1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra các vụ án hình sự 9đ

56 2,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 81,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên hiện nay còn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động thu thập chứngcứ... Chẳng hạn khi khám... Thứ hai, lời khai theo hướng không nhận tội.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Hiện nay, vấn đề tội phạm đang ngày một gia tăng và có những diễn biến hếtsức phức tạp Càng ngày chúng càng có nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm nhằm cheđậy tội ác mà chúng đã gây ra Vì vậy, đấu tranh phòng chống tội phạm đã được Đảngvà Nhà nước xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Để đáp ứng được yêu cầu trên,hoạt động thu thập chứng cứ đã được quy định khá rõ ràng và đầy đủ trong Bộ luật tốtụng hình sự năm 1998 và được sửa đổi, bổ sung năm 2003 Trong công tác điều tra,phát hiện tội phạm, Cơ quan điều tra muốn làm rõ và kết luận đúng đắn về một hành

vi phạm tội đã được thực hiện, ai là người thực hiện hành vi phạm tội đó, tính chất,mức độ của hành vi ra sao,…cũng như việc khẳng định đó không phải là tội phạm thìphải có những tài liệu được thu thập theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng hình sựdùng làm căn cứ để chứng minh Những căn cứ đó phải được thu thập theo đúng quyđịnh, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự thì được coi là chứng cứ Mục đíchchung nhất của việc sử dụng chứng cứ là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề đã được xácđịnh nói chung và để chứng minh sự thật nói riêng

Tuy nhiên hiện nay còn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động thu thập chứngcứ Chẳng hạn còn nhiều vấn đề về nguồn chứng cứ chưa được làm rõ và thống nhất,tồn tại nhiều quan điểm dẫn đến việc áp dụng còn lúng túng, thiếu tính đồng bộ, thốngnhất giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng với nhau Muốn giải quyết đúng đắn vụ án thìphải có những chứng cứ được rút ra từ những nguồn nhất định và hoạt động thu thậpchứng cứ phải tuân theo những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Chứng cứ ra đời gắn liền với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Người

ta coi chứng cứ là phương tiện chứng minh tội phạm và người phạm tội một cách hữuhiệu nhất Tòa án xác định tất cả các tình tiết của vụ án dựa vào chứng cứ Trên cơ sởđó phát hiện tội phạm cũng như người phạm tội một cách nhanh chóng và đề ra cácbiện pháp xử lý phù hợp

Như vậy, dựa vào vai trò quan trọng của chứng cứ, nhóm chúng em xin thựchiện đề tài: Hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra các vụ án hình sự;

Trang 2

nhằm làm rõ và trình bày cụ thể hơn về các hoạt động thu thập chứng cứ trong quá

trình điều tra Bên cạnh đó cũng nêu ra một số hạn chế, thiếu sót trong hoạt động này

Trang 3

• Điều 74 Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 2001 quy định: “Chứng cứ trongvụ án hình sự là bất kỳ những gì mà Toà án, Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Điềutra viên căn cứ vào đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định để xác định có haykhông có những tình tiết phải chứng minh trong quá trình tố tụng đối với vụ án,cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.”

• Ở Pháp không nêu khái niệm chứng cứ thành một quy phạm định nghĩa nhưnglại quy định dẫn chiếu một cách cụ thể các loại chứng cứ và phương thức đểxác định chứng cứ tùy từng giai đoạn của Tố tụng hình sự

Trang 4

• Điều 131 Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dân Rumani trước đâycũng ghi nhận khái niệm chứng cứ nhưng chưa phân biệt rõ chứng cứ và nguồncủa chứng cứ: “ Chứng cứ là những biên bản, tài liệu, lời khai của nhân chúng,biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản nhận dạng, biện pháp suy đoán vôtội và các biện pháp không bị pháp luật cấm.”

Mỗi quốc gia đều có những quy định khác nhau về chứng cứ nhưng tổng hợplại đều là những sự kiện, hiện tượng có thật, tồn tại khách quan trong thực tế, khôngphụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Như vậy, chứng cứ là vấn đề có liênquan chặt chẽ và mật thiết đến các biện pháp cụ thể của hoạt động đấu tranh chống vàphòng ngừa tội phạm Tùy theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau, phụ thuộc vào điềukiện chính trị - xã hội, văn hóa, trình độ phát triển của các lĩnh vực khoa học có liênquan mà người ta có những quan niệm khác nhau về chứng cứ trong tố tụng hình sựvà được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia

Ngoài các quan điểm về chứng cứ của các quốc gia còn nhiều ý kiến khác nhauvề khái niệm chứng cứ của các nhà nghiên cứu Khoa học Luật tố tụng hình sự Nhiềuý kiến cho rằng, thuật ngữ “những gì” trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quyđịnh là không rõ ràng Cụ thể theo nhiều ý kiến, chứng cứ là những sự kiện, hiệntượng…phản ánh khách quan; hay chứng cứ là những thông tin xác thực về những gìcó thật; chứng cứ cũng có thể là những thông tin có thực…Theo nhà nghiên cứu luậthọc Bentham: “Theo nghĩa rộng, chứng cứ là một sự kiện được giả định là có thật, sựkiện đó được coi như là một sự kiện đương nhiên là lý do để tin tưởng việc có haykhông một sự kiện khác.”

Trên đây chỉ là một số quan điểm, ý kiến về chứng cứ của các nhà nghiên cứuvà các quốc gia Ở Việt Nam trước khi Bộ luật tố tụng hình sự 1998 ban hành, kháiniệm chứng cứ chỉ thể hiện được tính khách quan và tính hợp pháp mà chưa đề cậpđến tính liên quan của nó Đến khi được ban hành, khái niệm chứng cứ đã có sự kếthừa Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998 và được quy định tại khoản 1 Điều 64 Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2003 “Chứng cứ là những gì có thật, được thu nhập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành

Trang 5

vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.” Vậy, chứng cứ theo định nghĩa là “những gì có thật” tức là phải tồn tại trong thực

tế mà lý luận pháp lý gọi là tính khách quan tức là tự bản thân nó tồn tại không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của con người

1.1.2 Các thuộc tính của chứng cứ

Từ định nghĩa về chứng cứ, ta thấy rằng, không phải bất cứ một thông tin, tàiliệu, đồ vật nào đó có thể hiển nhiên trở thành chứng cứ, mà để trở thành chứng cứphải hội đủ các điều kiện sau Đó là:

• Đặc điểm thứ nhất , chứng cứ phải có tính khách quan Chứng cứ phải là

những gì có thật, tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủquan của con người, nhưng phải phù hợp với những tình tiết khác của vụ án.Những gì có thật trong chứng cứ pháp lý thực chất là những sự thật đã đượcchứng minh rõ rệt và không thể chối cãi được Những chứng cứ ấy đã được Cơquan tiến hành tố tụng tiến hành thu thập, phát hiện để làm căn cứ xác định mộtcách minh bạch, rõ ràng, vững chắc có hành vi thực hiện tội phạm xảy ra haykhông Khi giải quyết vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa ánphải xuất phát từ thực tế của vụ án để nhận thức chúng và phải nhận thức đúngvề chúng, không được lấy ý chí chủ quan để áp đặt, phải tôn trọng sự thật.Người tiến hành tố tụng cần tránh thái độ chủ quan, nóng vội, phiến diện, địnhkiến, không trung thực khi tham gia vào hoạt động thu thập chứng cứ Chứngcứ là những sự vật, hiện tượng đã diễn ra và tồn tại trong thực tế khách quanđược biểu hiện dưới dạng dấu vết vật chứng, hoặc có thể được tái hiện trong trínhớ của những người biết tình tiết của vụ án Chứng cứ cũng có thể biểu hiệndưới dạng những số liệu, tài liệu phản ánh những khía cạnh, những diễn biến cụthể của người thực hiện hành vi phạm tội Trong quá trình thu thập chứng cứ,các cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng cần phải loại bỏ những hiện tượnggiả tạo, không phản ánh đúng sự thật Những gì là suy đoán, tưởng tượngkhông có thực thì không thể là chứng cứ Những bằng chứng giả, thủ đoạn chedấu tội phạm, làm khó khăn cho việc xác định sự thật của vụ án được xem làchứng cứ chứng minh tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của hành vi phạm

Trang 6

tội Trong thực tế, chứng cứ sinh ra, thay đổi và có thể mất đi hoàn toàn theoquy luật của tự nhiên nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người Bên cạnh đóchúng ta cần xem xét, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện và đầy đủ Khôngchỉ xem xét những chứng cứ đang hiện hữu mà cần chú ý đến cả chứng cứ đãxuất hiện trong quá khứ, có thể những chứng cứ đó đã được tội phạm ngụytrang, che đậy, làm mờ hoặc xóa dấu vết nhằm không để Cơ quan tiến hành tốtụng tìm thấy

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc hiểu rõ và tuân thủ thuộctính này của chứng cứ có ý nghĩa quan trọng Những gì có thật trong chứng cứpháp lý phải là đặc điểm cơ bản nhất, là vấn đề thuộc bản chất của chứng cứ, làcái gốc của chứng cứ để chứng minh thực hư của toàn bộ vụ án Để đảm bảothuộc tính này, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng khi phát hiện, thu thập,kiểm tra, xác minh cần tiến hành đầy đủ, thận trọng và chu đáo để tìm ra chứngcứ thật, loại trừ chứng cứ giả tạo Vì chỉ có chứng cứ thật mới có khả năngchứng minh vụ án một cách chính xác, hiệu quả; nếu dùng chứng cứ giả tạolàm căn cứ chứng minh thì sẽ dẫn đến các kết luận, phán quyết sai lầm

• Đặc điểm thứ hai, tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách

quan giữa chứng cứ với những vấn đề phải chứng minh trong vụ án Chứng cứcần thiết được sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án bắt buộc phải là sựkiện, tài liệu có thật Chỉ những tài liệu có liên quan đến vụ án, có khả nănglàm sáng tỏ một phần hoặc toàn bộ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụán hình sự, cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắnvụ án mới có thể công nhận là chứng cứ Những thông tin, tài liệu, dấu vết, đồvật thu thập được có thể chứng minh trực tiếp hay gián tiếp, ít hoặc nhiều, cóhay không có hành vi phạm tội đã diễn ra, người đã thực hiện hành vi phạm tộicũng như các tình tiết khác của vụ án hình sự Các cơ quan tiến hành tố tụngphải thu thập chứng cứ một cách rộng rãi, không chỉ những chứng cứ trực tiếpđến tội phạm mà cả những chứng cứ liên quan đến tội phạm, không được bỏ sótbất kì dấu hiệu nào của hành vi phạm tội Ngược lại, nếu một sự vật, tài liệu làcó thật nhưng nó không liên quan đến vụ án thì nó không thể trở thành chứngcứ trong vụ án hình sự Điều đó đòi hỏi khi giải quyết vụ án hình sự, khi thu

Trang 7

thập thông tin, những tư liệu đã được thu thập phải được sàng lọc, chọn lựanhững chi tiết thực sự có liên quan đến vụ án; tránh trường hợp thu thập mộtcách tràn lan những tin tức, tài liệu không có ý nghĩa, không xác thực, khôngphục vụ việc chứng minh sự thật của vụ án Bên cạnh đó, khi thu thập chứngcứ, cơ quan tiến hành tố tụng phải thu thập cả những chứng cứ chứng minh cáctình tiết khác có ảnh hưởng đến vụ án hình sự như: tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ trách nhiệm hình sự; các tình tiết đánh giá nguyên nhân và điều kiện cụ thểdẫn đến hành vi phạm tội của người thực hiện

Việc xác định tính liên quan của chứng cứ giúp cho các cơ quan tiếnhành tố tụng thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ một cách hợp lý, khônglàm lãng phí thời gian và tiền bạc, đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án hìnhsự được nhanh chóng và đúng đắn

• Đặc điểm thứ ba, nếu tính khách quan, liên quan thể hiện nội dung thì tính

hợp pháp thể hiện hình thức pháp lý của chứng cứ Cơ sở lý luận của đặc điểmnày là nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 12 Hiếnpháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” và cụthể hóa tại Điều 3 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Mọi hoạt động tố tụnghình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người thamgia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này” Tính hợp phápcủa chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ được thu thập theo trình tự, thủ tục doBộ luật này quy định, do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án thực hiện.Qua đó, dù chứng cứ được thu thập bằng cách nào, dưới hình thức gì, bước nàothực hiện trước, bước nào thực hiện sau, cần phải tiến hành thủ tục gì, cụ thể rasao đều phải tuân theo những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Áp dụngchặt chẽ đặc điểm này thì chứng cứ sẽ đảm bảo được độ xác thực và tin cậycao; hạn chế được những sai sót từ phía các Cơ quan tiến hành tố tụng, tạo điềukiện vững chắc cho chứng cứ có giá trị và hiệu lực pháp lý Ngược lại, nếu tàiliệu liên quan đến vụ án hình sự, tồn tại khách quan nhưng vì không được thuthập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì khôngđược coi là chứng cứ, không có giá trị chứng minh Chẳng hạn khi khám

Trang 8

nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra phát hiện dấu vết đồ vật nhưng khôngghi vào biên bản khám nghiệm hoặc có ghi mà không mô tả rõ ràng đặc điểm,hoặc biên bản không có đầy đủ chữ ký của những người trong Hội đồng khámnghiệm thì dấu vết, đồ vật đó thực chất là của tội phạm để lại hiện trường cũngkhông có giá trị pháp lý.

Một điểm cần lưu ý nữa là chứng cứ phải được xác định bằng một trongnhững nguồn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định tại khoản 2 Điều 64 Theo đó,chứng cứ có thể được xác định bằng:

• Vật chứng

• Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bịđơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bịbắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

• Kết luận giám định

• Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.Như vậy, khi và chỉ khi một tình tiết, sự kiện được xác định bằng một trongnhững nguồn chứng cứ nêu trên, theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sựquy định thì chúng mới được xem là chứng cứ

Mọi chứng cứ đều phải có đầy đủ ba đặc điểm trên Ba đặc điểm là một thểthống nhất, tồn tại trong bản thân chứng cứ, luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, cái này tạotiền đề cho các kia phát triển Xác định chân lý trong tố tụng hình sự là nhiệm vụ củacác cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan này có nhiệm vụ phải tìm ra sự thật để rabản án, quyết định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, mang tính thuyết phụccao, được dư luận xã hội đồng tình và nhân dân ủng hộ

1.2 Nguồn của chứng cứ

1.2.1 Định nghĩa

Việc nghiên cứu chứng cứ nói chung, nguồn chứng cứ nói riêng trong vụ án

hình sự có một ý nghĩa lớn không chỉ về mặt pháp lý, mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Khái niệm chứng cứ đã được nhà làm luật nước ta ghi nhận

trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003 và được tìm hiểu đến trong phần trước,

nhưng khái niệm nguồn chứng cứ lại chưa được ghi nhận mà mới đề cập cụ thể đến

các loại nguồn chứng cứ Có thể nói, nguồn chứng cứ là hình thức, nơi chứa đựng

Trang 9

những gì có thật liên quan đến vụ án hình sự hay là “nơi, từ đó có thể tìm ra đối tượng được chủ thể sử dụng để chứng minh” Nói một cách khác, chứng cứ là nội dung phản

ánh sự việc, hiện tượng vụ án còn nguồn chứng cứ là hình thức chứa đựng các nộidung bên trong nó Vậy, nguồn của chứng cứ là nơi chứa đựng, cung cấp chứng cứ đểcác CQTHTT củng cố, sử dụng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ VAHS

Ví dụ: lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyện đơn dân sự, … đềuchỉ là nguồn chứng cứ của VAHS; nhưng không phải tất cả mọi lời khai của họ đều cóthể trở thành chứng cứ mà chỉ có thông tin nào xác thực về sự kiện có liên quan đếnvụ án và đã được thu thập theo đúng luật thì mới có thể là chứng cứ

1.2.2 Phân loại

Chứng cứ trong luật tố tụng hình sự được sử dụng làm phương tiện duy nhất đểchứng minh tội phạm, làm rõ các tình tiết của vụ án Tuy nhiên, riêng về tính hợppháp, chứng cứ bắt buộc phải được rút ra từ một trong những nguồn và được thu thậpbằng biện pháp do luật tố tụng hình sự quy định Theo khoản 2 Điều 64 BLTTHS năm

2003 quy định, nguồn của chứng cứ gồm:

a) Vật chứng;

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dânsự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bịtạm giữ, bị can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác”

a) Vật chứng (điều 74, 75, 76 BLTTHS)

Vật chứng là một nguồn chứng cứ quan trọng đầu tiên mà thông qua nó các cơquan tiến hành tố tụng có thể chứng minh được sự việc hoặc xác định hướng điều tra

Theo Điều 74 BLTTHS năm 2003, vật chứng được hiểu là“những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và những vật khác có giá trị tội phạm và người phạm tội”.

Theo đó, vật chứng có một số đặc trưng cơ bản sau:

Trang 10

• Thứ nhất, vật chứng là vật cụ thể, tồn tại dưới dạng vật chất, nó có thể thể hiệndưới dạng thể rắn, thể lỏng và thể khí Sự thể hiện của vật chứng rất phong phúvới đủ hình dạng, kích cỡ, trọng lượng, màu sắc song một điều cơ bản là đểnhững vật thể đó trở thành chứng cứ thì nó phải liên quan đến vụ án hình sự.

• Thứ hai, vật chứng chứa đựng và phản ánh trong mình những sự kiện thực tếliên quan đến vụ án, sự liên quan này có thể ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếpnhưng quan trọng nó phải nằm trong mối liên quan tổng thể của vụ án hình sựvà bao gồm những điển hình sau:

• Những vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội: Đây là những vật màngười phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng chúng để hỗ trợquá trình thực hiện tội phạm để góp phần hoàn thành nhanh chóng và thuậnlợi hơn Ví dụ: dùng dao, súng, rìu để giết người, dây thừng, dây dù để thắtcổ, thuốc độc để đầu độc

• Những vật mang dấu vết tội phạm: Ở đây, vật chứng thể hiện bằng nhữngdấu vết mà người phạm tội đã để lại trong quá trình thực hiện hành vi phạmtội (hiện trường) và dấu vết này được gọi là dấu vết hình sự Dấu vết hìnhsự là “những phản ánh của các sự vật, hiện tượng để lại trong quá trình thựchiện tội phạm” Ví dụ: trộm cắp tài sản để lại dấu vết phá khóa, cạy tủ hayquần áo, hung khí của người phạm tội có dính máu của nạn nhân

• Vật chứng là đối tượng của tội phạm mà người phạm tội tác động đến: Vídụ: tài sản (xe máy, dây chuyền, đồng hồ ) trong các tội chiếm đoạt tài sản,hàng hóa trong tội buôn lậu…

• Vật chứng là tiền và những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm vàngười phạm tội Ví dụ: đồ trang sức, tiền bạc trên chiếu bạc, đồ vật màngười phạm tội đã mua sắm được bằng tài sản do chiếm đoạt của ngườikhác, quần áo, giầy dép, mũ của người phạm tội tại hiện trường nơi xảy ravụ án

Vật chứng ghi nhận chính xác những sự kiện thực tế của vụ án nên giá trịchứng minh của nó trong vụ án hình sự có thể là rất cao “và trong nhiều trường hợp,không có gì có thể thay thế được chúng”] Với đặc tính là vật duy nhất, vật chứng tồn

Trang 11

tại một cách khách quan, nó lưu giữ các hình ảnh xảy ra trong hiện thực bởi vậy, nókhông thể thay thế được bằng bất cứ vật thể nào khác Nói một cách khác, vật chứnglà chứng cứ mang tính vật chất, nó tồn tại độc lập, khách quan và không bị chi phốibởi ý thức chủ quan của con người.

b) Lời khai của người tham gia tố tụng

Lời khai trong vụ án hình sự có thể nói cũng là một nguồn chứng cứ rất quantrọng Cơ quan điều tra sử dụng hoạt động nghiệp vụ của mình để có được những lờikhai, còn Hội đồng xét xử có vai trò thẩm định lại những lời khai đó một lần nữa tạiphiên tòa Trên cơ sở này, lời khai mang các ý nghĩa, giá trị khác nhau như: lời khaicủa bị can, bị cáo thể hiện thái độ thừa nhận hay phủ nhận hành vi phạm tội, lời khaicủa người làm chứng thể hiện sự hiểu biết của họ đối với những tình tiết liên quan củavụ án Sự hình thành lời khai là một quá trình vô cùng phức tạp, nó bị chi phối bởinhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan khác nhau

Dạng nguồn chứng cứ thứ hai này có sự khác biệt so với vật chứng Theo đó,nếu vật chứng là một vật cụ thể được xác định, mang tính vật chất và nó phản ánhkhách quan về vụ án, do đó không thể có một vật nào khác thay thế cho nó Trong khiđó, lời khai của các đối tượng trên lại được hình thành từ tư duy, ý thức của conngười

Ví dụ: Khi một người biết những tình tiết của vụ án và được các cơ quan tiếnhành tố tụng triệu tập đến với tư cách là người làm chứng, thì họ nhận thức, tri giác vềnó và trên cơ sở đó, lời khai của người này là sự diễn tả lại, tạo dựng lại diễn biến vụ

án thông qua lăng kính chủ quan của họ Chính vì vậy, tính khách quan của lời khai không được đảm bảo như vật chứng, đặc biệt là trong trường hợp người khai báo lại

có mối liên quan ít hay nhiều đến vụ án Tùy từng đối tượng tham gia với tư cách nàotrong vụ án như: bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bịđơn dân sự và mối quan hệ của họ với nhau mà mỗi lời khai lại có những ảnh hưởngcủa đặc điểm tâm lý khác nhau Điều này là hoàn toàn dễ hiểu, chẳng hạn bị cáo baogiờ cũng có tâm lý không muốn bị các cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện; người bịhại có tâm lý muốn trả thù; nguyên đơn dân sự lại mong được bồi thường thiệt hại

Trang 12

nhiều; bị đơn dân sự lại không muốn phải bồi thiệt thiệt hại hoặc bồi thường ít; ngườilàm chứng không thích bị phiền hà, liên lụy và sợ bị trả thù

Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người làm chứng,người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liênquan đến vụ án được xem xét là nguồn chứng cứ So với BLTTHS năm 1988, nhà làmluật Việt Nam đã bổ sung thêm lời khai của người bị bắt cũng là nguồn chứng cứnhằm bảo đảm quyền lợi của công dân ngay từ thời điểm bị bắt, cũng như họ đượcquyền trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm(Điều 71 BLTTHS)

 Lời khai người làm chứng (điều 67 BLTTHS)

Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án hình sựvà được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến với tư cách người làm chứng để lấy lờikhai theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Lời khai của người làm chứnglà lời trình bày của một người không bị người phạm tội xâm hại nhưng đã biết đượcnhững tình tiết có liên quan đến vụ án theo yêu cầu của CQTHTT

Lời khai người làm chứng là nguồn chứng cứ cổ xưa và phổ biến nên hầu hếtcác hệ thống pháp luật đều dành cho lời khai người làm chứng một vị trí khá chắcchắn trong tất cả các loại nguồn của chứng cứ Ngoài ra, Bộ luật còn quy định ngườilàm chứng phải là người có năng lực nhận thức, tỉnh táo không mắc bệnh tâm thần,phải có khả năng khai báo đúng đắn và có trách nhiệm đối với lời khai đó Tuy nhiênpháp luật TTHS cũng quy định, muốn sử dụng làm chứng cứ thì những tình tiết chongười làm chứng trình bày thì trước hết họ phải nói rõ nguyên nhân vì sao biết đượctình tiết đó (khoản 2 điều 67 BLTTHS)

Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết về vụ án (trực tiếp hoặc giántiếp), nhân thân của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, quanhệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làmchứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra

Mặt khác, trong quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng lời khai của người làmchứng, điều tra viên phải nắm vững được những yếu tố khách quan và chủ quan khácnhau ảnh hưởng đến lời khai và sự hiểu biết hay nhận thức của họ

Trang 13

Nếu người làm chứng không đến theo giấy triệu tập thì có thể bị dẫn giải, ngoài

ra nếu từ chối hay trốn tránh việc khai báo thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự theoĐiều 307 và Điều 308 Bộ luật hình sự năm 1999 Chính vì vậy, BLTTHS năm 2003đã quy định bổ sung thêm các quyền mà người làm chứng được hưởng để bảo đảm hàihòa tối đa giữa quyền và nghĩa vụ của họ Theo đó, người làm chứng có một số quyềnnhư:

+ Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiếnhành tố tụng và;

+ Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quyđịnh của pháp luật (khoản 3 Điều 55 BLTTHS)

Tuy nhiên, do đây là nguồn chứng cứ có ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúcnhanh chóng quá trình điều tra nên khi tiến hành lấy lời khai, điều tra viên phải thôngbáo, giải thích rõ trách nhiệm khai báo sự thật của họ Cụ thể, nếu người làm chứngbiết được đến đâu thì khai đến đó, không được suy diễn, chỉ trình bày chính xác nhữngđiều mình biết và nếu khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo sẽ phải chịu trách nhiệmhình sự

 Lời khai người bị hại

Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc về tài sản do bọn phạm tội gây ra Lời khai người bị hại là một trong những nguồn chứng cứ quan

trọng, diễn tả lại trực tiếp hành vi phạm tội và nói lên thiệt hại mà họ phải gánh chịu.Đây thường là nguồn tin cơ bản giúp cho các CQTHTT xác định sự thật của vụ án

Tuy nhiên, cũng như các lời khai khác, lời khai của người bị hại cũng có nhữngyếu tố không khách quan, thường thổi phồng sự thiệt hại hoặc do căm tức người phạmtội, thần kinh bị kích động nên họ đã cung cấp thông tin không chính xác về ngườiphạm tội cũng như diễn biến của vụ án Cho nên, lời khai của người bị hại về hành viphạm tội và những tình tiết khác, tương tự như lời khai của người làm chứng, cũng chỉđược sử dụng làm chứng cứ khi mà họ có thể nói rõ vì sao họ biết được tình tiết đó.(khoản 2 Điều 68 BLTTHS)

Trang 14

Ngoài ra, cũng cần thấy rằng lời khai của người bị hại cũng không tránh khỏisự chi phối của những yếu tố khách quan và chủ quan nhất định nên lời khai này cónhững đặc điểm riêng so với lời khai của những người khác Ví dụ: Lời khai củangười bị hại do bị người khác dùng vũ lực tấn công bất ngờ làm họ ngất đi sẽ khó môtả lại được sự việc như thế nào hoặc lời khai của người bị hại sẽ không phản ánh đúngdiễn biến khách quan của vụ án (không đáng tin cậy) nếu người này lại có quan hệ họhàng, đồng nghiệp, bạn bè với bị can, bị cáo.

Như vậy, vai trò của người bị hại trong vụ án hình sự là rất cần thiết, nhất làtrong những vụ án chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại Tính theo vị trí mở đầuvụ án thì người bị hại là nhân tố đầu tiên xác định vụ án hình sự nên lời khai củangười bị hại rất quan trọng, có ý nghĩa khi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can vàđề ra hướng điều tra Là nhân chứng sống nên lời khai của người bị hại là cơ sở quantrọng để các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật truy lần những đầu mối của vụ án

Do đó, giá trị chứng minh của nguồn chứng cứ này cao hơn so với lời khai của nhữngngười khác, cho nên để đảm bảo tính khách quan, điều tra viên khi lấy lời khai củangười bị hại cũng phải tuân thủ theo những quy định của BLTTHS (điều 133-137BLTTHS)

Lời khai nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự (điều 52, 53 BLTTHS)

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự là những chủ thể có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan trực tiếp đến vụ án hình sự nhưng yêu cầu của những chủ thể này là giải quyết vềmặt dân sự Lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự cũng là một trong nhữngnguồn chứng cứ quan trọng Là những người có liên quan, họ rất quan tâm đến kết quảvụ án hình sự và mong muốn trình bày với cơ quan tiến hành tố tụng những tình tiếtcủa vụ án nghiêng theo hướng có lợi cho họ Cụ thể:

Nguyên đơn dân sự (NĐDS) là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tộiphạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Họ có tâm lý muốn được đền bùthiệt hại (vật chất) nhanh chóng cho mình nên khi khai báo thông thường chỉ ra thiệthại (hậu quả) thường lớn hơn so với thiệt hại thực tế Ngoài việc coi lời khai củangười bị hại là nguồn của chứng cứ, pháp luật TTHS nước ta cũng không loại trừ việcxem xét lời khai của NĐDS bởi họ cũng là những người bị tội phạm xâm hại đến tài

Trang 15

sản, vật chất Lời khai của họ sẽ góp phần làm sáng tỏ được tình tiết của vụ án, hoàncảnh tội phạm cũng như phương pháp, thủ đoạn do người phạm tội thực hiện, lỗi củabị can, bị cáo, tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra.

Ngược lại, bị đơn dân sự cũng là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quyđịnh phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Họmuốn mức đền bù được giảm ở mức thấp nhất nên khi khai báo thông thường hay phủnhận trách nhiệm của mình hoặc đưa ra lý lẽ để giảm bớt thiệt hại Vì thế, trong quátrình điều tra, truy tố, xét xử cần kiểm tra, xác minh cẩn thận loại nguồn chứng cứ nàytrước khi sử dụng

 Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (điều 70BLTTHS)

Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là sự trình bàyvề những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ Lời khai của đốitượng này cũng chiếm vị trí nhất định trong quá trình điều tra

Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ (điều 71 BLTTHS)

Lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ là sự trình bày về những tình tiếtliên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm Đây không chỉ là nguồn chứng cứ đểđối chiếu, xem xét với những chứng cứ khác mà cơ quan điều tra thu thập được nhằmxác định sự phù hợp khách quan của hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm màcòn là phương tiện để họ tự bào chữa cho mình Mục đích lấy lời khai của nhữngngười này của cơ quan tiến hành tố tụng là thu được lời khai chính xác và đầy đủ vềvụ án, để trên cơ sở đó xác định được mức độ liên quan của từng chủ thể đến vụ ánhình sự như thế nào Lời khai của những người này cũng là nguồn chứng cứ quan trọngvì họ có thể nhận tội, khai ra những người đồng phạm khác, hoặc đưa ra những chứngcứ chứng minh họ không phạm tội từ đó kết hợp với nguồn chứng cứ khác để Cơquan điều tra xác định hướng điều tra làm sáng tỏ vụ án

Lời khai của bị can, bị cáo (điều 72 BLTTHS)

Lời khai của bị can, bị cáo là sự trình bày của người đã bị khởi tố hình sự hoặccủa người đối với họ đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử với nội dung về những tìnhtiết của vụ án Tương tự như lời khai của người bị bắt, người bị tam giam, đây cũng là

Trang 16

một nguồn chứng cứ quan trọng bởi vì hơn ai hết, bị can, bị cáo là người biết rõ nhấtvề hành vi phạm tội của mình; là cơ sở quan trọng để các CQTHTT dựng lại sự kiệnphạm tội một cách khách quan và toàn diện.

Tuy nhiên, các đối tượng phạm tội do tâm lý muốn che giấu tội phạm, sợ bị ápdụng hình phạt, muốn tìm cách giảm trách nhiệm hình sự, … nên họ thường quanh cochối tội hoặc không khai báo đúng sự thật nên gây không ít khó khăn trong họat độngTTHS Vì vậy, khi lấy lời khai của họ cần chú ý là cho phép họ được trình bày tất cảnhững gì có liên quan đến hành vi phạm tội mà không hạn chế phạm vi khai báo củahọ

Cũng cần lưu ý thêm là nhóm đối tượng này có thể nhận tội hoặc không nhận tội,cụ thể:

Thứ nhất, về lời khai theo hướng nhận tội, có nghĩa bị can, bị cáo thừa nhận những hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện Điều 72 BLTTHS cũng đã quy định rõ “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”.

Thứ hai, lời khai theo hướng không nhận tội Điều luật quy định bị can, bị cáo khai

về những tình tiết của vụ án nhưng về nguyên tắc, trách nhiệm chứng minh vụ ánthuộc về cơ quan tiến hành tố tụng (điều 10 BLTTHS) Các cơ quan này phải có nghĩavụ chứng minh bị can, bị cáo có tội hay không có tội Vì vậy, bị can, bị cáo không cónghĩa vụ chứng minh, họ có thể nhận tội song cũng có thể không nhận tội hoặc chỉnhận một tội trong số nhiều tội mà họ đã phạm

Là người có quyền lợi trực tiếp bị đe dọa, tước bỏ, họ có quyền bào chữa đểbảo vệ quyền lợi của mình đồng thời họ cũng có quyền không sử dụng quyền bàochữa, không chứng minh là mình vô tội Bị can, bị cáo có quyền trả lời là không biếtgì về vụ án hoặc không nhận tội mà không phải đưa ra bất kỳ chứng cứ nào Khi họkhông chứng minh được là mình vô tội thì cũng không có nghĩa là họ có tội Cho nên,sự hình thành lời khai bị can, bị cáo là một quá trình phức tạp, bị chi phối bởi nhiềuyếu tố khác nhau Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng lời khai của bị can, bị cáokhông những là nguồn chứng cứ đối với những hành vi mà họ bị truy cứu trách nhiệm

Trang 17

hình sự mà còn là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ tất cả những tình tiết của vụ án Loạinguồn chứng cứ này có ý nghĩa quan trọng vì mọi hoạt động của các cơ quan tiếnhành tố tụng đều xoay quanh nhiệm vụ là chứng minh bị can, bị cáo có tội hay khôngcó tội.

c) Kết luận giám định (điều 73 BLTTHS)

Là lời trình bày kết quả nghiên cứu những vấn đề có giá trị đối với vụ án của những người có kiến thức chuyên môn về khoa học kỹ thuật theo quyết định trưng cầu của CQTHTT.

Đây cũng một nguồn chứng cứ quan trọng về tình tiết của vụ án mà việc xemxét nó dựa trên kiến thức chuyên môn, khoa học kĩ thuật hay nghệ thuật làm căn cứvạch ra sự thật khách quan của vụ án hình sự Bởi lẽ, kiến thức của những người tiếnhành tố tụng là có giới hạn, do đó những vấn đề thuộc về chuyên môn, lĩnh vựcchuyên ngành phải do cơ quan giám định đánh giá và cho ý kiến mới đưa ra kết luậnchính xác Kết luận giám định là một phán quyết mang tính khoa học bởi nó chỉ dựatrên cơ sở khoa học và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người nên khi tìm

ra sự thật của vụ án, giá trị chứng minh của kết luận giám định bao giờ cũng mangtính khách quan hơn các nguồn chứng cứ khác

Trong BLTTHS, kết luận giám định là nguồn chứng cứ quan trọng được sửdụng nhằm xác định tội phạm, đối tượng tác động của tội phạm, những thiệt hại xảy rahay xác định năng lực hành vi hình sự của bị can, bị cáo, người làm chứng, người bịhại, cũng như khả năng nhận thức của họ Các loại trưng cầu giám định thường gặpnhư: Trưng cầu giám định pháp y, trưng cầu giám định kĩ thuật hình sự, trưng cầugiám định văn hoá, nghệ thuật, trưng cầu giám định kế toán, tài chính… Việc phânchia các loại hình giám định chủ yếu là để dễ phân biệt nhưng thật ra chúng có sự hỗtrợ và có mối quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí pha lẫn vào nhau

Kết luận giám định là một nguồn chứng cứ có tính chất chuyên môn khoa học,nó có giá trị pháp lý và được sử dụng trong công tác điều tra, truy tố và xét xử Tuynhiên, không vì thế mà khi kết luận giám định không đúng hay không đầy đủ thì vẫnđược các CQTHTT sử dụng Trong những trường hợp đó, chúng ta có thể thay thế

Trang 18

bằng một kết luận giám định khác đúng đắn hơn hoặc bổ sung thêm kết luận giámđịnh ban đầu cho đầy đủ (điều 159 BLTTHS).

Ngoài ra, nó là công cụ, phương tiện tích cực giúp cơ quan điều tra có hướngxác minh, điều tra sự thật, giúp cho Tòa án xác định, kết luận về tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi, về tội phạm… Cho nên, về nguồn chứng cứ này,nhằm khẳng định về mặt hình thức pháp lý của kết luận giám định, đồng thời chặt chẽvề kỹ thuật lập pháp, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung thêm quy định là: “Kết luậngiám định phải được thể hiện bằng văn bản” (đoạn 2 khoản 1 Điều 73 BLTTHS).Ngoài ra, để bảo đảm tính độc lập và khách quan trong hoạt động tố tụng khi có nhiềungười tham gia giám định, nhà làm luật còn bổ sung thêm quy định đó là “trongtrường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi riêng ý kiến kết luận của mình vàobản kết luận riêng”

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác (điều 77, 78 BLTTHS)

Biên bản về hoạt động điều tra và xét xử là một trong những biện pháp tố tụngđược thực hiện trong quá trình chứng minh Mọi thông tin về nội dung và những tìnhtiết liên quan đến vụ án hình sự được ghi chép lại theo quy định của pháp luật tức làlập thành biên bản Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử không những là một nguồnchứng cứ có giá trị trong vụ án hình sự, mà còn là căn cứ kiểm tra các trình tự, thủ tụchoạt động trong quá trình tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật có được bảođảm hay không nhằm góp phần bảo đảm tính hợp pháp và tính khách quan của chứngcứ Điều 77 BLTTHS cũng quy định:

• Biên bản về hoạt động điều tra là những biên bản ghi nhận kết quả hoạt độngđiều tra của CQĐT, VKS như: bắt người, khám xét, thực nghiệm hiện trường,khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, … ;

• Biên bản về hoạt động xét xử như: biên bản phiên toà, biên bản nghị án, biênbản xem xét tại chỗ, … Biên bản này đóng vai trò quan trọng trong việc chứngminh tính hợp pháp và tính có căn cứ của văn bản

• Biên bản về hoạt động tố tụng khác liên quan đến vụ án mà các cơ quan, tổchức hoặc cá nhân cung cấp cho CQTHTT được tiến hành theo quy định của

Trang 19

BLTTHS có thể được coi là chứng cứ, như: lý lịch bị can, biên bản xử phạthành chính, trích lục tiền án, tiền sự, …

Có thể khẳng định rằng, không một vụ án hình sự nào lại thiếu được biên bản,bởi vì mọi hoạt động chỉ coi là hợp pháp, công khai khi nó được ghi nhận trong biênbản Cho nên, nguồn chứng cứ này mang ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tốtụng

2 THU THẬP CHỨNG CỨ - MỘT HOẠT ĐỘNG QUAN TRỌNG CỦA QUÁ TRÌNH CHỨNG MINH

2.1 Quá trình chứng minh vụ án hình sự

2.1.1 Khái niệm quá trình chứng minh vụ án hình sự

Quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm rất quan trọng, luôn đòi hỏi đảm bảođược các mặt: trừng trị đúng người và đúng tội, không làm oan sai người vô tội cũngnhư đảm bảo việc bảo vệ cho quyền và lợi ích của công dân Do đó, việc phát hiện vàxử lý tội phạm phải được tiến hành theo những thủ tục và trình tự do Bộ luật Tố TụngHình Sự (BLTTHS) quy định, trong đó các quy định về quá trình chứng minh vụ ánhình sự (VAHS) chiếm một vai trò quan trọng và quyết định, đòi hỏi cần có sự tuânthủ nghiêm ngặt nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giải quyết đúng đắn VAHS

Quá trình chứng minh là quá trình mà các cơ quan có thẩm quyền phải tái tạolại toàn bộ những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ Quá trình chứng minh VAHS bắtđầu từ khi xác định có dấu hiệu tội phạm cho đến khi giải quyết xong vụ án bao gồmnhiều hoạt động khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau như: hoạtđộng điều tra, hoạt động truy tố và hoạt động xét xử Mỗi hoạt động đều hàm chứa cáchành vi tố tụng khác nhau nhằm đến một mục đích cuối cùng và cao nhất đó là chứngminh chân lý khách quan của vụ án hình sự Quá trình điều tra, truy tố và xét xử chínhlà quá trình chứng minh vụ án hình sự Tuy nhiên, BLTTHS và các văn bản pháp luậtcủa Nhà nước ta chưa có một định nghĩa cụ thể về quá trình chứng minh vụ án hìnhsự Nhưng trên cơ sở những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bảnpháp luật khác về điều tra, truy tố, xét xử và thực tiễn xét xử, ta có thể hiểu: Quá trìnhchứng minh trong vụ án hình sự là quá trình mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người

Trang 20

tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động nhận thức chân lý về vụ án hình sự Việc nhậnthức này phản ánh một cách khách quan toàn bộ diễn biến về vụ án, hay nói cách kháclà tái dựng lại một bức tranh toàn cảnh, chính xác về vụ án hình sự đã xảy ra Từ đó, tạo

cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, xem xét đúng người, đúng tội

Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức các sự kiện, các tình tiết của vụán, quá trình nhận thức này phải đảm bảo sử dụng các biện pháp khoa học từ đó rút ranhững kết luận, quyết định lớn liên quan đến quyền và lợi ích của Nhà nước, tự do,danh dự, nhân phẩm của con người Vì vậy, quá trình chứng minh trong vụ án hình sựphải đảm bảo tính khoa học chặt chẽ của phương pháp phán đoán, suy luận

Quá trình chứng minh trong TTHS là tổng thể những hoạt động của cơ quantiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng được thựchiện theo một trật tự nhất định, áp dụng đúng các quy định của pháp luật TTHS, dựatrên cơ sở những tài liệu, chứng cứ và những tình tiết khác liên quan đến vụ án, đểkhẳng định có hay không có một tội phạm xảy ra, tính có lỗi hay không có lỗi của mộtngười nào đó, đồng thời xác định những tình tiết có liên quan đến trách nhiệm hình sựcủa người thực hiện tội phạm Chính từ quá trình đó mà chất lượng, giá trị chứngminh của các thông tin được khẳng định, các cơ sở giải quyết vụ án được hình thành,củng cố Các hành vi đó tạo thành nội dung của quá trình chứng minh vụ án hình sự

Như vậy, quá trình chứng minh vụ án hình sự là tổng hợp các hành vi tố tụng hình sự do các chủ thể được Nhà nước trao quyền tiến hành theo trình tự được Bộ luật tố tụng hình sự quy định để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự.

2.1.2 Các giai đoạn của quá trình chứng minh

a) Thu thập chứng cứ (Điều 65 BLTTHS)

Thu thập chứng cứ là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ của các cơ quan có thẩm quyền bằng các biện pháp do luật định.

Để thu thập chứng cứ, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể sử dụng nhữngcách thức như :

Trang 21

• Triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày các vấn đề cóliên quan đến vụ án ;

• Tiến hành trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm hiệntrường… ;

• Yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp bằngchứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án…

• Phát hiện chứng cứ :

Là hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền nhằm tìm ra những dấu vết, tài liệu, đồ vật, tình tiết,…có liên quan đến vụ án.

Mỗi tội phạm xảy ra bao giờ cũng để lại những dấu vết nhất định Muốn tìmhiểu và làm sáng tỏ vụ án, thì đây là giai mở đầu của quá trình chứng minh, rất quantrọng trong việc mở ra khả năng giải quyết nhanh chóng vụ án

Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự vật, hiện tượng nói lên diễn biến thực tếcủa vụ án hoặc tìm những nguồn chứng cứ Việc này đòi hỏi các chủ thể tố tụng phảichọn những vấn đề mấu chốt, trọng tâm, trọng điểm; phải tiến hành khẩn trương, tỷmỷ; phải chú ý đến mọi khía cạnh tình tiết của vụ án; tích cực quan sát, theo dõi từnhiều nguồn thông tin khác nhau Ngoài ra, người phát hiện chứng cứ phải hiểu rõ đặctính của thông tin trong nguồn chứng cứ từ đó phát hiện thêm những thông tin có giátrị khác

Việc phát hiện đúng đắn chứng cứ cần người Điều tra viên có khả năng, trìnhđộ, chuyên môn cao, áp dụng tổng hợp các phương pháp do pháp luật tố tụng quy địnhnhư : khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét thu giữ, tạm giữ vậtchứng, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, hỏi cung bị can, nhận dạng, trưngcầu giám định…

b) Ghi nhận, thu giữ chứng cứ

Trang 22

Là những phương pháp, cách thức do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm làm cho các chứng cứ thu được có đầy đủ giá trị chứng minh và hiệu lực sử dụng.

Tương ứng với đặc điểm của từng loại chứng cứ, pháp luật tố tụng hình sự quyđịnh những cách thức ghi nhận và thu giữ khác nhau (Ví dụ: như đối với chứng cứ làdạng lời khai của người làm chứng, người bị hại, bị can, bị cáo thì phải ghi rõ do aicung cấp, hoàn cảnh người đó biết được, lý do trình bày, thời gian biết…)

Vật chứng phải được cơ quan điều tra thu giữ đầy đủ và kịp thời Khi khám xétthu giữ vật chứng phải theo đúng thẩm quyền và thủ tục pháp luật quy định (Thông tưliên tịch số 03 quy định về chế độ thu giữ, bảo quản, xử lý vật chứng và tài sản tạmgiữ trong các vụ án hình sự) Việc ghi nhận và thu giữ đòi hỏi chủ thể tố tụng phảiluôn bám sát những vấn đề cần được chứng minh trong vụ án; phải căn cứ vào đặcđiểm thực tế xảy ra vụ án; căn cứ vào tính chất và quy luật hoạt động của đối tượngđang được điều tra Đồng thời, nắm vững các quy luật của sự vật, hiện tượng, áp dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việt thu giữ chứng cứ Các chủ thể tiến hành tốtụng phải thu thập khách quan, toàn diện, đầy đủ tránh việc thu thập bỏ sót hay trànlan không cần thiết

c) Bảo quản chứng cứ (Khoản 2 Điều 75 BLTTHS)

Là hoạt động giữ cho chứng cứ được nguyên vẹn như khi đã thu thập, không làm mất mát, biến dạng hay sai lệch sự thật.

Thực chất của việc bảo quản chứng cứ là bảo vệ tác dụng chứng minh củachứng cứ, bảo vệ phương tiện, công cụ đấu tranh của cơ quan Điều tra

Vật chứng đã thu phải bảo quản chu đáo, có sổ sách ghi chép rõ ràng, đầy đủ,có phương tiện bảo quản chắc chắn, có chế độ và cán bộ quản lý chặt chẽ, không để

hư hỏng, mất mát Nghiêm cấm các hành vi lấy cắp, đổi chác, sử dụng, mua bán vàphân phối nội bộ Vì vậy, khi thu thập chứng cứ, các chủ thể tiến hành tố tụng phải cóphương pháp bảo quản khoa học, tránh tình trạng lẫn lộn, hư hỏng, mất mát, làm mất

đi giá trị chứng minh của chứng cứ Ngoài ra, đối với từng loại chúng cứ khác nhau,thì ta cũng có các phương pháp bảo quản khác nhau Ví dụ: với vật chứng là đá quý,

Trang 23

kim khí quý, tiền mặt, ngoại tệ thì phải giám định ngay sau khi thu thập và chuyểnngay cho ngân hàng hoặc các cơ quan chuyên trách để bảo quản

d) Kiểm tra chứng cứ

Là hoạt động xem xét, phân tích các tài liệu, đồ vật, sự kiện…đã thu thập được có bảo đảm các thuộc tính của chứng cứ hay không.

Chứng cứ tồn tại khách quan và thể hiện sinh động, đa dạng Trong khi đó,nhận thức của mỗi người khi điều tra lại khác nhau, tội phạm lại luôn che giấu hành vitội phạm, trốn tránh pháp luật Do đó, việc kiểm tra chứng cứ cần phải thận trọng,không vội vàng, chủ quan dễ dẫn đến mắc sai lầm, dẫn đến oan sai, để lọt tội phạmtrong quá trình điều tra

Khi tiến hành kiểm tra chứng cứ, cơ quan Điều ta thường quan tâm xem xétđến những vấn đề về mặt hình thức: Chứng cứ được thu thập bằng cách nào? Có phùhợp với quy định của pháp luật không? Chứng cứ đã thu thập có đúng với sự thậtkhách quan không? Có liên quan gì đến những vấn đề cần phải chứng minh, có khảnăng làm rõ những đối tượng chứng minh nào? Và về mặt nội dung, như: chứng cứcó thật hay không, phù hợp với những quy luật tồn tại và phát triển của tự nhiên và xãhội hay chưa?

Mỗi loại chứng cứ có những đặc điểm riêng của nó, khi tiến hành kiểm tra cầnphải dựa trên đặc điểm đó mà xem xét :

• Đối với lời khai của người làm chứng, người bị hại: phải kiểm tra tính xác thựcvề lời khai của họ và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến lời khai đó Yêu cầuhọ nói rõ nguyên nhân nào họ biết được sự việc đó

• Đối với lời khai của người bị tạm giam, tạm giữ: không vội tin hay hoài nghi

vô căn cứ Diễn biến tâm lý của họ thường phức tạp, nên cần phải xác định tính

xác thực của lời khai Khoản 2 Điều 54 BLTTHS đã quy định: Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.

• Đối với kết luận của giám định viên: phải xét các vấn đề về mức độ chính xáccủa các tài liệu đã được giám định; năng lực, thẩm quyền cũng như sự khách

Trang 24

quan của Giám định viên; thủ tục; điều kiện giám định và kết luận giám định cóchính xác, khoa học không? Trong trường hợp cơ quan Điều tra không đồng ýhay thấy kết luận chưa đầy đủ, rõ ràng thì phải nêu lý do, hay ra quyết định bổsung, giám định lại theo các quy định chung tại Điều 55, Điều 132 và Điều 134BLTTHS.

• Đối với phim, ảnh, bản photocopy do cơ quan Điều tra thu được: phải xét đếnđiều kện, hoàn cảnh thu được, phương tiện sử dụng vào việc thu, chụp, trình độnăng lực và tinh thần trách nhiệm của người tiến hành

• Đối với vật chứng: phải xem xét, kiểm tra là thật hay giả, các đặc điểm , dấuvết riêng trên vật chứng có còn nguyên vẹn hay đã bị hư hỏng, biến dạng; hoàncảnh thu được; biên bản mô tả lại vật đó có chính xác hay không, hay có ảnhchụp chưa ?

• Đối với biên bản: nội dung những sự việc được ghi lại, tả lại có đúng với thựctiễn khách quan, có đầy đủ, chặt chẽ không? Đó là bản chính hay bản sao, việcghi chép có gì mâu thuẫn, chưa rõ ràng? Về thủ tục pháp lý, các biên bản cóphù hợp với quy định của Điều 78 BLTTHS không?

Việc kiểm tra chứng cứ phải được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trìnhđiều tra vụ án Ngay khi thu thập chứng cứ ta cũng phải kiểm tra chứng cứ chặt chẽ

e) Đánh giá chứng cứ (Điều 66 BLTTHS)

Đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy logic biện chứng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhằm đi sâu vào bản chất của các hiện tượng trên cơ sở pháp luật hình sự, pháp luật TTHS, ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm và kinh nghiệm bản thân nhằm xác định độ tin cậy và giá trị chứng minh của chứng cứ.

Sau khi đã kiểm tra chứng cứ, Điều tra viên được phân công điều tra vụ ánphải đánh giá chứng cứ, tức là nhận định, kết luận về tính chính xác và giá trị chứngminh của chứng cứ, từ đó đi đến kết luận về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụán đang điều tra Việc đánh giá chứng cứ cũng rất phức tạp, do có nhiều ý kiến đánhgiá khác nhau.Vì vậy, đòi hỏi việc này phải thận trọng, trung thực, nắm vững và vận

Trang 25

dụng khoa học về chứng cứ Khi đánh giá chứng cứ, cơ quan Điều tra dựa vào nhữngcăn cứ sau:

• Dựa vào những quy định của Bộ luật hình sự : trong quá trình điều tra vụ án, cơquan Điều tra phải xác định hành vi xảy ra có phải là hành vi tội phạm haykhông; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; những tình tiết cho phép miễn trừTNHS…những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vụ án Muốn xácđịnh những việc đó, phải dựa vào những quy định của luật hình sự

• Dựa vào những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: quá trình đánh giá chứngcứ phải tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS về chứng cứ, nguồn củachứng cứ; trình tự thu thập; kiểm tra và đánh giá chứng cứ…Bên cạnh đó, cácchủ thể tiến hành tố tụng phải đánh giá chứng cứ một cách khách quan, khôngbỏ sót bất kỳ một chi tiết nào, như khoản 2 điều 66 BLTTHS đã quyđịnh : "Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xácđịnh và đánh giá chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sai khi nghiên cứumột cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụán"

• Dựa vào niềm tin nội tâm và kinh nghiệm bản thân: Niềm tin nội tâm là cơ sởquan trọng để nhận định, đánh giá chính xác bản chất của chứng cứ mà khôngcó sự tác động từ bên ngoài Nó cũng là niềm tin vào kết luận đánh giá chứngcứ của người tiến hành tố tụng, là kết quả của hoạt động lý trí, đạo đức và trithức mà họ có được

Ngoài ra khi đánh giá chứng cứ, các chủ thể tiến hành tố tụng còn phải dựa vàokinh nghiệm bản thân để giúp học tránh được sai sót cũng như nhanh chóngđưa ra được kết luận đúng đắn

• Dựa vào ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa : bao gồm các quan niệm về nhữngnguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa, các tri thức về pháp luật hiện hành,thái độ tâm lý của con người đối với pháp luật, thể hiện sự công bằng, bìnhđẳng trước pháp luật…

Trang 26

Các căn cứ đánh giá chứng cứ có sự liên quan với nhau Ý thức pháp luật xãhội chủ nghĩa là tiền đề quan trọng với sự hình thành và củng cố niềm tin nội tâm củacác chủ thể tiến hành tố tụng Và khi họ có càng nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyênmôn cũng như sự am hiểu pháp luật thì việc đánh giá chứng cứ càng chính xác Muốnđánh giá chứng cứ được đúng đắn, phải nắm vững đặc điểm của từng loại chứng cứ vàkiến thức tổng hợp của bản thân để xem xét chúng có phù hợp với quy luật kháchquan hay không, từ đó rút ra kết luận về giá trị và mức độ chính xác của chúng.Trongquá trình nghiên cứu, đánh giá chứng cứ yêu cầu phải cụ thể, nghĩa là không được kếtluận một cách máy móc, vội vàng Ví dụ: Trong một vụ án hình sự, lời khai của ngườilàm chứng được xác định là không đúng, nhưng không phải vì thế mà kết luận rằngtrong mọi lời khai của người làm chứng đó đều không đúng.

Ngoài ra, trong quá trình thu thập chứng cứ cần lưu ý:

• Chỉ được sử dụng các biện pháp do BLTTHS cho phép để thu thập chứng cứ vàphải tuân theo đúng trình tự, thủ tục do luật quy định; tuyệt đối không đượcmớm cung, bức cung, dùng nhục hình để buộc bị can nhận tội;

• Khi thu thập chứng cứ không được làm sai lệch tài liệu, bỏ ra ngoài hồ sơnhững tài liệu quan trọng , thêm bớt hoặc sửa chữa lời khai làm ảnh hưởng đếnviệc giải quyết vụ án …

• Việc thu thập chứng cứ cần phải nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ;

• Đối với các vật chứng, cần phải thu thập kịp thời, đầy đủ và mô tả đúng thựctrạng vào biên bản Đồng thời, vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn đểchúng có giá trị chứng minh

2.1.3 Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ đối với quá trình chứng minhTrong quá trình chứng minh, muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, muốnxác định sự thật khách quan, có cơ sở để kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy rathì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứ đểchứng minh bản chất của người phạm tội Chứng cứ là phương tiện của việc chứngminh, của việc xác định các sự kiện có ý nghĩa với việc giải quyết vụ án hình sự.Thông qua các tài liệu, chứng cứ các sự kiện thực tế được xác định, khẳng định vàđồng thời cũng phủ định, loại trừ các sự kiện không xảy ra trong thực tế Rõ ràng vai

Trang 27

trò, giá trị của chứng cứ là rất quan trọng, là cơ sở, là phương tiện duy nhất để chứngminh trong vụ án hình sự Trong quá trình chứng minh của vụ án hình sự, thu thậpchứng cứ là bước đầu tiên, đặt nền tảng cho các hoạt động kiểm tra, đánh giá chứngcứ sau này.

Phát hiện chứng cứ là giai đoạn đầu tiên của hoạt động thu thập chứng cứ, việcphát hiện phải nhanh chóng, chính xác, được tiến hành một cách cẩn trọng, tỉ mỉ, đảmbảo các nguồn thông tin, nguồn chứng cứ được phát hiện đúng, không mâu thuẫn vớitình tiết vụ án

Việc ghi nhận, thu giữ cũng hết sức quan trọng, phải đảm bảo chứng cứ đóđược ghi nhận hoặc thu giữ theo đúng trình tự thủ tục của tố tụng hình sự từ đó chứngchứ mới có giá trị chứng minh và có hiệu lực sử dụng trong quá trình điều tra Ngoài

ra, hoạt động này phải được tiến hành một cách khoa học, cẩn thận, tránh tình trạngthu giữ sót hay tràn lan, hay chứng cứ bị thất lạc gây ảnh hưởng không nhỏ đến quátrình chứng vụ án hình sự

Hoạt động cuối cùng của thu thập chứng cứ là bảo quản chứng cứ, thực chấtcủa việc bảo vệ chứng cứ là bảo vệ tác dụng chứng minh của chứng cứ, là phươngtiện, công cụ đấu tranh tội phạm hữu hiệu Ngoài ra, còn là bảo vệ giá trị vật chất, ýnghĩa kinh tế của bản thân chứng cứ Trong một số trường hợp, khi là chứng cứ trongcác vụ án điều tra lâu dài, có tính chất phức tạp, đòi hỏi việc sử dụng chứng cứ trongthời gian dài, thì việc bảo quản chứng cứ đúng cách thì rất cần thiết

Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ là bước khởi đầu của quá trình chứngminh, không có nó hoặc không tiến hành đúng trình tự, thủ tục, thì việc điều tra vụ ánsẽ hết sức khó khăn Ngày nay, hành vi phạm tội diễn biến ngày càng phức tạp, việcche giấu tội ác của người phạm tội rất đa dạng, đòi hỏi việc thu thập chứng cứ cũngnhư quá trình chứng minh phải lường trước được mọi tình huống, để phát hiện thu giữchứng cứ đạt hiệu quả, phát huy được vai trò chứng minh vụ án, góp phần quan trọngtrong hoạt động tố tụng hình sự

Trang 28

2.2 Hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra các vụ án hình sự

Do hoạt động thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra là rất đa dạng, vì thế,nhóm chỉ xin trình bày các hoạt động thu thập chứng nổi bật, thuờng được tiến hànhtrong khi điều tra, giúp ích cho điều tra viên, cũng như góp phần quan trọng trong việcđấu tranh phòng chống tội phạm

2.2.1 Lời khai của những người tham gia tố tụng

a) Hỏi cung bị can

Hỏi cung bị can là hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự do BLTTHSquy định có sự kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ, tác động trực tiếp đến tâm lý bịcan bằng việc đưa ra các câu hỏi nhằm thu được lời khai đúng và đầy đủ của bị can vềsự thật của vụ án và những tin tức cần thiết khác nhằm phục vụ công tác điều tra và xửlý đối với vụ án Theo từ điển Luật học, hỏi cung là hoạt động tố tụng do Điều tra viêntiến hành khi có quyết định khởi tố bị can để lấy lời khai của người này về các tình tiếtcủa các hành vi phạm tội

Điều tra viên sẽ tiến hành để lấy lời khai của bị can về các tình tiết, hành vi phạm tội mà họ đã tham gia thực hiện để thu thập thông tin chính xác và kháchquan làm sáng tỏ những vấn đề cần chứng minh đối với vụ án và bị can

Chủ thể có thẩm quyền hỏi cung là Điều tra viên và trong một số trường hợp cụthể theo quy định của pháp luật, Kiểm sát viên cũng có thể hỏi cung bị can Theo điều

29 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự ngày 20/8/2004, Điều tra viên là người được bổnhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự Khoản 1

Điều 131 Bộ luật TTHS 2003 chỉ rõ: “việc hỏi cung bị can phải do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can ” Cũng tại khoản 3 Điều này có ghi:

“trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể hỏi cung bị can ” Tại thông tư liêntịch số 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ở khoản 14.1 có quy định rõ những

trường hợp Kiểm sát viên có quyền hỏi cung bị can:“Trong quá trình điều tra, khi có yêu cầu của Cơ quan điều tra hoặc qua kiểm sát việc hỏi cung phát hiện thấy bị can kêu oan, lời khai của bị can trước sau không thống nhất lúc nhận tội, lúc không nhận

Ngày đăng: 18/08/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w