Sắn cũng làthức ăn cho gia súc, gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài rasắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành côngnghiệp chế biến bột ngọ
Trang 1Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng và thành phần hóa học trong một số loại
cây trồng dùng làm thức ăn cho gia súc 5Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm 2008 -
2012 6Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng sắn chính
trên thế giới năm 2012 7Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai đoạn 2007 -
2012 9Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả nước
năm 2012 10Bảng 2.6: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Thái Nguyên giai đoạn
2008 - 2012 12Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu tỉnh Thái Nguyên năm 2013 25Bảng 4.2: Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của giống sắn mới
HL2004-28 27Bảng 4.3: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
của giống sắn HL2004-28 29Bảng 4.4: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ ra lá của giống sắn
HL2004-28 31Bảng 4.5: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến đặc điểm nông sinh học của giống
sắn HL2004-28 33Bảng 4.6: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
của giống sắn HL2004-28 36Bảng 4.7: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ tươi, năng suất thân
lá, năng suất sinh vật học và hệ số thu hoạch của giống sắnHL2004-28 39Bảng 4.8: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột, năng
suất củ khô, năng suất tinh bột của giống sắn HL2004-28 42Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế của các thời vụ trồng sắn HL2004-28 44
Trang 3Hình 4.1: Biểu đồ ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ tươi, năng
suất thân lá và năng suất sinh vật học của giống sắn HL2004-28 39Hình 4.2: Biểu đồ hệ số thu hoạch của giống sắn HL2004-28 41Hình 4.3: Biểu đồ ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh
bột của giống sắn HL2004-28 42Hình 4.4: Biểu đồ ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ khô, năng
suất tinh bột của giống sắn HL2004-28 43Hình 4.5: Biểu đồ hiệu quả kinh tế của các thời vụ trồng sắn HL2004-28 45
Trang 4CIAT : Trung tâm quốc tế nông nghiệp nhiệt đới
NSSVH : Năng suất sinh vật học
Trang 5PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng của cây sắn 4
2.1.1 Nguồn gốc 4
2.1.2 Giá trị dinh dưỡng 5
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam 6
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam 8
2.2.3 Tình hình sản xuất sắn tại Thái Nguyên 12
2.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam 13
2.3.1 Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới 13
2.3.2 Tình hình nghiên cứu sắn ở Việt Nam 16
2.4 Tình hình nghiên cứu thời vụ trồng và thu hoạch sắn 18
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng 21
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
3.3 Nội dung nghiên cứu 21
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.4.2 Quy trình kỹ thuật thí nghiệm 22
3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 23
Trang 64.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Thái Nguyên năm 2013 25
4.2 Tỷ lệ mọc mầm, thời gian mọc mầm của giống sắn mới HL2004-28 26
4.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng sắn đến tốc độ sinh trưởng của giống sắn mới HL2004-28 28
4.3.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống sắn HL2004-28 28
4.3.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến tốc độ ra lá 30
4.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến đặc điểm nông sinh học của giống sắn HL2004-28 32
4.4.1 Chiều cao thân chính 33
4.4.2 Chiều dài các cấp cành 33
4.4.3 Chiều cao cây cuối cùng 34
4.4.4 Đường kính gốc 35
4.4.5 Tổng số lá trên cây 35
4.5 Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống sắn HL2004-28 35
4.5.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn mới HL2004-28 36
4.5.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất củ tươi, năng suất thân lá, năng suất sinh vật học và hệ số thu hoạch của giống sắn HL2004-28 38
4.5.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng của giống sắn mới HL2004-28 41
4.6 Ảnh hưởng của thời vụ đến hiệu quả kinh tế của giống sắn HL2004-28 44
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực, thực phẩm chính
của hơn 500 triệu người trên thế giới Cây sắn là một trong những cây lươngthực dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đấtnghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc Nó
nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là châu Phi, châu Mỹ và châu Á (Phạm VănBiên và Hoàng Kim,1991)
Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt:Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thếgiới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thựcchính, nhất là các nước của châu Phi Tinh bột sắn còn là một thành phầnquan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới Sắn cũng làthức ăn cho gia súc, gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài rasắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành côngnghiệp chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinhhọc và phụ gia dược phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới việc nghiên cứu pháttriển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thếgiới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn lànguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol).Chương trình sản xuất ethanol của chính phủ Brazil đã tạo ra gần 1 triệu việclàm cho người lao động
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô Năm
2012 diện tích sắn toàn quốc là 550,6 nghìn ha, năng suất bình quân 17,69tấn/ha, sản lượng là 9,745 triệu tấn (FAOSTAT, 2013) Cả nước hiện có hơn
60 nhà máy chế biến tinh bột sắn, trong đó có 41 nhà máy đã đi vào hoạt độngvới tổng công suất 2,2 - 3,8 triệu tấn sắn củ tươi/năm Tổng sản lượng tinh bột
Trang 9sắn của Việt Nam hiện đạt 600 - 800 nghìn tấn, trong đó có khoảng 70% dànhcho xuất khẩu và 30% tiêu thụ trong nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007).
Một trong những tồn tại của sản xuất sắn ở Việt Nam hiện nay là năngsuất sắn ở địa phương vẫn còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng năng suất củacác giống sắn mới Lí do là người dân thường quan niệm sắn là cây dễ trồng,thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi
kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh, chọn giống và thời vụtrồng thích hợp với giống sắn Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bềnvững ở Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu về giống, kỹ thuật trồng sắn, việcnghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố thời vụ đến khả năng sinh trưởng, phát triển
và năng suất của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết Chính vì những thực tế
trên, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ
trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống sắn mới HL2004-28 tại
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2 Mục đích của đề tài
Xác định thời vụ trồng thích hợp cho giống sắn HL2004-28 để đáp ứngnhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột sắn hiện nay ở cáctỉnh Trung du và miền núi phía Bắc
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng sinh trưởng, pháttriển của giống sắn mới HL2004-28
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất, chất lượng củagiống sắn mới HL2004-28
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống sắn tham gia thí nghiệm
1.4 Ý nghĩa đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được củng cố và hệ thốnglại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinhviên học hỏi thêm kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất
Trang 10- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúpcho sinh viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp và tổ chứctiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Đánh giá được chính xác sự ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khảnăng sinh trưởng và năng suất của giống sắn mới có triển vọng HL2004-28 tạiThái Nguyên
- Đề tài cũng xem như là một tài liệu tham khảo cho Khoa, Trường vàsinh viên các khoá tiếp theo
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Góp phần tìm ra thời vụ trồng thích hợp nhất với giống sắn mớiHL2004-28 để cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất áp dụng vào sản xuấtđại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của tỉnh Thái Nguyên cũngnhư các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng của cây sắn
2.1.1 Nguồn gốc
Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz có hoa hạt kín, có
2 lá mầm và thuộc họ thầu dầu có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17nhóm, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36 (Roger và Appan, 1973) Nhiều tài liệucho biết cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ Latinh (Crantz,1976) và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT,1993)
Trung tâm phát sinh của cây sắn được giả thuyết tại Đông Bắc Brazilthuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại(Đecanola, 1986; Roger, 1965)
Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mehico, Trung Mỹ vàven biển các nước Nam Mỹ Bằng chứng là những di tích khảo cổ ởVenezuela niên đại 2700 năm trước công nguyên, những lò nướng bánh sắntrong phức hệ Malabo ở phía bắc Colombia niên đại khoảng 1200 năm trướccông nguyên, những hạt tinh bột sắn ở trong phần hóa thạch được phát hiệntại Mehico có tuổi khoảng 900 năm đến 200 năm trước công nguyên (Roger
và Appan, 1973)
Các công trình nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả kết luận rằng: Câysắn có nguồn gốc phức tạp và có bốn trung tâm phát sinh đó là: Brazil có haitrung tâm, còn lại là ở Mehico và Bolivia
Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vàothế kỷ 16 Tài liệu nói tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm
1558 Ở Châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ 17 (P.G.Rajendran et al, 1995) và Sri Lanka đầu thế kỷ 18 (W.M.S.M Bandara và
M Sikurajapathy, 1992) Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myanma vàcác nước châu Á khác ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 (Fang Baiping, 1992;
U Thun Than, 1992)
Trang 12Ở Việt Nam cây sắn được du nhập vào khoảng thế kỷ thứ 18 (Phạm VănBiên, Hoàng Kim) và được canh tác phổ biến ở hầu hết các tỉnh của Việt Nam
từ Bắc đến Nam Diện tích sắn trồng nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ và duyênhải miền Trung, vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng Trung du và miền núiphía Bắc
2.1.2 Giá trị dinh dưỡng
Theo số liệu công bố của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới(FAO), hàm lượng dinh dưỡng trong củ sắn (tính trên 100 gam phần ăn được)như sau:
và người lớn
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng và thành phần hóa học trong một số loại
cây trồng dùng làm thức ăn cho gia súc
Tên thức ăn
Chất Khô (%)
Protein thô (%)
Xơ thô (%)
Canxi (%)
Photpho (%)
Năng lượng trao đổi (Kcal/đvtă)
Trang 13Qua số liệu ở bảng 2.1 ta thấy lượng vật chất khô của củ sắn cả vỏ, lásắn, bột lá sắn, bã sắn ướt đều cao hơn so với một số cây thường dùng làmthức ăn cho gia súc khác Đặc biệt trong củ sắn cả vỏ có hàm lượng chất khô,protein thô, xơ thô, canxi, photpho và năng lượng trao đổi đều cao hơn hẳn sovới các loại thức ăn khác Điều này chứng tỏ thành phần dinh dưỡng trong củsắn là rất cao, đáp ứng được nhu cầu trong khẩu phần ăn của vật nuôi.
2.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Trên thế giới sắn là cây quan trọng được xếp đứng thứ năm sau câyngô, lúa gạo, lúa mì và khoai tây
Diện tích sắn trên toàn thế giới năm 2012 đạt 19,99 triệu ha, năng suấtbình quân 12,83 tấn/ha, sản lượng 256,53 triệu tấn Diện tích, năng suất và sảnlượng sắn trên thế giới 5 năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới
từ năm 2008 - 2012
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Qua bảng số liệu 2.2 ta thấy:
Từ năm 2008 đến năm 2012 diện tích sắn đã tăng 1,13 triệu ha, năngsuất tăng 0,05 tấn/ha nên sản lượng sắn đã tăng 24,989 triệu tấn Tuy vậy cóthể nhận thấy diện tích năm 2012 giảm so với năm 2011 là 0,069 triệu ha.Qua đó ta thấy rằng cây sắn hiện nay đang bị thu hẹp về diện tích song vẫnphát triển cả về năng suất và sản lượng Có được kết quả đó là do chiến lượcphát triển lương thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị của cây sắn Mặtkhác, sắn lại là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện kinh tế
Trang 14đặc biệt là có thể sinh trưởng và cho năng suất cao khi đất nghèo dinh dưỡng, là câytrồng công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao với nhiều cây công nghiệp khác.
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn của những nước trồng sắn
chính trên thế giới năm 2012
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Hiện nay cây sắn được trồng tại 105 quốc gia, năm 2012 toàn thế giới
có 19.991 nghìn ha trồng sắn, trong đó có 66,92% diện tích sắn được trồng ởchâu Phi, châu Á chiếm 19,88 %, châu Mỹ chiếm 13,11 % (Bảng 2.3)
Châu Phi có tổng diện tích trồng sắn năm 2012 là 13,379 triệu ha, năngsuất củ tươi bình quân 10,93 tấn/ha, sản lượng 146,217 triệu tấn Ở châu Phinước có diện tích sắn lớn nhất là Nigeria với 3,850 triệu ha, năng suất đạt14,03 tấn/ha, sản lượng 54,000 triệu tấn Sắn là nguồn lương thực chính củangười dân tại nhiều nước ở vùng này Châu Phi là nơi tình trạng suy dinh
Trang 15dưỡng tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua nên cây sắn hiện được coi là giảipháp an toàn lương thực hàng đầu
Năm 2012 tổng diện tích sắn trồng ở châu Mỹ là 2,621 triệu ha, năngsuất củ tươi bình quân 12,40 tấn/ha, sản lượng 32,503 triệu tấn Brazil lànước có diện tích trồng sắn lớn nhất châu Mỹ với 1,703 triệu ha, sản lượngđạt 23,414 triệu tấn
Châu Á cùng với châu Phi và châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quantrọng của thế giới Diện tích sắn châu Á hiện có 3,974 triệu ha, sản lượng77,608 triệu tấn, năng suất sắn ở châu Á hiện đạt bình quân 19,53 tấn/ha TháiLan là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất châu Á với 1,250 triệu ha, sảnlượng 22,500 triệu tấn Sản xuất sắn tại châu Á tăng ở mức cao của 3%/nămtrong thời gian cuối những năm 70 và đầu 80, những năm 90 sản xuất sắnphát triển chậm lại Sản xuất sắn được phát triển khá nhanh trở lại ở3,3%/năm trong suốt 10 năm qua (Reinhardt Howeler và Keith Fahrne, 2008)
2.2.2 Tình hình sản xuất sắn tại Việt Nam
Ở Việt Nam, sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọngtrong chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô (Phạm VănBiên, 1998) Và là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo
do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp với sinh thái và điềukiện kinh tế nông hộ
Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012 được thể hiện
ở bảng 2.4 dưới đây:
Trang 16Bảng 2.4: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam
giai đoạn 2007 - 2012
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2007 là 55,1 nghìn ha đánh dấu sự gia tăng năng suất từ 16,53 tấn/ha trongnăm 2007 lên 17,69 tấn/ha vào năm 2012
Ở nước ta khoảng 66% diện tích của sắn được trồng trên đất đồi núi,40% diện tích còn lại được trồng trên các loại đất khác Sắn ưa đất có độ pH
từ 4,5 - 6,0 Tại miền Bắc Việt Nam, sắn được trồng chủ yếu ở khu vực có địahình đồi núi và khoảng 68% của diện tích trồng sắn là đất đá và 12% có đấtcát pha tương ứng Trong khi đó sắn ở miền Nam Việt Nam được trồng chủyếu trên đất cát màu xám, các loại đất này phẳng và nghèo chất dinh dưỡng,các khu vực ven biển miền Trung và Đông Nam Bộ, chiếm khoảng 60% diệntích sắn toàn miền Nam Trong khi đó hơn 30% diện tích sắn được trồng ởTây Nguyên và Đồng Nai, Bình Phước của khu vực Đông Nam Bộ trên đất đỏmàu vàng với địa hình đồi núi Cụ thể diện tích, năng suất và sản lượng sảnxuất sắn của các vùng trên cả nước được thể hiện trong bảng dưới đây:
Trang 17Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng
trong cả nước năm 2012
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
ha (chiếm 31,76% tổng diện tích sắn toàn quốc), năng suất 346,0 tạ/ha, sảnlượng 3,027 triệu tấn củ tươi (chiếm 31,06% tổng sản lượng sắn toàn quốc).Diện tích tập trung tại một số tỉnh như: Thanh Hóa (vùng sắn huyện NhưXuân, Bá Phước, Quang Hóa, Lang Chánh và huyện Thường Xuân), Nghệ An(vùng sắn huyện Thanh Chương, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong), HàTĩnh (vùng sắn huyện Kỳ Anh), Quảng Bình (vùng sắn huyện Tuyên Hóa, LệThủy), Quảng Trị (vùng sắn huyện Hương Hóa, Vĩnh Linh, Hại Lăng, CamLộ), Thừa Thiên Huế (vùng sắn huyện Phú vang, Phong Điền, A Lưới),Quảng Nam (vùng sắn huyện Quế Sơn, Thăng Bình, núi Thành), Quảng Ngãi(vùng sắn huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Sơn Hà), Bình Định(vùng sắn huyện Phù Cát, Tây Sơn, Vân Canh) và Phú Yên (vùng sắn huyệnĐồng Xuân, Sông Hinh và Tuy Hòa)
- Vùng Tây Nguyên: Có diện tích sắn lớn thứ 2 cả nước, với ưu thế vềđiều kiện tự nhiên và con người, diện tích sắn liên tục tăng mạnh trong thời
Trang 18gian qua Năm 2012, diện tích sắn toàn vùng đạt 149,5 nghìn ha (chiếm27,16% diện tích toàn quốc), năng suất 170,0 tạ/ha, sản lượng ước đạt trên 2,5triệu tấn củ tươi (chiếm 26,08% tổng sản lượng sắn toàn quốc) Diện tích tậptrung tại một số tỉnh: Kon Tum (vùng sắn huyện Đắk Tô, Đắk Hà, Ngọc Hồi và
Sa Thầy), Gia Lai (vùng sắn huyện An Khê, Măng Yang, Chư Prông, Krông Pa
và Đức Cơ), Đắc Lắc (vùng sắn huyện Ea Kar, MDrăk, Đăk Song, Đăk Lấp,Đăk Nông và Krông Bông)
- Vùng Đông Nam Bộ: Là vùng có NSTB cao thứ 2 toàn quốc, diện tíchtăng liên tục trong thời gian qua, đặc biệt từ năm 2000 đến nay do nhu cầu sắnnguyên liệu cho các nhà máy chế biến tinh bột tăng cao, việc đầu tư thâm canhcây sắn đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn một số cây trồng khác trong cùngđiều kiện như mía, lúa 1 vụ… người trồng sắn đã bắt đầu có tích lũy và làm giàunhờ nghề trồng sắn Năm 2012 diện tích toàn vùng đạt 96,0 nghìn ha (chiếm17,4% diện tích toàn quốc), năng suất 258,9 tạ/ha, sản lượng đạt 2,485 triệu tấn
củ tươi (chiếm 25,5% tổng sản lượng toàn quốc) Diện tích tại một số tỉnh như:Tây Ninh (vùng sắn ở huyện Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu và ChâuThành), Đồng Nai (vùng sắn ở huyện Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Đông Phú, PhướcLong, Lộc Ninh, Bù Đăng và Bình Long), Bà Rịa - Vũng Tàu (vùng sắn huyệnXuyên Mộc), Bình Thuận (vùng sắn huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, HàmThuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân và Đức Linh), Ninh Thuận (vùng sắn ở huyệnBắc Ái)
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Có lịch sử phát triển cây sắn từlâu đời, đây là vùng có đầy đủ lợi thế về phát triển sắn, đã có thời điểm diệntích gieo trồng toàn vùng chiếm tới gần 50% diện tích sản lượng cả nước, tuynhiên vùng Trung du và miền núi phía Bắc phát triển chậm hơn so với vùngĐông Nam Bộ là do năng lực chế biến phát triển chậm, đồng thời sản xuất sắngặp nhiều điều kiện hạn chế do điều kiện khí hậu, đất dốc, giao thông khókhăn Năm 2012, diện tích toàn vùng đạt 117,0 nghìn ha (chiếm 21,25% tổngdiện tích sắn toàn quốc), năng suất đạt trên 127,1 tạ/ha, sản lượng 1,4865 triệu
Trang 19tấn củ tươi (chiếm 15,25% tổng sản lượng sắn toàn quốc) Sắn được trồng trên
diện tích trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh Yên Bái (vùng sắn Văn Yên, YênBình), Phú Thọ (vùng sắn Phù Ninh, Thanh Ba, Thanh Sơn, Yên Lập), HòaBình (vùng sắn Lạc Sơn, Kim Bôi, Đà Bắc, Tân Lạc)
Mặc dù ngành chế biến sắn của Việt Nam còn non trẻ nhưng các nhàmáy chế biến tinh bột sắn của Việt Nam đều khá hiện đại, giá thành sản xuấtchế biến rẻ nên sắn Việt Nam có lợi thế cạnh tranh cao và có nhu cầu thị trường.Ngoài sản phẩm tinh bột sắn thì sắn lát khô cũng là một mặt hàng quan trọng và
có nhu cầu cao Thị trường xuất khẩu sắn lát khô của Việt Nam chủ yếu là TrungQuốc Theo thống kê năm 2003 - 2004 Việt Nam đã xuất khẩu sang Trung Quốckhoảng trên 328,000 tấn sắn lát Giá sắn của Việt Nam khá cạnh tranh so với giásắn của các nước sản xuất trong khu vực và thế giới (Lường Văn Duy, 2007)
2.2.3 Tình hình sản xuất sắn tại Thái Nguyên
Bảng 2.6: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Thái Nguyên
giai đoạn 2008 - 2012
(nghìn ha)
Năng xuất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 20từ 105,6 lên 146,8 tạ/ha, sản lượng tăng từ 43,3 nghìn tấn lên 55,8 nghìn tấn Điềunày cho thấy một bước tiến bộ vượt bậc trong công tác nghiên cứu và áp dụng vàothực tiễn sản xuất Từ đó ta thấy người dân nơi đây đã và đang sử dụng nhữnggiống sắn mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, tỷ lệ tinh bột cao và áp dụng vàosản xuất những biện pháp kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững
2.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới
Trước đây, sắn được coi là một cây màu lương thực vì vậy thường đượcphát triển trên diện rộng Sắn là cây trồng của người nghèo và được sản xuấtbởi người nông dân nghèo nên có thời gian sắn bị lãng quên ở cộng đồng cácnước phát triển
Đến năm 1970, với sự thành lập chương trình nghiên cứu sắn của CIAT
ở tại các nước Colombia và IITA (International institute for Tropical
Agriculture) ở Nigieria.
Trên thế giới sắn được trồng chủ yếu bằng hom nên có lợi thế về mặtduy trì các tính trạng tốt qua các thế hệ sinh sản vô tính (dòng vô tính) songlại có khó khăn là hệ số nhân giống của sắn rất thấp (trung bình là 1:7).Quá trình chọn tạo giống sắn cần phải có ít nhất 6 năm để xác định được dòng sắntriển vọng (Trần Ngọc Ngoạn, 1995), (Trần Ngọc Ngoạn và cs, 2004) Nguồngen và cơ cấu giống sắn phù hợp cho mỗi vùng sinh thái có ý nghĩa quantrọng hàng đầu trong công tác cải tiến giống sắn Sự phong phú, đa dạng vềnguồn gen và phương pháp chọn, tạo vật liệu giống sắn triển vọng là cơ sở
để tạo ra giống tốt
Trên thế giới, việc nghiên cứu giống sắn được thực hiện chủ yếu ởTrung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới - CIAT tại Colombia, ViệnQuốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới - IITA tại Nigeria, cùng với các Trường,Viện nghiên cứu quốc gia ở những nước trồng và tiêu thụ nhiều sắn;CIAT, IITA đã có những chương trình nghiên cứu rộng lớn đồng thời kếthợp chặt chẽ các chương trình sắn của mỗi quốc gia để tiến hành thuthập, nhập nội, chọn tạo và cải tiến giống sắn Mục tiêu của chiến lược
Trang 21cải tiến giống sắn được thay đổi tuỳ theo sự cần thiết và khả năng củatừng chương trình quốc gia đối với công tác tập huấn, phân phối nguồnvật liệu giống ban đầu đã được điều tiết bởi các chuyên gia chọn tạogiống sắn của CIAT.
CIAT là nơi bảo tồn nguồn gen giống sắn đứng hàng đầu của thế giới.Hiện tại CIAT cũng thu thập, bảo quản được 5.782 mẫu giống sắn và đăng kýtại FAO gồm 5.138 mẫu giống sắn thu thập tại vùng Nam Mỹ và Trung Mỹ,
24 mẫu giống sắn ở Bắc Mỹ, 384 mẫu sắn lai của CIAT, 163 mẫu giống sắnvùng châu Á, 19 mẫu giống sắn vùng châu Phi (Lường Văn Duy, 2007).Trong số 5.728 mẫu giống sắn này có 35 loài sắn hoang dại được thu thập nhằm
sử dụng lai tạo ra giống sắn kháng sâu bệnh hoặc giàu protein Nguồn gen giốngsắn nêu trên đã được CIAT bảo tồn và đánh giá cẩn thận về khả năng cho năngsuất, giá trị dinh dưỡng, thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh hạicũng như thích ứng với sự thay đổi của môi trường Từ đó chọn ra những cặp bố
mẹ phục vụ cho công tác cải tiến giống sắn để trao đổi, giữ gen đối với các nước
Tại châu Mỹ Latinh, chương trình chọn tạo giống sắn của CIAT đãphối hợp với CLAYUCA và những chương trình sắn quốc gia của các nướcBrazil, Colombia, Mehico… giới thiệu cho sản xuất ở các nước này nhữnggiống sắn tốt như SM1433-4, CM3435-3, SG337-2, CG489-31, MCol72,AM273-23, MBRA383… Do vậy đã góp phần đưa năng suất và sản lượngsắn trong vùng tăng lên một cách đáng kể
Viện Nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới quốc tế IIAT (InternationalInstitute Tropical Agriculture) đặt tại Nigieria đã qua thu thập, đánh giá,bảo quản 1.286 mẫu giống, vật liệu đã chọn lọc và đưa vào sản xuất một sốgiống sắn chống chịu virus có năng suất cao hơn giống địa phương 2 đến 3lần (Phan Kim Sơn, 2008)
Ở Châu Phi, CIAT phối hợp với IITA và các nước Nigeria, Congo,Ghana, Tanzania, Mozambique, Angola, Uganda cùng nhiều tổ chức quốc
tế như FAO, Bill Gates Foundation để nghiên cứu nhằm phát triển cácgiống sắn mới ngắn ngày, chất lượng cao (giàu carotene, vitamin, protein…)
Trang 22thích hợp ăn tươi và có khả năng kháng bệnh virus (một loại bệnh dịch hạinghiêm trọng đối với cây sắn ở châu Phi)
Ở Châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo được tổ chứctại Thái Lan vào tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chươngtrình cải tiến giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất
củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp.Mục tiêu cải tiến giống sắn của những quốc gia (Ấn Độ, Indonexia, Srilanca)
có nhu cầu cao về sử dụng sắn làm lương thực là chọn tạo những giống sắnngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng axit Cyanhydric(HCN) trong củ thấp, thích hợp tiêu thụ tươi, dạng cây đẹp, có khả năngchống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh
Tại Hội thảo Sắn Quốc tế lần thứ Tám tổ chức tại thủ đô ViênChăn, Lào ngày 20 - 24 tháng 10 năm 2008 Các nhà khoa học đã xácđịnh tương lai mới cho sắn ở châu Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc vànhiên liệu sinh học có lợi cho người nghèo, mục tiêu là chọn tạo được nhữnggiống mới đáp ứng được yêu cầu sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc,phát triển mới trong chế biến sắn, đặc biệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột,tinh bột biến tính, màng phủ sinh học, công nghiệp thực phẩm
Ấn Độ là nước ở châu Á có năng suất sắn cao hàng đầu thế giới Cơquan điều phối cải tiến giống sắn toàn Ấn Độ là Viện Nghiên cứu Cây có củ(CTCRI) ở Trivandrum của tiểu bang Kerala CTCRI đã thu thập, bảo quản,đánh giá 1.354 mẫu giống sắn và lai tạo được hàng chục nghìn hạt sắn laiphục vụ cho chương trình chọn tạo các giống sắn mới Gần đây, Ấn Độ có 5giống sắn mới được nhà nước công nhận là giống quốc gia, trong đó giốngSree Prakash có nhiều triển vọng đạt năng suất củ tươi cao (35 - 40) tấn/ha
Chương trình cải tiến giống sắn của Trung Quốc được thực hiện chủyếu tại Học Viện Cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc (CATAS), ViệnNghiên cứu Cây trồng Cận Nhiệt đới Quảng Tây (GSCRI) Những giống sắnmới năng suất cao trong thời gian gần đây tại Trung Quốc có SC201, SC205,SC124, Nanzhi188, GR911, GR891
2.3.2 Tình hình nghiên cứu sắn ở Việt Nam
Trang 23Chọn giống sắn tốt, năng suất cao phù hợp với đất đai và yêu cầu của sảnxuất lớn là việc làm cần thiết để phát huy những ưu điểm của giống Nhưng trongđiều kiện sản xuất trên diện rộng nếu không có một kế hoạch chọn lọc bồi dưỡnggiống sắn thường xuyên thì sau một vài năm giống sắn tốt cũng dễ thoái hóa làmnăng suất giảm xuống Thấy được tầm quan trọng của công tác chọn tạo giốngsắn, các nhà khoa học Việt Nam đã không ngừng nghiên cứu chọn lọc các giốngsắn mới để phục vụ cho sản xuất.
Trong nước, theo tác giả Hoàng Kim, Phạm Văn Biên, cây sắn được dunhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 và có mặt ở miền Nam trước, sau đómới đưa ra trồng ở miền Bắc và hiện nay sắn được trồng rộng khắp cả nước
Trước năm 1975 nguồn gen giống sắn đã được nhập nội và khảo sát tạiViện Khảo cứu Nông nghiệp Sài Gòn Ở phía Bắc cũng tiến hành một số thínghiệm tập đoàn so sánh giống kết quả đã chọn ra được giống sắn H34 thuộcnhóm sắn đắng có tỷ lệ tinh bột cao (>30%)
Trong giai đoạn 1975 1990, ở miền Bắc Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái tiến hành thu thập đánh giá nguồn gen của 20 giống sắn và đã chọn đượcgiống sắn XVP là giống địa phương tốt nhất ở các tỉnh phía Bắc (Trần NgọcNgoạn và Trần Văn Điền, 1992) Ở miền Nam, trung tâm Nghiên cứu Thựcnghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệpmiền Nam) đã đánh giá nguồn gen của 33 giống sắn địa phương và cũng xác địnhđược ba giống sắn tốt là HL23, HL24, HL20, đồng thời 3 giống này mỗi nămđược sản xuất nhân ra trồng trên 70.000 ha ở các tỉnh phía Nam (Nguyễn XuânHải và cộng sự, 1990) Vì những giống sắn mới được chọn lọc có năng suất bìnhquân trong thí nghiệm đạt 15 - 25 tấn/ha, tỷ lệ tinh bột 20 - 25% nên đáp ứngđược mục tiêu đề ra là phục vụ cho nhu cầu lương thực
-Từ năm 1988, công tác nghiên cứu chọn giống sắn ở Việt Nam có quan
hệ chặt chẽ với CIAT Trong suốt 18 năm (1988 - 2005), chương trình sắn củaViệt Nam đã phối hợp với CIAT chọn lọc và phát triển hai giống sắn mới làKM60 và KM94 ra sản xuất Đây là hai giống sắn có năng suất củ tươi cao(25 - 40 tấn/ha), có tỷ lệ tinh bột cao (27 - 30%), thích hợp với chế biến tinhbột Cũng từ năm 1993 trở lại đây nhiều nhà máy chế biến tinh bột sắn được
Trang 24xây dựng, cây sắn đã chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa Do đó các giốngsắn mới đã và đang được phát triển mạnh ở hai miền Nam - Bắc Việc giớithiệu và phát triển hai giống sắn mới này vào sản xuất đã là một bước đột phámới trong nghề trồng sắn ở Việt Nam.
Với sự hợp tác của CIAT, chương trình sắn Việt Nam cũng đã tiếnhành đánh giá vào khoảng 30.000 hạt lai do CIAT/Colombia, CIAT/Tháigiới thiệu và khoảng 7.000 hạt lai từ nguồn lai tạo trong nước Hàng chụcdòng triển vọng tiếp tục được chọn ra từ nguồn vật liệu này như: KM98-1,KM98-5, KM95-3, KM98-7, KM140… Trong số các dòng này, có nhữngdòng rất có triển vọng vừa thích hợp chế biến, vừa có thể sử dụng ăn tươi
Trong giai đoạn 1991 - 2005, chương trình sắn Việt Nam đã hợp tác chặtchẽ với CIAT, VEDAN và mạng lưới nghiên cứu sắn châu Á để đẩy mạnh hoạtđộng nghiên cứu và phát triển sắn với mục tiêu là chọn tạo ra những giống sắn
có năng suất củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao, phục vụ cho chế biến công nghiệp,đồng thời cũng tuyển chọn được những giống sắn ngắn ngày, đa dạng, thíchhợp cho cả chế biến công nghiệp cũng như nhu cầu về lương thực ở vùng sâu,vùng xa Do đó đã tạo được bước đột phá quan trọng trong nghề trồng sắn củaViệt Nam (Trần Ngọc Ngoạn và cộng sự, 2004)
Các nghiên cứu chọn tạo và khảo nghiệm giống sắn nhập nội từ CIATthích hợp cho mục tiêu sản xuất cồn sinh học đang được thực hiện trongchương trình sắn Việt Nam Với 24.073 hạt giống sắn nhập nội từ CIAT,37.210 hạt giống sắn lai tạo tại Việt Nam, 38 giống sắn tác giả và 31 giốngsắn bản địa đã chọn được 98 giống sắn triển vọng Trong đó có ba giốngKM140, KM98-5 và KM98-7 đã được đưa vào trồng tại nhiều địa phương ởgiai đoạn 2007 - 2009
Hiện nay mục tiêu của chương trình cải thiện di truyền sắn tại Việt Nam là:
- Tăng tiềm năng năng suất, hàm lượng chất khô và hàm lượng tinh bột
- Rút ngắn thời gian thu hoạch
- Xác định các giống có năng suất cao phù hợp với từng khu vực vàvùng sinh thái khác nhau nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các hệ thống canhtác nông hộ nhỏ
- Lựa chọn giống sắn tốt nhất cho sản xuất ethanol sinh học
Trang 25Mà mục tiêu cụ thể của chương trình nhân giống sắn là: Để chọn vàphát hành giống mới có năng suất cao từ 35 - 40 tấn/ha, hàm lượng tinh bột từ
27 - 30%, thời gian sinh trưởng và phát triển từ 8 - 10 tháng, cây mọc thẳngđứng, đốt ngắn, ít phân nhánh, tán nhỏ gọn, kích thước gốc, củ thống nhất vàphù hợp cho chế biến công nghiệp
Thực hiện mục tiêu trên hiện nay có khá nhiều công trình nghiêncứu về chọn tạo giống đạt kết quả tốt, nhờ đó mà nhiều giống sắn mớiđược đưa vào sản xuất như: KM60, KM94, KM95, KM95-3, SM937-26,KM98-1, KM98-5, KM98-7, KM140… Việc áp dụng kết quả nghiên cứuvào phục vụ sản xuất đại trà đã thực sự mang lại lợi nhuận cao cho nôngdân trên diện rộng, cho nên tạo được công ăn việc làm và góp phần xóađói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa và miền núi, đồng thời tăng sức cạnhtranh của tinh bột sắn xuất khẩu và các sản phẩm khác chế biến từ sắn trênthị trường trong và ngoài nước
Những tiến bộ vượt bậc về công tác chọn tạo giống sắn trên thế giới và ởViệt Nam đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của phương pháp tuyển chọngiống sắn thích hợp theo vùng khí hậu, đất đai và tạo nguồn vật liệu khởi đầuphong phú để tạo nên sự đột phá về năng suất Công tác thực nghiệm tuyểnchọn giống sắn trên đồng ruộng chỉ có kết quả khi bảo đảm vững chắc được cơ
sở di truyền những tính trạng nông học Trong đó, năng suất củ tươi, chỉ số thuhoạch có hệ số di truyền cao; tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột có hệ số di truyềnthấp và ít biến động bởi điều kiện môi trường (Trần Ngọc Ngoạn, 1995)
2.4 Tình hình nghiên cứu thời vụ trồng và thu hoạch sắn
Ở các vùng sinh thái khác nhau thì thời vụ trồng sắn thích hợp sẽ phụthuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương Các giống sắn công nghiệptrồng để lấy bột thường thu hoạch sau trồng 8 - 12 tháng Các giống sắn ngọttrồng để ăn tươi thì có thể thu hoạch rải rác sau trồng từ 6 - 9 tháng
* Thời vụ trồng sắn ở các vùng sinh thái khác nhau trên thế giới:
Ở châu Á sắn thường được trồng vào hai vụ chính là đầu mùa mưa vàcuối mùa mưa Vụ đầu mùa mưa, sắn được trồng ngay sau những cơn mưa
Trang 26đầu tiên, khi ẩm độ trong đất đủ để hom sắn mọc mầm và phát triển Vụcuối mùa mưa sắn được trồng vào thời điểm lúc mùa mưa sắp kết thúc.
Những nghiên cứu ở phía Đông đảo Java của Indonexia cho thấythời vụ trồng sắn thích hợp là vào tháng 10 - 11 và khi bắt đầu mùa mưa
từ tháng 7 đến tháng 10 Thời gian trồng dài hay ngắn phụ thuộc vào sựphân bố lượng mưa
Những nghiên cứu của Viện Nông nghiệp Nhiệt đới Nam Trung Quốccho thấy: Thời gian trồng sắn thích hợp ở vùng Hoa Nam là vào đầu mùaxuân từ tháng 2 đến tháng 4 và thời gian thu hoạch sau khi trồng từ 10 - 12tháng Năng suất và hàm lượng chất khô chứa trong củ thường tăng theo thờigian thu hoạch sau khi trồng Ở vùng sắn Quảng Đông, Quảng Tây và HảiNam, thời gian thu hoạch vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau
Một số nghiên cứu khác tại Ấn Độ và Philippin cho rằng tại những vùng
có mưa quanh năm có thể trồng sắn vào bất cứ thời điểm nào trong năm ởnhững vùng có phân thành hai mùa mưa nắng rõ rệt thì nên trồng vào đầu hoặcgần cuối vụ mưa Nếu trồng muộn hơn vào lúc mưa nhiều thì cây sắn sinhtrưởng kém và nhiều sâu bệnh, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng sắn Thờiđiểm thu hoạch sắn từ 9 đến 12 tháng sau trồng đều không có sự khác biệt có ýnghĩa về năng suất
* Thời vụ trồng sắn ở Việt Nam:
Trong nước thời vụ trồng sắn ở mỗi vùng cũng khác nhau Ở vùngĐông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng của miền Bắc Việt Nam, sắnđược trồng tốt nhất trong tháng 2 vì lúc này có mưa xuân, nhiệt độ tăngdần, thích hợp cho cây sinh trưởng, hình thành và phát triển củ Trồngmuộn vào tháng 4, nhiệt độ cao cây sinh trưởng mạnh nhưng không đủ thờigian cho củ phát triển
Vùng ven biển miền Trung Việt Nam, sắn được trồng từ tháng 1 đếntháng 2 trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao và có mưa ẩm, thu hoạch vàotháng 9 đến tháng 10 nhằm tránh bão lụt gây đổ ngã và thối củ ngoài đồng
Vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Việt Nam sắn đượctrồng vụ chính từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 5 và vụ phụ từ cuối tháng 9 đếnđầu tháng 11
Trang 27Vùng Đông Nam Bộ, tác giả Nguyễn Thị Sâm và ctv cho biết thời vụtrồng sắn thích hợp đối với giống sắn KM94 là khi mưa đầu mùa đã ổnđịnh từ 15/5 đến 15/6 dương lịch là tốt nhất, chậm nhất đến 25/6 tác giảNguyễn Hữu Hỷ đề nghị thời vụ trồng sắn sớm hơn từ khi mùa mưa bắt đầu(15/4) cho đến lúc lượng mưa ổn định (15/5) sắn sẽ đạt được năng suất củtươi, năng suất thân lá, tỷ lệ tinh bột trong củ cũng như hiệu quả kinh tếcao nhất.
Tục ngữ Việt Nam có câu “nhất thì nhì thục” vậy nên xác định thời vụtrồng thích hợp là rất quan trọng đối với cây sắn
Trang 28PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu: Giống sắn mới có triển vọng HL2004-28
Giống sắn HL2004-28 còn có tên gọi khác là KM444 và SVN7 do ViệnCây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn ban đầu từ đánh giá tổ hợp lai (GM444-2 x GM444-2) x XVP của nhóm nghiên cứu sắn Trường Đại họcNông Lâm thành phố Hố Chí Minh (NLU) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nôngnghiệp miền Nam (IAS) lại hữu tính năm 2003 Giống HL2004-28 có gốc thânhơi cong, phân cành cao Lá màu xanh đậm, ngọn xanh nhạt Dạng củ đẹp, thịt củmàu trắng Đặc điểm nổi bật của giống HL2004-28 là rất ít nhiễm sâu bệnh
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Nghiên cứu từ tháng 2 năm 2013 đến tháng 1 năm 2014
- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại khu cây trồng cạn Trường Đạihọc Nông Lâm Thái Nguyên
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triểncủa giống sắn tham gia nghiên cứu
- Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất và chất lượng của giốngsắn tham gia nghiên cứu
- Hoạch toán hiệu quả kinh tế của giống sắn tham gia nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 293.4.2 Quy trình kỹ thuật thí nghiệm
- Theo hướng dẫn của CIAT (Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế)+ Làm đất: Sâu, tơi xốp, sạch cỏ dại… đúng yêu cầu kỹ thuật đề ra.+ Mật độ trồng: 1m x 1m tương đương 10.000 cây/ha
- Phân bón:
+ Lượng phân bón cho 1ha:
+ Kỹ thuật bón phân:
với làm cỏ lần 1 và vun gốc
với làm cỏ và vun cao gốc
Trang 303.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
* Theo dõi khả năng sinh trưởng của giống sắn mới:
+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây: Cố định bằng cọc 5 cây ngẫunhiên theo đường chéo góc/ô thí nghiệm, 15 ngày đo chiều cao cây 1 lần, lấy
số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng
+ Tốc độ ra lá: Tiến hành trên 5 cây đã đo chiều cao, 15 ngày đếm số lámới ra 1 lần, dùng phương pháp đánh dấu lá để biết số lá mới ra, lấy số liệutrung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng
+ Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của giống sắn tham gia thí nghiệm.Theo dõi một lần khi thu hoạch, theo dõi 5 cây theo đường chéo góc,
đo đếm lấy số liệu trung bình
- Chiều cao thân chính: Đo từ điểm gốc của cây đã được cố định bằngcọc đến điểm phân cành đầu tiên
- Chiều dài phân cành: Đo chiều dài các cấp cành
- Chiều cao cuối cùng: Chiều dài thân chính + chiều dài phân cành
- Đường kính gốc: Dùng thước kẹp pame đo cách gốc 15cm
- Tổng số lá trên cây: Đếm tổng số lá (sẹo lá)/cây
* Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất, chất lượng của giống sắn HL2004-28
- Theo dõi một lần khi thu hoạch:
+ Chiều dài củ, đường kính củ: Phân thành 3 nhóm (dài, trung bình,ngắn) và mỗi loại chọn 3 củ để đo chiều dài củ, đường kính củ Sau đó lấy giátrị trung bình
+ Số củ/gốc: Tổng số củ/tổng số cây thu hoạch trong mỗi ô thí nghiệm.+ Khối lượng củ/gốc (kg): Cân khối lượng củ thu hoạch trong toàn ô thínghiệm/tổng số cây thu hoạch
+ Năng suất củ tươi (tấn/ha) = Khối lượng trung bình của 1 gốc x mật
Trang 31+ Tỷ lệ chất khô (%): Xác định theo phương pháp khối lượng riêng của
đem cân trong nước bằng cân Reinman rồi áp dụng công thức sau:
A - BTrong đó:
Y: Tỷ lệ chất khô
A: Khối lượng củ tươi cân trong không khí (g)
B: Khối lượng củ tươi cân trong nước (g)
+ Tỷ lệ tinh bột (%): Được xác định bằng cân Reinman của CIAT
NSSVH+ Năng suất củ khô (NSCK):
NSCK = NSCT x TLCK (tấn/ha)
+ Năng suất tinh bột (NSTB):
NSTB = NSCT x TLTB (tấn/ha)
3.4.4 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
- Tính các giá trị trung bình và một số thống kê cơ bản bằng chươngtrình phần mềm trong bảng Excel 2007
- Số liệu được xử lý trên phần mềm thống kê SAS 6.12
Trang 32PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm thời tiết khí hậu Thái Nguyên năm 2013
Cây sắn có thời gian từ trồng đến thu hoạch kéo dài gần một năm nênnhững yếu tố thời tiết khí hậu của các tháng trong năm có quan hệ chặt chẽđến năng suất và chất lượng sắn Năng suất sắn có thể đạt cao nhất trong điều
m và chất lượng tốt nhất ở nơi mưa nhiều, lượng mưa phân bố đồng đều trongnăm Ánh sáng cũng là một trong các yếu tố rất quan trọng vì sắn là cây trồng
có khả năng tích lũy đường, bột mạnh hơn nhiều so với cây trồng khác do vậysắn rất cần ánh sáng
Đặc điểm khí hậu thời tiết của Thái Nguyên năm 2013 được thể hiệnqua bảng sau:
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu tỉnh Thái Nguyên năm 2013
Yếu tố
Tháng
Nhiệt độ trung bình ( 0 C)
Ẩm độ không khí trung bình (%)
Tổng lượng mưa (mm)
Tổng số giờ nắng (giờ)
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên năm 2014)
Qua bảng số liệu 4.1 ta thấy tình hình khí hậu trong năm biến đổi tươngđối thuận lợi cho sự sinh trưởng phát triển của sắn: