1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp

56 308 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Tác giả Hoàng Thị Mai
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Khí tượng và Khí hậu học
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3DVAR Đồng hóa biến phân 3 chiều 4DVAR Đồng hóa biến phân 4 chiều ACCN Áp cao cận nhiệt AMV Atmospheric Motion Vecto ARW Advanced Research WRF BMJ Sơ đồ

Trang 1

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 3

2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 3

BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

Mở đầu 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỒNG HÓA 8

1.1 Tổng quan về các phương pháp đồng hóa số liệu 8

1.2 Nghiên cứu phương pháp đồng hóa số liệu trên Thế giới 12

1.3 Nghiên cứu phương pháp đồng hóa số liệu ở Việt Nam 13

Chương 2 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ LỌC KALMAN TỔ HỢP 16

2.1 Cơ sở lý thuyết của lọc Kalman 16

2.2 Lọc Kalman tổ hợp 21

Chương 3 THIẾT KẾ MÔ HÌNH VÀ THÍ NGHIỆM 27

3.1 Tổng quan về bão Megi (2010) 27

3.2 Thiết kế mô hình và số liệu 29

3.2.1 Mô hình dự báo thời tiết WRF-LETKF 29

3.2.1 Miền tính và cấu hình mô hình 35

3.2.2 Nguồn số liệu 35

3.3 Thiết kế thí nghiệm 36

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ KẾT LUẬN 38

4.1 Thí nghiệm dự báo tất định 38

4.2 Thí nghiệm tổ hợp 39

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 4

3

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Minh họa hai bước chính của bộ lọc Kalman 20

Hình 3.1 Cường độ bão Megi (2010) 27

Hình 3.2 Hình ảnh mắt bão Megi đang tiến sát đảo Luzon (bên trái),Mặt cắt siêu bão Megi ngoài khơi đảo Luzon, Philippines (bên phải) 28

Hình 3.3 Sự di chuyển của bão Megi (2010) 29

Hình 3.4 Sơ đồ hệ thống của mô hình WRF 30

Hình 3.5 Sơ đồ hệ thống dự báo tổ hợp WRF-LETKF 31

Hình 4.1 Các quĩ đạo của Megi (6h một) từ số liệu phân tích (đường màu đen) và dự báo 3 ngày tại thời điểm 0000 UTC ngày 17 (đường màu xanh nhạt), 0000 UTC ngày 18 (đường màu đỏ), 1200 UTC ngày 18 (đường màu tía), và 0000 UTC ngày 19/10/2010 (đường màu xanh sẫm) 38 Hình 4.2 Tốc độ gió cực đại bề mặt quan trắc được (đường nét đứt) và tốc độ gió cực đại dự báo (đường nét liền) tại các thời điểm (a) 00Z17,(b) 00Z18, (c) 12Z18,(d) 00Z19 39

Hình 4.3 Gia số phân tích sử dụng đồng hóa số liệu gió vệ tinh (cán gió màu xanh), gia số quan trắc gió (cán gió màu đen) tại thời điểm 1200 UTC ngày 18 cho các mực 750hPa, 300 hPa, 250 hPa, 200 hPa khảo sát với độ dày là 30 hPa 40

Hình 4.4 (bên trái) Dự báo 00Z ngày 18/10/2010, Hình 4.5 (bên phải) Dự báo 12Z ngày 18/10/2010 (a) Dự báo quĩ đạo bão trung bình (đường liền gạch chéo) , dự báo CTL (đường liền chấm tròn), quĩ đạo bão thực (nét đứt gạch chéo), quĩ đạo của các member (đưởng mảnh) 41 Hình 4.6 (bên trái) Dự báo 00Z ngày 18/10/2010, Hình 4.7 (bên phải) Dự báo 12Z ngày 18/10/2010 (a) Tốc độ gió cực đại 10m của tổ hợp các member

Trang 5

4

(đường mảnh), tốc độ gió cực đại trung bình của các member (đường liền

đậm) và quan trắc gió cực đại (đường nét đứt); (b) Cũng giống như hình (a) nhưng đối với áp suất cực tiểu bề mặt 43 Hình 4.8 Sơ đồ độ cao theo thời gian của dòng dẫn trung bình trong miền

(10o-25oN, 110o-125oE) (a) thí nghiệm CTL, (b) thí nghiệm đồng hóa với số liệu CIMSS Đường nét đứt biểu thị khoảng thời gian dự báo control bắt đầu

Hình 4.9 Độ cao địa thế vị tại mực 500 hPa hình bên trái thí nghiệm CTL,

hình bên phải thí nghiệm đồng hóa tại các thời điểm (a) 1200 UTC ngày 19; (b) 1800 UTC ngày 19 và (c) 0000 UTC ngày 20 45 Hình 4.10 Mô phỏng độ lớn trung bình của độ đứt thẳng đứng giữa mực 200

và 850 hPa trong thí nghiệm CTL (đường liền), trong TN1 (đường nét đứt) 47 Hình 4.11 Đồng hóa số liệu vệ tinh mực thấp 800-300 hPa (bên trái), 47 mực cao 300 -80 hPa (bên phải) 47 Hình 4.12 Dự báo quĩ đạo Megi với đồng hóa gió AMV mực thấp (hình trái)

và mực cao (hình phải) 48 Hình 4.13 Tương tự như Hình 4.9 thí nghiệm mực thấp (hình trái) và thí nghiệm mực cao (hình phải) 50 Hình 4.14 Đồng hóa gió AMV mực thấp (hình trái) và mực cao (hình phải) 51

Trang 6

5

BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

3DVAR Đồng hóa biến phân 3 chiều

4DVAR Đồng hóa biến phân 4 chiều

ACCN Áp cao cận nhiệt

AMV Atmospheric Motion Vecto

ARW Advanced Research WRF

BMJ Sơ đồ tham số hóa đối lưu mây tích

Betts-Miler-Janjic CTL Control GFS Global Forecast System GRADS Grid Analysis and Display System

JTWC the Joint Typhoon Warning Center

KFS Kain Fritsch scheme LETKF Local Ensemble Transform Kalman Filter

LSM Land-Surface Model

NMM Nonhydrostatic Meso Model

NCAR/NCEP Trung tâm dự báo môi trường quốc gia Hoa Kỳ

PBL Lớp biên hành tinh SEnKF Series Ensemble Kalman Filter

TN1 Thí nghiệm 1 UTC Giờ quốc tế

vmax Tốc độ gió cực đại

WRF Mô hình dự báo thời tiết

WRF-LETKF Mô hình dự báo thời tiết kết hợp với phương pháp

lọc Kalman tổ hợp WRF-VAR Mô hình dự báo thời tiết kết hợp phương pháp biến

phân

Trang 7

6

Mở đầu

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng quỹ đạo bão chủ yếu được xác định bởi dòng dẫn môi trường (Carr và Elsberry 1995 [8]; Berger và cộng sự (2007) [6]), rất nhiều các công trình dự báo bão bằng mô hình số đã cho thấy quỹ đạo bão có thể được dự báo khá tốt mà không cần phải tính đến các chi tiết động lực bên trong (Aberson và DeMaria 1994) Mặc dù dòng môi trường

có tác động đến dự báo quỹ đạo bão, dự báo chính xác đường đi của bão hiện vẫn là vấn đề thách thức do các tương tác đa quy mô của bão với môi trường xung quanh Có rất nhiều yếu tố chi phối sự di chuyển của bão bao gồm dòng dẫn môi trường, hiệu ứng Beta, độ đứt gió thẳng đứng, hay hiệu ứng địa hình (Pike và Neumann 1987 [11]; Carr et al 2001 [8]; Payne et al 2007 [12]) Những yếu tố này thể hiện đặc biệt rõ ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương với sai số quỹ đạo bão ở khu vực này sau 3 ngày có thể lên đến 500 km trong một số trường hợp

Do các yếu tố bất định trong mô hình dự báo bão, các dự báo quỹ đạo hay cường độ bão bằng một vài mô hình đơn lẻ nhìn chung không nắm bắt được đầy đủ các biến đổi của bão như các dự báo tổ hợp Chính vì vậy, dự báo bão bằng các phương pháp tổ hợp đang được xem là một trong những hướng đi phát triển nhanh nhất, đặc biệt theo hướng sử dụng bộ lọc Kalman tổ hợp (EnKF) Theo cách tiếp cận này, không những trường điều kiện ban đầu được cải thiện sau khi đã được đồng hóa các dạng số liệu quan trắc khác nhau mà ngay cả sai số nội tại của mô hình cũng có thể được tính đến trong các bài toán dự báo, do đó có khả năng nâng cao chất lượng dự báo bão một cách đáng kể Hiện nay, việc đánh giá và sử dụng số liệu vệ tinh để tăng cường chất lượng dự báo quỹ đạo và cường độ bão đang được quan tâm đặc biệt do

số liệu vệ tinh có độ phủ lớn và độ chính xác cao Với mạng lưới quan trắc

Trang 8

độ bão cho một trường hợp bão Megi năm 2010 với đề tài “Đánh giá ảnh

hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quỹ đạo và cường độ bão Megi (2010) bằng phương pháp đồng hóa lọc Kalman tổ hợp” nội dung gồm 4 chương

như sau:

Chương 1 Tổng quan về phương pháp đồng hóa

Chương 2 Cơ sở lý thuyết về lọc Kalman tổ hợp

Chương 3 Thiết kế thí nghiệm và miền tính

Chương 4 Kết quả và kết luận

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn

TS Kiều Quốc Chánh và các thầy cô giáo trong Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh, chị phòng Thí nghiệm Dự báo Thời tiết và khí hậu đã giúp đỡ và tạo điều kiện trong thời gian tôi làm việc và học tập tại đây

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hoàng Thị Mai

Trang 9

8

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỒNG HÓA 1.1 Tổng quan về các phương pháp đồng hóa số liệu

Hiện nay hướng phát triển chính của mô hình dự báo thời tiết số là cải tiến cấu hình và xây dựng mô hình như một đối tượng cơ bản của khoa học phi tuyến Bên cạnh sự tiến bộ trong việc cải tiến phương pháp và các tham số hóa vật lí, sự tiến bộ của công nghệ máy tính đã giúp tăng đáng kể độ phân giải của các mô hình ở cả quy mô toàn cầu và quy mô vừa Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề dự báo chỉ ra rằng, những nỗ lực này của con người cuối cùng sẽ tới một giới hạn không thể vượt qua được do sự phụ thuộc rất lớn của kết quả dự báo vào điều kiện ban đầu Nói cách khác, sự nguy hiểm xuất hiện ở đây đó là kết quả dự báo từ những mô hình có độ phân giải thô, mặc dù được tính toán chính xác hơn nhưng lại không mô tả đúng thực tế Vì vậy cần những phương pháp tốt hơn để giải quyết vấn đề không chỉ đơn thuần

là cải tiến sức mạnh của các mô hình số Những năm gần đây, phương pháp đồng hóa số liệu đang được các Trung tâm khí tượng lớn trên thế giới như NCAR/NCEP và NOOA phát triển và ứng dụng, đặc biệt là phương pháp lọc Kalman tổ hợp Với phương pháp này, tổ hợp kết quả của nhiều thành phần tham gia dự báo sẽ cải thiện được chất lượng dự báo dựa trên số liệu đầu vào

được cập nhật liên tục theo thời gian Thực nghiệm cho thấy rằng phương

pháp này đạt kết quả cao hơn rất nhiều so với phương pháp dự báo thông thường

Sự thay thế của dự báo đơn lẻ bằng dự báo tổ hợp dựa trên sự thừa nhận rằng khí quyển có bản chất hỗn loạn Lorenz (1963) chỉ ra rằng, chỉ một nhiễu động rất nhỏ (ví dụ nhiễu động được sinh ra bởi sự vỗ cánh của con bướm) khi được đưa vào khí quyển tại một thời điểm sẽ dẫn đến sự thay đổi

Trang 10

9

rất lớn của khí quyển theo thời gian, sự thay đổi này lớn đến mức chỉ sau khoảng hai hoặc ba tuần, các chuyển động trong khí quyển được gây nhiễu và khí quyển không được gây nhiễu khác nhau hoàn toàn Nghiên cứu của Lorenz dẫn đến sự phát sinh của một hệ thống lí thuyết động lực mới, ở đó, sự

mô phỏng của các hệ thống tất định như khí quyển (bao gồm các mô hình số) cũng mang tính tất định: những nhiễu động ngẫu nhiên trong trường ban đầu

dù rất nhỏ sẽ dẫn đến sự sai khác rất lớn theo thời gian Mặt khác, chúng ta lại không thể nào đo được chính xác trạng thái thực của khí quyển Các giá trị của trường phân tích (được tổng hợp từ số liệu quan trắc và mô hình) luôn chứa những sai số mà ở đó, độ lớn của chúng chỉ có thể được ước lượng một cách gần đúng Những sai số này bao gồm sai số của thiết bị đo, sự không đầy

đủ của các trạm quan trắc và phép lấy gần đúng trong kĩ thuật tính toán của

mô hình Ngay cả với một mô hình khí quyển hoàn hảo, độ chính xác của kết quả dự báo sẽ giảm nhanh chóng chỉ trong vòng vài tuần

Khoa học nghiên cứu về đồng hóa số liệu được bắt đầu từ những năm

50 của thế kỷ trước, phương pháp đồng hóa số liệu đầu tiên được gọi là “phân tích khách quan”, đối lập với “phân tích synop” các phương pháp khách quan

sử dụng phép nội suy đơn giản Trong khí tượng, bài toán đồng hóa số liệu là quá trình mà qua đó tất cả các thông tin có sẵn được sử dụng để ước tính một cách chính xác nhất có thể trạng thái khí quyển tại một thời điểm ban đầu cho trước Vấn đề xác định điều kiện ban đầu cho mô hình dự báo số này là một bài toán quan trọng trong bất kì hệ thống dự báo bằng mô hình số nào, do đặc tính phụ thuộc mạnh vào điều kiện ban đầu của của các mô hình dự báo thời tiết số

Các thông tin có sẵn về cơ bản bao gồm các quan trắc thích hợp, và phù hợp với tính chất vật lý chi phối sự phát triển của khí quyển, chúng có giá trị thực

tế dưới hình thức của một mô hình số Do bản chất phi tuyến của các phương

Trang 11

10

trình mô tả khí quyển nên những sai số nhỏ không thể đo được trong trạng thái ban đầu sẽ phát triển rất nhanh sau một khoảng thời gian (10-14 ngày) và kết quả dự báo sẽ không còn tin cậy cho dù mô hình dự báo là hoàn hảo Bằng cách đồng hoá số liệu, những sai số dự báo do điều kiện ban đầu có thể được giảm nhẹ dẫn đến kết quả dự báo tốt hơn Ước lượng điều kiện ban đầu càng chính xác, thì chất lượng dự báo sẽ càng tốt

Phương pháp đồng hóa số liệu đã trở thành một phương pháp quan trọng trong ngành dự báo, đồng hóa số liệu có thể chia thành nhiều nhóm khác nhau: tuần tự, không tuần tự, liên tục, biến phân v.v Theo quan điểm hiện đại, các phương pháp đồng hóa số liệu có thể được tạm chia thành hai loại:

Một là phương pháp đồng hóa biến phân (ĐHBP), trong đó trạng thái phân tích được tìm bằng cách xác định trạng thái của khí quyển có khả năng xảy ra cao nhất ứng với một tập quan trắc và một trạng thái nền cho trước Bài toán ĐHBP có thể chia thành bài toán 3 chiều (3DVAR) hay 4 chiều (4DVAR) Cách tiếp cận chung của bài toán này là tìm một trường phân tích nào đó có khả năng xảy ra cao nhất bằng cách tối thiểu hóa một hàm giá Phương pháp đồng hóa biến phân này có ưu điểm là hàm giá được cực tiểu hóa trên toàn miền và do đó kết quả trường phân tích sẽ loại bỏ được những tình huống dị thường (hay còn gọi là các tình huống dị thường “mắt trâu”) -

mà trong đó trạng thái phân tích chỉ nhận giá trị xung quanh điểm quan trắc Mặc dù vậy, đồng hóa biến phân có một số nhược điểm lớn không thể bỏ qua Nhược điểm thứ nhất đó là không cho phép tính đến sự biến đổi của ma trận sai số hiệp biến trạng thái nền theo thời gian Đây là một điểm yếu lớn vì trong thực tế sai số nền biến thiên mạnh theo thời gian và hình thế thời tiết Nhược điểm thứ hai là việc hội tụ của phép lặp khi tìm trạng thái phân tích phụ thuộc nhiều vào sự tồn tại của các cực trị địa phương Thêm vào đó, việc nghịch đảo ma trận sai số nền trong thực tế là không thể Do đó, rất nhiều các

Trang 12

số hiệp biến của trạng thái nền trong đồng hóa dãy được tích phân theo thời gian thay vì giữ không đổi như trong cách tiếp cận đồng hóa biến phân Có hai quá trình đòi hỏi khối lượng tính toán rất lớn trong các phương pháp đồng hóa dãy là các tính toán nghịch đảo ma trận và tính toán mô hình tiếp tuyến Các tính toán này là quá lớn ngay cả với một mô hình đơn giản, và hầu như không thể tính toán được trong các bài toán thực tế Để khắc phục nhược điểm này của lọc Kalman, một biến thể khác của lọc Kalman dựa trên dự báo Monte-Carlo có tính toán khả thi hơn đã được phát triển là bộ lọc Kalman tổ hợp (EnKF) Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng có một vài nhược điểm liên quan đến tính địa phương hóa của số liệu quan trắc xung quanh các điểm nút quan trắc và sự phụ thuộc của ma trận sai số vào số lượng thành phần tổ hợp,

ưu điểm nổi trội của lọc Kalman tổ hợp đó là không đòi hỏi phát triển các mô hình tiếp tuyến như trong phương pháp ĐHBP Thêm vào đó, lọc Kalman tổ hợp cho phép tạo ra các trường nhiễu ban đầu biến đổi theo thời gian Vì vậy phương pháp EnKF đang được coi là một cách tiếp cận tiềm năng nhất cho dự báo tổ hợp trong tương lai

Trang 13

12

1.2 Nghiên cứu phương pháp đồng hóa số liệu trên Thế giới

Trên thế giới đã có nhiều tác giả nghiên cứu về bài toán đồng hóa số liệu cho mô hình số và đạt được những kết quả khả quan trong dự báo thời tiết, cũng như trong dự báo các hiện tượng cực đoan như mưa lớn, bão, … Nghiên cứu theo phương pháp đồng hóa biến phân: Tác giả Xavier (2006) [16] đã sử dụng phương pháp đồng hóa biến phân ba chiều để đồng hóa profile nhiệt độ và độ ẩm từ vệ tinh MODIS cùng với số liệu thám không vô tuyến để cải thiện trường ban đầu của mô hình MM5 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng dữ liệu vệ tinh MODIS đã cải thiện đáng kể diễn biến mưa lớn kết hợp với áp thấp nhiệt đới Sau đó cũng có tác giả Routray (2008) [14]

đã đồng hóa các số liệu quan trắc bề mặt, ship, bouy, cao không và vệ tinh địa tĩnh Kapanal-1 để dự báo mưa lớn ở Ấn Độ bằng việc sử dụng hệ thống đồng hóa số liệu 3DVAR kết hợp mô hình WRF Kết quả tính toán cho thấy, việc đồng hóa số liệu đã cải thiện đáng kể chất lượng mô phỏng mưa lớn trong mùa mưa ở Ấn Độ Gần đây nhất có tác giả Rakesh (2009) [15] đã sử dụng sơ

đồ 3DVAR để đồng hóa dữ liệu tốc độ gió và hướng gió gần bề mặt biển từ

vệ tinh QSCAT, tốc độ gió và TPW từ vệ tinh SSM/I cho cả hai mô hình MM5 và WRF để dự báo thời tiết hạn ngắn ở Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy dự báo trường gió từ hai mô hình này được cải thiện đáng kể trong trường hợp đồng hóa dữ liệu gió từ QSCAT và SSM/I, trong khi trường nhiệt

độ và độ ẩm cho hiệu quả kém hơn Trường dự báo mưa tốt nhất trong trường hợp đồng hóa dữ liệu TPW Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sai số dự báo các trường gió, nhiệt độ và độ ẩm ở các mực khác nhau bằng mô hình WRF nhỏ hơn khi dự báo bằng mô hình MM5

Nghiên cứu theo phương pháp đồng hóa dãy được phát triển mạnh mẽ hơn một thập kỉ qua tại Trường Đại học Marry Land, các nghiên cứu này chủ yếu đi theo hướng đồng hóa lọc Kalman tổ hợp và một biến thể của nó, gọi là

Trang 14

13

Lọc Kalman tổ hợp địa phương Năm 2003 Eugenia Kalnay đã phát hành

cuốn sách “Data Assimilation and Predictability” nội dung của cuốn sách

trình bày toàn bộ lý thuyết về phương pháp đồng hóa số liệu và sự phân chia các loại đồng hóa số liệu Trong cuốn sách tác giả cũng trình bày rất rõ cơ sở

lý thuyết của lọc Kalman và một tổ hợp 25-50 các thành phần là đủ để phát huy tác dụng của lọc Kalman Những năm sau đó Kalnay và các cộng sự của mình tiếp tục đi sâu vào việc nghiên cứu phương pháp lọc Kalman tổ hợp và ứng dụng những ưu điểm của phương pháp này vào dự báo nghiệp vụ Gần đây Kalnay và các cộng sự của mình (2008) [10] đã thiết kế phương pháp lọc Kalman tổ hợp địa phương cho mô hình toàn cầu NCEP Trong nghiên cứu này các tác giả thực hiện việc tính toán bằng hệ thống song song tích hợp giữa lọc LETKF với hệ thống dự báo toàn cầu 2004 Các thí nghiệm số được thực hiện tại mô hình độ phân giải T26L28 Tất cả các quan trắc khí quyển được đồng hóa nghiệp vụ bởi NCEP 2004, ngoại trừ bức xạ vệ tinh được đồng hóa bởi LETKF Tính chính xác của các phân tích trong LETKF được đánh giá với nội suy thống kê phổ (SSI) (là sơ đồ đồng hóa số liệu toàn cầu của NCEP năm 2004) Các bộ quan trắc được lựa chọn trong phân tích LETKF chính xác hơn trong SSI vùng ngoại nhiệt đới Nam bán cầu và tương đối chính xác trong ngoại nhiệt đới và nhiệt đới ở Bắc Bán cầu

1.3 Nghiên cứu phương pháp đồng hóa số liệu ở Việt Nam

Trong những năm gần đây bài toán đồng hóa số liệu ở nước ta đang được nghiên cứu nhằm cải thiện trường ban đầu tốt hơn Một số tác giả nghiên cứu theo hướng đồng hóa biến phân: Kiều Thị Xin và Lê Đức (2003) [4] đã nghiên cứu áp dụng mô hình đồng hóa số liệu 3DVAR cho mô hình HRM Bằng cách sử dụng các số liệu tại các trạm cao không và SYNOP, kết quả cho thấy lượng mưa dự báo gần với thực tế hơn so với trường hợp không

sử dụng đồng hóa số liệu Tác giả Kiều Thị Xin (2005) [5] cũng đã sử dụng

Trang 15

14

phương pháp biến phân hai chiều để phân tích độ ẩm đất từ nhiệt độ quan trắc

2 mét cho mô hình HRM Kết quả cho thấy tác động nhỏ của độ ẩm đất đến

dự báo các trường khí tượng trên cao trên khu vực Việt Nam Tác giả Trần Tân Tiến và Nguyễn Thị Thanh (2011) [3] đã nghiên cứu đồng hóa dữ liệu vệ tinh MODIS trong mô hình WRF để dự báo mưa lớn ở khu vực Trung Bộ Kết quả tính toán được thực hiện bằng cách sử dụng số liệu vệ tinh MODIS

để đồng hóa trường ban đầu cho mô hình WRF, dự báo mưa lớn cho khu vực Trung Bộ trong hai mùa mưa 2007 - 2008 và thu được kết quả khá khả quan Ngoài ra, còn một số tác giả cũng nghiên cứu theo hướng này: GS Phan Văn Tân và Nguyễn Lê Dũng (2009) [2] đã thử nghiệm và ứng dụng hệ thống WRF-VAR kết hợp với sơ đồ ban đầu hóa xoáy vào dự báo quĩ đạo bão trên Biển Đông Theo nghiên cứu này, thì mô hình WRF kết hợp với hệ thống đồng hóa số liệu ba chiều (gọi là hệ thống WRF-VAR), đã được ứng dụng dự báo thử nghiệm cho một số trường hợp bão hoạt động trên biển Đông có quĩ đạo tương đối phức tạp và có cường độ khác nhau Tác giả sử dụng tập số liệu toàn cầu và số liệu địa hình cho việc chạy mô hình WRF, việc đồng hóa số liệu được thực hiện với nguồn số liệu quan trắc giả được tạo ra nhờ một module ban đầu hóa xoáy Kết quả thu được đã mở ra một khả năng phát triển

hệ thống WRF-VAR thành một phiên bản dự báo bão khi thêm một module tạo xoáy nhân tạo

Trên thế giới cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về bài toán đồng hóa dãy, và đã đạt được nhiều kết quả khả quan trong bài toán dự bão quỹ đạo và cường độ bão Ở Việt Nam, nghiên cứu theo phương pháp này vẫn còn là vấn

đề mới mẻ, tác giả Kiều Quốc Chánh (2011) [1] đã tổng quan về hệ thống đồng hóa lọc Kalman tổ hợp và ứng dụng cho mô hình dự báo thời tiết WRF Trong đó, tác giả có đề cập tới cơ sở lý thuyết bộ lọc Kalman, lọc Kalman tổ hợp và thiết kế phương pháp đồng hóa này với mô hình dự báo thời tiết WRF

Trang 16

hướng này: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống đồng hóa tổ hợp cho mô hình thời

tiết và hệ thống tổ hợp cho một số mô hình khí hậu khu vực nhằm dự báo và

dự tính các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan” (Đề tài

ĐT.NCCB-ĐHUD.2011-G/10) do TS Ngô Đức Thành chủ trì Ngoài ra, còn có đề tài cấp

nhà nước do GS Trần Tân Tiến chủ nhiệm “Xây dựng qui trình công nghệ dự

báo quĩ đạo và cường độ bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dường và biển Đông hạn 5 ngày” (KC.08.01/11-15) Các đề tài này có một đặc điểm chung

đó là ứng dụng ưu điểm của lọc Kalman tổ hợp kết hợp với mô hình dự báo thời tiết WRF nhằm cải thiện chất lượng dự báo cường độ và quĩ đạo bão trên khu vực Tây bắc Thái Bình Dương và biển Đông Đối với dự báo quĩ đạo sau

3 ngày sai số dự báo xuống còn dưới 350 km Mở ra một hướng nghiên cứu mới trong việc dự báo quĩ đạo và cường độ bão trong tương lai gần

Trang 17

16

Chương 2

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ LỌC KALMAN TỔ HỢP 2.1 Cơ sở lý thuyết của lọc Kalman

Bộ lọc Kalman cơ bản, bao gồm hai bước chính gọi là bước dự báo và

bước phân tích Trong bước dự báo, một trạng thái ban đầu của khí quyển và

sai số tương ứng của trạng thái này (do trạng thái ban đầu không phải là trạng thái thực) sẽ đồng thời được tích phân theo thời gian Trong bước phân tích, kết quả của bước dự báo tại một thời điểm trong tương lai sẽ được kết hợp với

số liệu quan trắc tại thời điểm đó để tạo ra được một trạng thái ban đầu mới

và sai số của trạng thái ban đầu này cho quá trình dự báo tiếp theo

1

a i

f

i M x

x   (2.1)

trong đó M là mô hình dự báo Do mô hình này là không hoàn hảo, dự báo

bằng mô hình này sẽ có một sai số nào đó kể cả khi điều kiện ban đầu là chính xác Gọi sai số nội tại này của mô hình là , khi đó một cách lý thuyết giá trị sai số này sẽ được xác định như sau:

x là trạng thái thực của khí quyển tại thời điểm i (i + 1) Chúng ta

sẽ giả thiết rằng sai số nội tại này là không lệch và ma trận sai số hiệp biến

của nó được cho bởi một ma trận Q, nghĩa là :





Trang 18

17

Song song với dự báo trạng thái, chúng ta sẽ dự báo cả sai số từ thời điểm thứ

i đến thời điểm thứ i + 1 sử dụng mô hình tiếp tuyến L được định nghĩa dựa

trên dạng biến phân của phương trình (2.1) như sau:

M

x x L x x

i L x ε

ε 1  ( ) (2.5)

Trong thực tế, chúng ta không bao giờ biết được sai số tuyệt đối thực i và

như thế không thể dự báo được sai số cho bước tiếp theo Tuy nhiên, trong đa

số các trường hợp, chúng ta lại có thể biết hoặc xấp xỉ được đặc trưng thống

kê của sai số được đặc trưng bởi ma trận sai số hiệp biến P  <T

> Thêm vào đó, ma trận này cũng sẽ được sử dụng để đồng hóa cho bước tiếp theo

Do đó, chúng ta sẽ viết lại (2.5) cho ma trận sai số hiệp biến thay vì cho sai số tuyệt đối i Lưu ý theo định nghĩa rằng

t i

f i

f

ε   ,

t i

a i

η) ε L η) ε L

x x x x ε

ε P

a i

a i

T t i

f i

t i

f i

T i i

f i

((

))(

ε là không có tương quan với nhau Như vậy, cho trước giá trị sai số mô hình

Q, mô hình M, và mô hình tiếp tuyến L, phương trình (2.2) và (2.6) cấu thành

Trang 19

x Do đó chúng ta cần phải đồng hóa tại thời điểm i + 1 để trạng thái dự báo

không bị lệch khỏi trạng thái thực tại các thời điểm này Một cách hình thức,

chúng ta sẽ ước lượng trạng thái khí quyển mới tốt hơn tại thời điểm i + 1 như

f i o

f i

a

i x K yH x

trong đó H là một toán tử quan trắc nội suy từ trường mô hình sang các giá trị

điểm lưới, và K là ma trận trọng số Một cách trực quan, ma trận K càng lớn, ảnh hưởng của quan trắc lên trường phân tích càng nhiều Do đó, ma trận K

rất quan trọng và phải được dẫn ra một cách tối ưu nhất có thể Để thuận tiện

cho việc suy dẫn K, chúng ta định nghĩa một vài biến sai số sau:

t i

a i

a

i x x

ε   ,

t i

f i

f

ε   ,

)( t i

o o

i y H x

Trang 20

)(

)1

t 1 i

a 1 i

t 1 i

a 1 i

a 1 i

a 1 i

x - x )(

x - x

(ε ε P

i (ε ε

R , và giả thiết trạng thái nền không có tương quan với trạng thái phân tích, chúng ta sẽ thu được từ (2.10) phương trình sau:

T T

f i

trace P

trong đó trace() ký hiệu vết của ma trận Ở đây, đạo hàm theo ma trận sẽ được

hiểu là đạo hàm từng thành phần của ma trận Lý do cho việc cực tiểu hóa vết của ma trận thay vì trực tiếp ma trận là do tổng các thành phần trên đường chéo của ma trận a

i T

f

i H R HP H P

Trang 21

20

Với giá trị ma trận trọng số K cho bởi (2.13) ở trên, giá trị cực tiểu của ma

trận sai số hiệp biến phân tích khi đó sẽ thu được bằng cách thay (2.13) vào (2.11) Biến đổi tường minh chúng ta sẽ thu được:

)

1

f i a

i  IKH P

Như vậy, ở bước phân tích này chúng ta đã thu được một ước lượng ban đầu mới tốt hơn từ một trạng thái dự báo (hay dự báo nền) và quan trắc cho trước Sau khi thu được trạng thái mới a

i 1

x và ma trận sai số mới a

i 1

P , quá trình dự báo lại được lặp lại cho bước đồng hóa kế tiếp theo Một cách tóm tắt, lọc Kalman được cho bởi minh họa trong hình 2.1

Hình 2.1 Minh họa hai bước chính của bộ lọc Kalman

Mặc dù có ưu điểm vượt trội so với các phương pháp đồng hóa biến phân khác, lọc Kalman cho bởi hệ các phương trình (2.1), (2.6), (2.7), (2.13), (2.14) lại rất khó áp dụng trực tiếp trong các mô hình thời tiết có tính phi tuyến cao và bậc tự do rất lớn Ba khó khăn chính của bộ lọc Kalman ở trên là

1) xây dựng mô hình tiếp tuyến L; 2) lưu trữ và thao tác các ma các trận sai số với số chiều có kích thước quá lớn; và 3) sai số nội tại của mô hình Q không

được biết đầy đủ Khó khăn thứ nhất có thể được giải quyết bằng cách sử dụng một biến thể của bộ lọc Kalman, gọi là Kalman tổ hợp mở rộng (EnKF) được đề xuất ban đầu bởi Evensen năm 1994 Khó khăn thứ hai được khắc

Trang 22

21

phục bằng cách địa phương hóa các số liệu quan trắc xung quanh từng điểm nút lưới (localization) hoặc đồng hóa lần lượt từng giá trị quan trắc theo chuỗi (serial) Về sai số nội tại của mô hình, đây là một hướng phát triển còn mở của bộ lọc Kalman trong thời gian gần đây và có rất nhiều phương pháp xử lý như: kỹ thuật tăng cấp cộng tính, kỹ thuật tăng cấp nhân, kỹ thuật hiệu chỉnh

độ lệch hệ thống, kỹ thuật cộng nhiễu ngẫu nhiên

Như đã đề cập ở trên, quá trình đồng hóa phải bao gồm hai bước chính là phân tích khách quan và ban đầu hóa Trong bước phân tích của bộ lọc Kalman quá trình ban đầu hóa không được trình bày một cách cụ thể Tuy nhiên, các phân tích chi tiết cho thấy trong thực tế, bộ lọc Kalman đã tính đến quá trình ban đầu hóa một cách nội tại trong bước dự báo Điều này là do trong bước dự báo này, ma trận sai số hiệp biến nền sẽ được tích phân theo thời gian Do đó, các tương quan chéo giữa các biến động lực sẽ được hiệu chỉnh theo thời gian Ở một giới hạn đủ dài, ma trận sai số hiệp biến nền thu được từ bộ lọc này sẽ có khả năng phản ánh được các tương quan chéo giữa các biến động lực và như vậy thông tin quan trắc thu được của bất kỳ một biến nào cũng sẽ được cập nhất cho tất cả các biến mô hình khác Đây chính

là ưu điểm của bộ lọc Kalman, đặc biệt trong vùng vĩ độ thấp tại đó không tồn tại một ràng buộc lý thuyết tường minh cho các mối quan hệ động lực giữa các biến giống như trong vùng ngoại nhiệt đới

2.2 Lọc Kalman tổ hợp

Do khả năng phát triển mô hình tiếp tuyến và tích phân ma trận sai số hiệp biến theo thời gian với mô hình tiếp tuyến là không thực tế trong các mô hình dự báo thời tiết, lọc Kalman phải được cải tiến để có thể áp dụng được cho các bài toán nghiệp vụ Một cách tiếp cận phổ biến nhất dựa trên tích phân ngẫu nhiên Monte-Carlo theo đó một tập các đầu vào được tạo ra xung quanh một giá trị trường phân tích cho trước Lưu ý rằng tập đầu vào này

Trang 23

22

không phải được lấy bất kỳ mà được tạo ra dựa theo phân bố xác suất cũng như giá trị sai số của trường phân tích a

P tại từng thời điểm Ví dụ nếu phân

bố của trường phân tích có dạng phân bố chuẩn Gauss, khi đó tập đầu vào của trường phân tích sẽ phải tuân theo phân bố:

) ( ) ( ) ( 2 1 2 / 1 2 /

1

|

|)2(

1)

(

a a a T a

x là giá trị trường phân tích trung bình tổ hợp thu được từ bước

phân tích của lọc Kalman Với một tập K các đầu vào { a

k

x }k=1 K sinh ra từ phân bố (2.15), chúng ta có thể thu được ma trận sai số hiệp biến dự báo cho bước thời gian tiếp theo như sau:

T f f k K

k

f f k f

1 1

x x x x

Trong phần này một biến thể cụ thể của lọc EnKF, gọi là lọc EnKF tổ hợp biến đổi địa phương hóa (LETKF) sẽ được trình bày và thử nghiệm Một cách

Trang 24

23

cơ bản, lọc LETKF là một phương pháp theo đó tại mỗi điểm nút lưới, chúng

ta sẽ chọn một lân cận mô hình với kích thước cho trước (ví dụ một không gian 3 chiều có kích thước 11  11  3 với tâm là điểm nút chúng ta đang quan tâm) Với không gian con này, chúng ta sẽ chọn ra tất cả các quan trắc cho được bên trong không gian này và tạo ra một vectơr quan sát lân cận riêng biêt Sau đó, sử dụng ma trận nhiễu tổ hợp nền để biến đổi từ không gian căng bởi số điểm nút lưới địa phương sang không gian con căng bởi số thành phần tổ hợp Điều này sẽ làm giảm đáng kể khối lượng tính toán ma trận vì không gian tổ hợp thường nhỏ hơn không gian địa phương rất nhiều

Do đó, các phép toán ma trận sẽ có độ chính xác cao hơn Để minh họa thuật toán một cách rõ ràng, nhắc lại rằng ma trận nhiễu tổ hợp nền f

Khi đó, hàm giá trong không gian tổ hợp địa phương sẽ chuyển thành

] [

} ] ) ( [ ) ( { ) 1 ( )

, (2.19)

trong đó J[xbXbw] là hàm giá trong không gian mô hình Hàm giá sẽ được

cực tiểu hóa nếu w là trực giao với không gian con rỗng của toán tử X f Lấy đạo hàm của J(w)

theo w và sử dụng:

Trang 25

24

d x d

Ax Ax

)

a a

H x

y R Y P

), (

f

H H

] )

( ) 1

X K X P Y R

K f fa f T

Với ma trận K thu đƣợc ở trên, giá trị trạng thái phân tích trung bình tổ hợp

tại điểm nút chúng ta đang quan tâm sẽ đƣợc cho bởi:

]

f a

x H y K x

Cũng giống nhƣ trong bộc lọc SEnKF, nhiệm vụ cuối cùng của chúng ta là xây dựng bộ tổ hợp các trạng thái phân tích Để làm điều đó, chúng ta chú ý rằng:

T f f f

1

X X P

Sử dụng mối quan hệ sau

)

a

P KH I

P  

Trang 26

25

và kết hợp với (2.23), chúng ta thu được:

T f f T

f a

a f

T f f T

f a f

T f f T

f a f a

T a a

K K

K K

) )(

) ( ) ˆ ((

ˆ 1 1

) )(

) ( ˆ ( 1 1

) ( 1

1 ) ) ( ˆ (

) ( 1

1

1 1

1 1

X Y R Y P

P X

X Y R Y P I X

X X R

Y P X I P X

a a

( )

và do đó,

2 / 1

] ˆ ) 1 [( a

f a

X

Quá trình đồng hóa theo bộ lọc LETKF như vậy có thể được tóm tắt như sau:

- Bước 1: tại mỗi điểm nút lưới, chọn một vùng thể tích lân cận

bao xung quanh điểm nút đó để xây dựng ma trận nhiễu nền địa phương Xf  [(x1fxf), , (xK fxf)];

trong thể tích lân cận này và xây dựng ma trận quan trắc nhiễu nền

)]

( ), , (

HX

Y.) Đồng thời xây dựng ma trận sai số quan trắc R ứng với các

quan trắc bên trong thể tích;

Trang 27

x và gán điểm này cho điểm nút lưới chọn ở bước 1

nút lưới

Có thể nhận thấy dễ dàng trong các bước tính toán ở phía trên rằng các điểm nút lưới khác nhau được thực thi một cách hoàn toàn độc lập với nhau Đây là một ưu điểm của lọc LETKF vì chúng ta có thể song song hóa bộ lọc này một cách rất hiệu quả bằng cách chia các phần công việc độc lập cho các lõi tính toán khác nhau Điều này cho phép tăng tính hiệu quả tính toán lên rất nhiều và giúp lọc LETKF có được ưu điểm mà lọc SEnKF không có được

Trang 28

27

Chương 3 THIẾT KẾ MÔ HÌNH VÀ THÍ NGHIỆM 3.1 Tổng quan về bão Megi (2010)

Bão Megi là siêu bão đầu tiên của năm 2010 ở vùng biển Thái Bình Dương, nó là cơn bão mạnh với áp suất cực tiểu đạt ~ 885 hPa và tốc độ gió

bề mặt đo 10 phút là 63 m/s (hình 3.1) Megi được hình thành trong điều kiện thời tiết có độ bất ổn định mạnh lúc 0000UTC ngày 12/10/2010, khoảng 600

km về phía đông của quần đảo Philipin Hệ thống bất ổn định này phát triển nhanh chóng và trở thành một áp thấp nhiệt đới lúc 0900 UTC ngày 13 theo Trung tâm cảnh báo bão Hoa Kỳ (JTWC) Do ảnh hưởng mạnh của áp cao cận nhiệt Tây Thái Bình Dương nên hệ thống di chuyển chậm về phía Tây Tây Bắc Philipin, sau đó tăng cường thành bão nhiệt đới lúc 1200 UTC ngày 13/10/2010 Vào cuối ngày 13 và 24 giờ tiếp theo, Megi trở thành bão nhiệt đới với đĩa mây dày đặc tại trung tâm, trên ảnh vệ tinh mắt bão xuất hiện rõ lúc 0000UTC ngày 16/10/2010, kết quả Megi chính thức trở thành siêu bão

Hình 3.1 Cường độ bão Megi (2010) Sau khi phát triển thành siêu bão, Megi di chuyển theo hướng Tây Tây bắc dọc theo rìa phía nam của của áp cao cận nhiệt Tây Thái Bình Dương, và

Ngày đăng: 18/08/2014, 07:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kiều Quốc Chánh, 2011, “Xây dựng hệ thống đồng hóa lọc Kalman tổ hợp địa phương cho mô hình dự báo thời tiết WRF”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Tập 27, số 1S, tr. 17-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống đồng hóa lọc Kalman tổ hợp địa phương cho mô hình dự báo thời tiết WRF”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
2. Nguyễn Lê Dũng, Phan Văn Tân, (2009), “Thử nghiệm ứng dụng hệ thống WRF-VAR kết hợp ban đầu hóa xoáy dự báo quỹ đạo bão trên khu vực biển Đông”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị dự báo viên toàn quốc lần thứ III, Tr 36-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm ứng dụng hệ thống WRF-VAR kết hợp ban đầu hóa xoáy dự báo quỹ đạo bão trên khu vực biển Đông”", Tuyển tập báo cáo Hội nghị dự báo viên toàn quốc lần thứ III
Tác giả: Nguyễn Lê Dũng, Phan Văn Tân
Năm: 2009
3. Trần Tân Tiến, Nguyễn Thị Thanh (2011), “Đồng hóa dữ liệu vệ tinh modis trong mô hình WRF để dự báo mƣa lớn ở khu vực Trung Bộ”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 27, Số 3S (2011) 90-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng hóa dữ liệu vệ tinh modis trong mô hình WRF để dự báo mƣa lớn ở khu vực Trung Bộ
Tác giả: Trần Tân Tiến, Nguyễn Thị Thanh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2011
4. Kiều Thị Xin, Lê Đức (2003). “Nâng cao chất lƣợng dự báo mƣa bằng mô hình khu vực phân giải cao HRM nhờ tăng độ phân giải và điều chỉnh trường ban đầu bằng phương pháp đồng hoá số liệu ba chiều”. Tuyển tập hội nghị khoa học, Viện Khoa học khí tượng thuỷ văn và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lƣợng dự báo mƣa bằng mô hình khu vực phân giải cao HRM nhờ tăng độ phân giải và điều chỉnh trường ban đầu bằng phương pháp đồng hoá số liệu ba chiều”
Tác giả: Kiều Thị Xin, Lê Đức
Năm: 2003
5. Kiều Thị Xin, 2005. “Nghiên cứu dự báo mƣa lớn diện rộng bằng công nghệ hiện đại phục vụ phòng chống lũ lụt ở Việt Nam”. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ độc lập cấp nhà nước, tr.121- 151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dự báo mƣa lớn diện rộng bằng công nghệ hiện đại phục vụ phòng chống lũ lụt ở Việt Nam”. "Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ độc lập cấp nhà nước
6. Berger, H. C. Velden, S. Wanzong, and J. Daniels, cited 2007: “Evaluation of a new quality indicator to estimate satellite-derived Atmospheric Motion Vector error”. J. Appl. Meteor. Climatol., 50, 2309–2318 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of a new quality indicator to estimate satellite-derived Atmospheric Motion Vector error”. "J. Appl. Meteor. Climatol
7. Brown, D. P., J. L. Beven, J. L. Franklin, and E. S. Blake, 2010: “Atlantic hurricane season of 2008”. Mon. Wea. Rev., 138, 1975–2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlantic hurricane season of 2008”. "Mon. Wea. Rev
8. Carr, L. E., and R. L. Elsberry, 1995: “Monsoonal interactions leading to sudden tropical cyclone track changes ”. Mon. Wea. Rev., 123, 265–290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monsoonal interactions leading to sudden tropical cyclone track changes ”. "Mon. Wea. Rev
9. Davis, C., and L.F. Bosart, 2002 : “Numerical simulations of the genesis of Hurricane Diana (1984)”. Part II: Sensitivity of track and intensity prediction. Mon. Wea. Rev., 130, 1100–1124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Numerical simulations of the genesis of Hurricane Diana (1984)”. Part II: Sensitivity of track and intensity prediction. "Mon. Wea. Rev
10. Kalnay et.al (2008): “A local semble transform Kalman filter data assimilation system for the NCEP global model”. Tellus A, Volume 60, Issue 1, pages 113-130, January 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A local semble transform Kalman filter data assimilation system for the NCEP global model”." Tellus A
Tác giả: Kalnay et.al
Năm: 2008
11. Pike, A. C., and C. J. Neumann, 1987: “The variation of track forecast difficulty among tropical cyclone basins”. Wea. Forecasting, 2, 237–241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The variation of track forecast difficulty among tropical cyclone basins"”. Wea. Forecasting
12. Payne, K. A., R. L. Elsberry, and M. A. Boothe, 2007: “Assessment of western North Pacific 96- and 120-h track guidance and present forecast ability”. Wea. Forecasting, 22, 1003–1015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of western North Pacific 96- and 120-h track guidance and present forecast ability”. "Wea. Forecasting
13. Velden, C. S., and Coauthors, 2005: “Recent innovations in deriving tropospheric winds from meteorological satellites”. Bull.Amer. Meteor. Soc., 86, 205–223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Recent innovations in deriving tropospheric winds from meteorological satellites”. Bull. "Amer. Meteor. Soc
14. Routray, U.C. Mohanty, D. Niyogi, S.R. Rizvi, K.K.Osuri. “First application of 3DVAR-WRF data assimilation for mesoscale simulation of heavy rainfall events over Indian Monsoon region”.Journal of the Royal Meteorological Society (2008) 1555 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First application of 3DVAR-WRF data assimilation for mesoscale simulation of heavy rainfall events over Indian Monsoon region”. "Journal of the Royal Meteorological Society
15. Rakesh, Singh Randhir, C. Joshi Prakash. “Intercomparison of the performance of MM5/WRF with and without satellite data assimilation in short-range forecast applications over the Indian region”. Journal of Technology and Science, 105 (2009) 133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intercomparison of the performance of MM5/WRF with and without satellite data assimilation in short-range forecast applications over the Indian region”. "Journal of Technology and Science
16. Xavier, Chandrasekar, R. Singh and B. Simon. “The impact of assimilation of MODIS data for the prediction of a tropical low- pressure system over India using a mesoscale model”. International Journal of Remote Sensing 27, No.20 (2006) 4655 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of assimilation of MODIS data for the prediction of a tropical low-pressure system over India using a mesoscale model”". International Journal of Remote Sensing

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Minh họa hai bước chính của bộ lọc Kalman. - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 2.1 Minh họa hai bước chính của bộ lọc Kalman (Trang 21)
Hình 3.2 Hình ảnh mắt bão Megi đang tiến sát đảo Luzon (bên trái),Mặt cắt - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 3.2 Hình ảnh mắt bão Megi đang tiến sát đảo Luzon (bên trái),Mặt cắt (Trang 29)
Hình 3.3 Sự di chuyển của bão Megi (2010) - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 3.3 Sự di chuyển của bão Megi (2010) (Trang 30)
Hình 3.4 Sơ đồ hệ thống của mô hình WRF - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 3.4 Sơ đồ hệ thống của mô hình WRF (Trang 31)
Hình 4.1 Các quĩ đạo của Megi (6h một) từ số liệu phân tích (đường  màu   đen) và dự báo 3 ngày tại thời điểm 0000 UTC ngày 17 (đường màu  xanh   nhạt), 0000 UTC ngày 18 (đường màu đỏ), 1200 UTC ngày 18 (đường - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.1 Các quĩ đạo của Megi (6h một) từ số liệu phân tích (đường màu đen) và dự báo 3 ngày tại thời điểm 0000 UTC ngày 17 (đường màu xanh nhạt), 0000 UTC ngày 18 (đường màu đỏ), 1200 UTC ngày 18 (đường (Trang 39)
Hình 4.2 dự báo cường độ bão Megi tại các thời điểm 00Z17, 00Z18, - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.2 dự báo cường độ bão Megi tại các thời điểm 00Z17, 00Z18, (Trang 40)
Hình 4.3 Gia số phân tích sử dụng đồng hóa số liệu gió vệ tinh (cán gió màu  xanh), gia số quan trắc gió (cán gió màu đen) tại thời điểm 1200 UTC ngày 18  cho các mực 750hPa, 300 hPa, 250 hPa, 200 hPa khảo sát với độ dày là 30 - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.3 Gia số phân tích sử dụng đồng hóa số liệu gió vệ tinh (cán gió màu xanh), gia số quan trắc gió (cán gió màu đen) tại thời điểm 1200 UTC ngày 18 cho các mực 750hPa, 300 hPa, 250 hPa, 200 hPa khảo sát với độ dày là 30 (Trang 41)
Hình 4.4 (bên trái) Dự báo 00Z ngày 18/10/2010, Hình 4.5 (bên phải) - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.4 (bên trái) Dự báo 00Z ngày 18/10/2010, Hình 4.5 (bên phải) (Trang 42)
Hình 4.6 (bên trái) Dự báo 00Z ngày 18/10/2010, Hình 4.7 (bên phải) Dự báo  12Z ngày 18/10/2010  (a) Tốc độ gió cực đại 10m của tổ hợp các member  (đường mảnh), tốc độ gió cực đại trung bình của các member (đường liền  đậm) và quan trắc gió cực đại (đường - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.6 (bên trái) Dự báo 00Z ngày 18/10/2010, Hình 4.7 (bên phải) Dự báo 12Z ngày 18/10/2010 (a) Tốc độ gió cực đại 10m của tổ hợp các member (đường mảnh), tốc độ gió cực đại trung bình của các member (đường liền đậm) và quan trắc gió cực đại (đường (Trang 44)
Hình 4.8 Sơ đồ độ cao theo thời gian của dòng dẫn trung bình trong  miền  (10 o -25 o N, 110 o -125 o E) (a) thí nghiệm CTL, (b) thí nghiệm đồng hóa  với số liệu CIMSS - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.8 Sơ đồ độ cao theo thời gian của dòng dẫn trung bình trong miền (10 o -25 o N, 110 o -125 o E) (a) thí nghiệm CTL, (b) thí nghiệm đồng hóa với số liệu CIMSS (Trang 45)
Hình 4.9 Độ cao địa thế vị tại mực 500 hPa hình bên trái thí nghiệm  CTL, hình bên phải thí nghiệm đồng hóa tại các thời điểm (a) 1200 UTC ngày - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.9 Độ cao địa thế vị tại mực 500 hPa hình bên trái thí nghiệm CTL, hình bên phải thí nghiệm đồng hóa tại các thời điểm (a) 1200 UTC ngày (Trang 46)
Hình 4.10 Mô phỏng độ lớn trung bình của độ đứt thẳng đứng giữa mực 200 - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.10 Mô phỏng độ lớn trung bình của độ đứt thẳng đứng giữa mực 200 (Trang 48)
Hình 4.11 Đồng hóa số liệu vệ tinh mực thấp 800-300 hPa (bên trái), mực cao - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.11 Đồng hóa số liệu vệ tinh mực thấp 800-300 hPa (bên trái), mực cao (Trang 48)
Hình  4.12  dự  báo  quĩ  đạo  tổ  hợp  trong  hai  thí  nghiệm  mực  thấp  và  mực. Mặc dù, có ít điểm quan trắc nhƣng gió AMV mực thấp có thể giúp cải  thiện  đƣợc  quĩ  đạo  Megi  tốt  nhƣ  là  sự  phân  bố  dày  đặc  của  gió  AMV  mực  cao, sai số qu - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
nh 4.12 dự báo quĩ đạo tổ hợp trong hai thí nghiệm mực thấp và mực. Mặc dù, có ít điểm quan trắc nhƣng gió AMV mực thấp có thể giúp cải thiện đƣợc quĩ đạo Megi tốt nhƣ là sự phân bố dày đặc của gió AMV mực cao, sai số qu (Trang 49)
Hình 4.13. Tương tự như Hình 4.9 thí nghiệm mực thấp (hình trái) - Đánh giá ảnh hưởng của số liệu vệ tinh đến dự báo quĩ đạo và cường độ bão MEGI (2010) bằng phương pháp lọc kalman tổ hợp
Hình 4.13. Tương tự như Hình 4.9 thí nghiệm mực thấp (hình trái) (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w