1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Tiểu luận: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đô thị hóa ở thành phố Hải PhòngThực trạng và giải pháp

30 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đô thị hóa ở thành phố Hải Phòng. Thực trạng và giải pháp
Tác giả Phạm Hồng Ánh, Bựi Thỏi Hoàng, Trần Thị Thanh Lam, Nguyễn Phương Mai, Ngụ Thị Phong, Đào Thị Quỳnh, Nguyễn Thị Toản, Hoàng Minh Trớ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Đô thị
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 835,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” MỞ ĐẦU Trong thời gian qua, các nhà khoa học, các tổ chức trên th ế giới đã liên tục báo động về những biến động bất thường của khí hậu và thời tiết. Hiện tượng Trái Đất đang nóng lên kéo theo tốc độ tan băng ngày càng nhanh ở Nam cực và Bắc cực là một thực tế buộc cả nhân loại ph ải ứng phó. Sự dâng lên của mực nước biển sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng trăm triệu người, đặc biệt là ở các quốc gia và các vùng lãnh thổ ven biển. Biến đổi khí hậu còn làm cho các thiên tai nh ư lũ lụt, hạn hán, bão, áp thấp nhiệt đới… ngày càng khắc nghiệt hơn. Và Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nh ất của biến đổi khí hậu toàn cầu. Hải Phòng, còn được gọi là thành phố “Hoa Phượng đỏ”, là một thành phố cảng lớn nhất phía Bắc, là trung tâm kinh t ế, văn hóa, giáo d ục, khoa học công nghệ vùng duyên hải Bắc. Thành phố còn là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương, được xếp hạng đô thị loại I của quốc gia với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao. Với đặc điểm một thành phố ven biển, Hải Phòng là một trong những thành phố chịu ảnh hưởng rõ nét nh ất của biến đổi khí hậu ở nước ta, đặc biệt là tác động t ồi t ệ c ủa n ước bi ển dâng. Biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng phần nào đến phát triển đô thị và đô thị hóa của thành phố. Để làm rõ tác động của biến đổi khí hậu đến quá trình đô th ị hóa diễn ra ở thành phố Hải Phòng , từ đó đề xuất những kiến nghị và gi ải pháp phát triển đô thị hóa thích ứng biến đổi khí hậu, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đô thị hóa ở thành phố Hải Phòng. Thực trạng và giải pháp”. MỤC LỤC CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG 1.1. Đô thị hóa là gì? Khái niệm về đô thị Theo thông tư số 342009TTBXD quy định chi tiết một s ố nọi dung của Nghị định 422009NĐCP của chính phủ về phân loại đô thị đã định nghĩa : «Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống với mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghi ệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phat triển KTXh của quốc gia hoặc một vùng lãnh th ổ , m ột đ ịa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại th ị của thị xã, thị trấn ». Khái niệm về đô thị hóa  Hiểu theo nghĩa rộng: “Đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những ti ến bộ khoa học k ỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự dịch chuyển cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự”  Hiểu theo nghĩa hẹp, đô thị hóa là “ quá trình biến nông thôn thành đô thị, sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đ ời s ống kinh tế xã hội”. Đô thị hóa luôn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh t ế, phát triển xã hội và nâng cao trình độ nhận thức của mỗi cá nhân cũng nh ư c ủa toàn xã hội. Đô thị hóa là một quá trình phân bố các lực lượng sản xu ất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô th ị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu. Đô thị hóa theo chiều rộng gắn với vấn đề mở rộng không gian đô thị theo vùng của quốc gia. Đô thị hóa theo chiều sâu gắn với quy hoạch không gian đô th ị nhằm nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, trình độ và hiệu quả kinh t ế, chất lượng và môi trường sống của cư dân trong từng đô thị. Đô thị hóa là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình th ức sống đô thị. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các đi ều ki ện tác đ ộng đ ến đô thị hóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới… đặc biệt là thay đổi cơ cấu dân cư. Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ… do vậy, đô thị hóa không th ể tách rời một ch ế độ kinh tế xã hội. 1.2. Biến đổi khí hậu là gì? Theo Công ước Khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change) định nghĩa: “ Biến đổi khí hậu là là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc tr ực ti ếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài.  Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu gồm: Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung. Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có h ại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất. Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ s ự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người. Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh đ ịa hoá khác. Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, ch ất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển. 2. MỐI QUAN HỆ CỦA ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬ U Đô thị hóa dẫn đến sự tập trung cao độ của dân cư và các c ụm công nghiệp tại một vùng, gây ra nhiều thay đổi có liên quan trực tiếp đến khí hậu và môi trường. Một số thay đổi đó như: thay đổi mô hình s ử dụng đ ất, tăng trưởng mật độ dân số, tăng sử dụng phương tiện giao thông và năng lượng hoạt động chuyên sâu, tăng trưởng công nghiệp, tăng cường tiêu dùng và thải loại chất thải. Đặc trưng của đô thị hóa là quá trình di dân nông thôn ra thành th ị dẫn đến tình trạng dân cư tập trung đông đúc ở các khu đô th ị làm cho m ật đô dân cư tăng nhanh chóng. Dân số lớndẫn đến tiêu thụ th ực ph ẩm, nước và năng lượng nhiều hơn, đồng nghĩa với việc xả th ải nhi ều h ơn. M ột thực tế cho thấy, số lượng người càng tăng thì ô nhi ễm càng cao. M ặc dù, có một số biện pháp xử lý ô nhiễm, có một hệ thống giáo dục và quản lý môi trường, nhưng tác động của mật độ dân cư đông và số dân cao vẫn làm tổn hại đến môi trường, nhất là ở các đô thị của các nước đang phát triển. Xuất phát của một vùng đô thị thường là những nơi thuận tiện giao thông, theo đó kinh tế phát triển kéo theo sự gia tăng dân số. Dân s ố tăng dẫn đến sự gia tăng về phương tiện giao thông. Số phương tiện tham gia giao thông quá lớn, đặc biệt trong giờ cao điểm ở các đô th ị d ễ gây ra tình trạng: tắc đường, nạn kẹt xe, tiếng ồn, khí độc, khói, bụi… ảnh hưởng xấu đến môi trường. Ở đô thị, mức độ sử dụng năng lượng của các ngành công nghi ệp, của phương tiện giao thông, cũng như của người dân… là rất lớn. Năng lượng được sử dụng càng nhiều đồng nghĩa với việc lượng chất thải xả ra ngoài môi trường càng lớn, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, môi trường không khí. Một thực tế cho thấy, quá trình đô thị hóa luôn gắn li ền với quá trình công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa càng nhanh thì đô thị hóa càng nhanh dẫn đến việc hình thành nhiều khu công nghiệp ở các đô th ị. Các ngành công nghiệp nằm gần các thành phố là nguồn gốc chính của không khí, nước và ô nhiễm đất đai. Hầu hết các năng lượng c ần thi ết đ ể h ỗ tr ợ các ngành công nghiệp và cuộc sống đô thị được sản xuất bằng cách s ử dụng nhiên liệu hóa thạch như than, xăng, diesel hoặc khí tự nhiên… nên chất thải chính của công nghiệp là CO2. Sản xuất công nghi ệp ngày càng mạnh thì môi trường đô thị càng bị ô nhiễm, cho dù kỹ thu ật phát tri ển cao giúp cắt giảm lượng chất thải thì lượng chất thải do các nhà máy, xí nghiệp thải ra ngoài môi trường vẫn rất đáng kể. Đô thị hóa dẫn đến thay đổi trong việc sử dụng đất tự nhiên. Đô thị hóa phát triển, nhu cầu đất cho nhà ở, cho phát triển h ệ th ống c ơ s ở h ạ tầng cũng tăng lên. Chính quyền và dân cư có xu hướng ch ặt phá r ừng, chặt hạ cây cối để lấy đất xây dựng đường giao thông và các tòa nhà cao tầng. Điều này đã hủy hoại môi trường sống của nhiều động thực vật, làm giảm sự đa dạng sinh học, gây mất cân bằng sinh thái. Việc ch ặt phá r ừng cũng gây ra ảnh hưởng xấu tới môi trường không khí, đồng th ời tăng nguy cơ lũ lụt. Bên cạnh đó, đất được phủ bê tông, xi măng hay nh ựa rải đườngcho nên sự trao đổi giữa môi trường đất và yếu tố tự nhiên bị hạn chế tối đa: tính thấm nước, độ xốp, sự thóat nước tự nhiên, sự trao đổi không khí không còn nữa. Một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với môi trường là s ự tăng trưởng các thành phố lớn, nhất là khi các thành phố này nằm gần bờ bi ển và các dòng sông. Việc này có thể hủy diệt sinh thái ven bi ển, ven sông và các vùng đất ngập nước. Chu trình nước tự nhiên bị hạn chế nhiều ở quá trình thấm, dòng chảy tự nhiên và tăng cường quá trình bốc h ơi. H ệ th ống nước sông rạch được thay bằng cống rãnh hoặc kênh đào, hệ thống nước ngầm cũng bị khai thác tối đa và có thể có nhiều nơi bị ô nhiễm hoặc s ụt lún. Tóm lại, đô thị hóa có tác động xấu đến môi trường,có th ể d ẫn đ ến biến đổi khí hậu, bao gồm cả tăng tần suất và cường độ bão, lũ lụt và h ạn hán. Mặt khác, biến đổi khí hậu cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình đô thị hóa như: biến đổi khí h ậu làm nước bi ển dâng, lũ l ụt, hán hán xảy ra thường xuyên hơn ảnh hưởng đời sống sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe của người dân, các hiện tượng của biến đổi khí hậu làm phá hủy các công trình hạ tầng kỹ thuật của đô thị, làm ảnh hưởng môi trường sống của các sinh vật trong hệ sinh thái đô th ị, mực nước bi ển tăng làm triều cường ngập úng xảy ra nhiều hơn trong các đô thị ven biển. CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA Ở HẢI PHÒNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2.1. QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 2.1.1. Tổng quan về thành phố hải Phòng  Vị trí Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông cách huyện đảo Bạch Long Vĩ khoảng 70 km. Thành Phố cách thủ đô Hà Nội 102 km về phía Đông Đông Bắc. Thành phố gồm : + 7 quận nội thành: Dương Kinh, Đồ Sơn, Hải An, Kiến An, Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân + 6 huyện ngoại thành: An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Thủy Nguyên + 2 huyện đảo: Bạch Long Vĩ, Cát Hải  Địa hình Đồi núi, đồng bằng:Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây B ắc Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Sông:Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 0,8 km1 km². Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời s ống con ng ười nơi đây. Bờ biển và biển:Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng, nước biển Đồ Sơn hơi đục nhưng sau khi cải t ạo nước bi ển đã có phần sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ.... đẹp và kì thú. Cát Bà cũng là đảo lớn nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long.  Tài nguyên Tài nguyên đất đai:Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó diện tích đất liền là 1208,49 km². Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn ha trong đó đất ở chiếm 8,61%; đất dùng cho nông nghi ệp chi ếm 33,64%; đất lâm nghiệp chiếm 14,45%; còn lại là đất chuyên dụng. Nằm ở ven biển nên chủ yếu là đất phèn, đất mặn, phù sa, đất đồi feralit màu nâu vàng. Tài nguyên rừng:Hải Phòng có khu rừng nguyên sinh trên đảo Cát Bà, là nơi dự trữ sinh quyển Thế giới. Điều đặc biệt là khu rừng này n ằm trên đá vôi, một trạng thái rừng rất độc đáo. Tài nguyên nước:Là nơi tất cả các nhánh của sông Thái Bình đổ ra biển nên Hải phòng có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mang lại nguồn lợi rất lớn về nước. Ngoài ra, tại Tiên Lãng còn có mạch suối khoáng ngầm duy nhất ở đồng bằng sông Hồng, tạo ra Khu du lịch suối khoáng nóng Tiên Lãng được nhiều người biết đến. Tài nguyên biển:Bờ biển Hải Phòng trải dài trên 125 km, mang lại nguồn lợi rất lớn về cảng, góp phần phát triển thành cảng cửa ngõ quốc tế của cả miền Bắc và cả nước. Ngành du lịch ở đây cũng rất phong phú với những bãi tắm sạch đẹp như Cát Bà, Đồ Sơn cùng với phong cảnh h ữu tình tạo nguồn lợi lớn cho du lịch, Cát Bà còn có các rặng san hô, h ệ th ống hang động, biển có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế. Tài nguyên khoáng sản:Hải Phòng có tài nguyên đá vôi nhiều, và có mỏ đá vôi ở Thuỷ Nguyên.  Khí hậu Thời tiết Hải phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm ấm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhi ều, mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ r ệt. Nhi ệt đ ộ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C và nhiệt độ trung bình năm là trên 23,9 °C. Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 – 1800 mm. Độ ẩm trong không khí trung bình 85 86%. Tuy nhiên, Hải Phòng có một chút khác biệt so với Hà Nội về m ặt nhiệt độ và thời tiết. Do giáp biển, thành phố này ấm hơn 1 °C vào mùa đông và mát hơn 1 đến 2 độ vào mùa hè. 2.1.2. Quá trình đô thị hóa của thành phố Hải Phòng 2.1.2.1. Giai đoạn trước đổi mới Với lợi thế là đại bàn “ Cửa ngõ”, ven biển, các đô thị phía Bắc được hình thành và phát triển trong điều kiện mới của tiến trình lịch sử. Từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược. Người Pháp trước hết đã đến các địa bàn cửa ngõ ven bi ển và quy ết định chọn cửa ngõ Hải Phòng để xây dựng và phát triển kinh t ế, đ ồng th ời từng bước kiến tạo nó trở thành một đô thị mới theo phong cách phương tây. Theo các nhà sử học: “Trong thời gian sau 15 năm từ sau Hòa ước 1874, đến khi Hải Phòng trở thành một thành phố nh ượng địa của Pháp (1888), đã diễn ra một quá trình đô thị hóa cơ bản và nhanh chóng. Quá trình đô thị hóa đã diễn ra song song ở khu vực kề sát nhau. Sau này h ợp nhất thành hạt nhân của nội thành Hải Phòng…” Ở thời kì đó, mặc dù với mục đích thu lợi nhuận về cho ch ủ nghĩa thực dân, nhưng phải thừa nhận rằng, với việc đô thị hóa Hải Phòng, người Pháp đã thể hiện một tầm nhìn và tư duy đáng xem xét đối với chúng ta đó là phải chọn vị trí “đắc địa” : Hải Phòng có thể liên l ạc v ới toàn xứ Bắc Kỳ, các tỉnh phía Bắc trung kì, nối liền với Hồng Kông, với Lào Cai, Huế, Hà Nội, kể cả với đảo Hải Nam( Trung Quốc) … Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, với chiến lược xây d ựng và phát triển kinh tế, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã xác định thành phố cảng Hải Phòng là cửa ngõ quan trọng bậc nhất miền B ắc. Vì v ậy, bên cạnh việc thực hiện kế hoạc h khôi phục và phát triển kinh tế, nhà nước ta đã mời các chuyên gia về quy hoạch đô thị của Ba Lan đến hợp tác cùng Việt Nam để quy hoạch Hải Phòng. Tuy nhiên, trong giai đo ạn 19551975 với vai trò là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc, tiếp nhận viện trợ quốc tế , trong các cuộc leo thang phá hoại miền Bắc, máy bay của không quân Mỹ đã tập trung bắn phá ác liệt thành phố, tiến hành phong tỏa Cảng. Vì vậy, nhiều nhà máy, công trình xây dựng, bến c ảng, đường giao thông, cầu phà và khu dân cư bị phá hủy hoàn toàn. 2.1.2.2. Giai đoạn sau đổi mới Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, trong giai đoạn này, tốc độ đô thị hóa của Hải Phòng diễn ra ngày càng mạnh m ẽ. Một lo ạt các đô thị vệ tinh đã và đang trên đà mở rồng, phát triển. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, phát huy thế mạnh về công nghiệp, giao thông vận tải, đặc biệt là cảng, du lịch dịch vụ và xuất khẩu hàng hoá. Cơ sở h ạ tầng, bộ mặt đô thị, nông thôn, hải đảo được chỉnh trang, nâng cấp, đổi mới rõ rệt. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị, đô th ị Hải Phòng phát triển cả về quy mô và diện mạo theo tiêu chí c ủa đô th ị loại I trực thuộc trung ương, đô thị trung tâm cấp qu ốc gia, mang b ản s ắc đô thị cảng biển văn minh. Mô hình đô thị Hải Phòng được xác định là đô thị kinh tế, đô thị sinh thái, phát triển theo cấu trúc chùm đô thị với đô th ị trung tâm và các đô thị vệ tinh. Quy mô đô thị Hải Phòng đang được mở rộng trên cả 5 hướng với tốc độ khá nhanh.Thành phố thành lập 3 quận mới với 21 ph ường. Theo đó, dân số, tổng diện tích đất và quy mô dân số đô thị tăng đáng kể. Tốc độ phát triển đô thị khá nhanh, nhiều khu đô thị mới đã và đang đ ược hình thành: khu đô thị mới Ngã Nămsân bay Cát Bi; khu đô th ị, d ịch v ụ và công nghiệp VSIP; khu đô thị và nhà ở Cựu Viên; khu đô th ị m ới Hồ Senc ầu Rào 2; khu đô thị Lạch Tray TrayHồ Đông... Cùng với phát triển các đô thị mới, khu vực đô th ị cũ từng b ước t ập trung nâng cấp, cải tạo chỉnh trang. Thành phố hoàn thành cải tạo, ch ỉnh trang dải trung tâm thành phố trở thành điểm nhấn đô thị của thành ph ố. Bên cạnh đó, nhiều công trình hạ tầng xã hội đầu tư xây dựng t ừ v ốn trái phiếu Chính phủ như Trường đại học Hải Phòng; xây dựng B ệnh viện Việt Tiệp thành bệnh viện đa khoa cấp vùng; Khu liên hợp th ể thao trên đường 353 có quy mô khu vực vùng duyên hải Bắc B ộ, xây d ựng Trung tâm Hội nghị thành phố. Bộ Xây dựng phối hợp thành phố triển khai một số dự án hạ tầng kỹ thuật đô thị quan trọng nh ư: Đầu tư phát tri ển h ệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý rác thải và môi trường vay vốn Chính phủ Phần Lan, Nhật Bản, Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát tri ển Châu Á (ADB). Nhờ vậy, đến nay, đô thị Hải Phòng đạt 3649 tiêu chí đô thị loại 1, trong đó nhiều tiêu chí vượt xa so với chỉ tiêu về nhà ở, đất dân dụng, cơ sở y tế, trung tâm thương mạidịch vụ. Tốc độ đô thị hóa của Hải Phòng trong giai đoạn này đ ược th ể hi ện qua các thông số sau:  Về quy mô dân số Trong những năm qua, dân số đô thị Hải Phòng đã có s ự gia tăng rõ nét. Không chỉ tăng về số lượng, tỉ lệ dân số thành thị ở Hải Phòng cũng liên tục tăng qua các năm. Dân số và tỉ lệ dân số ở thành thị và nông thôn Hải Phòng giai đoạn 20022012 2002 2004 2006 2008 2010 2011 2012 Dân số thành thị(nghìn người) 643,6 696,6 753,3 815,9 858,8 871,3 885,0 Dân số nông thôn(nghìn người) 1081,7 1061,2 1035,8 1008,2 999,0 1008,5 1019,1 Tỉ lệ dân số thành thị (%) 37,3 39,6 42,1 44,7 46,2 46,4 46,5 Tỉ lệ dân số nông thông (%) 62,7 60,4 57,9 55,3 53,8 53,6 53,5 (Tổng cục dân số) Trong vòng 10 năm, từ năm 20022012, dân số thành th ị đã tăng lên 241,4 nghìn người, dân số nông thôn giảm 62,6 nghìn người. Theo đó, t ỉ l ệ dân thành thị tăng tương ứng là 9,2% đâylà một con số khá lớn.  Về tổng sản phẩm Tổng sản phẩm trên địa bàn toàn thành phố cũng tăng đáng kể: năm 1990 là 1.099,9 tỷ đồng, năm 2000 là 10.487,1 tỷ đồng, năm 2010 là 57.228,6 tỷ đồng. Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 910,8 tỷ đồng năm 1985 lên 2310,4 tỷ đồng năm 2000 và đạt 9031,1 tỷ đồng năm 2010. Đồng thời, giá trị sản xuất công nghiệp cũng có chiều hướng tăng mạnh: năm 1985 giá trị sản xuất công nghiệp mới chỉ đạt 1145,4 tỷ đồng thì đến năm 2000 đã tăng lên 8709,2 tỷ đồng và năm 2012 đã đạt mức 50.456 tỷ đồng. Ngành dịch vụ tăng mạnh trong giai đoạn này, đặc biệt là tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng lên đáng k ể từ 1,96 tỷ đồng năm 1985 lên 3.934,9 tỷ đồng năm 2000, đến năm 2010 đ ạt 51.371,8 tỷ đồng – đứng thứ 2 vùng đồng bằng sông Hồng và đứng th ứ 6 cả nước. Sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế của thành phố (%) Ngành 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nông lâm nghiệp 12,96 11,61 10,60 10,73 10,92 10,01 thủy sản Công 36,24 35,41 37,90 37,50 37,27 36,97 nghiệp Dịch vụ 50,79 52,98 51,50 51,77 51,81 53,02 (Nguồn: http:haiphong.gov.vn)  Về kết cấu hạ tầng kĩ thuật: Với vị trí là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa ngõ ra biển của toàn miền Bắc, Hải Phòng hội tụ đủ tất cả các loại hình giao thông như đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không và hệ thống cảng biển.  Hệ thống cảng biển: được chú trọng đầu tư xây dựng từ rất sớm và đã trở thành cảng biển có tiếng của Thái Bình Dương từ th ế k ỉ 19, 20. Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp Quốc gia, cùng với cảng Sải Gòn là một trong hai hệ th ống cảng bi ển lớn nh ất Vi ệt Nam và đang được Chính Phủ nâng cấp. Ngoài cảng biển, ở Hải Phòng còn có 20 bến cảng khác với các chức năng khác nhau như vận tải ch ất hóa l ỏng, bến cảng đóng tàu,…  Về giao thông đô thị: Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, thể hiện qua các mặt nh ư: nhiều tuyến đường, cây cầu được xây dựng, chất lượng đường đô thị được cải thiện rõ rệt. Thành phố Hải phòng có khoảng 600 tuyến đường phố, nằm trong 7 quận nội thành. Đường dài nhất là đường Phạm Văn Đồng, dài 14.5 km, ngắn nhất là phố Đội Cấn chỉ dài hơn 70 mét. H ơn 95% các tuyến đường đã được lắp đặt hệ thống chiếu sáng. Hầu hết các quận, huyện của Hải Phòng đều có các bến xe vận chuy ển hành khách và hàng hóa. Năm 2011, Thủ tướng đã phê duyệt kết quả đàm phán dự án Phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng với tổng mức đầu t ư 276,611 triệu USD. Dự án này được thực hiện trong 5 năm, từ năm 2011 và dự kiến hoàn thành vào năm 2016. Dự án bao gồm xây dựng tuyến đường trục đô thị Hải Phòng dài 20 km từ xã Lê Lợi (An Dương) đến quận Hải An và các cầu trên tuyến gồm xây mới cầu Niệm 2, cầu Đồng Khê vượt qua sông Lạch Tray và đường Trường Chinh, hầm chui cầu Rào, cải tạo cầu Niệm hiện tại. Cũng trong dự án này, thành phố sẽ thí điểm xây dựng tuy ến xe buýt công cộng từ trung tâm đi Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Đồng thời, v ận hành nâng cao thể chế năng lực quản lý giao thông vận tải, lập và thực hiện quy hoạch về giao thông đô thị, vận tải công cộng…  Về cơ sở lưu trú: Số lượng cơ sở lưu trú ngày càng gia tăng, Đến nay, toàn thành phố hiện có 108 cơ sở lưu trú được xếp hạng từ 1 đến 5 sao. Một số khách sạn tiêu biểu cao cấp của Hải Phòng là Best Western Pearl River đạt 5 sao, các khách sạn 4 sao khác là khách sạn quốc tế Sao Biển, khách sạn Nam Cường (tên cũ là Tray Hotel), Harbour View, Camela, Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island Resort Spa, Hữu Nghị, Princess Hotel, Hoàng Long Classic, Sunflower International Village,... Một số resort cao cấp nổi tiếng ở Hải Phòng là: Đồ Sơn Resort, Hòn Dấu Resort, Camela Hotel Resort, Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island Resort Spa, Sông Giá resort, Monkey Island Resort, Flamingo Cát Bà, Cát Bà Beach Resort,...Tại Hải Phòng đang có nhiều dự án xây dựng nh ững khách sạn mới tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó có 2 khách sạn theo tiêu chu ẩn 5 sao quốc tế đang được xây dựng: một tại đảo nhân tạo Hoa Phượng,ĐồSơn và một ở vịnh tránh bão thuộc đảo Cát Bà, nằm tại Cát Bà Island Resort Spa. Ngành du lịch Hải Phòng dự tính sẽ có thêm từ 5 tới 7 khách sạn chuẩn quốc tế tại nội thành và trên các khu du lịch, ngh ỉ dưỡng Đồ Sơn, Cát Bà, và đảo nhân tạo Hoa Phượng để nâng tầm du lịch của thành phố. 2.2. TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở HẢI PHÒNG Trái đất nóng lên, nhiệt độ cuả trái đất đang tăng gần 10 0C so với hơn một thế kỷ trước, điều đó kéo theo hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng về môi trường sinh thái như: băng tan ở hai đầu cực, các lỗ thủng xuất hiện ở tầng ô Zôn, mực nước biển dâng cao, khô h ạn, cháy r ừng, mưa axít, lũ lụt, sạt lở đất đá,.. diễn ra trên diện rộng v ới c ường đ ộ l ớn và tần suất cao, ảnh hưởng và đe doạ trực tiếp đến sự tồn t ại, phát tri ển c ủa cả cộng đồng. Trong đó Việt Nam được đánh giá là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do Biến đổi khí hậu gây ra. Đặc bi ệt ảnh h ưởng của biến đổi khí hậu có thấy nhận thấy rõ nét nhất ở các thành ph ố ven biển, trong đó có Hải Phòng. Biến đổi khí hậu mang lại những tác động tiêu cực đến phát triển đô thị và quá trình đô thị hóa ở Hải Phòng. Các hiện tượng thời ti ết cực đoan với số lượng ngày càng nhiều, cường độ ngày càng lớn đang góp phần kìm hãm quá trình đô thị hóa của thành phố. 2.2.1. Phá hủy cơ sở hạ tầng đô thị Trong những năm gần đây, Hải Phòng đang phải hứng chịu nhiều cơn bão lớn mà hậu quả của nó khó thể kiểm soát được. Những cơn bão lớn xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn, gây thiệt h ại n ặng n ề: phá hủy hệ thống cơ sở hạ tầng, gây thiệt hại về người và của… Người dân trong đô thị thường xuyên phải sống chung với bão lũ, các tuy ến đ ường giao thông, hệ thống cầu cảng, hệ thống cấp thoát nước … ở các đô th ị liên tục bị hủy hoại và phải nâng cấp sau bão. Đặc biệt, Hải Phòng là một thành phố du lịch, được đầu tư phát triển mạnh với hệ thống nhà hàng, khách sạn nằm ngay ven biển. Tuy nhiên, hệ thống này dễ dàng chịu thiệt hại khi những cơn bão đổ bộ vào thành phố. Bão diễn ra với mật độ ngày càng nhiều, dẫn đến yêu cầu về các công trình xây dựng như cầu, cảng, đê, kè… theo đó cần được xây l ắp c ẩn thận, với kĩ thuật cao hơn, nguyên vật liệu có kh ả năng ch ống ch ịu t ốt hơn…Do đó, thành phố tốn khá nhiều chi phi cho xây dựng. Một số cơn bão đổ bộ vào vùng biển Hải Phòng giai đoạn 20072013 Vùng bờ biển Thời gian Tên cơn bão Cấp độ bão xuất hiện Giữa biển đông 04112013 Haiyan Cấp 6 (39 49 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 20062013 Bebinka Cấp 6 (39 49 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 12072010 Con Son Cấp 7 (50 61 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 29092009 PARMA Cấp 6 (39 49 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 08092009 MUJIGAE Cấp 8 (62 74 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 10072009 SOUPELOR Cấp 6 (39 49 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 01102008 Higos Cấp 8 (62 74 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 21092008 Hagupit Cấp 6 (39 49 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 11082008 ATNĐ Cấp 6 (39 49 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 04082008 Kammuri Cấp 8 (62 74 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 23092007 Francisco Cấp 9 (75 88 kmh) Quảng Ninh – Thanh Hóa 02072007 Toraji Cấp 8 (62 74 kmh) ( Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia)  Ảnh hưởng của thành phố sau một số cơn bão lớn: Gần đây nhất có thể kể đến cơn bão Haiyan (bão số 14), hay còn được gọi là siêu bão Hải Yến. Bão có sức hủy diệt rất lớn. Trên toàn thành phố có hàng trăm đi ểm ngập úng, nhiều khu vực còn ngập sâu từ 80cm đến 1m như đường Võ Th ị Sáu, Minh Khai, Hồ Xuân Hương, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tri Phương, … gây thiệt hại nhiều về người và của, phá hủy nhiều công trình giao thông, công trình xây dựng. Do mưa to kéo dài nên m ột s ố h ồ r ơi vào c ảnh nước dâng lên cao, không còn thực hiện được chức năng điều hoà. (Hình ảnh trong bão ở tuyến đường Minh Khai) Bão Bebinca gây nhiều thiệt hại cho Hải Phòng, khiến nhiều khu du lịch như Đồ Sơn, Cát Bà tan hoang, hệ thống đê kè bị phá vỡ, sạt lở bao gồm: • 50m kè cầu cảng khu vực bến Béo, đảo Cát Bà • 40m kè khu du lịch Đồ Sơn • Đê Kè Cát Hải bị sạt, hư hỏng nhiều vị trí (Sóng đánh tràn bờ kè Cát Cò ở Hải Phòng. Ảnh: Báo Hải Phòng) 2.2.2. Tác động đến hoạt động kinh tế 2.2.2.1. Nông nghiệp Ngành nông nghiệp của Hải Phòng gặp không ít khó khăn do bi ến đổi khí hậu. Điều kiện thời tiết khắc nghiệt làm cho sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Thiên tai mang lại thiệt h ại lớn cho ngành nông nghiệp. Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hải Phòng. Chỉ tính riêng đợt rét đậm rét hại bất thường kéo dài hơn 33 ngày đầu năm 2008 đã có 14.602 ha lúa mới cấy, trên 1.000 ha m ạ xuân b ị chết rét phải gieo cấy lại; sản xuất thuỷ sản thiệt hại 17 triệu con cá giống, 9 tấn cá bố mẹ và trên 1.000 tấn sản phẩm thương phẩm. Thiệt hại do rét đậm, rét hại gây nên cho sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản thành ph ố trên 212 tỷ đồng. Sâu bệnh phát sinh trên diện rộng.

Trang 1

Lớp Kinh tế và Quản lý Đô thị K53

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG

CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN

ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ

HẢI PHÒNG

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trang 2

Đề tài:

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN ĐÔ THỊ HÓA Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”

MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, các nhà khoa học, các tổ chức trên thế giới đã liên tục báo động về những biến động bất thường của khí hậu và thời tiết Hiện tượng Trái Đất đang nóng lên kéo theo tốc độ tan băng ngày càng nhanh ở Nam cực và Bắc cực là một thực tế buộc cả nhân loại phải ứng phó Sự dâng lên của mực nước biển sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng trăm triệu người, đặc biệt là ở các quốc gia và các vùng lãnh thổ ven biển Biến đổi khí hậu còn làm cho các thiên tai như lũ lụt, hạn hán, bão, áp thấp nhiệt đới… ngày càng khắc nghiệt hơn Và Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu

Hải Phòng, còn được gọi là thành phố “Hoa Phượng đỏ”, là một thành phố cảng lớn nhất phía Bắc, là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ vùng duyên hải Bắc Thành phố còn là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương, được xếp hạng đô thị loại I của quốc gia với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao Với đặc điểm một thành phố ven biển, Hải Phòng là một trong những thành phố chịu ảnh hưởng rõ nét nhất của biến đổi khí hậu ở nước ta, đặc biệt là tác động tồi tệ của nước biển dâng Biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng phần nào đến phát triển đô thị và đô thị hóa của thành phố

Để làm rõ tác động của biến đổi khí hậu đến quá trình đô thị hóa diễn

ra ở thành phố Hải Phòng , từ đó đề xuất những kiến nghị và giải pháp phát triển đô thị hóa thích ứng biến đổi khí hậu, nhóm chúng tôi quyết định chọn

đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đô thị hóa ở

thành phố Hải Phòng Thực trạng và giải pháp”

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA, BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 4

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CHUNG 4

1.1.1 Đô thị hóa là gì? 4

Khái niệm về đô thị 4

Khái niệm về đô thị hóa 4

1.1.2 Biến đổi khí hậu là gì? 5

1.2 MỐI QUAN HỆ CỦA ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 5

CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA Ở HẢI PHÒNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 8

2.1 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 8

2.1.1 Tổng quan về thành phố hải Phòng 8

2.1.2 Quá trình đô thị hóa của thành phố Hải Phòng 9

2.1.2.1 Giai đoạn trước đổi mới 9

2.1.2.2 Giai đoạn sau đổi mới 10

2.2 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở HẢI PHÒNG 13

2.2.1 Phá hủy cơ sở hạ tầng đô thị 14

2.2.2 Tác động đến hoạt động kinh tế 16

2.2.2.1 Nông nghiệp 16

2.2.2.2 Công nghiệp 17

2.2.2.3 Du Lịch 17

2.2.3 Tác động đến sức khỏe người dân thành thị 17

CHƯƠNG 3 – KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 18

3.1 CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỂ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 18

3.1.1 Quyết định số 2139/QĐ-TT - Phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (tóm tắt) 18

3.1.2 Nghị quyết số24-NQ/TW - Về chủ đông ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (tóm tắt) 20

Trang 4

3.2 KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 23

3.2.1 Kiến nghị đề xuất chung 23

3.2.2 Biện pháp cụ thể cho Hải Phòng 24

Biện pháp thích ứng của thành phố Hải Phòng trước tác động biến đổi khí hậu 24

Các biện pháp của Hải Phòng nhằm giảm tác động đến BĐKH 26

KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 5

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA, BIẾN ĐỔI

KHÍ HẬU

1.1.1 Đô thị hóa là gì?

Khái niệm về đô thị

Theo thông tư số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nọi dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP của chính phủ về phân loại đô thị đã định nghĩa : «Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống với mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phat triển KT-Xh của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ , một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn »

Khái niệm về đô thị hóa

 Hiểu theo nghĩa rộng: “Đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế -

xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự dịch chuyển cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy

hành chính, quân sự”

 Hiểu theo nghĩa hẹp, đô thị hóa là “quá trình biến nông thôn thành đô

thị, sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội”

- Đô thị hóa luôn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển

xã hội và nâng cao trình độ nhận thức của mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội

- Đô thị hóa là một quá trình phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu

- Đô thị hóa theo chiều rộng gắn với vấn đề mở rộng không gian đô thị theo vùng của quốc gia

- Đô thị hóa theo chiều sâu gắn với quy hoạch không gian đô thị nhằm nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, trình độ và hiệu quả kinh tế, chất lượng và môi trường sống của cư dân trong từng đô thị

- Đô thị hóa là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị hóa cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong các điều kiện mới… đặc biệt

là thay đổi cơ cấu dân cư

- Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của

đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây

Trang 6

dựng, dịch vụ… do vậy, đô thị hóa không thể tách rời một chế độ kinh tế xã hội

1.1.2 Biến đổi khí hậu là gì?

Theo Công ước Khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi Khí

hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change) định nghĩa:

“ Biến đổi khí hậu là là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài."

 Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu gồm:

- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung

- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất

- Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển

- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người

- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển

Đô thị hóa dẫn đến sự tập trung cao độ của dân cư và các cụm công nghiệp tại một vùng, gây ra nhiều thay đổi có liên quan trực tiếp đến khí hậu

và môi trường Một số thay đổi đó như: thay đổi mô hình sử dụng đất, tăng trưởng mật độ dân số, tăng sử dụng phương tiện giao thông và năng lượng hoạt động chuyên sâu, tăng trưởng công nghiệp, tăng cường tiêu dùng và thải loại chất thải

Trang 7

- Đặc trưng của đô thị hóa là quá trình di dân nông thôn ra thành thị dẫn đến tình trạng dân cư tập trung đông đúc ở các khu đô thị làm cho mật đô dân cư tăng nhanh chóng Dân số lớndẫn đến tiêu thụ thực phẩm, nước và năng lượng nhiều hơn, đồng nghĩa với việc xả thải nhiều hơn Một thực tế cho thấy, số lượng người càng tăng thì ô nhiễm càng cao Mặc dù, có một số biện pháp xử lý ô nhiễm, có một hệ thống giáo dục và quản lý môi trường, nhưng tác động của mật độ dân cư đông và số dân cao vẫn làm tổn hại đến môi trường, nhất là ở các đô thị của các nước đang phát triển

- Xuất phát của một vùng đô thị thường là những nơi thuận tiện giao thông, theo đó kinh tế phát triển kéo theo sự gia tăng dân số Dân số tăng dẫn đến sự gia tăng về phương tiện giao thông Số phương tiện tham gia giao thông quá lớn, đặc biệt trong giờ cao điểm ở các đô thị dễ gây ra tình trạng: tắc đường, nạn kẹt xe, tiếng ồn, khí độc, khói, bụi… ảnh hưởng xấu đến môi trường

- Ở đô thị, mức độ sử dụng năng lượng của các ngành công nghiệp, của phương tiện giao thông, cũng như của người dân… là rất lớn Năng lượng được sử dụng càng nhiều đồng nghĩa với việc lượng chất thải xả ra ngoài môi trường càng lớn, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, môi trường không khí

- Một thực tế cho thấy, quá trình đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Công nghiệp hóa càng nhanh thì đô thị hóa càng nhanh dẫn đến việc hình thành nhiều khu công nghiệp ở các đô thị Các ngành công nghiệp nằm gần các thành phố là nguồn gốc chính của không khí, nước và ô nhiễm đất đai Hầu hết các năng lượng cần thiết để hỗ trợ các ngành công nghiệp và cuộc sống đô thị được sản xuất bằng cách sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than, xăng, diesel hoặc khí tự nhiên… nên chất thải chính của công nghiệp là CO2 Sản xuất công nghiệp ngày càng mạnh thì môi trường đô thị càng bị ô nhiễm, cho dù kỹ thuật phát triển cao giúp cắt giảm lượng chất thải

ĐÔ THỊ

HÓA

Mật độ dân số tăng

Phương tiện giaothông tăng

Mức độ sử dụng năng lượng tăng

Tăng các khu công nghiệp

- Tăng chất thải

- Phá rừng -Giảm đa dạng sinh học

BIẾNĐ

ỔI KHÍ HẬU

Thay đổi quy mô sử dụng đất

Trang 8

thì lượng chất thải do các nhà máy, xí nghiệp thải ra ngoài môi trường vẫn rất đáng kể

- Đô thị hóa dẫn đến thay đổi trong việc sử dụng đất tự nhiên Đô thị hóa phát triển, nhu cầu đất cho nhà ở, cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cũng tăng lên Chính quyền và dân cư có xu hướng chặt phá rừng, chặt hạ cây cối để lấy đất xây dựng đường giao thông và các tòa nhà cao tầng Điều này

đã hủy hoại môi trường sống của nhiều động thực vật, làm giảm sự đa dạng sinh học, gây mất cân bằng sinh thái Việc chặt phá rừng cũng gây ra ảnh hưởng xấu tới môi trường không khí, đồng thời tăng nguy cơ lũ lụt Bên cạnh

đó, đất được phủ bê tông, xi măng hay nhựa rải đườngcho nên sự trao đổi giữa môi trường đất và yếu tố tự nhiên bị hạn chế tối đa: tính thấm nước, độ xốp, sự thóat nước tự nhiên, sự trao đổi không khí không còn nữa

Một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với môi trường là sự tăng trưởng các thành phố lớn, nhất là khi các thành phố này nằm gần bờ biển và các dòng sông Việc này có thể hủy diệt sinh thái ven biển, ven sông và các vùng đất ngập nước Chu trình nước tự nhiên bị hạn chế nhiều ở quá trình thấm, dòng chảy tự nhiên và tăng cường quá trình bốc hơi Hệ thống nước sông rạch được thay bằng cống rãnh hoặc kênh đào, hệ thống nước ngầm cũng bị khai thác tối đa và có thể có nhiều nơi bị ô nhiễm hoặc sụt lún

Tóm lại, đô thị hóa có tác động xấu đến môi trường,có thể dẫn đến biến đổi khí hậu, bao gồm cả tăng tần suất và cường độ bão, lũ lụt và hạn hán

Mặt khác, biến đổi khí hậu cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình đô thị hóa như: biến đổi khí hậu làm nước biển dâng, lũ lụt, hán hán xảy ra thường xuyên hơn ảnh hưởng đời sống sản xuất, sinh hoạt và sức khỏe của người dân, các hiện tượng của biến đổi khí hậu làm phá hủy các công trình hạ tầng kỹ thuật của đô thị, làm ảnh hưởng môi trường sống của các sinh vật trong hệ sinh thái đô thị, mực nước biển tăng làm triều cường ngập úng xảy ra nhiều hơn trong các đô thị ven biển

Nước biển dâng

Thay đổi thành phần, chất lượng khí quyển, thủy quyển, sinh quyển…

Phá hủy cơ

sở hạ tầng đô thị

Thiếu nước sạch trong

đô thị

Bão lũ Hạn hán Phá hủy hệ sinh thái

Trang 9

CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA Ở HẢI PHÒNG VÀ

TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

2.1 QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1.1 Tổng quan về thành phố hải Phòng

 Vị trí

Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông - cách huyện đảo Bạch Long Vĩ khoảng 70 km Thành Phố cách thủ đô Hà Nội 102 km về phía Đông Đông Bắc

Đồi núi, đồng bằng:Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du,

có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính

Sông:Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 -

0,8 km/1 km² Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con người nơi đây

Trang 10

Bờ biển và biển:Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng

phẳng, nước biển Đồ Sơn hơi đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát

Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ đẹp và kì thú Cát Bà cũng là đảo lớn nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long

 Tài nguyên

Tài nguyên đất đai:Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó

diện tích đất liền là 1208,49 km² Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn

ha trong đó đất ở chiếm 8,61%; đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%; đất

lâm nghiệp chiếm 14,45%; còn lại là đất chuyên dụng

Nằm ở ven biển nên chủ yếu là đất phèn, đất mặn, phù sa, đất đồi feralit màu nâu vàng

Tài nguyên rừng:Hải Phòng có khu rừng nguyên sinh trên đảo Cát Bà,

là nơi dự trữ sinh quyển Thế giới Điều đặc biệt là khu rừng này nằm trên đá vôi, một trạng thái rừng rất độc đáo

Tài nguyên nước:Là nơi tất cả các nhánh của sông Thái Bình đổ ra

biển nên Hải phòng có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mang lại nguồn lợi rất lớn về nước Ngoài ra, tại Tiên Lãng còn có mạch suối khoáng ngầm duy nhất ở đồng bằng sông Hồng, tạo ra Khu du lịch suối khoáng nóng Tiên Lãng được nhiều người biết đến

Tài nguyên biển:Bờ biển Hải Phòng trải dài trên 125 km, mang lại

nguồn lợi rất lớn về cảng, góp phần phát triển thành cảng cửa ngõ quốc tế của

cả miền Bắc và cả nước Ngành du lịch ở đây cũng rất phong phú với những bãi tắm sạch đẹp như Cát Bà, Đồ Sơn cùng với phong cảnh hữu tình tạo nguồn lợi lớn cho du lịch, Cát Bà còn có các rặng san hô, hệ thống hang động, biển có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế

Tài nguyên khoáng sản:Hải Phòng có tài nguyên đá vôi nhiều, và có

mỏ đá vôi ở Thuỷ Nguyên

 Khí hậu

Thời tiết Hải phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm ấm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5 °C, mùa đông là 20,3 °C và nhiệt độ trung bình năm là trên 23,9 °C Lượng mưa trung bình năm là khoảng 1600 – 1800 mm

Độ ẩm trong không khí trung bình 85 - 86%

Tuy nhiên, Hải Phòng có một chút khác biệt so với Hà Nội về mặt nhiệt độ và thời tiết Do giáp biển, thành phố này ấm hơn 1 °C vào mùa đông

và mát hơn 1 đến 2 độ vào mùa hè

2.1.2 Quá trình đô thị hóa của thành phố Hải Phòng

2.1.2.1 Giai đoạn trước đổi mới

Trang 11

Với lợi thế là đại bàn “ Cửa ngõ”, ven biển, các đô thị phía Bắc được hình thành và phát triển trong điều kiện mới của tiến trình lịch sử

Từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược Người Pháp trước hết đã đến các địa bàn cửa ngõ ven biển và quyết định chọn cửa ngõ Hải Phòng để xây dựng và phát triển kinh tế, đồng thời từng bước kiến tạo nó trở thành một đô thị mới theo phong cách phương tây Theo các nhà sử học: “Trong thời gian sau 15 năm từ sau Hòa ước 1874, đến khi Hải Phòng trở thành một thành phố nhượng địa của Pháp (1888), đã diễn ra một quá trình đô thị hóa cơ bản và nhanh chóng Quá trình đô thị hóa đã diễn

ra song song ở khu vực kề sát nhau Sau này hợp nhất thành hạt nhân của nội thành Hải Phòng…”

Ở thời kì đó, mặc dù với mục đích thu lợi nhuận về cho chủ nghĩa thực dân, nhưng phải thừa nhận rằng, với việc đô thị hóa Hải Phòng, người Pháp

đã thể hiện một tầm nhìn và tư duy đáng xem xét đối với chúng ta đó là phải chọn vị trí “đắc địa” : Hải Phòng có thể liên lạc với toàn xứ Bắc Kỳ, các tỉnh phía Bắc trung kì, nối liền với Hồng Kông, với Lào Cai, Huế, Hà Nội, kể cả với đảo Hải Nam( Trung Quốc) …

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, với chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã xác định thành phố cảng Hải Phòng là cửa ngõ quan trọng bậc nhất miền Bắc Vì vậy, bên cạnh việc thực hiện kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế, nhà nước ta đã mời các chuyên gia về quy hoạch đô thị của Ba- Lan đến hợp tác cùng Việt Nam để quy hoạch Hải Phòng Tuy nhiên, trong giai đoạn 1955-1975 với vai trò là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc, tiếp nhận viện trợ quốc tế , trong các cuộc leo thang phá hoại miền Bắc, máy bay của không quân Mỹ đã tập trung bắn phá ác liệt thành phố, tiến hành phong tỏa Cảng Vì vậy, nhiều nhà máy, công trình xây dựng, bến cảng, đường giao thông, cầu phà và khu dân

cư bị phá hủy hoàn toàn

2.1.2.2 Giai đoạn sau đổi mới

Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, trong giai đoạn này, tốc độ

đô thị hóa của Hải Phòng diễn ra ngày càng mạnh mẽ Một loạt các đô thị vệ tinh đã và đang trên đà mở rồng, phát triển Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, phát huy thế mạnh về công nghiệp, giao thông vận tải, đặc biệt là cảng, du lịch- dịch vụ và xuất khẩu hàng hoá Cơ sở hạ tầng, bộ mặt đô thị, nông thôn, hải đảo được chỉnh trang, nâng cấp, đổi mới rõ rệt

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị, đô thị Hải Phòng phát triển cả về quy mô và diện mạo theo tiêu chí của đô thị loại I trực thuộc trung ương, đô thị trung tâm cấp quốc gia, mang bản sắc đô thị cảng biển văn minh Mô hình đô thị Hải Phòng được xác định là đô thị kinh tế, đô thị sinh thái, phát triển theo cấu trúc chùm đô thị với đô thị trung tâm và các

đô thị vệ tinh

Trang 12

Quy mô đô thị Hải Phòng đang được mở rộng trên cả 5 hướng với tốc

độ khá nhanh.Thành phố thành lập 3 quận mới với 21 phường Theo đó, dân

số, tổng diện tích đất và quy mô dân số đô thị tăng đáng kể Tốc độ phát triển

đô thị khá nhanh, nhiều khu đô thị mới đã và đang được hình thành: khu đô thị mới Ngã Năm-sân bay Cát Bi; khu đô thị, dịch vụ và công nghiệp VSIP; khu đô thị và nhà ở Cựu Viên; khu đô thị mới Hồ Sen-cầu Rào 2; khu đô thị Lạch Tray Tray-Hồ Đông

Cùng với phát triển các đô thị mới, khu vực đô thị cũ từng bước tập trung nâng cấp, cải tạo chỉnh trang Thành phố hoàn thành cải tạo, chỉnh trang dải trung tâm thành phố trở thành điểm nhấn đô thị của thành phố Bên cạnh đó, nhiều công trình hạ tầng xã hội đầu tư xây dựng từ vốn trái phiếu Chính phủ như Trường đại học Hải Phòng; xây dựng Bệnh viện Việt Tiệp thành bệnh viện đa khoa cấp vùng; Khu liên hợp thể thao trên đường 353 có quy mô khu vực vùng duyên hải Bắc Bộ, xây dựng Trung tâm Hội nghị thành phố Bộ Xây dựng phối hợp thành phố triển khai một số dự án hạ tầng kỹ thuật đô thị quan trọng như: Đầu tư phát triển hệ thống cấp nước, thoát nước,

xử lý rác thải và môi trường vay vốn Chính phủ Phần Lan, Nhật Bản, Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

Nhờ vậy, đến nay, đô thị Hải Phòng đạt 36/49 tiêu chí đô thị loại 1, trong đó nhiều tiêu chí vượt xa so với chỉ tiêu về nhà ở, đất dân dụng, cơ sở y

tế, trung tâm thương mại-dịch vụ

Tốc độ đô thị hóa của Hải Phòng trong giai đoạn này được thể hiện qua các thông số sau:

Về quy mô dân số

Trong những năm qua, dân số đô thị Hải Phòng đã có sự gia tăng rõ nét Không chỉ tăng về số lượng, tỉ lệ dân số thành thị ở Hải Phòng cũng liên tục tăng qua các năm

Dân số và tỉ lệ dân số ở thành thị và nông thôn Hải Phòng giai đoạn

2002-2012

2002 2004 2006 2008 2010 2011 2012

Dân số thành

thị(nghìn người) 643,6 696,6 753,3 815,9 858,8 871,3 885,0 Dân số nông

thôn(nghìn người) 1081,7 1061,2 1035,8 1008,2 999,0 1008,5 1019,1

Tỉ lệ dân số thành

thị (%) 37,3 39,6 42,1 44,7 46,2 46,4 46,5

Trang 13

Về tổng sản phẩm

Tổng sản phẩm trên địa bàn toàn thành phố cũng tăng đáng kể: năm

1990 là 1.099,9 tỷ đồng, năm 2000 là 10.487,1 tỷ đồng, năm 2010 là 57.228,6

tỷ đồng Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 910,8 tỷ đồng năm

1985 lên 2310,4 tỷ đồng năm 2000 và đạt 9031,1 tỷ đồng năm 2010 Đồng thời, giá trị sản xuất công nghiệp cũng có chiều hướng tăng mạnh: năm 1985 giá trị sản xuất công nghiệp mới chỉ đạt 1145,4 tỷ đồng thì đến năm 2000 đã tăng lên 8709,2 tỷ đồng và năm 2012 đã đạt mức 50.456 tỷ đồng Ngành dịch

vụ tăng mạnh trong giai đoạn này, đặc biệt là tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng lên đáng kể từ 1,96 tỷ đồng năm 1985 lên 3.934,9 tỷ đồng năm 2000, đến năm 2010 đạt 51.371,8 tỷ đồng – đứng thứ 2 vùng đồng bằng sông Hồng và đứng thứ 6 cả nước

Sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế của thành phố (%)

(Nguồn: http://haiphong.gov.vn/)

 Về kết cấu hạ tầng kĩ thuật:

Với vị trí là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa ngõ ra biển của toàn miền Bắc, Hải Phòng hội tụ đủ tất cả các loại hình giao thông như đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không và hệ thống cảng biển

 Hệ thống cảng biển: được chú trọng đầu tư xây dựng từ rất sớm và

đã trở thành cảng biển có tiếng của Thái Bình Dương từ thế kỉ 19, 20 Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp Quốc gia, cùng với cảng Sải Gòn là một trong hai hệ thống cảng biển lớn nhất Việt Nam và đang được Chính Phủ nâng cấp Ngoài cảng biển, ở Hải Phòng còn có 20 bến cảng khác với các chức năng khác nhau như vận tải chất hóa lỏng, bến cảng đóng tàu,…

Trang 14

 Về giao thông đô thị: Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đô thị

trong những năm qua được cải thiện rõ rệt, thể hiện qua các mặt như: nhiều tuyến đường, cây cầu được xây dựng, chất lượng đường đô thị được cải thiện

rõ rệt Thành phố Hải phòng có khoảng 600 tuyến đường phố, nằm trong 7 quận nội thành Đường dài nhất là đường Phạm Văn Đồng, dài 14.5 km, ngắn nhất là phố Đội Cấn chỉ dài hơn 70 mét Hơn 95% các tuyến đường đã được lắp đặt hệ thống chiếu sáng Hầu hết các quận, huyện của Hải Phòng đều có các bến xe vận chuyển hành khách và hàng hóa

Năm 2011, Thủ tướng đã phê duyệt kết quả đàm phán dự án "Phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng" với tổng mức đầu tư 276,611 triệu USD Dự án này được thực hiện trong 5 năm, từ năm 2011 và dự kiến hoàn thành vào năm 2016 Dự án bao gồm xây dựng tuyến đường trục đô thị Hải Phòng dài 20 km từ xã Lê Lợi (An Dương) đến quận Hải An và các cầu trên tuyến gồm xây mới cầu Niệm 2, cầu Đồng Khê vượt qua sông Lạch Tray và đường Trường Chinh, hầm chui cầu Rào, cải tạo cầu Niệm hiện tại Cũng trong dự án này, thành phố sẽ thí điểm xây dựng tuyến xe buýt công cộng từ trung tâm đi Tiên Lãng, Vĩnh Bảo Đồng thời, vận hành nâng cao thể chế năng lực quản lý giao thông vận tải, lập và thực hiện quy hoạch về giao thông

đô thị, vận tải công cộng…

 Về cơ sở lưu trú: Số lượng cơ sở lưu trú ngày càng gia tăng, Đến

nay, toàn thành phố hiện có 108 cơ sở lưu trú được xếp hạng từ 1 đến 5 sao Một số khách sạn tiêu biểu cao cấp của Hải Phòng là Best Western Pearl River đạt 5 sao, các khách sạn 4 sao khác là khách sạn quốc tế Sao Biển, khách sạn Nam Cường (tên cũ là Tray Hotel), Harbour View, Camela, Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island Resort & Spa, Hữu Nghị, Princess Hotel, Hoàng Long Classic, Sunflower International Village,

Một số resort cao cấp nổi tiếng ở Hải Phòng là: Đồ Sơn Resort, Hòn Dấu Resort, Camela Hotel & Resort, Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island Resort & Spa, Sông Giá resort, Monkey Island Resort, Flamingo Cát Bà, Cát Bà Beach Resort, Tại Hải Phòng đang có nhiều dự án xây dựng những khách sạn mới tiêu chuẩn quốc tế Trong đó có 2 khách sạn theo tiêu chuẩn 5 sao quốc tế đang được xây dựng: một tại đảo nhân tạo Hoa Phượng,ĐồSơn và một ở vịnh

tránh bão thuộc đảo Cát Bà, nằm tại Cát Bà Island Resort & Spa Ngành du

lịch Hải Phòng dự tính sẽ có thêm từ 5 tới 7 khách sạn chuẩn quốc tế tại nội thành và trên các khu du lịch, nghỉ dưỡng Đồ Sơn, Cát Bà, và đảo nhân tạo Hoa Phượng để nâng tầm du lịch của thành phố

2.2 TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN ĐÔ

THỊ Ở HẢI PHÒNG

Trái đất nóng lên, nhiệt độ cuả trái đất đang tăng gần 100C so với hơn một thế kỷ trước, điều đó kéo theo hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng về môi trường sinh thái như: băng tan ở hai đầu cực, các lỗ thủng xuất hiện ở tầng ô Zôn, mực nước biển dâng cao, khô hạn, cháy rừng, mưa axít, lũ lụt, sạt

lở đất đá, diễn ra trên diện rộng với cường độ lớn và tần suất cao, ảnh hưởng

Trang 15

và đe doạ trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của cả cộng đồng Trong đó Việt Nam được đánh giá là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do Biến đổi khí hậu gây ra Đặc biệt ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có thấy nhận thấy rõ nét nhất ở các thành phố ven biển, trong đó có Hải Phòng

Biến đổi khí hậu mang lại những tác động tiêu cực đến phát triển đô thị

và quá trình đô thị hóa ở Hải Phòng Các hiện tượng thời tiết cực đoan với số lượng ngày càng nhiều, cường độ ngày càng lớn đang góp phần kìm hãm quá trình đô thị hóa của thành phố

2.2.1 Phá hủy cơ sở hạ tầng đô thị

Trong những năm gần đây, Hải Phòng đang phải hứng chịu nhiều cơn bão lớn mà hậu quả của nó khó thể kiểm soát được Những cơn bão lớn xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn, gây thiệt hại nặng nề: phá hủy hệ thống cơ

sở hạ tầng, gây thiệt hại về người và của… Người dân trong đô thị thường xuyên phải sống chung với bão lũ, các tuyến đường giao thông, hệ thống cầu cảng, hệ thống cấp thoát nước … ở các đô thị liên tục bị hủy hoại và phải nâng cấp sau bão

Đặc biệt, Hải Phòng là một thành phố du lịch, được đầu tư phát triển mạnh với hệ thống nhà hàng, khách sạn nằm ngay ven biển Tuy nhiên, hệ thống này dễ dàng chịu thiệt hại khi những cơn bão đổ bộ vào thành phố

Bão diễn ra với mật độ ngày càng nhiều, dẫn đến yêu cầu về các công trình xây dựng như cầu, cảng, đê, kè… theo đó cần được xây lắp cẩn thận, với kĩ thuật cao hơn, nguyên vật liệu có khả năng chống chịu tốt hơn…Do đó, thành phố tốn khá nhiều chi phi cho xây dựng

Một số cơn bão đổ bộ vào vùng biển Hải Phòng giai đoạn 2007-2013

xuất hiện

Giữa biển đông 04/11/2013 Haiyan Cấp 6 (39 - 49 km/h) Quảng Ninh – Thanh Hóa 20/06/2013 Bebinka Cấp 6 (39 - 49 km/h) Quảng Ninh – Thanh Hóa 12/07/2010 Con Son Cấp 7 (50 - 61 km/h) Quảng Ninh – Thanh Hóa 29/09/2009 PARMA Cấp 6 (39 - 49 km/h) Quảng Ninh – Thanh Hóa 08/09/2009 MUJIGAE Cấp 8 (62 - 74 km/h) Quảng Ninh – Thanh Hóa 10/07/2009 SOUPELOR Cấp 6 (39 - 49 km/h) Quảng Ninh – Thanh Hóa 01/10/2008 Higos Cấp 8 (62 - 74 km/h)

Ngày đăng: 20/08/2014, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w