán bộ quản lý trực tiếp các đối tượng thuyền viên trên ở trên tàu như: Thuyền trưởng, Đại phó, Máy trưởng, Máy nhất, cán bộ quản lý tại công ty, giảng viên tham gia công tác giảng dạy, huấn luyện đã có thâm niên đi tàu
+ Căn cứ vào số lượng tàu biển của một số công ty vận tải biển của Việt Nam, đề tài đã chọn ra một số chức danh cho vấn đề nghiên cứu, cụ thể: sỹ quan vận hành (sỹ quan boong; sỹ quan máy); thủy thủ; thợ máy, Vậy chức trách công việc của các vị trí được nghiên cứu trong đề tài được quy định trong bộ công ước quốc tế STCW78/95 như sau [18, tr 20-30]:
+ Phó hai: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền trưởng khi tàu
hành trình và đại phó khi tàu không hành trình, có nhiệm vụ sau đây:
Trực tiếp phụ trách và tổ chức quản lý, bảo dưỡng các máy móc, thiết bị hàng hải, hải đồ và các tài liệu về hàng hải, dụng cụ và thiết bị phòng chống cháy trên tàu;
Quản lý buồng lái, buồng hải đồ, nhật ký hàng hải; bảo quản và tu chỉnh hải đồ; các tài liệu hàng hải khác theo các thông báo nhận được; chuẩn bị hải đồ, tài liệu về hàng hải cho chuyến đi; kiểm tra đèn hành trình, máy móc, thiết bị và dụng
cụ hàng hải thuộc phạm vi mình phụ trách;
Trang 14 Lập kế hoạch dự trù phụ tùng thay thế, các hạng mục sửa chữa định kỳ và đột xuất; đảm bảo cho các máy móc hàng hải luôn ở trạng thái hoạt động bình thường; có độ chính xác cao, đồng thời quản lý và sử dụng hợp lý vật tư, trang thiết
bị được cấp;
Thường xuyên kiểm tra chất lượng các bình chữa cháy, tổ chức quản lý và thay thế các chất trong bình khi hết hạn sử dụng; quản lý tốt các dụng cụ, trang bị phòng chống cháy, đảm bảo cho các trang thiết bị đó luôn ở vị trí quy định và sẵn sàng hoạt động;
Giúp đại phó theo dõi việc giao nhận và bốc dỡ hàng hóa theo đúng sơ đồ
đã được thuyền trưởng duyệt;
Khi có điều động ra tàu, vào cảng phải có mặt ở phía lái tàu hoặc vị trí do thuyền trưởng chị định để chỉ huy thực hiện lệnh của thuyền trưởng; trường hợp cần thiết theo sự phân công của thuyền trưởng, đảm nhiệm một số nhiệm vụ của đại phó;
Ít nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng, phải báo cáo đại phó về các công việc chuẩn bị của mình cho chuyến đi;
Đảm nhiệm các công việc của phó ba nếu trên tàu không bố trí chức danh này trừ nhiệm vụ trực ca do thuyền trưởng đảm nhiệm;
Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập phó hai;
Đảm nhiệm ca trực từ 00 giờ đến 04 giờ và từ 12 giờ đến 16 giờ hàng ngày
Thực hiện các nhiệm vụ khác do thuyền trưởng phân công,
+ Phó ba: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thuyền trưởng khi tàu
hành trình và của đại phó khi tàu không hành trình, có nhiệm vụ sau đây:
Trực tiếp phụ trách và tổ chức bảo quản, bảo dưỡng các phương tiện cứu sinh như xuồng cứu sinh, phao tự thổi; phao tròn, áo phao cá nhân và phải đảm bảo các dụng cụ, thiết bị này luôn ở trạng thái sẵn sàng sử dụng an toàn, thuận lợi khi có tình huống khẩn cấp xảy ra;
Trang 156
Thường xuyên kiểm tra các trang thiết bị trên xuồng cứu sinh, lập kế hoạch và định kỳ tiến hành thay thế, bổ sung các dụng cụ, nước ngọt, lương khô, thuốc cấp cứu sau khi đã được thuyền trưởng phê duyệt;
Trực tiếp phụ trách công tác hành chính trên tàu và quản trị trên tàu nếu trên tàu không bố trí chức danh này
Giúp đại phó trong việc kiểm tra, bảo quản các dụng cụ, thiết bị cứu thủng;
Giúp phó hai trong việc bảo quản, chỉnh lý các dụng cụ, thiết bị hàng hải,
tu chỉnh hải đồ và các tài liệu hướng dẫn hàng hải khác;
Chậm nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng, phải báo cáo đại phó biết về việc chuẩn bị của mình,
Khi điều động tàu ra, vào cảng, có mặt ở buồng lái để thực hiện lệnh của thuyền trưởng trong việc điều khiển tau chuông, ghi chép nhật ký điều động, xác định vị trí tàu và các nghiệp vụ hàng hải khác;
Hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập phó ba;
Đảm nhiệm ca trực từ 08 giờ đến 12 giờ và từ 20 giờ đến 24 giớ hàng ngày,
Thực hiện các nhiệm vụ khác do thuyền trưởng phân công,
+ Thủy thủ: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của thủy thủ trưởng,
có nhiệm vụ sau đây:
Bảo quản, bảo dưỡng vở, boong tàu, các máy móc thiết bị khác theo sự phân công của thủy thủ trưởng hoặc thủy thủ phó;
Theo dõi việc bốc dỡ hàng hóa, kịp thời phát hiện những bao bì rách, bị ướt, bốc dỡ không đúng quy định và báo cáo sỹ quan trực ca boong biết để xử lý, Nắm vững công việc khi ra vào cảng, đóng mở hầm hàng, làm dây, nâng và hạ cần cẩu, đo nước, bảo quản đưa đón hoa tiêu lên và rời tàu, thông thạo thông tin tín hiệu bằng cờ và đèn;
Nắm vững cấu trúc, đặc điểm, tính năng kỹ thuật của tàu, các nơi quy định đặt các thiết bị cứu hỏa, cứu sinh, cứu thủng tàu, bảo quản và sử dụng các trang thiết bị đó đúng quy định;
Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của tàu về các chế độ làm việc, ăn ở, sinh hoạt, an ninh, trật tự và vệ sinh trên tàu;
Trang 167
Nếu thủy thủ được đào tạo và huấn luyện về kỹ thuật lặn thì khi thực hiện công việc dưới nước theo sự phân công của đại phó hoặc thủy thủ trưởng phải đảm bảo an toàn và hoàn thành nhiệm vụ được giao,
+ Máy ba: Chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của máy trưởng, có nhiệm
vụ sau đây:
Trực tiếp quản lý và khai thác máy phát điện, máy nén gió độc lập, máy lọc dầu đốt, bơm dầu đốt, thiết bị hâm nóng nhiên liệu và thiết bị khác, Trên các tàu máy hơi nước, máy ba phụ trách đốt lò, nồi hơi và các máy móc, thiết bị thuộc lò và nồi hơi; trực tiếp điều hành công việc của thợ lò, nếu trên tàu không bố trí trức danh trưởng lò;
Tổ chức tiếp nhận, bảo quản, phân phối điều chỉnh tính toán nhiêu liệu cho tàu;
Lập và trình máy trưởng kế hoạch sửa chữa, bảo quản đối với các máy móc, thiết bị do mình quản lý và tổ chức triển khai việc sửa chữa theo kế hoạch đã được phê duyệt
Lập dự trù vật tư kỹ thuật cho máy móc, thiết bị thuộc mình quản lý và tổ chức quản lý, sử dụng vật tư kỹ thuật theo quy định hiện hành;
Theo dõi ghi chép các thông số kỹ thuật và quản lý các hồ sơ, tài liệu của máy móc thiết bị do mình phụ trách;
Khai thác công suất máy đạt hiệu quả kinh tế cao và bảo đảm tình trạng kỹ thuật, chế độ hoạt động của các máy móc, thiết bị theo đúng quy trình, quy phạm hiện hành
Chậm nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng phải báo cáo máy trưởng biết việc chuẩn bị của mình cho chuyến đi;
Đảm nhiệm nhiệm vụ của máy tư nếu trên tàu không bố trí chức danh máy
tư, trừ nhiệm vụ trực ca do máy trưởng đảm nhiệm;
Hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn thực tập cho máy ba
Trực ca từ 00 giờ đến 04 giờ và từ 12 giờ đến 16 giờ hàng ngày;
Đảm nhiệm các công việc khác do máy trưởng phân công
+ Máy tƣ: chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của máy trưởng, có nhiệm vụ sau:
Trực tiếp quản lý và khai thác hệ thống đường ống, hệ thống nước dằn, hệ thống ống thông gió buồng máy, hệ thống nước sinh hoạt và vệ sinh, nồi hơi phụ,
Trang 17 Lập dự trù vật tư kỹ thuật cho máy móc, thiết bị do mình quản lý và tổ chức quản lý, sử dụng vật tư được cấp theo quy định hiện hành
Trước khi nhận hàng, cùng với đại phó kiểm tra hầm hàng, nước dằn và các hệ thống đường ống để chuẩn bị cho việc xếp hàng;
Theo dõi, ghi chếp các thông số kỹ thuật và quản lý các hồ sơ tài liệu của máy móc thiết bị do mình phụ trách;
Khai thác máy đảm bảo tình trạng kỹ thuật, chế độ hoạt động của máy móc, thiết bị theo đúng quy trình, quy phạm hiện hành;
Ít nhất 03 giờ trước khi tàu rời cảng phải báo cáo cho máy trưởng biết việc chuẩn bị của mình cho chuyến đi,
Hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn cho thực tập máy tư trên tàu
Đảm nhiệm các công việc khác do máy trưởng phân công
+ Thợ máy chính (fitter): chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của máy hai,
có nhiệm vụ như sau:
Bảo dưỡng, sửa chữa các máy móc thiết bị theo yêu cầu và hướng dẫn của máy trưởng và các sỹ quan máy
Bảo quản các máy công cụ và đồ nghề được trang bị tại xưởng
Thực hiện chế độ vệ sinh công nghiệp đối với máy móc thiết bị bộ phận máy
Khi cần thiết, thực hiện nhiệm vụ trực ca của thợ máy theo sự phân công của máy trưởng
+ Thợ máy (Oiler): chịu sự quản lý điều hành trực tiếp của máy hai và sự
phân công trực tiếp của sỹ quan máy trực ca, có nhiệm vụ sau:
Thực hiện các công việc bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị, vệ sinh buồng máy, nơi làm việc, tiếp nhận phụ tùng, vật tư theo sự phân công của máy hai,
Sử dụng máy móc, thiết bị cứu hỏa, cứu sinh, phòng độc, chống nóng, chống khói, lọc nước biển, dầu mỡ, phòng ngừa ô nhiễm môi trường theo quy trình quy phạm,
Trang 189
4.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu:
4.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Nghiên cứu Bộ luật về các tiêu chuẩn Huấn luyện cấp bằng đi ca cho thuyền viên trong Công ước quốc tế STCW của tổ chức Hàng hải Quốc tế 1996: Bảng A-II/1: Quy định về tiêu chuẩn năng lực tối thiểu đối với sỹ quan boong trực ca biển trên tàu 500 T đăng ký toàn phần hoặc lớn hơn; Bảng A-II/3: Quy định về tiêu chuẩn năng lực tối thiểu đối với sỹ quan boong trực ca biển và đối với thuyền trưởng trên tàu nhỏ hơn 500 T đăng
ký toàn phần, đảm nhận hành trình gần bờ; Bảng A-II/4: Quy định tiêu chuẩn năng lực tối thiểu cho thủy thủ là thành viên của một ca trực biển; Bảng A-III/1: Quy định về tiêu chuẩn năng lực tối thiểu cho sĩ quan máy trực ca trong máy có người điều khiển hoặc phân công làm nhiệm vụ sỹ quan máy trong một buồng máy không có người điều khiển theo chu kỳ; Bảng A-III/4: Quy định tiêu chuẩn năng lực tối thiểu đối với thợ máy là thành viên của ca trực máy
- Nghiên cứu Mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra cho sinh viên 2 ngành ĐKTB và MTB
- Nghiên cứu các văn bản của quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác giáo dục đại học: Luật giáo dục; Chuẩn nghề nghiệp
- Nghiên cứu Bộ công ước quốc tế STCW về tiêu chuẩn thuyền viên; Luật Hàng hải dành cho sinh viên ngành Điều khiển tàu biển và sinh viên ngành Máy tàu biển
- Nghiên cứu chương trình khung, mục tiêu đào tạo, số liệu về đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên, thuyền viên có liên quan chất lượng đầu ra của sinh viên 02 ngành đi biển của Trường Đại học Hàng hải
4.4.2 Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp điều tra khảo sát
+ Phương pháp phỏng vấn sâu
4.4.3 Công cụ sử dụng để nghiên cứu:
+ Phiếu xin ý kiến để thu thập thông tin, dữ liệu;
+ Dùng các phần mềm toán học ứng dụng chuyên ngành để tổng hợp, xử lý, phân tích, đánh giá các số liệu thu được (SPSS; Excel; )
4.4.4 Phương pháp chọn mẫu; tính toán mẫu khảo sát:
Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không theo tỷ lệ, Mẫu khảo sát gồm sinh viên hệ chính quy đào tạo tại trường Đại học
Trang 1910
Hàng hải bao gồm cả bậc đại học và cao đẳng, Gồm cựu sinh viên 02 ngành đi biển
là Ngành Điều khiển tàu biển và ngành Máy tàu biển thuộc các khóa đào tạo 45, 46,
47 đang làm việc trên các tàu vận tải biển trong và ngoài nước,
Trang 2011
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước :
1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước:
+ Trong các hội thảo do Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đề cập nhiều tới mối
quan hệ giữa đào tạo và việc sử dụng nguồn nhân lực, Tại hội thảo quốc gia “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” tổ chức năm 2005, 2007 hay “Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học giai đoạn 2010 – 2020” của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
năm 2010 đã cho thấy vấn đề đáp ứng công việc của sinh viên sau khi ra trường Các nghiên cứu được trình bày trong các hội thảo tập trung chủ yếu về: Khả năng đáp ứng thị trường lao động của nguồn nhân lực hiện có về số lượng và cơ cấu; Cơ chế và giải pháp rút ngắn khoảng cách giữa chương trình đào tạo và nhu cầu sử dụng nhân lực thực tế [15, tr 21] Các nhà nghiên cứu và các trường đại học tham gia hội thảo đã trình bày những đánh giá chất lượng giáo dục đại học thông qua nhãn quan của họ và không nghiên cứu đề cập đến quan điểm đánh giá của các nhà tuyển dụng lao động Có một vài nghiên cứu đánh giá năng lực đáp ứng công việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học nhưng hướng tiếp cận là phía cựu sinh viên
và thường do các trường đại học thực hiện Cách tiếp cận này rất hiệu quả để các trường đại học nhận được những phản hồi trực tiếp về những kỹ năng và kiến thức cần trong thực tế công việc nhằm điều chỉnh chương trình giảng dạy
+ Trong nghiên cứu: “Giáo dục đại học ở Việt Nam: Nhìn từ thị trưởng lao
động”, năm 2007, tác giả Phạm Thị Huyền, giảng viên trường Đại học Kinh tế quốc
dân cho rằng giáo dục đại học Việt Nam hiện nay cung không đáp ứng cầu về cả mặt số lượng và chất lượng Về số lượng, sự thiếu hụt nguồn nhân lực đạt chuẩn ở hầu hết các ngành từ công nghệ thông tin đến các ngành kinh tế như tài chính ngân hàng, marketing, du lịch hay đóng tàu Về chất lượng, có thể nói tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học đáp ứng được yêu cầu thực tế công việc hiện tại là rất thấp Nghiên cứu này cũng trích dẫn các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới là tới 50% doanh nghiệp may mặc, hóa chất đánh giá lao động được đào tạo không đáp ứng nhu cầu của mình Khoảng 60% lao động trẻ tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo cần được đào tạo lại ngay sau khi tuyển dụng, cá biệt, lịch vực phần mềm cần đào tạo lại ít nhất 1
Trang 2112
năm cho 80%-90% sinh viên tốt nghiệp được tuyển dụng Không chỉ phải đào tạo lại về chuyên môn, nghiệp vụ, người sử dụng lao động còn phải huấn luyện cho nhân viên có thái độ làm việc, nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ trong công việc để có được quyền lợi mà họ được hưởng, các kỹ năng cần thiết trong công việc như giao tiếp, thương lượng, sử dụng máy tính ngoại ngữ [8, tr 30,31]
+ Mức độ đáp ứng công việc của sinh viên khi ra trường cũng được liệt kê như một tiêu chí dùng để đánh giá chất lượng trường Đại học có trong một loạt các nghiên cứu về đảm bảo chất lượng trường đại học của Nguyễn Đức Chính, Phạm Thành Nghị và Nguyễn Quốc Chí, Đồng thời mức độ đáp ứng với công việc của sinh viên khi ra trường cũng được coi như một tiêu chí quan trọng có trong các
nghiên cứu về “Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
GS.TS Nguyễn Hữu Châu [9]
Đối với các ngành đi biển của Hàng hải việc cung ứng nguồn nhân lực của không nằm ngoài quy luật chung so với các ngành nghề khác, có một số bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu cũng nêu bật được một số nội dung về tình hình đáp ứng nguồn nhân lực đi biển, phương hướng và giải pháp cho các giai đoạn tiếp theo:
+ Trong bài viết của Ngô Lực Tài – Phó chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Biển
Tp HCM „„Xuất khẩu thuyền viên có phải là một thế mạnh của ngành Hàng hải Việt Nam ?‟‟ – tạp chí số 9/2009 - Biển Việt Nam, nhấn mạnh, trong khi đó nền kinh tế
thế giới đang sử dụng nhiều lao động đa quốc tịch mà nguồn lao động do nhiều nước tham gia đào tạo, huấn luyện dựa theo những tiêu chuẩn của công ước quốc tế
về hàng hải và lao động được thế giới thừa nhận Đội tàu biển thế giới sử dụng mỗi năm từ 1 triệu đến 1,1 triệu thuyền viên trong đó 38%-40% được cung cấp từ các quốc gia công nghiệp phát triển (OECD), phần lớn là sỹ quan có trình độ Đại học,
có kiến thức chuyên môn cao, giỏi Anh ngữ, được đào tạo bài bản để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa và chuyên môn hóa đội tàu biển Còn lại đến 60% là thủy thủ, thợ máy, phục vụ viên đến từ cá quốc gia châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh Lực lượng
trên được huấn luyện, đào tạo theo mô hình “thực hành” Họ có sức khỏe tốt, thông
thạo nghiệp vụ đi biển và ngoại ngữ chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật cao, khả năng thích nghi với điều kiện làm việc và hội nhập cộng đồng nhanh chóng [10]
Trang 2213
+ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Các giải pháp cơ bản gắn đào tạo với
sử dụng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS.TS Nguyễn Văn Nam cũng
đã chỉ rõ vấn đề: Từ trước đến nay ai cũng nghĩ rằng ưu thế của Việt Nam trong hội nhập thế giới chính là lực lượng lao động trẻ, dồi dào Cả nước có hơn 53 triệu
người ở độ tuổi lao động (chiếm 63% dân số) thì chỉ mới có 27% được đào tạo nghề
đạt chất lượng quốc tế, còn lại 73% đào tạo chưa đến nơi đến chốn hoặc không có nghề nghiệp, nhất là vùng nông thôn Đây chính là điểm yếu của Việt Nam mặc dù Việt Nam đứng thứ hai trong khối ASEAN về dân số và có nền giáo dục đào tạo chính quy ở đẳng cấp không phải thấp trên thế giới Từ khi đổi mới, kinh tế hàng
hải (vận tải biển, khai thác cảng biển và những dịch vụ liên quan đến hàng hải)
được quan tâm nhiều hơn Đội tàu biển quốc gia phát triển nhanh, mỗi năm cần đến
2 vạn sỹ quan và thủy thủ phục vụ đội tàu nhà cũng như đi xuất khẩu thuyền viên đó
là thế mạnh của ngành Hàng hải nói riêng và Quốc gia nói chung Những cơ sở đào tạo chính quy của Bộ Giao thông vận tải trong những năm qua được nâng cấp, mở rộng và đầu tư đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu [5,tr 6,7],
+ Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ “Nghiên cứu nâng cao năng lực đào tạo hàng hải các cấp của Việt Nam nhằm phát triển nguồn nhân lực cho ngành hàng hải giai đoạn 2010-2020” của PGS.TSKH Đặng Văn Uy đã thống kê
một số các tiêu chí về công tác đào tạo và huấn luyện thuyền viên của một số nước trên thế giới nhằm phát huy hết khả năng về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ làm việc chuyên nghiệp:
Philippines là nước xuất khẩu thuyền viên đứng đầu thế giới Theo số liệu
thống kê của Cục quản lý Lao động hải ngoại Philippins (POEA) thì thuyền viên của nước này chiếm 20% tổng số thuyền viên thế giới, ước tính trên 200,000 người của họ đang làm việc trên các tàu biển nước ngoài, bằng 30% lao động xuất khẩu của Philippines Theo số liệu của POEA, lao động xuất khẩu của nước này mang về
cho đất nước khoảng 17 tỷ USD, chiếm 33,8% GDP (trong số này thuyền viên mang về là 7 tỷ) Thuyền viên của Philippin được tuyển dụng nhiều nhất trên thế
giới chủ yếu là thủy thủ và thợ máy Bởi việc huấn luyện của họ đã mang lại cho đội ngũ thủy thủ và thợ máy những kỹ năng như :
Trang 2314
Có ngoại ngữ giỏi : tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha
Có sức khỏe tốt, có khả năng làm việc trong điều kiện làm việc khắc nghiệt
Được đào tạo, huấn luyện theo mô hình của phương Tây nên rất thạo việc
Ý thức tổ chức kỷ luật cao, có khả năng hội nhập cộng đồng rất tốt
Hiện tại, Philippins có một hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải bao gồm 50
cơ sở trong đó có 01 học viên hàng hải do Nhà nước quản lý, còn lại là các trường
và trung tâm huấn luyện dưới hình thức tư nhân, liên doanh, liên kết hoặc do các công ty vận tải biển nước ngoài lập tại Philippins
Trong khu vực Đông Nam Á, ngoài Philippins thì Indonesia cũng là một trong
những nước có số thuyền viên xuất khẩu lớn Theo báo cáo Quốc gia của Indonesia tháng 12/2010 tổng số thuyền viên được xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài
là khoảng 143,000 người Hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải của Indonesia được nhà nước rất quan tâm, Chính phủ Indonesia đã vay chính phủ Mỹ trên 100 triệu USD bằng nguồn vốn phát triển chính thức để nâng cấp một số cơ sở đào tạo huấn luyện hàng hải do Nhà nước quản lý Cũng tương tự như Philippins, Indonesia đã đưa vào ban hành hệ thống quản lý đăng ký thuyền viên qua mạng máy tính liên thông với các cơ quan chức năng có liên quan, Nước này cũng ban hành những chính sách giảm thuế thu nhập cho thuyền viên xuất khẩu
Hay một đất nước gần ta nhất là Trung Quốc, đây là đất nước có đội tàu biển
lớn nhất thế giới với tổng tấn trọng trên 70 triệu DWT Số lượng thuyền viên của họ
là 1,2 triệu người (khoảng 400,000 người làm việc trên các con tàu viễn dương)
Trung Quốc có 5 trường hàng hải đào tạo sỹ quan bậc đại học, Để có được đội ngũ
sỹ quan thuyền viên và đội tàu vào bậc nhất thế giới thì việc đào tạo, huấn luyện con người của Trung quốc cũng khá đặc trưng như :
Thay đổi tư duy về đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo Theo họ thì dạy không đơn thuần là cung cấp kiến thức cho sinh viên, mà còn phải dạy sinh viên cách học, Giáo viên tích cực khuyến khích sinh viên hoạt động sáng tạo, Triết lý về
đạo tạo hàng hải của Trung Quốc là “Thể lực tốt là điều kiện đầu tiên, nghiệp vụ tốt
là then chốt và tâm lý tốt là sự đảm bảo” Vậy nên bên cạnh nhiệm vụ đào tạo tốt
nghiệp vụ cho sinh viên, còn phải nâng cao chất lượng đào tạo tâm lý cho các sỹ quan thuyền viên
Trang 2415
Tối ưu hóa hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải, áp dụng các phương thức thích hợp cho các cấp khác nhau: Hệ thống đào tạo và huấn luyện của Trung Quốc bao gồm 4 cấp độ : Sau đại học, Đại học, Cao đẳng và Trung cấp kỹ thuật, Những học viên học ở trình độ Đại học sau khi ra trường đểu được cấp bằng tốt nghiệp đại
học (Academic Degree) và Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn mức trách nhiệm vận hành (Certificate of Compentency) Bên cạnh việc xây dựng hệ thống
đào tạo liên thông từ Trung cấp kỹ thuật lên Cao đẳng và Đại học, Trung Quốc cũng xây dựng hệ thống đào tạo theo Tín chỉ để đảm bảo cho mọi người đều có quyền tham gia học tập
Luôn thay đổi nội dung đào tạo cho phù hợp với tình hình hiện tại
Tăng cường số giờ thực hành
Tăng cường ứng dụng tin học và thực hành Anh ngữ
Tăng cường đào tạo môn khoa học nhân văn nhằm nâng cao chất lượng tâm
lý cho sinh viên
Tăng cường việc rèn luyện bán quân sự nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệu đối với công việc
Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, cán bộ tham gia huấn luyện
Hệ thống đảm bảo chất lượng được nâng cao nhằm khẳng định chất lượng đào tạo huấn luyện Hàng hải
Và như chúng ta đã biết, trong vòng 10 năm sau Thế chiến thứ II, Nhật Bản đã phát triển nhanh chóng và trở thành cường quốc về hàng hải Một trong những động lực để đạt được sự phát triển thần kỳ như vậy chính là yếu tốt nguồn nhân lực, mà cốt lõi là chiến lược đào tạo và huấn luyện Hàng hải của đất nước này
Từ giữa những năm 90 của thế kỉ trước, người Nhật Bản đã quyết định phải
cải tiến về đào tạo và huấn luyện hàng hải Theo quan niệm của người Nhật, muốn làm cải cách thành công thì phải đi từ cội nguồn của vấn đề, đó chính là tư duy của con người, Sau đây là những kinh nghiệm của Nhật Bản về nâng cao chất lượng đào tạo và huấn luyện hàng hải:
*) Tư tưởng chỉ đạo trong đào tạo huấn luyện hàng hải ở Nhật Bản :
- Họ đã đưa ra khái niệm mới về đào tạo huấn luyện hàng hải như : “Phạm vi mang tính toàn cầu, với điều kiện phải đạt được mục tiêu về an toàn, sử dụng năng
Trang 2516
lượng một cách tinh tế và bảo vệ môi trường; chú trọng đào tạo về công nghệ của các phần mềm, phần cứng có liên quan đến vận tải biển” Bên cạnh đó, đào tạo
theo tín chỉ bắt đầu được ứng dụng
- Khái niệm Hệ thống phối kết hợp với tàu trong đào tạo hàng hải, Mấu chốt
của khái niệm này là “tàu” tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo hàng hải ở
Nhật Hay nói cách khác đó chính là các công ty có trách nhiệm tham gia sâu vào quá trình đào tạo hàng hải, cụ thể là tham gia vào xây dựng chương trình đào tạo huấn luyện, tài trợ kinh phí đào tạo cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tai nạn và khuyến khích nghiên cứu các vấn đề khoa học mà các công ty quan tâm
*) Hệ thống đào tạo huấn luyện hàng hải :
- Nhiệm vụ mới : các cơ sở đào tạo hàng hải phải đảm bảo được 5 vấn đề cơ bản : + Đào tạo sáng tạo
+ Đào tạo có chất lượng
+ Ứng dụng phương pháp giảng dạy mới
+ Tạo cho sinh viên trở thành con người quốc tế
+ Áp dụng hệ thống đào tạo kết hợp với tàu
*) Mục tiêu huấn luyện : Phải đảm bảo cho người học có khả năng thực hiện công việc tốt nhất cho dù họ làm việc ở đâu, Vậy mục tiêu của huấn luyện là :
+ Biết đạt được mục tiêu
+ Biết giải quyết các vấn đề
+ Biết tìm công việc và tự giải quyết công việc
*) Chương trình đào tạo hàng hải :
+ Ý tưởng cơ bản để thiết kế chương trình đào tạo hàng hải ở Nhật là: thời gian đào tạo 4 năm; nội dung chính là chương trình bao gồm các vấn đề vận hành, khai thác tàu và quản lý tàu Các lĩnh vực cần phải dạy sinh viên bao gồm cấu trúc tàu, bảo hiểm, tiền tệ, năng lượng, điện tử, máy móc, bảo quản hàng hóa kho bãi, thông tin liên lạc, tin học và dịch vụ
+ Chương trình đào tạo mới: Nhật Bản đã áp dụng chương trình đào tạo theo tín chỉ, để nâng cao chất lượng thuyền viên, các cơ sở đào tạo của Nhật coi các vấn
đề sau là vô cùng quan trọng
Trang 2617
+ Đào tạo cơ bản của nền tảng: Sinh viên được dạy các sử dụng ngôn ngữ, cách thực tập, các hiểu xã hội, các quan hệ tự nhiên giữa con người được đào tạo và khoa học xã hội
+ Các môn nền tảng chuyên ngành là toán, vật lý và tin học
+ Các môn chuyên ngành về hàng hải và máy là hạt nhân của toàn bộ chương trình đào tạo
+ Khuyến khích sinh viên học các môn tự chọn, điều này tạo cho sinh viên có nhiều hướng phát triển trong tương lai
+ Phải duy trì cân bằng hợp lý giữa các môn cơ bản, cơ sở chuyên ngành và chuyên ngành
+ Trước khi sinh viên lên tàu thực tập, họ đều được thi và cấp Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn là Phó III và Máy III
*) Vai trò của chính phủ :
Chiến lược đổi mới đào tạo hàng hải của Nhật Bản không thể tách rời sự
hỗ trợ của Chính phủ Nhật Hiện tại chính phủ nước này đã đưa ra những chính sách nhằm hỗ trợ người học và tương lại cho họ sau này như chính sách thuế, chính sách về học phí Hiện nay, Chính phủ còn duy trì Cơ sở huấn luyện thuyền viên rất lớn với 6 tầu thực tập, kinh phí hoạt động hàng năm khoảng trên 600 triệu USD [6, tr 33-40]
1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài:
+ Cùng chung hướng nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của các tác giả G,Gallavara, E, Hreinsson và các cộng sự thuộc Hiệp hội đảm bảo chất lượng
GDĐH Châu Âu trong cuốn sách nhan đề Learning outcome: Common framework - different approaches to evaluation of learning outcome in the Nordic countries G,Gallavara, 2008, Cuốn sách trình bày những kinh nghiệm cụ thể của việc đánh
giá kết quả học tập được thực hiện tại các quốc gia này Đó là các kinh nghiệm về:
sử dụng khảo sát và phỏng vấn sinh viên tốt nghiệp; sử dụng khảo sát và phỏng vấn người tuyển dụng nhằm khai thác mức độ đạt các mục tiêu giáo dục Từ đó, các tác giả còn đưa ra kiến nghị về việc áp dụng đánh giá kết quả học tập trong tương lai như sử dụng trong kiểm toán chất lượng giáo dục
Trang 2718
+ Cuộc khảo sát của tạp chí Update (Nhật Bản) thực hiện năm 1996, khảo sát của Việt Giáo dục Hàn Quốc (KEIDI) thực hiện năm 2003, khảo sát của Viện Quản lý Đào tạo nhân lực (NIAM) của Hà Lan đối với các doanh ngiệp sử dụng lao động Nội dung của cuộc khảo sát là tìm ra các tiêu chí mà các doanh nghiệp đánh giá cao ở người lao động trong quá trình tuyển dụng
+ Năm 1990, B.P Allen (Mỹ) đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của sinh viên thông qua hệ thống tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường đại học, Theo tác giả này, điều kiện cơ bản của sự đáp ứng công việc của sinh viên được phân các nhóm kỹ năng: Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân; Kỹ năng hình thành các hành động học tập và các phẩm chất khác; Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực; Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính chất nghề nghiệp; Theo cách hiểu này, sự đáp ứng nghề nghiệp của sinh viên được giải thích chủ yếu do sinh viên có một số kỹ năng nào đó mà ít chú ý đến khía cạnh
tổ chức trong hệ thống giáo dục của trường Đại học
1 2 Cơ sở lý luận thuộc về đề tài:
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản :
+ Đánh giá: là căn cứ vào các số đo và các tiêu chí xác định đánh giá năng lực
và phẩm chất của sản phẩm đào tạo để nhận định, phán đoán và đề xuất các quyết định nhằm nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo, Đánh giá có thể là định lượng dựa vào các con số hoặc định tính dựa vào các ý kiến và giá trị [01]
Theo tác giả J.M Deketele: “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó.”
Theo tác giá Phạm Xuân Thanh trong loạt bài viết về Lý thuyết đánh giá thì:
“Đánh giá là một thuật ngữ chung để chỉ việc thu thập thông tin một cách có hệ thống và xử lý, phân tích dữ liệu làm cơ sở để đưa ra các quyết định nhằm nâng cao chất lượng giáo dục”
Đáp ứng công việc được hiểu là đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu của công việc, Người có khả năng đáp ứng với công việc là những người có đầy đủ kiến thức,
kỹ năng và thái độ để hoàn thành tốt các yêu cầu, đòi hỏi công việc
Trang 2819
Đáp ứng công việc trên biển: là những kỹ sư ngành Điều khiển tàu biển
và Máy tàu biển có đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ về chuyên ngành để đáp lại các yêu cầu hỏi hỏi công việc chuyên môn và có khả năng cao nhất cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ về những tác động khách quan của môi trường biển [18, tr 8]
Nắm vững: là khả năng nắm chắc, hiểu thấu đáo những nội dung về kiến
thức, kỹ năng khi được trang bị (Trung tâm từ điển Vietlex, 2007 :123)
Thành thạo: là sự thành thục, do đã quen làm, quen dùng, có tay nghề
(Trung tâm từ điển Vietlex, 2007:123.)
Hữu ích: là việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được trang bị vào công việc một cách có ích, đúng lúc
Tần suất: là số lần sử dụng kiến thức, kỹ năng đã được trang bị vào công việc đang làm
Trong luận văn, nghiên cứu mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên 2 ngành đi biển của Trường Đại học Hàng hải ở 5 mức :
Mức độ đáp ứng rất tốt: với những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, thái độ
nghề nghiệp thì sinh viên hoàn toàn đáp ứng một cách xuất sắc, sáng tạo, linh hoạt, yêu nghề, đáp ứng được các yêu cầu công việc được giao khi làm việc trên tàu
Mức độ đáp ứng khá tốt : So với việc đào tạo khi còn học trong trường,
khả năng đáp ứng công việc của sinh viên ở mức độ này là hoàn thành tốt các công việc được giao khi làm việc trên tàu
Mức độ đáp ứng tốt: việc ứng dụng khối lượng kiến thức, kỹ năng, thái
độ khi được đào tạo trong trường đã giúp sinh viên hoàn thành các công việc được giao khi làm việc trên tàu
Mức độ đáp ứng không tốt, trung bình: So với việc được đào tạo trong
trường, khả năng chuyên môn, nghiệp vụ mà sinh viên áp dụng vào các công việc trên tàu chỉ đáp ứng được một phần công việc được giao
Mức độ đáp ứng không hoàn toàn tốt: So với việc được đào tạo trong
trường, sinh viên không đáp ứng được công việc chuyên môn trên tàu
+ Thuyền bộ: là những thuyền viên (thành viên) thuộc định biên của tàu biển, bao gồm thuyền trưởng, các sĩ quan và các chức danh khác được bố trí làm việc trên tàu biển [18, tr 9]
Trang 2920
Môi trường làm việc trên biển: bao gồm các hoạt động diễn ra trên biển Các thuyền viên làm việc độc lập trên biển sẽ chịu tác động lớn về sự ổn định của tàu do điều kiện thời tiết (sóng, gió, bão, thủy triều, mớn nước,…), ngoài khả năng
về chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ thuyền viên còn phải học cách thích nghi với các tình huống khẩn cấp xảy ra như : phòng cháy chữa cháy, tìm kiếm cứu nạn, y tế, vấn đề ô nhiễm trên biển ; khả năng ứng phó với điều kiện thời tiết khí hậu xấu, diễn biến phức tạp [18, tr 10]
1.2.2 Mô hình lý thuyết được sử dụng trong đề tài :
*) Mô hình của Benjamin Bloom (1956):
Đã phân biệt ba khía cạnh của hoạt động giáo dục, bao gồm: Cung cấp nhận thức: các kỹ năng trí tuệ (Kiến thức); Tác động thái độ: sự phát triển trong các lĩnh vực tình cảm hoặc cảm xúc (Thái độ); Hình thành kỹ năng: các kỹ năng thuộc về chân tay hay thể chất (Kỹ năng), Các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng, thái độ này cũng chính là mục tiêu của quá trình đào tạo, Có nghĩa là, sau một chương trình đào tạo, các học viên cần thu được những kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ mới:
Về nhận thức (Bloom, 1956): Khía cạnh nhận thức bao gồm kiến thức và sự
phát triển các kỹ năng thuộc về trí tuệ Đó là các kỹ năng: hồi tưởng hoặc nhận biết các thực tế, các mô hình và các khái niệm cụ thể, góp phần vào sự phát triển các kỹ năng, khả năng trí tuệ Các kỹ năng này được phân chia thành sáu loại chính được liệt kê theo trình tự cấp độ nhận thức từ thấp đến cao (theo độ khó) như sau: Đánh giá; tổng hợp, phân tích, áp dụng, hiểu, biết
Về thái độ (Krathwohl, Bloom, Masia, 1973): bao gồm hành vi mà ở đó
chúng ta giải quyết mọi chuyện trên cơ sở tình cảm, chẳng hạn như cảm xúc, các giá trị, sự trân trọng, lòng nhiệt tình, động lực và thái độ, Năm lĩnh vực hoạt động chính được liệt kê bắt nguồn từ hành vi đơn giản nhất tới phức tạp nhất: Tiếp thu các giá trị, tổ chức, đánh giá, phản hồi, đón nhận
Về kỹ năng (Dave, 1975): bao gồm cử động thể chất, sự hợp tác và sử dụng
các lĩnh vực thuộc kỹ năng động cơ, Sự phát triển các kỹ năng này đòi hỏi phải có
sự thực hành và được đo lường trên khía cạnh tốc độ, sự chính xác, khoảng cách, quy trình hoặc các kĩ thuật thực hiện Năm hạng mục chính được liệt kê từ hành vi
Trang 3021
đơn giản nhất tới hành vi phức tạp nhất: Sự tự nhiên hóa, sự ăn khớp, sự chính xác,
sự thao tác, sự bắt chước
*) Mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra:
Do đòi hỏi của thị trường lao động ngày càng khắt khe với các sản phẩm đầu
ra tại các cơ sở đào tạo đặc biệt là bậc đại học, căn cứ vào Chỉ thị số BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2009-2010 và Quyết định số 179/QĐ-BGDĐT ngày 11/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Phê duyệt Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày
7823/CT-06/01/2010 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành công văn số 2196/BGD&ĐT ngày 2 tháng 4 năm 2010 về việc Hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo cho các trường Đại học, Học viên, Cao đẳng trong cả nước, đây là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của
từng cơ sở đào tạo và toàn ngành, là cam kết của các cơ sở giáo dục đại học về chất lượng đào tạo với xã hội, về năng lực của người học sau khi tốt nghiệp Mục tiêu của việc xây dựng và công bố chuẩn đầu ra nhằm:
- Công khai với xã hội về năng lực đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng của trường để: Người học, phụ huynh, nhà tuyển dụng biết và giám sát; Thực hiện những cam kết của nhà trường với xã hội về chất lượng đào tạo để cán bộ quản
lý, giảng viên và người học nỗ lực vươn lên trong giảng dạy và học tập; Đổi mới công tác quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá và đổi mới phương phương pháp học tập; đồng thời, xác định rõ nghĩa vụ
và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên trong các hoạt động giảng dạy, phục vụ giảng dạy và quản lý nhằm giúp người học vươn lên trong học tập và tự học để đạt chuẩn đầu ra
- Công khai để người học biết được các kiến thức sẽ được trang bị sau khi tốt nghiệp một chuyên ngành, một trình độ về chuẩn năng lực nghề nghiệp, về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức và giải quyết vấn đề, công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp
Trang 3122
- Tạo cơ hội tăng cường hợp tác, gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo và sử dụng nhân lực cho xã hội, đáp ứng yêu cầu của các nhà sử dụng lao động, [12,tr 2-3]
1.2.3 Một số đặc điểm của ngành đi biển :
Con tàu là tài sản có giá trị to lớn, là một đơn vị sản xuất đặc biệt, hoạt động đặc biệt trên biển, xa đất liền, đối tượng chuyên chở là hàng khách và hàng hóa ; Con tàu thường xuyên chịu tác động của nhiều điều kiện biến động và khắc ngiệt như : gió, bão tố, băng trôi, đá ngầm, luồng lạch… Đội ngũ thuyền viên làm việc trên tàu ít người, nhưng phải độc lập giải quyết mọi vấn đề kỹ thuật, kinh tế ngoại giao, pháp luật
Con tàu được trang bị nhiều loại thiết bị hiện đại và đa dạng như Hệ thống điều khiển tự động; hệ thống xác định vị trí tàu, hệ thống Rada ; Hệ thống GPMS ;
hệ thống Máy Diesel; tua bin khí và hơi; các thiết bị an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường biển… Ngoài ra, con tàu còn là một công trình kiến trúc tổng hợp, tập trung nhiều tiến bộ khoa học trên đó [18, tr 11-13]
Từ những đặc điểm ngành nghề trên nên sản phẩm đào tạo phải đảm bảo sức khỏe để thích hợp với mọi điều kiện trên biển, có trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành thành thạo, thái độ làm việc nghiêm túc trên 3 phương diện: Quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật và khai thác vận hành
Ngành Điều khiển tàu biển: trang bị cho người học khối kiến thức tổng hợp về
khả năng định vị vị trí tàu trên biển; khả năng điều khiển tàu chạy trên biển; biết vận dụng các kiến thức về thiên văn, địa văn, khí tượng, la bàn từ, thủy nghiệp trong việc đảm bảo an toàn cho toàn bộ con tàu trong quá trình vận hành vận chuyển hàng hóa một cách an toàn và năng suất nhất Đồng thời đây là ngành đào tạo ra đội ngũ thuyền viên có khả năng ứng phó được với các tình huống khẩn cấp trên tàu như: an toàn tính mạng con người trên tàu; bảo vệ môi trường biển; biết ứng phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, [18, tr 15-17]
Ngành Máy tàu biển: trang bị cho người học sự phát triển toàn diện, có
hiểu biết về các nguyên lý kỹ thuật vận hành, các thiết bị máy móc trên tàu, có khả năng áp dụng các kỹ năng kỹ thuật chuyên sâu để đảm đương công việc của một kỹ
sư ngành khai thác máy tàu biển như : nắm vững một các có hệ thống, biết phân
Trang 3223
tích, vận dụng vào thực tiễn sản xuất các môn học chuyên ngành như: Diesel, khai thác, tự động, nồi hơi, máy phụ, máy lạnh… Ngoài ra còn biết quản lý sử dụng đồng thời hệ thống máy tàu, khả năng thiết kế những bộ phận nhất định của hệ động lực ; Quản lý vận hành thành thạo và có khả năng sửa chữa các máy móc và thiết bị trên tàu, biết tổ chức đội ngũ máy để thực hiện khắc phục những sự hư hỏng [18,tr 17-18]
Đặc điểm đào tạo sinh viên 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển đều tuân theo các tiêu chuẩn trong bộ công ước quốc tế STCW 78/95 của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) ban hành và các quy định trong Quyết định số 31/2008/QĐ-BGTVT ban hành ngày 26/12/2008
+ Giới thiệu về bộ công ước quốc tế STWC 78/95:
Yếu tố con người luôn đóng vai trò then chốt trong bất kỳ hoạt động kinh tế,
xã hội nào, Đối với vận tải biển, khi mà con tàu thường xuyên phải hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt, ẩn chưa nhiều rủi ro, thì yếu tố con người càng trở lên quan trọng Sự an toàn của con người, con tàu, môi trường biển cùng với trên 80% lượng hàng hóa lưu thông trên thế giới phụ thuộc vào thái độ chuyên nghiệp và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của những người đi biển
Nhằm thống nhất về tiêu chuển chuyên môn nghiệp vụ cho người đi biển trên toàn thế giới, năm 1978 Tổ chức tư vấn hang hải liên chính phủ IMCO đã ban hành Công ước về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp bằng và trực ca, viết tắt là STCW 78 (The International Convention on Standards of Training, Certification an Watchkeeping)
và Bộ tiêu chuẩn kỹ thuật SCTW Code,STCW78 được áp dụng bắt buộc vào năm
1984, Cho đến năm 1995 bộ tiêu chuẩn này được sửa đổi bổ sung toàn diện và được gọi là STCW78/95
STCW 78/95 quy định các tiêu chuẩn về thời gian đào tạo, các nội dung cơ bản cần được đào tạo và huấn luyện, cũng như kinh nghiệm đi biển cho thuyền viên đảm nhận các chức danh chuyên môn trên tàu biển, STCW 78/95 đồng thời cũng quy định về tiêu chuẩn đối với các cơ sở đào tạo, huấn luyện, thuyền viên làm việc trên tàu biển, Như vậy, các quốc gia muốn tham gia STCW78/95 phải xây dựng các cơ sở đào tạo, huấn luyện, nghiệp vụ cho thuyền viên phù hợp với các quy định nêu trong bộ luật này
Trang 3324
Để tham gia vào STCW 78/95, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo Cục Hàng hải Việt Nam triển khai các hành động cụ thể và phối hợp với các cơ quan đào tạo nhằm đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình đào tạo, cho phù hợp Nhờ nỗ lực của các cơ quan quản lý cũng như các cơ sở đào tạo Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của công ước STCW 78/95 vào ngày 01/02/1998 Đây chính là điều kiện cần để Việt Nam có thể xâm nhập sâu rộng vào thị trường hàng hải toàn cầu và mở rộng thị trường lào động quốc tế cho Thuyền viên Việt Nam
Để khuyến khích chuẩn hóa chất lượng thuyền viên theo STCW 78/95 vào năm 2000, IKMO công bố Danh sách Trắng (White List) với 71 quốc gia, IMO khuyến cáo các chủ tàu không nên sử dụng thuyền viên không được đào tạo tại các quốc gia và cơ sở đào tạo thỏa mãn bộ tiêu chuẩn này Tàu treo cờ các quốc gia không nằm trong Danh sách Trắng sẽ được các lực lượng PSC chú ý và tăng cường kiểm tra, (PSC - Posrt State Control là lực lượng kiểm tra hàng hải thuộc chính quyền cảng quốc gia, PSC có nhiệm vụ kiểm tra các tàu ghé cảng của mình trên phương diện thực hiện các quy định về an toàn và chống ô nhiễm môi trường phù hợp với công ước quốc tế do IMO ban hành) [7]
Ở nước ta, nhằm chuẩn hóa trong việc đào tạo và huấn luyện thuyền viên, Bộ Giao thông vận tải đã xây dựng và ban hành tiêu chuẩn về đào tạo và huấn luyện thuyền viên, trên cơ sở thỏa mãn các yêu cầu của Công ước STCW78/95 Theo quyết định số 66/2005/QĐ-BGTVT ban hành ngày 30/11/2005 các chức danh thuyền viên trên tàu biển Việt Nam bao gồm: Thuyền trưởng, đại phó, máy trưởng, máy hai, sỹ quan boong (Phó hai, phó ba), sỹ quan máy (Máy ba, máy tư), thuyền phó hành khách, sỹ quan vô tuyến điện, sỹ quan điện, sỹ quan an ninh, sỹ quan máy lạnh, thủy thủ trưởng, thủy thủ phó, thủy thủ, thợ máy chính, thợ máy, thợ điện, nhân viên vô tuyến điện, quản trị, bác sỹ hoặc nhân viên y tế, phục vụ viên, bếp trưởng, cấp dưỡng, tổ trưởng phục vụ hành khách, nhân viên phục vụ hành khách,
tổ trưởng phục vụ bàn, quản lý kho hành lý, thợ giặt là, kế toán, thủ quỹ, nhân viên bán hàng, nhân viên bán vé, trật tự viên, thợ máy lạnh và thợ bơm Trong thực tế, tùy thuộc vào loại tàu, đặc tính kỹ thuật và mục đích sử dụng, có thể bố trí các chức danh phù hợp với định biên trên tàu
Trang 3425
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng thể và mẫu nghiên cứu :
2.1.1 Tổng thể :
Cựu sinh viên chính quy tốt nghiệp 02 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển thuộc các khóa 45, 46, 47 của Trường Đại học Hàng hải đang công tác trên các con tàu thuộc các Công ty vận tải biển trong và ngoài nước
2.1.2 Chọn mẫu :
*) Chọn mẫu:
Đề tài nghiên cứu sẽ sử dụng chọn trường hợp mẫu không lặp để tính toán
Ta có số liệu thống kê sinh viên của 2 ngành thuộc các khóa 45, 46, 47 như sau:
Bảng 2 1 Số liệu thống kê số sinh viên ngành Điều khiển tàu biển
Trang 35và huấn luyện sinh viên 2 ngành đi biển
2.2 Tiến trình nghiên cứu :
2.2.1.Giai đoạn nghiên cứu tổng quan vấn đề:
Thời gian tiến hành: Từ tháng 11/ 2010 đến tháng 6/2011, Cụ thể:
- Xác định vấn đề nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu
- Sau khi đề cương đã được phê duyệt, tiến hành nghiên cứu phương pháp luận; cơ sở lý luận; tổng quan về vấn đề nghiên cứu, thu thập thông tin, sưu tầm, phân tích hệ thống các vấn để có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để từ đó đưa ra được cơ sở lý luận tổng quan nhất cho đề tài
- Xác định các khái niệm cần được làm rõ trong đề tài
- Phương pháp tiến hành nghiên cứu cho phù hợp với đối tượng được nghiên cứu; khách thể được nghiên cứu
Trang 3627
2.2.2 Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn:
Thời gian tiến hành: Từ tháng 6/2011 đến tháng 5/2012 Cụ thể:
- Thiết kế phiếu xin ý kiến: từ tháng 6/2011 đến tháng 12/2011: xây dựng
khung nội dung bảng điều tra, khảo sát cho khả năng đáp ứng công việc của sinh viên 2 ngành Điều khiển tàu biển và Máy tàu biển từ phía sinh viên; cán bộ quản lý trên tàu và đội ngũ cán bộ giảng viên tham gia công tác đào tạo và huấn luyện tại trường Đại học Hàng hải
Xây dựng nội dung phiếu thăm dò ý kiến là khâu quan trọng quyết định đến kết quả cuối cùng của luận văn, Để có được một bảng hỏi bao hàm được các nội dung cần nghiên cứu, tác giả đã tiến hành các công đoạn: Tham khảo ý kiến của đội ngũ giảng viên đã từng tham gia các công việc thực tế trên tàu; cán bộ quản lý trên tàu; Tham khảo ý kiến của giảng viên hướng dẫn; Tìm nội dung từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để hoàn thiện bảng xin ý kiến,
- Điều tra thử nghiệm: Sau khi đã xây dựng được bảng xin ý kiến tiến hành
điều tra thử để kiểm tra độ tin cậy và độ giá trị của bảng hỏi, trên cở sở đó chỉnh sửa các câu hỏi chưa đạt yêu cầu Mẫu điều tra thử là: 92 sinh viên đã tốt nghiệp ngành Điều khiển tàu biển và 84 sinh viên đã tốt nghiệp ngành Máy tàu biển
- Điều tra chính thức: từ tháng 01/2012 đến tháng 5/2012: tiến hành điều tra
khả năng đáp ứng công việc từ phía sinh viên chính quy đã tốt nghiệp ra trường và đang làm việc trên các con tàu thuộc các công ty vận tải biển trong và ngoài nước,
Để các thông tin thu thập được từ sinh viên được chính xác, đề tài tiến hành khảo sát các ý kiến thăm dò từ đội ngũ trực tiếp quản lý trên tàu, một số cán bộ quản lý, giảng viên đang tham gia đào tạo và huấn luyện sinh viên 2 ngành đi biển tại Trường Đại học Hàng hải,
- Phỏng vấn sâu: Sau khi xử lý sơ bộ các kết quả thu thập được từ việc xin
ý kiến từ phía sinh viên, để cho dữ liệu đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác, khách quan ta tiến hành việc phỏng vấn sâu các trường hợp điển hình từ phía sinh viên; cán bộ quản lý, giảng viên,
- Giai đoạn xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn:
Thời gian thực hiện: Từ tháng 6/2012 đến tháng 9/2012,
Trang 3728
Giai đoạn bao gồm các công việc như sau: Xử lý các số liệu thu được, hoàn thiện các nội dung của luận văn, tóm tắt luận văn, tiếp thu ý kiến đóng góp từ giảng viên hướng dẫn, hội đồng phản biện để hoàn thiện khâu cuối cùng cho luận văn,
- Phương pháp xử lý số liệu:
Sử dụng phần mềm SPSS, Excel để nhập dữ liệu, xử lý, thống kê và phân tích dữ liệu của đề tài,
2.3 Xây dựng công cụ đo lường :
Trong luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp định lượng và phương pháp định tính, Bộ công cụ để nghiên cứu định lượng là hai mẫu phiếu xin ý kiến khảo sát cho sinh viên chính quy 2 ngành Điều khiển tàu biển
và Máy tàu biển của trường Đại học Hàng hải Hai loại phiếu này có nội dung và cấu trúc tương tự như nhau, đều tìm hiểu mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên về kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp so với các yêu cầu công việc trên biển
Để tăng tính hiệu quả cho bộ công cụ đo, trong bộ công cụ đo lường đề tài có
sử dụng thang đo định danh, thang đo Likert với 5 mức chia
Thang đo định danh dùng để phân chia các lớp đối tượng, các đặc trưng của từng đối tượng như: Khóa học, năm sinh, hệ đào tạo (cao đẳng hay chính quy), công
ty hiện đang công tác, chức danh hiện tại trên tàu, thái độ nghề nghiệp, khối lượng kiến thức, kỹ năng đạt được khi tham gia các loại hình đào tạo khá nhau, Thang đo này giúp đề tài nghiên cứu một số phép toán thống kê : đếm, tính tần suất, tính %, thực hiện một số phép kiểm định giữa các biến
Thang đo Likert dùng khảo sát mức độ đáp ứng công việc trên biển của sinh viên, gồm các câu hỏi đóng đưa ra các phương án trả lời sẵn để người được hỏi lựa chọn với 5 mức độ trả lời từ khả năng đáp ứng tốt nhất đến khả năng không hoàn toàn đáp ứng được khả năng làm việc trên tàu của sinh viên; Các câu hỏi mở được đưa ra để người được hỏi tự đưa ra các quan điểm của mình về vấn đề cần nghiên cứu, Trong câu hỏi định lượng được chia làm 03 mảng chính :
Mảng thứ nhất: đánh giá mức độ đáp ứng công việc trên biển về mặt kiến
thức của cựu sinh viên 2 ngành đi biển :
Trang 3829
+ Mức độ nắm vững kiến thức của sinh viên gồm các câu hỏi đóng với việc chọn một trong năm mức độ khác nhau: sinh viên ngành ĐKTB gồm có 15 câu hỏi ; sinh viên ngành MTB gồm có 13 câu hỏi
+ Mức độ Thành thạo trong việc vận dung kiến thức : gồm có 13 câu hỏi cho sinh viên mỗi ngành
+ Mức độ hữu ích (mức độ quan trọng và cần thiết) của kiến thức khi được
trang bị ở Trường đối với công việc trên tàu: gồm 13 câu hỏi cho mỗi ngành
+ Tần suất sử dụng kiến thức môn học trong công việc hiện tại : sinh viên ngành ĐKTB gồm 15 câu hỏi; Sinh viên ngành MTB gồm 13 câu hỏi
+ Mức độ am hiểu kiến thức chuyên môn khi tham gia đào tạo tại một số
loại hình (việc am hiểu kiến thức của sinh viên có được % từ các loại hình đào tạo) : gồm 5 loại hình cho 100% mức độ am hiểu kiến thức
+ Trong mảng kiến thức có một câu hỏi mở để làm rõ nội dung cho các câu hỏi đóng phía trên
Mảng thứ hai: đánh giá mức độ đáp ứng công việc trên biển về mặt kỹ
năng của cựu sinh viên 02 ngành đi biển:
+ Mức độ nắm vững các kỹ năng nghề nghiệp được đào tạo tại trường khi ứng dụng vào các công việc hiện tại: gồm 13 câu hỏi cho sinh viên mỗi ngành
+ Mức độ thành thạo các kỹ năng nghề nghiệp để thực hiện các công việc trên tàu : gồm 13 câu hỏi cho sinh viên mỗi ngành
+ Mức độ hữu ích của các kỹ năng nghề nghiệp được trang bị trong quá trình học đối với công việc hiện tại : gồm 13 câu hỏi cho sinh viên mỗi ngành
+ Tần suất sử dụng các kỹ năng nghề nghiệp được trang bị khi học trong Trường vào công việc trên tàu : gồm 13 câu hỏi cho sinh viên mỗi ngành
+ Mức độ thành thạo kỹ năng nghề nghiệp khi tham gia đào tạo tại một số
loại hình (việc thành thạo kỹ năng của sinh viên có được % từ các loại hình đào tạo) : gồm 5 loại hình cho 100% mức độ thành thạo kỹ năng nghề nghiệp
+ Phần kỹ năng có 01 câu hỏi mở để làm rõ các nội dung trên
Mảng thứ 3: đánh giá mức độ đáp ứng công việc thông qua thái độ đối với
nghề nghiệp của sinh viên khi làm việc trên tàu: gồm có 03 câu hỏi đóng và 03 câu
Trang 39 Ngoài các nội dung trên, phiếu xin ý kiến còn tham khảo ý kiến của đội ngũ cán bộ quản lý trên tàu, đội ngũ cán bộ giảng viên tham gia giảng dạy và huấn luyện tại Trường về mức độ hợp lý từ chương trình đào tạo tác động đến sinh viên 2 ngành đi biển và các giải pháp khác phục những vấn để chưa hợp lý trong chương trình đó Đối tượng phỏng vấn sinh viên chính quy tốt nghiệp Trường ĐHHH là 40 sinh viên ; cán bộ quản lý và cán bộ giảng viên là 25 người Các mẫu phỏng vấn sẽ được thực hiện ngay sau khi xử lý, phân tích số liệu bằng SPSS nhằm làm khẳng định thêm kết quả của phần xử lý định lượng
2.4 Kiểm tra độ tin cậy, tính hiệu lực của công cụ đo lường:
+ Sử dụng SPSS: Để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ trong nghiên cứu này, đề tài dùng phương pháp đánh giá mức độ tương quan giữa các câu hỏi trong cùng miền đo, sử dụng mô hình tương quan Alpha của Cronbach (Cronbach's Coefficient Alpha) Mô hình này đánh giá độ tin cậy của phép đo dựa trên sự tính toán phương sai của từng câu hỏi trong từng thang đo, toàn bộ phép đo và tính tương quan điểm của từng câu hỏi với điểm của các câu hỏi còn lại trên từng thang
đo và của cả phép đo Độ tin cậy của từng tiểu thang đo được coi là thấp nếu hệ số alpha nhỏ hơn 0,40 Độ tin cậy của cả thang đo được coi là thấp nếu hệ số alpha nhỏ hơn 0,60 [19, tr 32]
2.4.1 Giai đoạn điều tra thử nghiệm :
Bảng 2.3 Thống kê số lượng cựu sinh viên được điều tra thử nghiệm
Trang 40Bảng 2.4 Hệ số độ tin cậy Alpha của các tiểu thang đo/thang đo
Điều tra với mẫu thử nghiệm
Các tiểu thang đo/ thang đo Mã hóa
Hệ số tin cậy Alpha
SV ĐKTB N=84
SV MTB N=91
Mức độ thành thạo trong việc vận dụng
Mức độ hữu ích của kiến thức mà sinh
Tần suất sử dụng kiến thức khi vận dụng
Mức độ thành thạo trong việc vận dụng