Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn vậtchất và đạo đức nghề nghiệp của con người Giá trị Value với tư cách là sản phẩm của văn hóa và thuật ngữ giá
Trang 1Đề tài:
CÂU 5: HÃY PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ GIÁ TRỊ VÀ CHUẨN MỰC TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ? Ý NGHĨA CỦA SỰ PHÂN TÍCH ĐÓ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH
XUẤT NHẬP KHẨU QUA MỘT VÍ DỤ CỤ THỂ?
1 Ảnh hưởng của yếu tố giá trị và chuẩn mực trong kinh doanh quốc tế: 1.1 Khái niệm giá trị và chuẩn mực trong văn hóa
1.1.1 Giá trị:
Là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm của conngười Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chung thủy, tự do và tráchnhiệm
Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn vậtchất và đạo đức nghề nghiệp của con người
Giá trị (Value) với tư cách là sản phẩm của văn hóa và thuật ngữ giá trị có thể
quy vào những mối quan tâm, thích thú, những ưa thích, những sở thích, những bổnphẩn, những trách nhiệm, những ước muốn, những nhu cầu, những ác cảm, những lôicuốn và nhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn Khó có một xác định nào
mô tả đầy đủ phạm vi và tính đa dạng của những hiện tượng giá trị được thừa nhận.Khoa học xã hội coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởngtới hành vi lựa chọn Trong cách nhìn rộng rãi hơn thì bất cứ cái gì tốt, xấu đều là giátrị hay giá trị là điều quan tâm của chủ thể Giá trị là cái mà ta cho là đáng có, mà tathích, ta cho là quan trọng để hướng dẫn cho hành động của ta
Giá trị là những gì mà qua đó thành viên của một nền văn hóa xác định điều gì
là đáng mong muốn và không đáng mong muốn, tốt hay không tốt, đẹp hay xấu Trong một xã hội, các thành viên đều xây dựng quan điểm riêng về bản thân mình và
về thế giới dựa trên những giá trị văn hóa Trong quá trình trưởng thành, con ngườihọc hỏi từ gia đình, nhà trường, tôn giáo, giao tiếp xã hội và thông qua đó xác địnhnên suy nghĩ và hành động như thế nào theo những giá trị của nền văn hóa Giá trị là
sự đánh giá trên quan điểm văn hóa nên khác nhau ở từng cá nhân nhưng trong mộtnền văn hóa, thậm chí có những giá trị mà đại đa số các thành viên trong nhiều nềnvăn hóa đều thừa nhận và có xu hướng trường tồn như tự do, bình đẳng, bác ái, hạnhphúc Giá trị cũng luôn luôn thay đổi và ngoài xung đột về giá trị giữa các cá nhânhoặc các nhóm trong xã hội, trong chính bản thân từng cá nhân cũng có xung đột vềgiá trị chẳng hạn như giữa thành công của cá nhân mình với tinh thần cộng đồng
1.1.2 Chuẩn mực:
Chuẩn mực là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của xãhội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng, mà qua đó xã hội
Trang 2định hướng hành vi của các thành viên Trên góc độ xã hội học, những chuẩn mực văn hóa quan trọng được gọi là chuẩn mực đạo đức và những chuẩn mực văn hóa ít quan
trọng hơn được gọi là tập tục truyền thống Do tầm quan trọng của nó nên các chuẩnmực đạo đức thường được luật pháp hỗ trợ để định hướng hành vi của các cá nhân (ví
dụ: hành vi ăn cắp là vi phạm chuẩn mực đạo đức, ngoài việc bị xã hội phản ứng một
cách mạnh mẽ, luật pháp còn quy định những hình phạt có tính chất cưỡng chế).Những tập tục truyền thống như quy tắc giao tiếp, ứng xử trong đám đông thườngthay đổi trong từng tình huống (ví dụ: người ta có thể huýt gió trong buổi biểu diễnnhạc rock nhưng không làm thế khi nghe nhạc thính phòng) và thành viên vi phạm tiêuchuẩn bị xã hội phản ứng ít mạnh mẽ hơn (ví dụ: nếu một người mặc quần áo ngủ vàosiêu thị mua hàng thì những người xung quanh sẽ dị nghị nhưng gần như chắc chắnkhông có ai phản đối trực tiếp) Chuẩn mực văn hóa khiến cho các cá nhân có tính tuânthủ và phản ứng tích cực (phần thưởng) hay tiêu cực (hình phạt) của xã hội thúc đẩytính tuân thủ ấy Phản ứng tiêu cực của xã hội trước những vi phạm chuẩn mực vănhóa chính là cơ sở của hệ thống kiểm soát văn hóa hay kiểm soát xã hội mà qua đóbằng những biện pháp khác nhau, các thành viên của xã hội tán đồng sự tuân thủnhững chuẩn mực văn hóa Ngoài phản ứng của xã hội, phản ứng của chính bản thâncũng góp phần làm cho những chuẩn mực văn hóa được tuân thủ Quá trình này chính
là tiếp thu các chuẩn mực văn hóa, hay nói một cách khác, hòa nhập chuẩn mực vănhóa vào nhân cách của bản thân
1.2 Ảnh hưởng của yếu tố giá trị và chuẩn mực trong kinh doanh quốc tế: 1.2.1 Ảnh hưởng đến tư duy:
1.2.1.1 Trực tiếp/ Gián tiếp:
Người Việt trọng tình cảm và muốn tỏ ra lịch sự hay tôn trọng người khác bằngcách tránh nói thẳng thừng còn người nước ngoài muốn giải quyết vấn đề càng nhanhchóng chính xác càng tốt Do vậy, Người Việt không suy nghĩ và thể hiện thái độthẳng thắn khi gặp một vấn đề còn người nước ngoài thì thường nghĩ và nói thẳng
Với quan điểm thẳng thắn trong mọi vấn đề, các doanh nhân phương Tâythường bày tỏ ý kiến một cách trực diện và nêu rõ nhu cầu của mình Trong thương vụlàm ăn, họ luôn luôn quan tâm đến mức lợi nhuận mà thương vụ sẽ đem lại cũng nhưphần trăm hoa hồng có được từ lợi nhuận đó
Tuy nhiên, đối với thương gia nhiều nước phương Đông, việc này đôi khi bị coi
là hơi thái quá và không ít người tỏ ra khó chịu Họ thường đề cập vấn đề vòng vo vàkhông chính thức, thường mời đi dùng bữa trước khi đàm phán và nhiều khi việc đàmphán diễn ra trong các cuộc nhậu Dễ dàng nhận thấy điều này qua các câu hỏi đầu tiên
mà người Mỹ và người Nhật hay quan tâm Trong khi người Mỹ hay hỏi “cái gì”, “giábao nhiêu” thì người Nhật lại thắc mắc “như thế nào” và “tại sao”
Trang 31.2.1.2 Tôn trọng luật lệ / Coi trọng các mối quan hệ
Người Việt coi trọng tình cảm và các mối quan hệ, nên họ coi công ty là nhà vàđồng nghiệp là bạn Điều đó dẫn tới việc cư xử mềm mỏng hơn Người nước ngoàiluôn có sự phân biệt rạch ròi giữa chuyện cá nhân và chuyện công việc, nên họ thường
cư xử nghiêm túc và có nguyên tắc tại nơi làm việc Do vậy, người Việt coi trọng cácmối quan hệ nên khi ứng xử bao giờ cũng xét đến yếu tố tình cảm Người nước ngoàitôn trọng luật lệ nên hành xử thường đúng nguyên tắc hơn, ngay cả đối với người thân
Trong một cộng đồng, người phương Tây thường có mối quan hệ theo nhóm,được hình thành dựa trên những nhóm nhỏ hơn Trong khi đó, mối quan hệ của ngườiphương Đông thì rắc rối và phức tạp hơn Có thể lấy người Trung Quốc làm ví dụ, họthường kinh doanh dựa trên mối quan hệ và rất xem trọng chuyện giới thiệu
Người phương Tây quan niệm: “Tôi làm ăn với anh bất kể anh là ai và chúng tarất sòng phẳng và rõ ràng trong các hợp đồng” Còn đối với người phương Đông, chữtín lại rất quan trọng Có một câu nói đùa là “Tôi chơi với anh vì anh là bạn của bạnngười em rể tôi” Sự quan hệ trong tiếng Trung là Guanxi, mang ý nghĩa chỉ mối quan
hệ đôi bên cùng có lợi, một yếu tố không thể thiếu để thành công tại quốc gia này
Ở Trung Quốc, không có một mối quan hệ nào đơn thuần là quan hệ kinhdoanh Muốn kinh doanh bền vững và phát triển, cần phải kết hợp hài hòa giữa mốiquan hệ công việc với mối quan hệ cá nhân Thiết lập được một mạng lưới các mốiquan hệ giữa các cá nhân và tổ chức là hoạt động chủ chốt trong chiến lược kinhdoanh Từ nhiều thế kỷ trước, đó là cách duy nhất để mọi thứ xuôi chèo mát mái Ngàynay, yêu cầu xây dựng mối quan hệ tương trợ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau vẫn mang
ý nghĩa sống còn để thành công ở phương Đông
1.2.1.3 Thời gian:
Khái niệm “thời gian là tiền bạc” là hoàn toàn chính xác đối với các thương
nhân người Mỹ, chính vì thế người Mỹ luôn luôn coi trọng sự đúng giờ và biết quýtrọng thời gian của người khác Văn hóa phương Tây (trong đó có Mỹ) cho rằng, thờigian là một cái gì cụ thể, thấy được, quản lý được (quan niệm thời gian đơn tuyến -monochronic time) Những người thuộc về văn hóa thời gian đơn tuyến thường sửdụng thời gian một cách chặt chẽ, chủ động (có thể tiết kiệm hoặc lãng phí thời gian)
Tương tự như vậy, người Nhật Bản cũng rất quý trọng thời gian, họ luôn theosát các kế hoạch đã đề ra và làm việc liên tục trong một khoảng thời gian dài Việc chú
ý sử dụng thời gian một cách hiểu quả phản ánh các giá trị tiềm ẩn về làm việc tích cực
ở hai nước này Tuy nhiên, người Nhật và người Mỹ đôi khi cũng có sự khác nhautrong cách sử dụng thời gian cho công việc Ví dụ, người Mỹ gắng sức làm việc theohướng lấy hiệu quả công việc là tiêu chí hàng đầu, thỉnh thoảng họ có thể ra về sớmnếu ngày hôm đó đã hoàn thành nhiệm vụ Thái độ này chịu ảnh hưởng bởi giá trị của
Trang 4người Mỹ, họ coi trọng năng suất và thành quả cá nhân Ở Nhật, điều quan trọng làluôn bận rộn trong con mắt của người khác ngay cả khi công việc đó chẳng có gì đángphải bận rộn cả Người Nhật có thái độ như vậy là do họ muốn biểu lộ sự cống hiếncủa mình trước cấp trên và các đồng nghiệp Trong trường hợp này, thái độ truyền thụnhững giá trị như sự nhất quán, lòng trung thực, sự hòa thuận trong nhóm.
Vì thế, người phương Tây rất xem trọng chuyện giờ giấc và ít khi trễ giờ trongcác cuộc hẹn làm ăn Họ hẹn bạn 9 giờ bắt đầu đàm phán thì có nghĩa là chắc chắn 9giờ sẽ bắt đầu
Trong khi đó, văn hóa phương Đông quan niệm thời gian là vô hình, khó xácđịnh và do đó không quản lý được (quan niệm thời gian đa tuyến - polychronic time)nên thời gian có thể được co giãn một chút Người thuộc nền văn hóa thời gian đatuyến hiếm khi chủ động sử dụng thời gian, thường làm nhiều việc cùng lúc và ômnhiều lĩnh vực Do đó, các hội nghị ở châu Á thường thì diễn ra trễ hơn một chút sovới thời gian in trong thiệp mời
Người dân ở nhiều nước Mỹ- Latinh và khu vực Địa Trung Hải thường không coitrọng vấn đề thời gian Các kế hoạch của họ đều khá linh hoạt, họ thích hưởng thụ thờigian hơn là tiêu tốn nó cho những kế hoạch cứng nhắc
Cạnh tranh trong kinh doanh không nhất thiết luôn là thắng - thua (win-lose),trong rất nhiều trường hợp nó là tình huống cùng thắng (win-win) Đây là khái niệm
mà nhiều doanh nghiệp Mỹ đang sử dụng: Từ cạnh tranh trong đối đầu sang cạnh tranhtrong hợp tác Trong khi đó, đối với người phương Đông, đặc biệt là người Nhật, mặc
dù bề ngoài họ ít cạnh tranh trực tiếp nhưng ẩn giấu sâu bên trong là quan điểm lose Có nghĩa là tôi sẽ thắng và anh sẽ thua Nên việc sử dụng các mưu kế chiến thuậttrong bàn đàm phán là chuyện bình thường
win-1.2.1.5 Hệ quả
Bất đồng, hiểu lầm và xích mích có thể xảy ra khi hai bên cảm thấy bất mãn vềcách cư xử xuất phát từ sự khác biệt về tư tưởng của nhau Điều này làm giảm hiệuquả công việc hoặc thậm chí phá vỡ mối quan hệ hợp tác
1.2.2 Ảnh hưởng đến giao tiếp:
Trang 5Từ những khách hàng đơn lẻ và doanh nhân cho đến các tập đoàn kinh doanhtoàn cầu, hạt nhân của hoạt động kinh doanh là con người Khi người mua và ngườibán ở khắp nơi trên thế giới gặp gỡ nhau, họ mang theo các nền tảng giá trị, kỳ vọng
và các cách thức giao tiếp khác nhau Sự khác nhau này sẽ dẫn đến các xung đột vềvăn hóa và do đó gây ra những cú sốc trước khi có thể thích nghi được với một nềnvăn hóa mới Hiểu nền văn hóa là quan trọng khi công ty kinh doanh trong nền vănhóa đó Điều đó càng trở nên quan trọng hơn khi công ty hoạt động ở nhiều nền vănhóa khác nhau
Vì vậy, việc hiểu biết giá trị và chuẩn mực không chỉ cần thiết khi mộtcông ty tiến hành kinh doanh ở đất nước mình mà nó cũng rất quan trọng khi tiến hành kinh doanh “xuyên quốc gia” Khi những người mua và người bán trên khắp thế giới gặp nhau để tiến hành kinh doanh thì họ mang tới những hiểu biết khác nhau, những kỳ vọng về cách thức giao tiếp khác nhau Việc biết cách giao tiếp với những bạn hàng đến từ những nền văn hóa khác là hết sức quan trọng đối với các doanh nhân Ở những đất nước khác nhau, con người sống và làm việc theo những cách khác nhau Ví dụ, ở Mỹ, người ta thường ăn tối vào khoảng 6 giờ, còn ở Tây Ban Nha lại vào khoảng 8 hoặc 9 giờ tối Ở Mỹ, mọi người mua sắm trong những siêu thị lớn mỗi tuần một lần, trong khi đó người Ý lại mua sắm trong những cửa hàng nhỏ hàng ngày Đó chính là những khác biệt
về văn hóa, mà nếu người làm ngoại thương nắm được những khác biệt này thì
họ sẽ dễ dàng trong giao tiếp với bạn hàng nước ngoài, tạo lập được mối quan hệ kinh doanh nhiều thuận lợi, thậm chí thoạt đầu là một mối quan hệ cá nhân tốt đẹp và tiếp sau đó là những mối quan hệ buôn bán thịnh vượng
Con người trong mỗi nền văn hóa có một hệ thống giao tiếp để truyền đạt
ý nghĩ, tình cảm, kiến thức, thông tin qua lời nói, hành động và chữ viết Hiểu ngôn ngữ thông thường của một nền văn hóa cho phép chúng ta biết được tại sao người dân nơi đó lại suy nghĩ và hành động như vậy Hiểu các hình thức ngôn ngữ khác nhau (ngoài ngôn ngữ thông thường) của một nền văn hóa giúp chúng
ta tránh đưa ra những thông tin gây ngượng ngùng hoặc ngớ ngẩn Các giá trị và các quy tắc xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp Chẳng hạn như ở Mỹ
đề cao sự tự do cá nhân, dân chủ cho nên hoạt động giao tiếp, văn hóa giao tiếp của họ cũng thể hiện sự tự do.
Một yếu tố văn hóa có ảnh hưởng rõ rệt đến giao tiếp trong hoạt động ngoạithương chính là ngôn ngữ Hiện nay, trong giai đoạn hội nhập quốc tế, các quốc trênthế giới đã và đang tiến hành mở cửa và khuyến khích việc đầu tư của các công ty –
Trang 6tập đoàn nước ngoài, việc hiểu biết về ngôn ngữ và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ thànhthạo của thương nhân là một điều thuận lợi hết sức to lớn trong việc giao tiếp với cácthương gia nước ngoài, cũng như trong việc tìm hiểu từ phong tục tập quán, thói quenlàm việc, nhu cầu tiêu dùng cho đến môi trường chính trị, luật pháp của nước mà họ cóquan hệ buôn bán Ngược lại, sự bất đồng về ngôn ngữ đôi khi lại là rào cản rất lớntrong việc giao tiếp với những thương nhân và doanh nghiệp nước ngoài để có thể hiểu
rõ được giá trị và chuẩn mực của quốc gia đó Để tránh gặp phải những khó khăn,nhầm lẫn trong hoạt động giao tiếp kinh doanh đòi hỏi các thương gia phải trang bịcho mình vốn ngoại ngữ thành thạo và phong phú Hiện nay, ngôn ngữ được sử dụngphổ biến nhất trong giao tiếp quốc tế là tiếng Anh Tuy nhiên, việc biết tiếng địaphương có thể tạo ra được một số mối quan hệ đặc biệt và bước ngoặt trong kinhdoanh Thông thường, doanh nghiệp hay nhà sản xuất không hiểu tiếng địa phương cóthể phạm sai lầm do dịch không chính xác Ví dụ, hãng General Motors đã gặp khó
khăn khi đưa ra loại xe mới mang tên Chevrolet Nova ở thị trường Puerto Rico Khi dịch sang tiếng Tây Ban Nha thì “Nova” có nghĩa là ngôi sao, nhưng nếu nói như
“no va” thì lại có nghĩa là “nó không đi”, do đó hãng General Motors đã phải đổi tên
loại xe này thành Caribe
Bên cạnh những thông điệp được trình bày rất rộng qua ngôn từ thì người làmngoại thương cần phải hiểu biết các phong tục tập quán của các nước bạn nhằm tránhnhững nhầm lẫn, gây ra các sai lầm, định kiến hoặc gây phiền hà trong giao tiếp kinhdoanh Ở Mỹ, khoảng cách theo phong tục mà các bên tham gia thảo luận về kinhdoanh phải từ 5 đến 8 bước chân, trong khi đó ở Mỹ Latinh khoảng cách này là 3 đến 5bước Kết quả là nhiều người Bắc Mỹ cảm nhận một cách không ý thức rằng người
Mỹ Latinh đang “chiếm vị trí con người họ” và có thể lùi khỏi suốt cuộc nói chuyện
Việc tặng quà là một phần của giao tiếp trong đời sống hàng ngày cũng nhưtrong kinh doanh Trong những nền văn hoá khác nhau, tập quán tặng quà cũng khácnhau Cho nên, cần tìm hiểu tập quán tặng quà và quan niệm của người nhận quà đểchọn được món quà thích hợp
Vì vậy, việc nắm được sự khác nhau về giá trị và chuẩn mực, phong tục tậpquán, các thói quen sinh hoạt hàng ngày của các nước trên thế giới mà các thương giamuốn tiếp cận đóng một vai trò không nhỏ giúp họ có thể giao tiếp và thành công trêncon đường kinh doanh sau này
1.2.3 Ảnh hưởng đến tiêu dùng:
Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn vậtchất và đạo đức nghề nghiệp của con người Chẳng hạn như ở Singapore giá trị là làmviệc tích cực và thành đạt về vật chất, ở Hy Lạp giá trị là nghỉ ngơi và lối sống vănminh Ở Mỹ giá trị là tự do cá nhân, người Mỹ có thể làm theo sở thích hoặc thay đổilối sống của mình cho dù có phải từ bỏ mọi cam kết với gia đình, với cộng đồng Ở
Trang 7Nhật Bản, giá trị là sự đồng lòng trong nhóm, mọi người đều tin cậy lẫn nhau và họ cóquyền ý kiến trong các cuộc thảo luận liên quan đến công việc, các nhà quản lý vànhững người cấp dưới đều mong muốn tham gia các quyết định chính thức Trong khi
đó ở nhiều nền văn hóa khác trên thế giới hầu như các giao dịch kinh doanh giữa các
cá nhân đều phải được thanh toán bằng tiền mặt, họ không nhận séc hoặc giấy bảođảm vì những thứ đó họ không tin tưởng rằng có thể kiểm soát được Vì vậy, giá trị cóảnh hưởng đến hoạt động tiêu dùng của người dân, và tất nhiên cũng sẽ ảnh hưởng đếnhoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Điều quan trọng mà nhà kinh doanh cần phải làm trước khi thâm nhập thịtrường mới đó là phải khảo sát và thăm dò thị trường, nắm bắt được các nhu cầu tiêudùng và thị hiếu của khách hàng, quy mô của thị trường và những rủi ro có thể xảy ra.Những hiểu biết về văn hóa giúp nhà kinh doanh nâng cao năng lực quản lý người laođộng, quảng bá sản phẩm và thực hiện việc đàm phán ở các quốc gia khác nhau.Những quốc gia khác nhau, những vùng văn hóa khác nhau sẽ có những phong tập tụckhác nhau đòi hỏi nhà kinh doanh phải có những chuẩn mực nhất định về kiểu dáng,mẫu mã của các mặt hàng muốn quảng bá và phân phối cho các thị trường Các doanhnghiệp cần tính đến ảnh hưởng của văn hoá trong khi thực hiện 4 khâu của quy trìnhmarketing 4P
- Production: cùng một loại sản phẩm khi được bán ở các địa phương, các nền
văn hoá khác nhau và hướng tới những đối tượng người tiêu dùng khác nhau thì phải
có những đặc điểm đặc trưng riêng Những đặc trưng đó được quy định bởi thị hiếu,quan niệm và các đặc điểm khác nhau của từng nền văn hoá Ví dụ, ở Việt Nam, xemáy là phương tiện đi lại phổ biến, người ta dùng nó để di chuyển trong thành phố,trên những con đường nhiều chỗ rẽ, trong những ngõ nhỏ và sâu Vì thế, xe máy sảnxuất cho thị trường tiêu dùng Việt Nam phải là loại xe có phân khối nhỏ, kích thướchợp lý để tiện đi lại, tiết kiệm nhiên liệu và không chiếm nhiều chỗ trong những ngôinhà nhỏ hẹp
- Place: tập quán mua sắm của người tiêu dùng ở các nền văn hoá khác nhau
ảnh hưởng đến khâu phân phối trong kinh doanh Các doanh nghiệp khi tiếp cận mộtthị trường mới cần tìm hiểu thói quen mua sắm tại thị trường đó để lựa chọn hình thứcphân phối hiệu quả nhất Người Mỹ thường thích mua hàng ở các siêu thị hoặc cáctrung tâm buôn bán lớn (shopping mall) Họ thường dành dịp cuối tuần để đi mua sắmnên việc tất cả các loại hàng hoá cùng có mặt trong một địa điểm bán hàng khiến họcảm thấy thuận tiện Trái lại, người Việt Nam lại thích mua sắm ở gần nơi ở để khôngphải đi xa và khi nào cần gì thì có thể mua được ngay Phần lớn người Việt Namkhông có thói quen mua sắm một số lượng hàng lớn để dùng trong một thời gian dài.Chỉ với những hàng hóa có giá trị lớn thì họ mới đến các đại lý hoặc các trung tâmphân phối để mua, còn với hàng tiêu dùng hàng ngày thì họ thích đến các cửa hàng tạphoá hơn Người Nhật thì lại thích những cửa hàng tiện lợi mở cửa 24/24 giờ
Trang 8- Price: quan niệm về giá cả và chất lượng hàng hoá của người tiêu dùng có tác
động không nhỏ đến chiến lược giá của doanh nghiệp Người Việt Nam thích hàng hoá
có chất lượng cao nhưng giá phải thấp, trong khi với người Nhật thì hàng hóa giá thấpchưa chắc đã thu hút được họ Người Nhật quan niệm giá cao đồng nghĩa với hàng hoátốt, thương hiệu được nhiều người biết đến, còn giá thấp hàm ý chất lượng không cao.Doanh nghiệp không biết điều này có thể đưa ra sản phẩm với mức giá thấp hơn so vớimức giá của đối thủ cạnh tranh, song chưa chắc đã bán được hàng, trong khi nếu đặtmột mức giá cao thì hàng sẽ bán chạy Vì thế, khi xây dựng chiến lược giá, các doanhnghiệp cần lưu ý tìm hiểu quan niệm của người tiêu dùng ở thị trường mà họ nhắm tới
- Promotion: ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất của văn hoá đối với hoạt động xúc
tiến thương mại thể hiện ở quảng cáo Cùng một kiểu quảng cáo có thể được đón nhậnnồng nhiệt ở thị trường này, bởi một nhóm người tiêu dùng này, nhưng lại bị tẩy chay
ở một thị trường khác, bởi một tập thể người tiêu dùng khác Hãng thời trang CalvinKlein sử dụng hình ảnh một người đàn ông cởi trần để quảng cáo cho nhãn hiệu quần
CK, song mẫu quảng cáo này bị phản đối ở các nước theo đạo Hồi và nhà sản xuấtphải sử dụng một mẫu quảng cáo khác để quảng bá sản phẩm của mình ở thị trườngnày Tương tự như vậy, đoạn phim quảng cáo bia Heineken với hình ảnh cô gái uốngcạn cốc bia của người ngồi cùng bàn một cách thèm thuồng được những người trẻ tuổiViệt Nam ưa thích bởi tính độc đáo thì lại gặp phải sự phản đối của không ít nhữngngười lớn tuổi Như vậy, doanh nghiệp cần xác định phương thức tiếp thị và quảng básản phẩm thích hợp với quan niệm và thị hiếu của thị trường và nhóm người tiêu dùng
mà họ nhắm tới
Trong hoạt động ngoại thương, các doanh nhân và các công ty luôn vươn tớinhững thị trường mới, mong muốn đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùngthuộc những nền văn hóa mới Việc quan trọng đầu tiên mà họ phải làm là tìm hiểunền văn hóa của địa phương nơi họ định thâm nhập hoặc định tiến hành kinh doanh.Việc tìm hiểu này không chỉ bao gồm những vấn đề liên quan đến giao tiếp, cách thức
tư duy và phong cách làm việc, mà thương nhân hay doanh nghiệp cần phải có hiểubiết đầy đủ về những gì được coi là tốt, là đẹp trong nền văn hóa mà họ đang dần dầntiếp cận Chính vì thế, còn có thể kể đến vai trị của hiểu biết về mỹ học trong hoạtđộng ngoại thương Mỹ học là những gì mà văn hóa coi là “hợp thị hiếu” trong nghệthuật, là hình ảnh gợi nên bởi những sự biểu đạt cụ thể, và thậm chí cả tính hình tượngcủa một số màu sắc nhất định cũng được gọi là mỹ học Mỹ học có vai trò quan trọngkhi một công ty tính đến chuyện kinh doanh ở một nền văn hóa khác Rất nhiều saiphạm có thể xảy ra từ việc chọn màu sắc không phù hợp trong quảng cáo, đóng góihàng hóa và ngay cả màu sắc của đồng phục làm việc Ví dụ, màu xanh lá cây là màuyêu thích đối với cư dân đạo Hồi và là màu sắc trên hầu hết quốc kỳ các nước theo đạo
Trang 9Hồi, kể cả Jordani, Pakistan và Ả-rập Điều đó dẫn đến việc hàng hóa thường đượcđóng gói màu xanh lá cây để lợi dụng thông điệp về màu sắc này Ngược lại, một loạtcác nước châu Á, màu xanh lá cây thường gây liên tưởng tới sự ốm yếu.
Thêm vào đó, mặc dù hệ thống luật pháp quốc tế không được rõ ràng nhưngbước đầu đã có những điểm chung Luật quốc tế ảnh hưởng đến nhiều khu vực, baogồm quyền sở hữu trí tuệ, luật chống độc quyền, thuế, luật phân xử tranh chấp hợpđồng và những vấn đề thương mại nói chung Bên cạnh đó, nhiều tổ chức quốc tếkhuyến khích áp dụng các chuẩn mực Trong số các tổ chức Liên Hiệp Quốc, tổ chứchợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức về sự thống nhất của các luật tư nhâncủa Rome đã đưa ra các quyết định cho kinh doanh quốc tế Để tháo gỡ các rào cảncho các công ty hoạt động trên thị trường Tây Âu, Liên hiệp Châu Âu cũng tiêu chuẩnhóa hệ thống luật pháp của các nước trong hiệp hội Qua đó, tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp thâm nhập thị trường Khi đó, các chuẩn mực này sẽ có những tác động,ảnh hưởng đến hoạt động tiêu dùng của người dân
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng văn hóa, trong đó giá trị và chuẩn mực cóvai trò không nhỏ trong kinh doanh nói chung và hoạt động ngoại thương, kinh doanhquốc tế nói riêng Chúng ta sẽ xem xét ảnh hưởng cụ thể của yếu tố giá trị và chuẩnmực trong hoạt động ngoại thương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong phần sau
2 Ảnh hưởng của yếu tố giá trị và chuẩn mực văn hóa trong hoạt động ngoại thương giữa doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản:
Quần đảo Nhật Bản gồm 4 đảo chính - Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku
(xếp theo thứ tự từ đảo lớn đến bé) và khoảng 3.900 đảo nhỏ Đảo Honshu chiếm trên60% tổng diện tích đất của Nhật Bản
2.1.1.2 Khí hậu:
Các đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hoà và ở cực đông bắc của khuvực khí hậu gió mùa chạy từ Nhật Bản qua bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và ĐôngNam Á đến tận Ấn Độ Khí hậu Nhật Bản nói chung ôn hoà, mặc dù rất khác nhaugiữa các miền Ở hầu hết các miền của Nhật Bản đều có bốn mùa rõ rệt Mùa hè ấm và
ẩm, bắt đầu khoảng giữa tháng 7 Trước đó là mùa mưa thường kéo dài khoảng một
Trang 10tháng, trừ Hokkaido, đảo lớn phía cực bắc hầu như không có mùa mưa Mùa đông ởphía Thái Bình Dương thường ôn hoà với nhiều ngày nắng, còn phía biển Nhật Bảnthường u ám Vùng núi là một trong những vùng có nhiều tuyết nhất thế giới Thủ đôTokyo có mùa đông tương đối ôn hoà, thỉnh thoảng có tuyết và độ ẩm thấp, khác hẳnvới mùa hè ẩm và nóng Mùa xuân và mùa thu là những mùa tốt nhất trong năm, khíhậu êm dịu và rực rỡ ánh mặt trời trên khắp đất nước
2.1.1.3 Xã hội, giáo dục:
Cho đến nay người ta vẫn chưa chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện củanhững cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều chorằng người Nhật đã có mặt tại quần đảo từ xa xưa và định cư liên tục từ đó cho đếnthời nay Những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật, xương đã củng cố thêm sự nghingờ đối với thuyết trước kia cho rằng người Nhật là con cháu của những người xâmchiếm đến sau "thổ dân" Ainu và đã đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo Ngày nay, người
ta tin rằng tổ tiên của người Nhật là những người đã làm nên đồ gốm mang tên Jomon.
Những người này được biết là đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 TCN, sau
đó theo thời gian, pha trộn với các giống người khác, phát triển qua lịch sử thành dântộc Nhật Bản ngày nay
Ngày nay, thủ đô của Nhật Bản là Tokyo, một thành phố gần 30 triệu dân Dân
số Nhật Bản năm 2001 là 126.549.976 người, chủ yếu là người Nhật, chiếm 99,4%, và0,6% còn lại là người Triều Tiên Từ những năm 50 của thế kỷ 20 trở đi, mức sống củangười dân Nhật Bản tăng lên nhanh chóng Năm 1999, với dân số 125 triệu người,trong số hơn 40 triệu gia đình ở Nhật thì 30,5 triệu gia đình (75%) có xe hơi riêng.GDP của Nhật năm 2001 là 2.972,5 tỷ USD Hiện nay, sự tăng cường du lịch ra nướcngoài của người dân Nhật Bản trở thành biểu tượng của mức sống cao
Hệ thống giáo dục Nhật Bản được phân thành 5 giai đoạn: Vườn trẻ (từ 1 đến 3năm), Tiểu học (6 năm), Trung học bậc thấp (3 năm) và Trung học bậc cao (3 năm),Đại học (thông thường là 4 năm) Ngoài ra còn có các trường Cao đẳng với các khóahọc 2 năm hoặc 3 năm và các khóa nâng cao sau đại học Nhật Bản thực hiện giáo dụcphổ cập miễn phí cho trẻ em từ 6-15 tuổi Tuy vậy, đại đa số học sinh học hết trườngtrung học bậc thấp đều tiếp tục học lên và trong thực tế các trường trung học bậc caohiện đang trở thành bộ phận cơ bản của hệ thống giáo dục trẻ em
2.1.2 Con người Nhật Bản:
Người Nhật Bản có quan hệ gần gũi với nhiều dân tộc ở Triều Tiên và TrungQuốc, song họ cũng là sản phẩm của sự pha trộn giữa các chủng tộc Đến nay, NhậtBản là một trong số các quốc gia có tính thuần tộc cao nhất thế giới Dân tộc Nhật Bản
là một dân tộc rất khác biệt so với các quốc gia châu Á khác Nhiều người đã từng
Trang 11nhận xét rằng trên đường phố, người châu Á dễ nhận ra nhất chính là người Nhật, quamột số đặc điểm bên ngoài và phong cách ứng xử của họ.
90% cư dân Nhật Bản tập trung tại các thành phố lớn và đồng bằng ven biển.Quá trình đô thị hóa ở Nhật Bản đã tạo ra các đô thị khổng lồ như dải đô thị kéo dài từTokyo đến Fukuoka gồm 30 triệu dân và Nhật Bản có hơn 10 thành phố với dân sốtrên 1 triệu Ngày nay, cùng với mức sống không ngừng được nâng cao, tuổi thọ trungbình của người Nhật ngày càng tăng khiến cho tỷ lệ người già trong dân số Nhật Bảntiếp tục tăng cao
Nhìn chung dân tộc Nhật Bản là một dân tộc có tính cách kín đáo Trong cuộcsống, người Nhật rất ít khi biểu lộ cảm xúc, tình cảm của mình ra bên ngoài Ngay cảtrong những lúc có niềm vui lớn hoặc gặp phải nỗi buồn sâu sắc, hoặc khi nhận đượclời khen,… họ đều giữ một thái độ đúng mức Tuy nhiên, cùng với nhịp sống mới,phong cách ứng xử của người Nhật Bản cũng thay đổi và việc bộc lộ tình cảm cũng trởnên phổ biến hơn Trong cách cư xử, người Nhật thường tỏ ra rất khiêm nhường, điềunày phần nào thể hiện qua việc dùng kính ngữ trong tiếng Nhật
Đã có nhiều học giả bỏ công nghiên cứu và viết nhiều cuốn sách về con ngườiNhật Bản Để nói ngắn gọn thì có thể kể ra một vài đặc trưng trong tính cách củangười Nhật Bản như sau:
- Tính thực tế: người Nhật Bản là những người rất thực tế, họ ít mơ mộng viển
vông, có cái nhìn khá chính xác vấn đề và không huyễn hoặc về những gì mà đất nước
họ có Người Nhật Bản từ rất lâu đã công khai nói về sự nghèo nàn tài nguyêncủa đấtnước mình, và họ luôn chủ trương xây dựng đất nước bằng sự tiết kiệm và bằng kiếnthức
- Tính tiết kiệm và chăm chỉ: xuất phát từ tính thực tế nói trên, người Nhật Bản
có đức tính tiết kiệm rất cao và thái độ làm việc hết sức chăm chỉ Trong quá khứ, dântộc Nhật Bản vốn thường xuyên phải đối mặt với thiên tai nên trong con người họ đãhình thành ý thức dành dụm cho những lúc khó khăn Hơn nữa, mỗi một nguời NhậtBản đều có hai ước mơ lớn trong đời là cho con cái được hưởng nền học vấn tốt nhất
và mua được nhà riêng Vì lý do đó họ rất có ý thức tiết kiệm, đến mức Chính phủNhật Bản phải có chính sách khuyến khích tiêu dùng trong nhân dân Bên cạnh tínhtiết kiệm, người Nhật Bản còn có một đức tính đáng quý nữa là làm việc siêng năng.Công việc với họ như một niềm say mê, nhiều người Nhật Bản sẵn sàng làm thêm giờ
mà không đòi thêm thù lao Người Nhật giữ kỷ lục về số giờ làm việc trong năm trungbình cao hơn người châu Âu từ 20 đến 25%
- Coi trọng văn hoá dân tộc và khoa học kỹ thuật hiện đại: Người Nhật có ý
thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc rất cao nhưng lại rất coi trọng phát huy thành quảcủa khoa học kỹ thuật hiện đại Trong đời sống hàng ngày cũng như trong công việc,
Trang 12người Nhật rất tuân thủ tôn ti trật tự, phong tục, ứng xử theo những chuẩn mực đãđược quy định từ bên trong xã hội Tuy thế, người Nhật không bảo thủ, không bao giờgiấu dốt mà rất chăm học Họ coi trọng học vấn và giáo dục, coi đó là động lực lớnnhất để phát triển đất nước Bên cạnh đó, người Nhật Bản còn là những người có hammuốn phát triển nhân cách vô bờ bến
- Tính lễ phép lịch sự, tôn trọng người khác: Có thể dễ dàng nhận thấy điều này
trong cách ứng xử hàng ngày của người Nhật Người Nhật khi gặp nhau, sau khi nhận
ra người quen, họ thường đứng im tại chỗ, sau đó cúi gập người xuống chào, dù cholúc đó họ đang ở ngoài đường phố nơi có đông người qua lại
- Chủ nghĩa cộng đồng: người Nhật có tinh thần cộng đồng rất cao và sâu sắc.
Có thể nói rằng dân tộc Nhật Bản là một trong những dân tộc có tính cộng đồng caonhất Điều này được hình thành qua lịch sử một phần do hoàn cảnh địa lý biệt lập củanước Nhật, phần khác do tính chất thuần tộc của đất nước này (99% dân số Nhật Bản
là người Nhật) Tinh thần cộng đồng của người Nhật được nâng lên thành chủ nghĩacộng đồng, theo đó điều quan trọng hàng đầu là truyền thống của một cộng đồng,truyền thống ấy được đánh giá cao hơn quan niệm của các cá nhân riêng lẻ Chủ nghĩacộng đồng Nhật Bản và chủ nghĩa cá nhân phương Tây khác biệt cơ bản ở chỗ ngườiNhật yêu cầu lợi ích cá nhân phải đặt dưới mục đích và tiêu chuẩn của tập thể, trongkhi người phương Tây luôn hành động xuất phát từ quan điểm và lợi ích cá nhântrước Tinh thần cộng đồng còn thể hiện ở việc người Nhật ra nước ngoài rất có ý thứctìm kiếm lợi ích cho cộng đồng bằng cách mua các sách báo về kỹ thuật, thu thập kinhnghiệm về cống hiến cho cộng đồng của mình
- Lòng trung thành: xuất phát từ tinh thần cộng đồng nói trên, người Nhật có
lòng trung thành rất cao đối với tập thể Tập thể ở đây có thể là gia đình, công ty, hộiđoàn, xã hội,… Lòng trung thành đó thể hiện trước hết ở bổn phận của mỗi người đốivới các thành viên trong gia đình, sau đó là đến quan hệ với đồng nghiệp trong công ty
và với mọi người trong xã hội Người Nhật sống ràng buộc trong mối quan hệ trêndưới, có tôn ti trật tự, một mối quan hệ họ hàng để bảo vệ quyền lợi cá nhân, đồng thờibảo vệ quyền lợi nhóm và cộng đồng Một minh chứng rõ rệt cho điều này là ngườiNhật không chỉ tận tâm với gia đình mà họ còn hết lòng với công ty Họ coi công tycũng như gia đình, việc của công ty như việc của nhà mình Các nhà lãnh đạo NhậtBản rất chú trọng việc nuôi dưỡng tình cảm lòng trung thành của các cá nhân với công
ty nhằm giúp công ty phát triển
2.1.3 Kinh tế Nhật Bản:
Nền kinh tế Nhật Bản là một tổ hợp phát triển mạnh của các ngành côngnghiệp, thương mại, tài chính, nông nghiệp và tất cả các yếu tố khác của một cơ cấukinh tế hiện đại Tuy là một nước đảo nghèo tài nguyên thiên nhiên, hơn thế còn bị tàn
Trang 13phá nặng nề trong chiến tranh, Nhật Bản đã không những xây dựng lại được nền kinh
tế của mình mà còn trở thành một trong những quốc gia công nghiệp hàng đầu trên thếgiới
Từ giữa những năm 50 đến những năm 60 của thế kỷ 20, kinh tế Nhật Bản liêntục phát triển nhanh, chỉ phải chịu hai cuộc suy thoái ngắn vào năm 1962 và 1965 Tốc
độ tăng trưởng trung bình hàng năm thực tế đạt 11% trong thập kỷ 60, so với 4,6% củaCHLB Đức và 4,3% của Mỹ trong thời kỳ từ 1960 đến 1972, và gấp hơn 2 lần tốc độtăng trung bình của chính Nhật Bản trước chiến tranh Tốc độ tăng trưởng hai con sốđược Nhật Bản duy trì trong suốt những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ 20được kết thúc cùng với cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất vào đầu năm 1973, và
từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai năm 1979-1980, tốc độ tăng phổ biến chỉ đạtchưa đầy 4%
Nét đặc trưng của kinh tế Nhật Bản từ những năm 80 của thế kỷ 20 đến nhữngnăm 90 là sự tăng trưởng cao khác thường của nền kinh tế và tiếp đó là sự suy thoáikéo dài do sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng Tuy nhiên, chính phủ Nhật Bản đã cónhững biện pháp thích hợp nhằm ổn định nền kinh tế và chấm dứt nền kinh tế bongbóng Trong một thời gian dài, Nhật Bản vẫn luôn giữ vị thế một nền kinh tế lớn củathế giới
Đơn vị tiền tệ của Nhật là đồng Yên, năm tài chính của Nhật Bản kéo dài từmùng 1 tháng 4 đến 31 tháng 3 năm sau Năm 2000, tổng sản phẩm quốc nội (GDP)của Nhật là 512,6 nghìn tỷ Yên, GDP đầu người là 4.048.000 Yên (khoảng 34.780USD) và tốc độ tăng trưởng GDP năm 2000 đạt 1,7% Xét về GDP tính theo đầungười thì Nhật Bản là một trong những nước có thu nhập cao trên thế giới, GDP tínhtheo đầu người bình quân khoảng 36.950 USD/năm
Cơ cấu ngành kinh tế của Nhật Bản được chia thành ba khu vực: Khu vực một
là các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, Khu vực hai là các ngành công nghiệp và Khuvực ba là các ngành dịch vụ Cơ cấu kinh tế Nhật Bản thể hiện tính chất phát triển caocủa nền kinh tế này Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của nước này là 2%, tỷ trọngcông nghiệp là 38% và tỷ trọng dịch vụ là 60% Tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩmquốc dân của Nhật Bản đang ngày càng tăng do thu nhập quốc dân tăng lên, người dân
có nhiều thời gian rỗi hơn và do sự phát triển của đô thị hóa Sự đóng góp của các lĩnhvực phân phối, tài chính và bảo hiểm, giao thông vận tải, vào tổng sản phẩm trongnước đã tăng từ 51% năm 1970 lên 60,7% năm 1990
Bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đại, các ngành truyền thống vẫn đượcduy trì và phát triển như công nghiệp dệt, sợi bông, tơ tằm Nhật Bản có ngành nôngnghiệp thâm canh, hiệu quả cao tuy chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước
2.1.4 Văn hóa Nhật Bản:
Trang 14Nền văn hóa Nhật Bản chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng vì NhậtBản tương đối cách biệt so với trung tâm của nền văn minh này nên nền văn hóa vaymượn ở Nhật Bản có cơ hội phát triển theo lối mới, riêng biệt Người Nhật đã pháttriển một nền văn hóa rất có bản sắc, thể hiện từ cách phục trang, nấu nướng, kiến trúccho đến bầu không khí họ sống trong nhà Chẳng hạn như những tấm chiếu tatami trảisàn, những vách tường giấy thay cho tường gạch trong nhà, cấu trúc mở và thoáng củatoàn bộ ngôi nhà, những bồn tắm bằng gỗ đặc biệt,… chỉ có riêng ở Nhật Bản chứkhông có ở một nơi nào khác trên thế giới Bản sắc văn hóa của Nhật Bản càng nổi bậtkhi xét đến ngôn ngữ của nước này Mặc dù hệ thống chữ viết trong tiếng Nhật cónguồn gốc từ Trung Quốc và vô số từ vựng tiếng Trung được đưa vào trong tiếngNhật, song về cơ bản tiếng Nhật khác hẳn tiếng Trung và cả tiếng Anh.
Một đặc điểm khác của văn hóa và xã hội Nhật Bản là sự tồn tại song song củacác yếu tố truyền thống và hiện đại Các lý tưởng của người Nhật bị ảnh hưởng đáng
kể của các giáo lý Khổng giáo đến nỗi ngay cả ngày nay, những lợi ích của nhóm vẫnđược coi trọng hơn lợi ích cá nhân Chính những giáo lý Khổng giáo đã khuyến khíchngười Nhật tiết kiệm hơn là tiêu dùng Sau cuộc cải cách Minh Trị, các lý tưởngphương Tây dần dần đuợc du nhập vào Nhật Bản Ngày nay, gia đình hạt nhân đangdần thay thế gia đình mở rộng Lòng trung thành với công ty, với đất nước vẫn còn làmột quy tắc, song ít có bằng chứng cho thấy lòng yêu nước lại tồn tại sâu sắc trong cácthế hệ lớn lên sau chiến tranh Chúng ta cùng điểm qua một vài nét tiêu biểu trong nềnvăn hóa Nhật Bản
2.1.4.1 Tôn giáo:
Ở Nhật Bản ngày nay, đạo Phật chiếm ưu thế với khoảng 92 triệu tín đồ tínhđến cuối năm 1985 Đạo Cơ đốc và đạo Hồi cũng khá thịnh hành Song đạo gốc củaNhật Bản vốn là Shinto, có nguồn gốc từ thuyết vật linh của người Nhật cổ Sau cuộccải cách Minh Trị năm 1868, đặc biệt là trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, Shinto đượccác nhà chức trách đưa lên địa vị quốc giáo và cho đến nay, nó vẫn đóng vai trị nghithức quan trọng trong nhiều mặt của đời sống người Nhật
Đạo Phật du nhập vào Nhật Bản từ ấn Độ qua Trung Quốc và Triều Tiên vàokhoảng giữa thế kỷ thứ VI Phát triển rực rỡ không chỉ đơn thuần là một tôn giáo, đạoPhật còn góp phần đáng kể làm phong phú thêm nền nghệ thuật và tri thức của NhậtBản Một điểm độc đáo là Shinto dành cho mình tất cả các sự kiện vui mừng trong đờisống con người và nhường cho đạo Phật những sự kiện buồn bã Nếu như ngày sinhđứa trẻ hoặc đám cưới được đánh dấu bằng các nghi lễ Shinto giáo thì các đám tang vàgiỗ tổ tiên lại được tiến hành theo nghi lễ đạo Phật
2.1.4.2 Phong tục tập quán:
Trang 15Nhật Bản là một quốc gia có bốn mùa rõ rệt và nhiều dịp lễ hội trong năm gắnvới sự chuyển mùa này Lễ hội năm mới là dịp lễ lớn nhất trong năm của Nhật Bản.Người Nhật tiễn năm cũ và đón năm mới một cách đầy hào hứng Tất cả các công ty
và cơ quan nhà nước đóng cửa trong ba ngày đầu tiên của năm Vào ngày Mùng 1tháng Một, cả gia đình sum họp để cùng uống một loại rượu Sake đặc biệt, ăn một loạisúp đặc biệt và cùng quên đi những kỷ niệm không vui của năm cũ Vào dịp này,người Nhật thường đến các đền chùa để cầu xin may mắn cho năm mới, đến chơi nhà
họ hàng và bạn bè để chúc mừng năm mới
2.1.2 Các yếu tố giá trị và chuẩn mực trong văn hóa Nhật Bản:
2.1.2.1 Các yếu tố giá trị chính trong văn hóa Nhật Bản:
Các giá trị Nhật Bản là nền tảng gắn liền với nền văn hóa Nhật Bản Nhiều tài liệu viết về văn hóa Nhật Bản nhấn mạnh tới Honne (tư cách bên ngoài) /tatemae (tâm tư thực sự bên trong) phân chia giữa biểu hiện xã hội và những suy nghĩ/cảm xúc cá nhân được xem là hết sức quan trọng trong nền văn hóa Nhật Bản.
Sự cảm thông và mối quan hệ giữa mọi người
Trong thần thoại Nhật Bản, các vị thần thể hiện những cảm xúc nhân bản như yêu thương và giận dữ Trong các truyện kể này, hành vi là nào đem lại các
tương quan tích cực với người khác đều được tưởng thưởng, và sự cảm thông
(empathy) tức việc đặt mình vào hoàn cảnh người khác, rất được trân quí Ngược lại, những hành động mang tính cá nhân hoặc chống đối xã hội (đặc biệt là những hành vi gây tổn hại đến người khác) bị lên án quyết liệt Những người có hành vi gây tổn thường đến người khác bị trừng phát trong các câu chuyện thần thoại thưởng bị tẩy chảy hoặc loại trừ khỏi cộng đồng.
Không một xã hội nào có thể hiện hữu mà lại dung túng tác phong phản xã hội
về lâu về dài, nhưng Nhật Bản là một trong những xã hội dựa nhiều nhất vào sựthưởng phạt có tính xã hội hơn là có tính siêu nhiên và nhấn mạnh tới ích lợi của sự
hòa hợp Trẻ em Nhật Bản từ những ngày thơ ấu đã được dạy rằng sự hoàn thiện của con người đến từ sự gắn kết chặt chẽ với những người khác Chúng sớm nhận thấy mình là một phần của xã hội, bắt đầu từ gia đình và sau đó mở rộng sang các nhóm lớn hơn như hàng xóm, trường học, cộng đồng và nơi làm việc Phụ thuộc vào những người khác là một phần tự nhiên của con người Tuy nhiên, điều này được xem là tiêu cực chỉ khi các nghĩa vụ xã hội (Giri) được tạo ra quá nặng
nề để tuân thủ, làm theo chẳng hạn như tự vẫn bằng cách rạch bụng là một chủ
đề được xây dựng tỉ mỉ trong lịch sử và văn hóa Nhật Bản.
Trong các mối quan hệ giữa các cá nhân, hầu hết người Nhật Bản có xu hướng tránh cạnh tranh và đối đầu công khai Mọi người làm việc với những
Trang 16người khác đòi hỏi phải có sự tự chủ, nhưng điều này lại đem đến phần thưởng là
sự tự hào được đóng góp cho tập thể, cảm giác an toàn và sự công nhận của xã hội Hòa (Wa) là khái niệm về sự hòa hợp trong nhóm, đòi hỏi một thái độ hợp tác và sự nhận thức về các vai trò xã hội Nếu mỗi các nhân trong một nhóm hiểu được các nghĩa vụ cá nhân và cảm thông với hoàn cảnh của người khác thì nhóm
đó sẽ đạt được lợi ích trọn vẹn Thành công chỉ đến khi tập trung được toàn bộ các nỗ lực tốt nhất của mỗi cá nhân Các quyết định thường được đưa ra chỉ sau khi tham khảo ý kiến của mọi người trong nhóm Sự đồng thuận nhất trí không bao hàm mọi người phải đồng ý nhưng phong cách quyết định có tính tham khảo này bao gồm sự trao đổi thông tin của mỗi thành viên trong nhóm, củng cố tâm
tư tình cảm của cả nhóm và khiến việc thực hiện quyết định diễn ra suôn sẽ hơn.
Sự hợp tác trong một nhóm còn thường tập vào sự canh tranh giữa tiểu nhóm này và tiểu nhóm kia Các biểu tượng như đồng phục, tên, biểu ngữ và bài hát giúp người trong và ngoài nhóm nhận diện sự khác biệt giữa tiểu nhóm này với các tiểu nhóm khác Tham gia vào các hoạt động của nhóm dù là chính thức hay không chính thức là một cách biểu tượng để nói rằng một cá nhân muốn được xem là một phần của nhóm Vì vậy, những buổi la cà hàng quán sau giờ làm không chỉ đem đến cơ hội để trao đổi thông tin và giải tỏa các căng thẳng xã hội
mà còn là cơ hội để chuyển tải mong muốn tiếp tục thuộc về nhóm không thể nói thành lời.
Làm việc theo nhóm của Nhật Bản đòi hỏi sự triển khai nhiều kênh truyền thông nhằm củng cố mối quan hệ của nhóm và cảm giác khác biệt từ những người không phải là thành viên nhóm Còn các tương giao xã hội bên ngoài các
nhóm này, tuy hiện đã trở thành một điều cần thiết trong xã hội hiện đại, nhưng nếutương giao này ngắn ngủi hay tương đối vô nghĩa, như đi mua một tờ báo chẳng hạn,
thì người ta cho rằng xưng danh là không cần thiết Nhưng nếu mối quan hệ được mong đợi sẽ tiếp tục trong dài hạn, dù là trong kinh doanh, hôn nhân, nơi làm việc hay hàng xóm thì người ta rất quan tâm để đầu tư xây dựng và duy trì các mối quan hệ tốt Các mối liên hệ này thường bắt đầu nhờ dùng mạng lưới thân nhân,
bè bạn hay đồng nghiệp là những người sẵn sàng giới thiệu họ, làm trung gian mối lái(nakodo) cho họ với người họ muốn Mối lái tất nhiên xẩy ra nhiều trong lãnh vực hônnhân, nhưng trong các lãnh vực khác vẫn không thiếu Việc của họ là tìm hiểu bốicảnh gia đình, chuyển tải các câu hỏi và phê phán, và làm trơn tru các trở ngại, khó
khăn Những trung gian cá nhân loại này khá phổ biến trong nhiều khía cạnh cuộc sống của người Nhật Bản.
Không gian công: Trật tự và địa vị xã hội
Trang 17Thật khó để hình dung cái nhín của người Nhật về trật tự xã hội mà không xét đến sự ảnh hưởng của Nho Giá vì trước khi chịu sự ảnh hưởng của Trung Quốc ở thế kỷ 16 thì Nhật Bản không có sự phân tầng xã hội Nho giáo nhấn mạnh đến sự hòa hợp giữa trời, thiên nhiên và xã hội con người đạt được thông qua sự chấp nhận vai trò xã hội của mỗi người và góp phần hình thành nên trật
tự xã hội bởi những hành vi thích hợp.
Quan điểm này của Nho Giáo ngụ ý rằng hệ thống thứ bậc, tôn ti là lẽ tự nhiên Sự khác biệt tương đối về địa vị xác định hầu hết các tương tác xã hội Tuổi tác hoặc thâm niên, giới tính, trình độ học vấn, công ty/tổ chức liên kết là những yếu tố phổ biến và rất quan trọng trong việc định hướng sự tương tác Không có hiểu biết về hoàn cảnh của người khác thì tuổi tác và giới tính có thể là các chỉ dẫn ban đầu Một người Nhật Bản sẽ không thích tiếp xúc với một người
lạ để tránh các lỗi tiềm ẩn trong nghi thức; trên thực tế, người Nhật Bản có xu hướng tránh tiếp xúc bằng mắt theo quan sát của những người nước ngoài Danh thiếp hoặc thẻ điện thoại thường xuyên được trao đổi ở Nhật Bản là công cụ hiệu quả của tương tác xã hội vì chúng cung cấp đủ thông tiên về một người khác để thuận lợi cho việc giao lưu xã hội thông thường Học giả nghiên cứu về Nhật Bản
là Edwin O Reischauer lưu ý rằng trong khi người Mỹ thường có động thái đề giảm thiểu các khác biệt về địa vị thì người Nhật lại cảm thấy bất tiện, lúng túng thậm chí cho là bất xứng khi một người không hành xử phù hợp với địa vị kỳ vọng Điều này tạo nên cơ sở về giả định về tư tưởng hệ thống thứ bậc tôn ti là lẽ
tự nhiên Hậu tố động từ, cách lựa chọn từ và kính ngữ thể hiện mối quan hệ về
sự người trên hoặc người dưới Người Nhật Bản có vốn từ vựng rất phong phú về các kính ngữ và các thuật ngữ khiêm nhường để chỉ ra địa vị của một người hoặc được điều chỉnh để thể hiện những gì người nói mong muốn mối quan hệ diễn ra Đàn ông và phụ nữ có lối ăn nói khác nhau, với phụ nữ phổ biến là lối ăn nói lịch
sự, nhã nhặn Một số từ nhất định được cho là cách nói của nam giới và một số khác lại nữ tính Ví dụ, có một vài cách thức để nói đại từ “Tôi (I)” tùy thuộc vào tính trịnh trọng của dịp nói, giới tính của người nói và tương quan về địa vị của người nói và người nghe Vì để nhấn mạnh giá trị của sự cảm thông cho phù hợp với nền văn hóa, một người không thể nói mà không quan tâm đến người khác
Thuật ngữ hệ thống thứ bậc, tôn ti đề cập tới một thứ hạng các vai trò và một bộ các quy tắc nghiêm khắc và nền hành chính của Nhật Bản cũng phản ánh điều này Tuy nhiên, ở đây, người ta thấy có sắc thái độc đáo mà nhà nhân chủng học
Robert J Smith gọi là “trật tự khuếch tán” (diffuse order, không tập quyền) Ví dụ,trước thời hiện đại, các nhà lãnh đạo địa phương được ban cho nhiều quyền tự trị,nhưng để đáp lại họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về công việc của địa phương
Trang 18Thời hiện đại của Nhật cũng thế, trách nhiệm thì có tính tập thể và thẩm quyền thì cótính khuếch tán Một người nào đó xem ra được trọn quyền điều khiển, nhưng thực tế,
bị cột vào một mạng lưới liên lập của nhóm cũng nghiêm ngặt như những người đượcxem là cấp dưới của người đó Vì thế, việc lãnh đạo không đòi phải có một cá tínhmạnh mẽ và các kỹ năng quyết định bén nhậy, nhưng đúng hơn phải biết nhậy cảm đốivới tâm tư người khác và kỹ năng môi giới Ngay đầu thập niên 1990, người ta vẫnmong các nhà lãnh đạo nên nhận trách nhiệm đối với những vấn đề lớn do nhóm củamình gây ra mà từ chức, dù họ không trực tiếp dính líu vào tình huống này
Tại Nhật, địa vị dựa trên các mối liên hệ đặc thù giữa các cá nhân, thường làcác liên hệ tùy thuộc nhau về phương diện xã hội giữa những người có địa vị khôngbằng nhau “Giri” (nghĩa vụ), tức cảm giác trói buộc phải có đối với người ta mang ơn,đòi ta phải có tác phong tôn kính và sau cùng đền đáp công ơn, và việc đền ơn nàykhích lệ các ân huệ tương lai Các liên hệ tùy thuộc nhau về xã hội này cứ thế kéo dàibất tận, chính sự bất bình đẳng đã liên kết các cá nhân lại với nhau như thế Bởi thế,qui luật của phẩm trật đã được chính mối liên hệ làm dịu đi Diễn trình làm dịu nàyđược người Nhật gọi là ninjo (cảm thương) Tiềm năng đối nghịch giữa “giri” và
“ninjo” vốn là đề tài rất thường xuyên trong nền kịch nghệ và văn chương Nhật Bản
Dù giới trẻ Nhật Bản ngày nay coi ý niệm “giri” là lỗi thời, nhưng đa số vẫn cảm thấycăng thẳng khi phải làm điều nên làm dù không muốn Trật tự xã hội sở dĩ hiện hữuđược, một phần là nhờ mọi thành viên trong xã hội đều được liên kết trong mạng lướiliên lụy xã hội, ai cũng vừa nhận vừa cho
Không gian tư: Mục tiêu và cái tôi
Địa vị được coi là căn bản cho các tổ chức xã hội, và việc liên hợp với ngườikhác được coi là đáng mong ước, nhưng các giả định này không hề triệt tiêu ý niệm cáitôi Ý thức hệ hòa hợp với người khác không tự động tạo ra sự đồng quy của cá nhânvới nhóm hay với mục tiêu của định chế
Nhà nhân chủng học Brian Moeran phân biệt các thái độ đối với cá tính và chủnghĩ cá nhân Cá tính (individuality), hay tính độc đáo của một con người, khôngnhững được dung túng mà thường còn được ca ngợi nếu người đó được nhận là thànhthực, hành động theo lương tâm Một tác phẩm nghệ thuật mang đến những nét mạnh
mẽ và đẹp là do “cá tính” của nó Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân bị coi là tiêu cực, vì nóđồng nghĩa với vị kỷ, ngược hẳn với cảm thông hay tương cảm là điều người Nhật hếtsức trân quí Dù đa số người Nhật ngày nay bác bỏ giá trị của ý niệm “seishin”, tứcđức quên mình đến chấp nhận cái chết của các binh sĩ trong Thế Chiến II, nhưng lòng
vị kỷ (nhất là lòng vị kỷ nơi các bà mẹ, là lòng vị kỷ được người Nhật coi là có ảnhhưởng tới sức khỏe thể lý và tinh thần của con cái), vốn được người ta gán cho đủ mọithứ nan đề của xã hội đương thời Các nan đề này bao gồm những bệnh được xếp loại