cố, 3 chợ bán liên có và 2 chợ tạm; có 4 chợ theo hình thức Ban quản lý, 1chợ thao hình thức doanh nghiệp quản lý, 2 chợ trực thuộc UBND xã, phườngquản lý.3 Các đối tượng tham gia tiêu t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU TẠI CÁC CHỢ BÁN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các sốliệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từngđược dùng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõnguồn gốc
Sinh viên
ĐỖ THỊ HỒNG THẮM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được thực hiện và hoàn thành tại Bộ môn Kinh tế nôngnghiệp và Chính sách thuộc Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn của TrườngĐại học Nông nghiệp Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tớiGS.TS Đỗ Kim Chung, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và địnhhướng tôi trưởng thành trong công tác nghiên cứu khoa học và hoàn thiệnkhóa luận Bản thân tôi đã học được ở GS.TS Đỗ Kim Chung rất nhiều kiếnthức mới về công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt về phương pháp tư duy đểgiải quyết các vấn để trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống Trong suốtquá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡtận tình của các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Kinh tế nông nghiệp vàChính sách, Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn Tôi xin cảm ơn sâu sắc tớicác thầy, cô về sự hỗ trợ quý báu này
Tôi xin cảm ơn đến lãnh đạo các Ban quản lý chợ trên địa bàn Hà Nội
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian đi thực tế tại các đơn vị Tôi cũng xincảm ơn đến các hộ bán rau tại các chợ bán lẻ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thựchiện đề tài Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Th.S Nguyễn Thị Tân Lộc, thuộc bộmôn Kinh Tế Thị Trường, Viện Nghiên cứu Rau quả Đồng thời, ở đây tôicũng rất biết ơn sự tạo điều kiện của các lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả,các cô, chú cán bộ nghiên cứu tại Bộ môn Kinh tế thị trường, Viện Nghiêncứu Rau quả đã rất dày công giúp chúng tôi tiếp cận thực tế địa bàn khảo sát
và trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến bạn bè và gia đình: bố, mẹ tôiluôn luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần cũng nhưvật chất để tôi hoàn thành khóa luận này Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm
ơn tới tất cả mọi người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
ĐỖ THỊ HỒNG THẮM
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Được sự phân công giúp đỡ của Khoa Kinh tê và Phát triển Nông thôn,trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, sự hướng dẫn của GS.TS Đỗ KimChung và sự hỗ trợ của Th.S Nguyễn Thị Tân Lộc bộ môn Kinh tế Thị trường
thuộc viện Nghiên cứu Rau quả Tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu: đánh giá tình hình tiêuthụ rau tại các chợ bán lẻ và nghiên cứu đặc điểm mạng lưới chợ bán lẻ trênđịa bàn thành phố Hà Nội, tìm hiểu một số đặc điểm của chợ bán lẻ rau, đặcđiểm của người bán lẻ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu
là điều tra chọn mẫu, thu thập thông tin, hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu,phân tích và xử lý số liệu
Những nội dung và kết quả nghiên cứu chính
1) Mạng lưới chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội: hiện tại Hà
Nội có khoảng 411 chợ bán lẻ trong đó thì có khoảng 67 chợ kiên cố, chiếm
16,3%; 213 chợ bán kiên cố, chiếm 51,7% và 131 chợ lán tạm, chiếm 32%;bình quân 1 quận nội thành có 10,3 chợ và 1 huyện ngoại thành có khoảng16,5 chợ
2) Quy mô, đặc điểm của chợ: trong tổng số 7 chợ tiến hành khảo sát(5 chợ nội thành và 2 chợ ngoại thành, 5 chợ quy hoạch và 2 chợ tạm) thì cácchợ có diện tích từ 3000 – 6000m² đều thuộc chợ nội thành (chợ Nghĩa Tân,chợ Hôm và chợ Gia Lâm) Trong tổng số 71% chợ nội thành có 60% chợ cótrên 400 hộ kinh doanh cố định; 28,6% chợ có trên 200 hộ kinh doanh cố địnhcòn 100% các chợ tạm là có dưới 200 hộ kinh doanh cố định Cơ sở vật chất
và hình thức quản lý: trong tổng số 7 chợ tiến hành khảo sát thì có 2 chợ kiên
Trang 5cố, 3 chợ bán liên có và 2 chợ tạm; có 4 chợ theo hình thức Ban quản lý, 1chợ thao hình thức doanh nghiệp quản lý, 2 chợ trực thuộc UBND xã, phườngquản lý.
3) Các đối tượng tham gia tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thànhphố Hà Nội bao gồm: người chuyên bán lẻ, người sản xuất, người thu gom ởđây họ được gọi chung là người bán lẻ và một đối tượng nữa là người tiêudùng cũng góp phần không nhỏ trong việc tiêu thụ rau Trong tổng số 92phiếu điều tra người bán lẻ thì có 60,9% trong số đó có độ tuổi từ 30 – 50 tuổichiếm tỷ lệ nhiều nhất và hầu hết người bán lẻ là nữ, có đến 94,6% không qualớp tập huấn nào về kinh doanh
4) Hoạt động tiêu thụ của người bán lẻ: có 40,2% người bán lẻ trongtổng số 92 phiếu điều tra người bán lẻ có chủng loại rau bày bán trên 50chủng loại; 32,6% người bán lẻ có chủng loại rau bày bán từ 20 – 50 chủngloại cong lại 27,2% người bán lẻ có chủng loại rau bày bán dưới 20 chủngloại 66,3% người bán lẻ lấy rau từ chợ bán buôn còn lại lấy trực tiếp từ ngườisản xuất hoặc doanh nghiệp Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp được người bán
lẻ quan tâm nhiều nhất đó là giá cả chiếm khoảng từ 96,8% - 100,0% Hìnhthức thanh toán đối với nhà cung cấp 94,6% người bán lẻ là trả ngay còn lại5,4% là trả sau; phương tiện vận chuyển chủ yếu là xe máy Đối tượng kháchhàng chính của người bán lẻ là hộ gia đình Hầu hết rau bán tại chợ bán lẻ làkhông có nhãn mác, giá không được niêm yiết công khai mà chỉ qua sự mặc
cả trao đổi giữa hai bên bán và bên mua Xu hướng, giá bán của các chủngloại rau: rau muống, bí xanh, cà chua, dưa chuột, bắp cải, cải ngọt
Trong tổng số 92 phiếu điều tra có 34,8% người bán lẻ có lượng raubán từ 100 – 150 kg chiếm tỷ lệ nhiều nhất; ít nhất là có 6,5% người bán lẻbán được trên 200 kg Một số thuận lợi khó khăn của người bán lẻ
Trang 65) Hoạt động mua rau của người tiêu dùng theo ý kiến của người bánlẻ: tiêu chí được người tiêu dùng lựa chon nhiều nhất để mua rau là giá cả và
độ tươi của sản phẩm cũng là tiêu chí được quan tâm nhiều không kém.Lượng mua của người tiêu dùng chiếm tỷ lệ nhiều nhất là từ 1 – 2 kg chiếm47,8%
6) Tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: tínhchất, vị trí của chợ; quy mô, cơ sở vật chất của chợ; tổ chức và quản lýchợ;đối tượng tham gia tiêu thụ; có bao nhiêu chủng loại rau bày bán
7) Những biện pháp nhằm phát triển tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ trên địabàn thành phố Hà Nội: tổ chức và phát triển mạng lưới chợ, nâng cao cơ sởvật chất các chợ, nâng cao trình độ Ban quản lý chợ bán lẻ, giải pháp cho cácđối tượng tham gia tiêu thụ rau, đa dạng hóa các chủng loại rau bày bán
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu nội dung 2
1.4.2 Phạm vi không gian 2
1.4.3 Phạm vi thời gian 2
PHẦN II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ RAU TẠI CÁC CHỢ BÁN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 3
2.1 Cơ sở lý luận về tình hình tiêu thụ rau 3
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ 3
2.1.2 Vai trò của tiêu thụ rau 14
2.1.3 Đặc điểm tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ 15
2.1.4 Nội dung nghiên cứu tình hình tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 17
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ rau 19
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
2.2.1 Xu hướng tiêu thụ rau trên thế giới 21
2.2.2 Tình hình tiêu thụ rau ở Việt Nam 22
2.2.3 Thực trạng mạng lưới chợ trên thế giới và Việt Nam 23
2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ 27
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
Trang 83.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Đặc điểm về dân cư 32
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 34
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 35
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin 36
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu……… 39
3.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 39
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 Thực trạng của việc tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 40
4.1.1 Mạng lưới chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 41
4.1.2 Đặc điểm chợ bán lẻ 42
4.1.3 Đặc điểm các đối tượng tham gia tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ 48
4.1.4 Hoạt động tiêu thụ của người bán lẻ rau tại các chợ bán lẻ 53
4.1.5 Hoạt động mua rau của người tiêu dùng theo ý kiến của người bán lẻ .70
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ 72
4.2.1 Tính chất, vị trí của chợ bán lẻ 72
4.2.2 Quy mô, cơ sở vật chất của chợ 74
4.2.3 Tổ chức và quản lý chợ 74
4.2.4 Đối tượng tham gia tiêu thụ 75
4.2.5 Chủng loại rau 75
4.3 Giai pháp thúc đẩy tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 75
4.3.1 Tổ chức và phát triển mạng lưới chợ 76
Trang 94.3.2 Nâng cao cơ sở vật chất tại các chợ bán lẻ 76
4.3.3 Nâng cao trình độ BQL chợ tại các chợ bán lẻ 77
4.3.4 Giải pháp cho các đối tượng tham gia tiêu thụ rau 77
4.3.5 Đa dạng hóa các chủng loại rau bày bán 77
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Kiến nghị 79
5.2.1 Đối với Nhà Nước 79
5.2.2 Đối với thành phố Hà Nội 79
5.2.3 Đối với các chợ bán lẻ 79
5.2.4 Đối với người kinh doanh tham gia kinh doanh mặt hàng rau tại chợ bán lẻ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 82
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tên các chợ tiến hành khảo sát 35
Bảng 3.2 Số lượng người bán lẻ được điều tra phỏng vấn tại các nhóm chợ 36
Bảng 4.1 Đặc điểm, quy mô của các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội .43
Bảng 4.2 Khối lượng rau tiêu thụ bình quân 1 ngày ở các chợ bán lẻ 46
Bảng 4.3 Phân loại các chợ khảo sát theo thời gian thành lập, cơ sở vật chất và hình thức quản lý 46
Bảng 4.4 Tỷ lệ phần trăm đối tượng tham gia bán lẻ rau tại chợ bán lẻ 49
Bảng 4.5 Tỷ lệ phần trăm độ tuổi của người bán lẻ rau tại chợ bán lẻ 50
Bảng 4.6 Tỷ lệ phần trăm giới tính của người bán lẻ rau tại chợ bán lẻ 51
Bảng 4.7 Tỷ lệ phần trăm trình độ học vấn của người bán lẻ rau tại chợ bán lẻ .52
Bảng 4.8 Tỷ lệ phần trăm số người bán lẻ được tập huấn kinh doanh 53
Bảng 4.9 Tỷ lệ phần trăm chủng loại rau bán bình quân của người bán lẻ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 54
Bảng 4.10 Tỷ lệ phần trăm số người bán lẻ lựa chọn nguồn cung cấp rau 55
Bảng 4.11 Tỷ lệ phần trăm số người bán lẻ lựa chọn các tiêu chí để chọn nhà cung cấp 58
Bảng 4.12 Tỷ lệ phần trăm số người bán lẻ lựa chọn hình thức thanh toán đối với nhà cung cấp 58
Bảng 4.13 Tỷ lệ phần trăm số người bán lẻ lựa chọn phương tiện vận chuyển 60
Bảng 4.14 Tỷ lệ phần trăm đối tượng khách hàng chính của người bản lẻ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 61
Bảng 4.15 Tỷ lệ phần trăm số người bán lẻ đánh giá về xu hướng tiêu thụ của một số loại rau tại chợ bán lẻ so với 3 – 5 năm trước đây 63
Trang 11Bảng 4.16 Gía bán lẻ một số chủng loại rau tại các chợ bán lẻ 64Bảng 4.17 Tỷ lệ phẩn trăm lượng rau bán bình quân trong ngày của người bán
lẻ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội 66Bảng 4.18 Tỷ lệ phần trăm doanh thu của người bán lẻ/ngày công 68Bảng 4.19 Thuận lợi, khó khăn và kiến nghị của người bán lẻ tại các chợ bánlẻ 69Bảng 4.20 Tỷ lệ phần trăm lựa chọn tiêu chí mua rau của người tiêu dùng 71Bảng 4.21 Tỷ lệ phần trăm lượng rau mua của người tiêu dùng trên lần mua 71
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Người sản xuất tham gia tiêu thụ rau tại chợ Vàng 48Hình 4.2 Hình thức bày bán mặt hàng rau của người bán lẻ tại chợ Nghĩa Tân 62
Trang 13PHẦN I
MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết
Trang 14Rau quả là loại thức ăn thiết yếu của con người Rau quả cung cấp chocon người nhiều vitamin và muối khoáng Gluxit của rau quả chủ yếu là cácthành phần đường dễ tiêu hóa Hàm lượng chất đạm trong rau quả tuy ítnhưng có vai trò quan trọng trong trao đổi chất và dinh dưỡng Chất béo trongrau quả không nhiều nhưng dễ tiêu và có những axit béo không thể thay thếđược Rau quả còn cung cấp cho cơ thể chất xơ, có tác dụng giải các độc tốphát sinh trong quá trình tiêu hóa thức ăn và có tác dụng chống táo bón Dovậy, trong chế độ dinh dưỡng của con người, rau quả không thể thiếu và ngàycàng quan trọng Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá,đời sống nhân dân được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng rau quả ngày càng tăng cả
về số lượng, chất lượng và chủng loại
Là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hệ sinh tháiphong phú có nền nông nghiệp truyền thống lâu đời là điều kiện tốt để pháttriển nông nghiệp Việt Nam có khả năng sản xuất rau quanh năm với sốlượng, chủng loại rau rất phong phú đa dạng 60 – 80 loại rau trong vụ đôngxuân và 20 – 30 loại rau trong vụ hè Vì vậy vấn đề tiêu thụ là hết sức quantrọng đối với các nhà sản xuất
Với một thành phố lớn như Hà Nội, nhu cầu tiêu dùng các loại thựcphẩm trong đó có rau là lớn nhất Rau là những sản phẩm chủ yếu được sửdụng tươi có hàm lượng nước cao nên dễ bị thối, hỏng, dập nát Tổ chức bảoquản tốt và tiêu thụ nhanh có ý nghĩa đảm bảo được chất lượng, giảm tỷ lệ haohụt góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Khối lượng rau được cung cấp đếnngười tiêu dùng chủ yếu qua các siêu thị và các chợ bán buôn, bán lẻ Đặcbiệt đối với chợ bán lẻ, người tiêu dùng có thể mua rau tại đâu thuận tiện chomình từ các chợ có quy hoạch hay các chợ cóc, chợ tạm
Từ nhu cầu mua hàng trên của người tiêu dùng, em tiến hành nghiên
cứu đề tài “Đánh giá tình hình tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
Trang 151.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
-Đơn vị sản xuất: các chợ bán lẻ rau trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu nội dung
- Phạm vi nội dung của đề tài, nghiên cứu về hiện trạng tiêu thụ rau tại
các chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 16PHẦN II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH TIÊU THỤ
RAU TẠI CÁC CHỢ BÁN LẺ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Cơ sở lý luận về tình hình tiêu thụ rau
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ
2.1.1.1 khái niệm về chợ, chợ bán lẻ
Khái niệm
- Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hóa,
dịch vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và traođổi hàng hóa, dịch vụ với nhau
- Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổihàng hóa, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự pháthoặc do quá trình nhận thức tự giác của con người Vì vậy, trên thực tế cónhiều chợ đã được hình thành từ việc quy hoạch xây dựng, tổ chức, quản lýchặt chẽ của các cấp chính quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật.Nhưng cũng có rất nhiều chợ được hình thành một cách tự phát do nhu cầusản xuất và trao đổi hàng háo của dân cư, chưa được quy hoạch, xây dựng, tổchức, quản lý chặt chẽ
- Các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ tại chợ thườngđược diễn ra theo một quy luật và chu kì thời gian (ngày, giờ, phiên) nhấtđịnh Chu kì họp chợ hình thành do nhu cầu trao đổi hàng hóa, dịch vụ và tậpquán của từng vùng, từng địa phương quy định
- Bán lẻ là loại hình mua bán hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng giá
cả tùy thuộc vào người bán hàng mà không có qyi định rõ ràng (Là hình thứctiệm tạm hóa bán cho người tiêu dùng hiện nay)
Trang 17Vậy, chợ bán lẻ là nơi công cộng để mua bán trao đổi hàng hóa cần thiếtđến tận tay người tiêu dùng giá cả tùy thuộc vào bên bán và bên mua trao đổithống nhất.
Phân loại:
Hiện nay ở nước ta tồn tại rất nhiều các loại chợ khác nhau, dựa theonhững tiêu thức khác nhau ta có những cách phân loại sau:
a) Theo địa giới hành chính
Có hai loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chợ đô thị và chợ nông thôn:
- Chợ đô thị:
Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị trấn Do ởđây đời sống và trình độ văn hoá có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên cácchợ thành phố có tốc độ hiện đại hoá nhanh hơn, văn minh thương mại trongchợ cũng được chú trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, bổ sung
và hoàn chỉnh Phương tiện phục vụ mua bán, hệ thống phương tiện truyềnthông và dịch vụ ở các chợ này thường tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn
-Chợ nông thôn:
Là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm cụm xã Hìnhthức mua bán ở chợ đơn giản, dân dã (có nơi như ở một số vùng núi, ngườidân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy,sạp có quy mô nhỏ lẻ, manh mún Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm
đà bản sắc truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, của các vùng lãnh thổkhác nhau
b) Theo tính chất mua bán
Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai loại là chợ bán buôn vàbán lẻ:
- Chợ bán buôn:
Là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của thành phố, thị
xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung với khối lượng hàng hoá
Trang 18lớn Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi cácnơi Các chợ này thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ,các chợ bán lẻ trong và ngoài khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng choxuất khẩu Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%),đồng thời vẫn có bán lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ.
- Chợ bán lẻ:
Là những chợ thuộc phạm vi xã, phường (liên xã, liên phường), cụmdân cư, hàng hoá qua chợ chủ yếu để bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho người tiêudùng
c) Theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh
Có chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh:
- Chợ tổng hợp:
Là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngành hàng khácnhau Trong chợ tồn tại nhiều loại mặt hàng như: hàng tiêu dùng (quần áo,giày dép, các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng gia dụng…), công cụ laođộng nông nghiệp (cuốc, xẻng, liềm búa…), cây trồng, vật nuôi…, chợ đápứng toàn bộ các nhu cầu của khách hàng Hình thức chợ tổng hợp này thểhiện khái quát những đặc trưng của chợ truyền thống và ở nước ta hiện nayloại hình này vẫn chiếm ưu thế về số lượng cũng như về thời gian hình thành
và phát triển
-Chợ chuyên doanh:
Là loại chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu, mặt hàng nàythường chiếm doanh số trên 60% đồng thời vẫn có bán một số mặt hàngkhác, các loại hàng này có doanh số dưới 40% tổng doanh thu Hình thứcchợ này cũng tồn tại ở nước ta như chợ vải, chợ hoa tươi, chợ vật liệu xâydựng, chợ rau quả, chợ giống cây trồng…
Trang 19d) Theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ
Dựa theo cách phân loại trong Điều 3 Nghị định số 02/2003/NĐ-CPcủa Chính phủ về phát triển và quản lý chợ thì chợ được chia thành 3 loại: chợloại 1, chợ loại 2 và chợ loại 3
Chợ loại 1 là chợ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố,hiện đại theo quy hoạch;
- Được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng củatỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế vàđược tổ chức họp thường xuyên;
- Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và
tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảoquản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệsinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác
Chợ loại 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có trên 200 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cốhoặc là bán kiên cố theo quy hoạch;
- Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chứchọp thường xuyên hay không thường xuyên;
- Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và
tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảoquản hàng hoá, dịch vụ đo lường
Chợ loại 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
- Là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tưxây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố;
- Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã,phường và địa bàn phụ cận
Trang 20e) Theo tính chất và quy mô xây dựng
Theo tiêu chí này, chợ được chia thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố vàchợ tạm:
-Chợ kiên cố:
Là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đủ các yếu tố của một công trìnhkiến trúc, có độ bền sử dụng cao (thời gian sử dụng trên 10 năm) Chợ kiên cốthường là chợ loại 1 có diện tích đất hơn 10.000 m2 và chợ loại 2 có diện tích đất
từ 6000 - 9000 m2 Các chợ kiên cố lớn thường nằm ở các tỉnh, thành phố lớn,các huyện lỵ, thị trấn và có thời gian tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và làtrung tâm mua bán của cả vùng rộng lớn
- Chợ bán kiên cố:
Là chợ chưa được xây dựng hoàn chỉnh Bên cạnh những hạng mục xâydựng kiên cố (tầng lầu, cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mục xây dựngtạm như lán, mái che, quầy bán hàng…, độ bền sử dụng không cao (dưới 10năm) và thiếu tiện nghi Chợ bán kiên cố thường là chợ loại 3, có điện tích đất
3000 - 5000 m2 Chợ này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn
xa xôi, chợ liên xã, liên làng, các khu vực ngoài thành phố lớn
-Chợ tạm:
Là chợ mà những quầy, sạp bán hàng là những lều quán được làm
có tính chất tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ nhanhchóng và ít tốn kém Loại chợ này thường hay tồn tại ở các vùng quê, các
xã, các thôn, có chợ được dựng lên để phục vụ trong một thời gian nhấtđịnh (như tết, lễ hội…)
2.1.1.2 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình chuyển sang hìnhthái giá trị của sản phẩm, sản phẩm được coi là tiêu thụ khi khách hàng chấpnhận thanh toán theo quan điểm này, quá trình tiêu thụ bắt đầu khi đưa vào
Trang 21lưu thông và kết thúc khi bán hàng xong.
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm, là một quá trình bao gồm nhiềukhâu từ việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất tổ chức bánhàng và thực hiện các dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng, như vậy theoquan điểm này tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổchức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán đựơc sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sảnxuất, là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữacác chủ thể kinh tế Quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hìnhthái vật chất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chuyển vốn của đơn vị sản xuấtkinh doanh được hoàn thành Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ tạo điềukiện thu hồi chi phí sản xuất kinh doanh và tích lũy để thực hiện tái sản xuất
mở rộng Tiêu thụ sản phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình chuyển sanghình thái giá trị của sản phẩm, sản phẩm được coi là tiêu thụ khi khách hàngchấp nhận thanh toán theo quan điểm này, quá trình tiêu thụ bắt đầu khi đưavào lưu thông và kết thúc khi bán hàng xong
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm, là một quá trình bao gồm nhiềukhâu từ việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất tổ chức bánhàng và thực hiện các dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng, như vậy theoquan điểm này tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổchức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán đựơc sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất,
là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữa các chủthể kinh tế Quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hình thái vậtchất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chuyển vốn của đơn vị sản xuất kinhdoanh được hoàn thành Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ tạo điều kiện thuhồi chi phí sản xuất kinh doanh và tích lũy để thực hiện tái sản xuất mở rộng
Trang 222.1.1.3 Khái niệm vể tiêu thụ sản phẩm rau
Rau là loại cây trồng ngắn ngày, mật số loại rau trông một lần cho thuhoạch trong nhiều lứa, thời gian thu hoạch rau khá tập trung Rau chịu ảnhhưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh Rau được trồng dưới nhiều dạng khácnhau như trồng thuần, trồng xen, trồng gối Trồng rau cần nhiều nhân công
Tiêu thụ sản phẩm rau là quá trình người sản xuất rau bán sản phẩmcủa mình ra thị trường để mang lại thu nhập Thu nhập từ việc tiêu thụ sảnphẩm rau giúp người sản xuất sử dụng nhanh chóng thực hiện quá trình táisản xuất.o
Hoạt động tiêu thụ rau trên thị trường được cấu thành bởi rất nhiều cácyếu tố khác nhau, chủ thể kinh tế tham gia bao gồm:
-Người sản xuất: là người trực tiếp tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhucầu thị trường
-Người thu gom: thu mua sản phẩm hàng hóa của người sản xuất và bánlại cho người bán buôn, bán lẻ
-Người bán buôn: là người mua hàng hóa với số lượng lớn rồi bán lạicho những người bán lại hoặc bán lẻ
-Người bán lẻ: là người trực tiếp chuyển giao sản phẩm hàng hàng hóađến người tiêu dùng
-Người tiêu dùng: là những người tham gia vào khâu cuối cùng củakênh phân phối, có nhu cầu về sản phẩm Họ mua sản phẩm để tiêu dùng cho
cá nhân và gia đình
2.1.1.4 Khái niệm về thị trường
Có nhiều khái niệm khác nhau về thị trường:
-Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặctiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩmnhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả
Trang 23cần thiết của sản phẩm, dịch vụ Thực chât, thị trường là tổng thể các kháchhàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và cókhả năng tham gia rao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó.
-Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qualại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi
-Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có cácquan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và ngườimua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào
Chức năng của thị trường:
-Chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hóa dịch vụ
-Chức năng thực hiện giá cả
-Chức năng điều tiết kích thích tiêu dùng xã hội
-Chức năng thông tin thị trường
Các quy luật của thị trường:
-Quy luật về giá trị: Là quy luật cơ bản của tiền sản xuất hàng hóa, quyluật này yêu cầu trao đổi hàng hóa phải dựa trên chi phí lao động xã hội cầnthiết để sản xuất hàng hóa đó
-Quy luật cạnh tranh: Đây chính là cơ chế vận động của thị trường.+ Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó cũngđào thải những hàng hóa không được thị trường chấp nhận
-Quy luật cung cầu:
+ Cầu là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó; là sựcần thiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà cá thể sẵnsàng có khả năng thanh toán cho hàng hóa hay dịch vụ đó
+ Cung là một thuật ngữ dùng để chỉ thái độ của người bán và khả năngbán về một loại hàng hóa nào đó
-Quy luật cầu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượngcung về hàng hóa dịch vụ
Trang 242.1.1.5 Kênh tiêu thụ
Qúa trình khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ và đến người tiêu dùng sẽhình thành lên các kênh phân phối Kênh phân phối sản phẩm là tập hợpnhững cá nhân hay tổ chức sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhautham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sảnxuất đến người tiêu dùng Tất cả những người tham gia kênh phân phối gọi làthành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêudùng gọi là trung gian thương mại
Có rất nhiều định nghĩa về kênh tiêu thụ Kênh tiêu thụ có thể được coi
là đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
Nó cũng được coi như một dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá khichúng được mua bán qua các tác nhân khác nhau Một số ý kiến khác lại chorằng, kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để thựchiện mục đích thương mại
Các loại kênh tiêu thụ:
Phân loại kênh tiêu thụ theo tính chất tiếp xúc gồm có:
Kênh trực tiếp là kênh không có trung gian, là cầu nối gắn liền ngườisản xuất với người tiêu dùng Kênh trực tiếp thường xảy ra ở kiểu sản xuất cổtruyền, ở miền núi, vùng dân tộc ít người, quy mô sản xuất nhỏ, người sảnxuất gần người tiêu thụ (kênh tiêu thụ đến thẳng người sản xuất để mua hoặcngười sản xuất phục vụ tận nhà) và sản phẩm tươi sống khó bảo quản
-Ưu điểm của kênh trực tiếp là sản phẩm nhanh đến tay người tiêudùng, chủ động, đơn giản về thời gian và khách hàng, nhanh thu hồi vốn.-Nhược điểm của kênh tiêu thụ trực tiếp là:
+ Khó khăn đối với sản xuất quy mô lớn như các trang trại hoặc cácdoanh nghiệp tư nhân Khó khăn đối với những nơi sản xuất, tiêu thụ sảnphẩm tập trung như từ ngoại thành vào nội thành phố lớn
+ Hạn chế đối với sản xuất hàng cao cấp vì sản xuất hàng cao cấp đòi
Trang 25hỏi phải phân loại, phân cấp sản phẩm và đòi hỏi công nghệ bao bì và đónggói công phu không phù hợp với loại kênh này.
+ Hạn chế phát triển thương mại và khó khăn cho phát triển phân cônghợp tác lao động xã hội vì không điều kiện hình thành tầng lớp trung gian,không tạo ra sự phân công lao động mới trong nông nghiệp
Kênh gián tiếp là kênh có trung gian tham gia Trung gian là cầu nốigiữa người sản xuất và người tiêu dùng Các loại trung gian bao gồm: Ngườithu gom, đại lý, hợp tác xã tiêu thụ, các cửa hàng, người bán lẻ, người bánbuôn, trung thị, siêu thị, đại lý siêu thị, các công ty và tổng công ty xuyênquốc gia
-Trung gian là cần thiết là quan trọng, song trung gian có tính hai mặt,cần phải phát huy tính tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của nó
Những tính tích cực của trung gian cần được phát huy:
-Phải sử dụng trung gian như là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêudùng để đảm bảo hình thành mạng lưới phân phối ổn định, tiến bộ và hợp lý.-Giúp cho ổn định giá cả, nhất là các mặt hàng chiến lược quan trọngnhư thóc, gạo Những năm vừa qua, các doanh nghiệp Nhà nước đã góp phần
ổn định giá cả thóc, gạo
-Giúp phát triển ngành dịch vụ, đặc biệt trung gian Nhà nước đứng ra làmtrung gian xuất nhập khẩu rất có lợi nếu thực hiện đúng chức năng yêu cầu
Một số mặt tiêu cực của trung gian cần phải hạn chế:
- Qua nhiều trung gian làm cho giá mua tăng lên đối với người tiêudùng, nếu không quản lý chắt chẽ những người này sẽ làm ảnh hưởng đếnchính sách, chữ tín của những người sản xuất
- Độc quyền của các trung gian lớn: Phải hạn chế độc quyền của cáctrung gian lớn, phải cạnh tranh lành mạnh
Phân loại theo độ dài kênh:
-Kênh phân phối ngắn: Là dạng kênh phân phối trực tiếp từ doanh
Trang 26nghiệp đến người sử dụng sản phẩm hoặc có sử dụng người mua trung giantham gia xen giữa khách hàng và doanh nghiệp.
- Kênh phân phối dài: Là kênh phân phối có nhiều loại, nhiều cấp muatrung gian Hàng hóa của doanh nghiệp có thể được chuyển dần quyền sở hữucho một loại các nhà buôn bán lớn đến nhà buôn bán nhỏ rồi qua nhà bán lẻđến tay người tiêu dùng cuối cùng
Phân loại theo số cấp:
Kênh 1: Là kênh trực tiếp từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuốicùng Kênh này có đặc điểm nhanh, giảm chi phí lưu thông, quan hệ giao dịch
và chi phí mua bán
Kênh 2: Lưu chuyển phân phối qua trung gian, người bán lẻ Đây làloại kênh ngắn Thuận lợi cho người tiêu dùng cuối cùng Hàng hóa nhanh,người cung ứng cuối cùng được giải phóng khỏi chức năng bán lẻ như siêuthị, cửa hàng lớn
Kênh 3: Nhiều khâu trung gian và bán buôn, bán lẻ, từng khâu đượcchuyên môn hoá, thuận lợi mở rộng thị trường, sử dụng hiệu quả cơ sở vậtchất kỹ thuật
Kênh 4: Hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng như kênh 3.Nhưng trong quan hệ mua bán, giao dịch xuất hiện môi giới trung gian Nógiúp cả người sản xuất và người tiêu dùng có đầy đủ thông tin về thị trường,đem lại hiệu quả cho các bên tham gia
Kênh tiêu thụ của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của sảnphẩm nhưng phải đảm bảo các yếu tố như:
+ Đảm bảo tính linh hoạt và đồng bộ của hệ thống
+ Giảm tối thiểu chi phí lưu thông
+ Đạt được mục tiêu mở rộng thị trường
+ Quản lý và điều tiết, kiểm soát được hệ thống kênh tiêu thụ
- Mục tiêu các yếu tố chi phối việc lựa chọn kênh tiêu thụ
Trang 27 Mục tiêu định lượng gồm: Tối đa hoá lượng tiêu thụ, tối đa hóadoanh thu, tối thiểu hoá chi phí trung gian và tối thiểu hóa chi phí tiêu thụ.
- Mục tiêu chiến lược: Đó là mục tiêu chiếm lĩnh khách hàng, chiếmlĩnh thị trường
- Các yếu tố chi phối việc lựa chọn kênh tiêu thụ
5- Năng lực của tổ chức trung gian
2.1.2 Vai trò của tiêu thụ rau
Tiêu thụ đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngườisản xuất Tiêu thụ sản phẩm có thể góp phần tăng vòng quay của vốn, là cầunối đưa sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông qua lưu thôngtrên thị trường
Tiêu thụ là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Trong sản xuất hàng hóađóng vai trò quyết định Sản phẩm mà sản xuất ra không tiêu thụ được báohiệu sự bế tắc không phát triển được của cơ sở sản xuất, nguy cơ thua lỗ phásản là không thể tránh khỏi Mặc dù tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trìnhsản xuất kinh doanh nó chỉ diễn ra sau khi quá trình sản xuất kết thúc nhưnglại là khâu đóng vai trò định hướng phát triển cho các cơ sở
- Giai quyết đầu ra cho các sản phẩm rau sản xuất ra, bù đắp cho phí,
có tích lũy để tái sản xuất mở rộng.
Tiêu thụ nói chung đó là quá trình thực hiện sản phẩm, là giai đoạn làmcho sản phẩm ra khỏi quá trình lưu thông, đưa sản phẩm từ lĩnh vực lưu thôngsang lĩnh vực tiêu dùng Tiêu thụ rau cũng vậy, nó giải quyết đầu ra cho cácsản phẩm rau Hơn thế, sản phẩm rau được tiêu thụ mang lại một số tiền
Trang 28tương ứng với chi phí bỏ ra để sản xuất rau và phần lơi nhuận đem lại từ việctiêu thụ rau đó Đồng nghĩa là số tiền có được sẽ bù đắp được các chi phí,được giữ lại để người nông dân tái sản suất cho đợt tiếp theo và phần lợinhuận sẽ được người sản xuất giữ lại có thể họ sẽ mở rộng hoặc đầu tư thêmvào sản xuất để đem lại nguồn thu cao hơn.
-Tiêu thụ rau là mục đích và động lực cho tiêu thụ rau phát triển
Người sản xuất muốn bán được nhiều sản phẩm, tiêu thụ tốt và có giáđầu ra cao thì đồng nghĩa người sản xuât rau phải ngày càng hoàn thiện sảnphẩm của mình hơn như mẫu mã rau đẹp, rau phải đảm bảo an toàn cho sứckhỏe, đồng thời các nhà sản xuất rau cũng phải đa dạng hóa chủng loại raucủa mình để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
-Đáp ứng nhu cầu hàng ngày cho người tiêu dùng Đảm bảo lợi ích người sản xuất và các tác nhân tham gia quá trình tiêu thụ rau.
Đối với lĩnh vực tiêu dùng, tiêu thụ tốt sản phẩm rau sẽ đáp ứng kịpthời nhu cầu hàng ngày cho người tiêu dùng đồng thời còn có tác dụng điềuchỉnh và hướng dẫn tiêu dùng mới, đặc biệt đối với những sản phẩm mới.Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sản xuất rau cũng phải hướng tới tiêudùng và lấy tiêu dùng làm mục tiêu để sản xuất Thông qua tiêu thụ rau thìngười sản xuất sẽ nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng về số lượng và chủng loạirau Từ đó có định hướng cho việc sản xuất các mặt hàng rau để đáp ứng kịpthời với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng
Như vậy, người sản xuất vừa bán được sản phẩm, có nguồn thu màngười tiêu dùng lại có được những sản phẩm rau như họ mong muốn, đảmbảo lợi ích cho cả hai bên
2.1.3 Đặc điểm tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ
2.1.3.1 Đặc điểm chung của tiêu thụ rau
Theo Hoàng Bằng An trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu sản xuất vàtiêu thụ rau xanh ở thành phố Hà Nội” (2008): do sản xuất rau được tiến hành
Trang 29chủ yếu tại các hộ nông dân Xuất phát từ đặc điểm này, nên tùy thuộc vàođiều kiện của từng hộ mà chọn cho mình các giải pháp tiêu thụ rau khác nhausao cho có lợi nhất Chính vì vậy, khi sản xuất chưa tập chung chuyên canhtrên phạm vi rộng, đã hình thành nên nhiều kênh tiêu thụ Đồng thời bên cạnhrau sản xuất trong nước còn có nguồn rau nhập khẩu từ nước ngoài bổ sungcho nguồn rau cung cấp cho thị trường nội địa mà chủ yếu là các loại rau trái
vụ như cà chua, cải bắp, cải thảo đến từ Trung Quốc
Hình thức tiêu thụ rau rất phong phú bao gồm: chợ, siêu thị, cửu hàng,bán rong, trong đó chợ là hình thức phổ biến và chủ yếu nhất Cùng với hệthống chợ, các trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng thực phẩm phát triểnnhanh tạo ra một mạng lưới cung cấp rau đáp ứng nhu cầu tiêu dùng củangười dân
Rau là sản phẩm nông nghiệp có những đặc điểm như: tính thời vụ,sản phẩm nông sản có tính cồng kềnh, dễ hư hỏng, ảnh hưởng trực tiếpbởi khí hậu
Tính thời vụ: rau là sản phẩm của quá trình trồng trọt lên mang tínhthời vụ do đó khả năng cung cấp cho thị trương không được đồng đều, có thểdồi dào ở chính vụ nhưng lại khan hiếm ở thời điểm giáp vụ
Rau tươi cồng kềnh, dễ dập nát: rau tươi chứa hàm lượng nước lớn nênchúng cồng kềnh, dễ bị dập nát, dễ bị héo, tỷ lệ hao hụt về khối lượng và chấtlượng cao
Rau là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, trong số gần 700triệu tấn rau sản xuất hàng năm trên thế giới, gần 20% tổng số rau được chếbiến công nghiệp ở các dạng đồ hộp, sấy khô, nước uống Sản phẩm rau sauchế biến phong phú, dễ bảo quản, vận chuyển, tiện sử dụng và hiệu quả kinh
tế cao
Rau được bán ở chợ bán lẻ do nhiều người bán, người bán ở đây có thể
là người sản xuất rau, người kinh doanh mặt hàng rau hoặc người thu gom rau
Trang 30từ các chợ đầu mối (hoặc chợ bán buôn) rồi mang bán tại các chợ bán lẻ Vìvậy, ở chợ có nhiều chủng loại rau với xuất sứ khác nhau có rau không rõnguồn gốc Vệ sinh tại các chợ không đảm bảo sạch sẽ, rau có thể bày bánngay cạnh những đông rác to nhỏ vì vậy rau chắc chắn sẽ không hợp vệ sinhđặc biệt rau hầu hết không được đóng gói.
Đối tượng mua rau nhỏ lẻ chủ yều là học sinh sinh viên ở trọ, các giađình hoặc có thể cung cấp rau cho các bếp ăn tập thể, căng tin sinh viên.Người tiêu dùng khi đi mua lẻ rau thường bị ép giá với tâm lý chỉ là một mớ
rau hay cọng hành để mặc chủ hàng ra giá mà không biết giá thị trường.
2.1.3.2 Đặc điểm tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ
- Rau tại các trợ bán lẻ đa dạng về chủng loại
- Hầu hết rau tại chợ không được đóng gói bao bì, không rõ xuất sứ Tuynhiên khối lượng tiêu thụ rau tại các chợ bán lẻ lại không hề nhỏ, lý do là vì:
Gần nhà (tiện lợi)
Người bán hàng quen, vui vẻ, đáng tin cậy
Gía rẻ
Không phải xếp hàng chờ thanh toán như tại siêu thị
-Đa số người tiêu dùng khi đến chợ bán lẻ mua rau là những người chỉ
có nhu cầu tiêu dùng hàng ngày
-Nguồn cung rau cho các chợ bán lẻ có thể là những người bán buônlấy hàng từ các chợ đầu mối về cung cấp cho các chợ bán lẻ lấy lợi nhuậnhoặc là chính những người sản xuất (nông dân) sau khi trồng thu hoạch rau
đã tự mình đem bán tại các chợ bán lẻ mà không qua một đầu mối nào, nhưvậy lợi nhuận của người nông dân sẽ cao hơn
2.1.4 Nội dung nghiên cứu tình hình tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tiêu thụ rau là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,
Trang 31là yếu tố quyết định đến sự phát triển của người sản xuất rau cũng như ngườikinh doanh mặt hàng rau Nghiên cứu tình hình tiêu thụ rau là việc tìm hiểu
về mạng lưới, đặc điểm thị trường, các yếu tố đầu vào, doanh số bán hàng, đốitượng theo các tiêu chí khác nhau nhằm làm rõ các khía cạnh khác nhau củavấn đề tiêu thụ
2.1.4.1 Mạng lưới chợ bán lẻ rau trên địa bàn thành phố Hà Nội
Về việc phân bố các chợ trong nội thành và ngoại thành Hà Nội Tỷ lệbình quân các chợ trên một quận, diện tích đất chợ bình quân đầu người Tỷ lệchợ kiên cố, chợ bán kiên cố chợ lán tạm chiếm bao nhiêu phần trăm số chợtrên địa bàn thành phố
2.1.4.2 Đặc điểm của chợ bán lẻ rau trên địa bàn thành phố hà nội
Anh hưởng không nhỏ đến quá trình tiêu thụ như về quy mô, đặc điểmcủa chợ, diện tích bình quân mỗi sạp hang bán rau, có bao nhiêu người thamgia kinh doanh trong chợ, bao nhiêu người tham gia kinh doanh mặt hang rau,
cố định hay không cố định
2.1.4.3 Đặc điểm đối tượng tham gia tiêu thụ rau tại chợ bán lẻ
Đặc điểm của họ bao gồm: độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, có đượctập huấn kinh doanh không
2.1.4.4 Hoạt động tiêu thụ rau của người bán lẻ tại chợ bán lẻ
Nghiên cứu các vấn đề như:
-Chủng loại rau bày bán
-Nguồn cung rau: sự lựa chọn nhà cung cấp của người bán lẻ,tiêu chílựa chọn nhà cung cấp, hình thức thanh toán đối với nhà cung cấp, phươngtiện vận chuyền rau từ nơi cung cấp đến chợ bán lẻ
-Đối tượng khách hàng
-Tổ chức hoạt động bán hàng: nguồn gốc, xuất xứ, nhãn mác của rau.Hình thức bày bán, hình thức mua hàng
Trang 32-Xu hướng tiêu thụ của một số chủng loại rau so với 3 – 5 năm về trước
tăng, giữ nguyên hay giảm Giá bán lẻ của một số chủng loại rau
-Kết quả và doanh thu của người bán lẻ: khối lượng bán/ngày, doanh
thu bán/ngày công
-Thuận lợi và khó khăn của người bán lẻ
2.1.4.5 Hoạt động tiêu thụ rau của người tiêu dùng tại chợ bán lẻ
Nghiên cứu các hoạt động như:
-Tiêu chí lựa chọn mua rau của người tiêu dùng
-Lượng mua/lần mua
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ rau
2.1.5.1 Tính chất, vị trí của chợ bán lẻ
Chợ quy hoạch hay chợ tạm là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tiêu thụrau Do công tác quy hoạch chưa hợp lý lên một số chợ được quy hoạch xâydựng xong hoạt động chưa được hiệu quả bên canh đó để đáp ứng nhu cầusinh hoạt của người dân chợ cóc, chợ tạm lại mọc lên khắp nơi
Chợ nằm ở nội thành hay ngoại thành cũng là yếu tố quan trọng ảnhhưởng tới tiêu thụ rau Nếu là chợ trong nội thành thì mức tiêu thụ rau có khảnăng cao hơn bởi trong nội thành có mức độ dân cư đông đúc hơn ngoạithành, nhu cầu tiêu dùng hầu như lại cao hơn
2.1.5.2 Quy mô, cơ sở vật chất của các chợ bán lẻ
Cơ sở hạ tầng cho công tác tiêu thụ bao gồm: kết cấu kiến trúc xâydựng các khu bán hàng, hệ thống đường đi trong các chợ, kho bãi bảo quảncất giữ sản phẩm, phương tiện vận chuyển, hệ thống xử lý rác thải, hệ thốngchiếu sáng, bảo vệ và các dịch vụ khác Cơ sở hạ tầng tốt tạo điều kiện thuậnlợi cho quản lý điều hành và các hoạt động của các đối tượng tham gia tiêuthụ rau
Trang 332.1.5.3 Tổ chức và quản lý chợ
Tổ chức tiêu thụ bao gồm tổ chức không gian của chợ bán rau và côngtác tổ chức quản lý điều hành hoạt động của chợ Nếu tổ chức quản lý, điềuhành tốt sẽ sử dụng hết công suất của cơ sở hạ tầng, hoạt động kinh doanh cóhiệu quả cao
2.1.5.4 Đối tượng tham gia tiêu thụ
Người bán lẻ: một số đặc điểm của người bán lẻ có ảnh hưởng lớn tới
việc tiêu thụ rau tại chợ như: đối tượng tiêu thụ chính của họ, giá cả
Người tiêu dùng: Nhu cầu người tiêu dùng là điều đầu tiên ảnh hưởng
đến tiêu thụ rau Với xu hướng dùng nhiều rau quả cho bữa ăn hàng ngày,giảm bớt lượng tinh bột, đường sữa, chất béo, các đồ uống có ga khẩu phầnrau trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày có xu hướng tăng, làm cho cầu về rau tănglên Do đời sống của con người ngày càng được cải thiện, nhu cầu các loại raukhông chỉ theo mùa, xu hướng tiêu dùng các loại rau cao cấp có chất lượng,
an toàn thực phẩm ngày càng tăng Thói quen người tiêu dùng phụ thuộc vàođặc điểm của mỗi khu vực, vùng cũng như trình độ dân trí của vùng đó Ởnhững khu vực dân cư có đời sống cao gần các khu công nghiệp, thành phốlớn thì yêu cầu các sản phẩm đẹp về mẫu mã còn khu dân cư vùng nông thônthì không nhất thiết đẹp về mẫu mã, chất lượng quá nhưng giá cả phải chăngthì người tiêu dùng vẫn chấp nhận
Một nhân tố mới là người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến số lượng,chất lượng, giá cả của hàng hóa, họ còn quan tâm đến xuất xứ của hàng hóa
và các vấn đề đạo đức của bên sản xuất
2.1.5.5 Chủng loại rau
Chủng loại rau có đa dạng sẽ khiến cho người tiêu dùng có thêm nhiều
sự lựa chọn, như vậy việc tiêu thụ sẽ dễ hơn Tại chợ tạm số lượng và chủngloại rau không đa dạng và phong phú như tại các chợ có quy hoạch tại các chợ
Trang 34tạm mỗi người bán rau bán khoảng 20 chủng loại rau, một số người bán lẻthuộc đối tượng người sản xuất chỉ bán 2 – 3 chủng loại rau họ sản xuất ra.
Trang 352.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Xu hướng tiêu thụ rau trên thế giới
Tùy theo phong tục tập quán của từng nước mà rau Được sử dụng quacác phương thức chế biến khác nhau Ở các nước phát triển, rau thường đượcnấu chín và ăn như các món ăn chính hàng ngày
Rau được chế biến dưới dạng luộc, nấu, nướng lò, Chúng được ăn với cácloại gia vị và nước sốt khác nhau Một số loại rau như mùi tây, tỏi tây, càchua, cà rốt và cải củ được dùng làm đồ rang trí cho các mn ăn nhân dịp đặcbiệt Tại các nước phát triển nhu cầu rau tươi rất cao Đặc biệt đối với cácnước coa mùa đông kéo dài thường phải dung cả rau đông lạnh
Mức tiêu thụ rau tùy thuộc các quốc gia và thường phụ thuộc vào mức
độ thu nhập, tuy nhiên một số nước còn phụ thuộc vào tập quán ăn uống củadân tộc
Ở Indonesia, mức tiêu dùng rau là 22kg/người/năm, hàng năm suấtkhẩu rau sang Malaysia và Singapo Theo tác giả Darmawan và cộng sự chobiết 99%sản lượng rau là sản phẩm hàng hóa, do đó phải có sự lien kết chặtchẽ thị trường toàn quốc Để làm được việc nayftuw năm 1977, Indonesia đãxây dựng hệ thống và dịch vụ thông tin về rau, cung cấp thông tin về giá hàngngày cho nông dân thương gia và người tiêu dùng
Ở Ân Độ, mức tiêu dùng rau là 54kg/người/năm, lượng rau hàng hóađạt 90 – 98% với nhiều kênh tiêu thụ nhưng kênh tiêu thụ số lượng rau lớnnhất như sau: người sản xuât – hợp tác xã – người bán buôn – người bán lẻ -người tiêu dùng
Tại một số nước khác có mức tiêu thụ rau cao hơn như Đài Loan 115kg/người/năm; Hàn Quốc 229 kg/người/năm; Nepan 60 kg/người/năm
Trang 362.2.2 Tình hình tiêu thụ rau ở Việt Nam
Tình hình tiêu thụ
Hiện nay nước ta có khoảng 60 cơ sở chế biến rau quả với tổng năngsuất 290.000 tấn sản phẩm/năm, ngoài ra còn hàng chục ngàn hộ gia đình làmchế biến rau quả ở quy mô nhỏ
Hiện nay tiêu thụ rau chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, sản phẩm raucho chế biến chiếm tỷ lệ không đáng kể, năm 2005 rau quả xuất khẩu chỉ đạt
235 triệu USA, trong đó phần lớn là từ quả chế biến Sản phẩm rau cho xuấtkhẩu chủng loại hạn chế, hiên chỉ có một số loại như cà chua, dưa chuột, ngôngọt, ớt, dưa hấu ở dạng sấy khô đóng lọ, đóng hộp, muối mặn, cô đặc, đônglạnh và một số xuất ở dạng tươi (Nguồn: Thống kê của Bộ NN và PTNN)
-Tiêu thụ trong nước không nhiều và giá cả thất thường phụ thuộc vàolượng hàng nông sản cung cấp trong khi mức tiêu thụ hạn chế dẫn đến tìnhtrạng một mặt hàng nông sản có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ ảnh hưởng tớitính bền vững trong sản xuất
- Sản phẩm rau trở thành hàng hóa ngay khi thu hoạch và nó rất dễ bị
hư hỏng rong khi hầu hết các vùng sản xuất hàng hóa lớn chưa có nơi sơ chế
và kho bảo quản tạm thời
Kênh tiêu thụ rau ở Việt Nam
- Người sản xuất bán sản phẩm cho người bán lẻ, người tiêu dùng muacủa người bán lẻ Đối với kiểu mua bán này thường diễn ra ở nông thôn
- Người sản xuất giao hàng cho người bán buôn Người bán buônchuyển hàng lên thành phố hoặc thị trấn Người bán lẻ mua lại rau của ngườibán buôn sau đó lại bán cho người tiêu dùng Nhười bán lẻ hoặc bán tại chợ,hoặc bán rong trên đường phố
- Người sản xuất cho rau váo các sọt sau đó các trung gian là các xe thồtrở rau đi giao cho người bán buôn Người bán lẻ mua rau của người bán buôn
Trang 37sau đó bán lại cho người tiêu dùng Kiểu mua bán này được sử dụng trongtrường hợp các vùng sản xuất và vùng tiêu thụ cách xa nhau.
- Người thu gom mua sản phẩm của người sản xuất, rồi bán lại chongười bán buôn Người bán buôn vận chuyển tới các vùng khác nhau và báncho người bán lẻ, và cuối cung bán cho người tiêu dùng
2.2.3 Thực trạng mạng lưới chợ trên thế giới và Việt Nam
2.2.3.1 Thực trạng mạng lưới chợ trên thế giới
Ở nhiều nước trên thế giới vẫn có chợ và chợ thường hình thành từ rấtsớm Những nước Châu Âu – Mỹ, chợ biến đổi rất nhanh chóng thành cáctrung tâm thương mại và các siêu thị Hệ thống siêu thị ở những nước Tây Âu,Bắc Mỹ đang ở trong giai đoạn bão hòa thậm chí suy thoái đối với những siêuthị thuộc thế hệ đầu tiên trước sự nổi lên của các loại cửa hàng chuyên doanhvới tập hợp hàng hóa hẹp nhưng sâu, có quy mô ngày càng mở rộng Trongkhi ở các nước đang phát triển như châu Mỹ Latinh, châu Á cùng các nước ởĐông và Nam Phi siêu thị mới đang ở giai đoạn hình thành hoặc bắt đầu pháttriển ở các vùng đô thị và tương lai trong thập kỷ này, hệ thống bán hàng thựcphẩm trong các siêu thị sẽ càng phát triển mạnh Một số nước như Nhật Bản,
Ấn Độ bên cạnh phát triển hệ thống siêu thị, họ cũng phát triển và nâng caocác chợ truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tiêu dùng
Khác với các nước Châu Âu – Mỹ, các nước Đông Nam Á hiện nayvẫn chủ yếu là các nước đang phát triển và đã trải qua giai đoạn tiền côngnghiệp hóa Tuy nhiên, tại các nước này tỷ lệ đô thị hóa vẫn khá thấp, thườngchiếm từ 30 - 40% dân số, trừ Singapor và Bruney Do đó, loại hình chợ vẫnchiếm vị trí quan trọng trong đời sống KT - XH ngay cả ở các đô thị pháttriển nhất của các nước này Trên thị trường, tại các thành phố lớn vẫn tồn tạicác loại hình chợ truyền thống và loại hình thương mại tiến bộ là các trungtâm thương mại, siêu thị và các cửa hàng tiện lợi
Trang 38Ở Malaysia hệ thống chợ rất đa dạng Ví dụ tại thủ đô Kuala Lumpua,
Chợ đêm (Night market): có 81 chợ đêm với 10.993 người bán buôn nhỏ.Đây là chợ kinh doanh tổng hợp, những người bán lẻ rau thường đến các chợ này
để mua hàng
Chợ bán buôn: chỉ có một chợ bán buôn thuộc vùng Selayang nhưnghoạt động của nó rất sôi nổi với 448 chủ sạp Đây có thể xem như chợ đầumối nông sản với 3 mặt hàng kinh doanh chủ yếu là cá, rau và trái cây
Ở Thái Lan, năm 1957 các cơ sở thương nghiệp truyền thống (chợ, cửahàng nhỏ lẻ của tư nhân) vẫn chiếm vị trí độc tôn Các loại hình thương mạihiện đại chỉ xuất hiện ở Thái Lan sau năm 1957 Từ năm 1999 đến nay, cácloại hình thương mại phát triển nhanh và gây tác động đến thị trường truyềnthống Nhưng theo Bộ Thương mại Thái Lan, trong tổng giá trị lưu chuyểnhàng hóa, loại hình thương mại truyền thống vẫn chiếm 70% Hiện nay ở TháiLan cũng có 4 loại chợ chính: chợ công sở, chợ cuối tuần, chợ đêm, chợ đầumối bán buôn Thái Lan có hệ thống chợ bán buôn hàng nông sản, thủy hảisản tương đối phát triển Hệ thống chợ này không chỉ góp phần đắc lực vàoviệc tiêu thụ đặc biệt là các mặt hàng nông sản như rau, hoa quả mà còn thamgia vào hoạt động xuất khẩu ở Thái Lan
Quá trình phát triển kinh tế nói chung và quá trình đô thị hóa nói riêng
đã tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển chợ ở nhiều quốc gia trên thếgiới Xã hội càng phát triển thì mức độ thích ứng của loại hình chợ truyềnthống càng thấp, nhưng không phải vì thế mà hoàn toàn mất đi những cơ sở
Trang 39KT – XH cho sự tồn tại của chợ, bởi vì các sản phẩm nông nghiệp vẫn chiếmvai trò quan trọng trong đời sống dân cư và vẫn được sản xuất ở quy mô hộ giađình, trang trại Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm tươi sống đang tăng lên ở cácnước phát triển Nhiều sản phẩm nông nghiệp có mức độ thích ứng cao với việctiêu thụ qua chợ bởi giá của các sản phẩm nông nghiệp thường khó đồng nhất
do sự khác biệt theo thời gian bảo quản, theo điều kiện thổ nhưỡng, phươngpháp chăm sóc… Thực tế ở Malaysia, Thái Lan và kể cả các nước phát triểnloại hình chợ nói chung và chợ bán rau nói riêng vẫn tồn tại
2.2.3.2 Thực trạng mạng lưới chợ ở Việt Nam
Ở nước ta hình thức tiêu thụ rau rất phong phú bao gồm: chợ, bánrong, siêu thị, cửa hàng bán rau; mỗi hình thức đều có những điểm mạnh,điểm yếu riêng
Trong những năm gần đây hệ thống chợ khá phát triển Tuy nhiên,mạng lưới chợ tổng hợp, bán buôn, bán lẻ hạng I trên địa bàn cả nước chothấy sự thiếu hụt về số lượng, hạn chế về quy mô, chất lượng dịch vụ và phân
bố không đều, nên chưa thực sự tạo ra môi trường thúc đẩy giao lưu hàng hóa,phát triển thị trường
Mạng lưới chợ, cơ sở vật chất, quy mô chợ
Cả nước xây mới gần 1.500 chợ, cải tạo nâng cấp hơn 1.800 chợ cácloại, nâng tổng số chợ cả nước lên hơn 9.000 chợ, chợ ở nông thôn chiếm76% Trong 10 năm qua số lượng chợ tăng gần gấp đôi, số lượng chợ tăngnhanh nhưng không đều, chủ yếu tập trung vào những nơi có tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao, đó là các thành phố và ngoại ô, các khu công nghiệp và ởcác vùng kinh tế trọng điểm Khu vực miền núi chợ thưa thớt, ý tưởng về chợđầu mối nông sản đã thực hiện nhưng nông sản có mùa, việc đầu tư chợ đầumối theo mùa hiệu quả chưa cao
Hạ tầng chợ chưa đáp ứng, hiện nay chỉ có 11% chợ kiên cố (chủ yếu tậptrung ở đô thị, thị trấn), 31% chợ bán kiên cố, hơn 33% chợ lều lán, gần 25%
Trang 40chợ họp ngoài trời Số liệu cho thấy trong nhiều năm qua những cố gắng đầu
tư của nhà nước và nhân dân chưa thực sự đáp ứng nhu cầu nơi họp chợ Chấtlượng hạ tầng kém ảnh hưởng đến thời gian họp chợ, ảnh hưởng đến chấtlượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm Đa số các chợ có quy mô nhỏchủ yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày của dân Kiểu trao đổi ở đầu làng, ngã ba,ven bến sông, gốc cây, chợ cóc, chợ tạm, bán dạo nhiều nơi vẫn tồn tại
Hiện nay có khoảng 2 triệu hộ kinh doanh thường xuyên tại chợ chiếm40% số người hoạt động thương mại dịch vụ trong cả nước, trong đó ngườibuôn bán cố định tại chợ chiếm khoảng 51% Doanh số bán lẻ của chợ ướcđạt khoảng 40% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội Theothống kê của Bộ Thương mại, tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hoá và doanhthu dịch vụ năm 2005 ước 475.381 tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ.Trong đó, khối thương nghiệp ước 370.221 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ
Số người thường xuyên trao đổi tại chợ chiếm 80% người tiêu dùng Đây làcon số mà các tập đoàn bán lẻ trong nước và quốc tế quan tâm và có kế hoạchtiếp cận, phát triển chợ
Công tác quy hoạch, cơ chế quản lý chợ
Sau Nghị định 02/2003/NĐ-CP, hầu hết các tỉnh đã ban hành quyết địnhquy hoạch phát triển mạng lưới thương mại, chợ, siêu thị trong một quyếtđịnh chung hoặc quyết định riêng Đến năm 2005 số chợ được quy hoạchchiếm khoảng 80%, số chợ tạm họp vào giờ nhất định chưa có thống kênhưng các xã, phường vẫn quản lý và thu thuế, doanh số các chợ này có thểchiếm tỷ lệ khoảng 10% tổng mức lưu chuyển hàng hóa của các chợ
Quy hoạch chợ hiện nay được Bộ Công thương ban hành tại Quyết định
số 012/2007/QĐ-BCT ngày 26/12/2007 phê duyệt quy hoạch tổng thể pháttriển mạng lưới chợ trên phạm vi toàn quốc đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020