Bên cạnh những mặt đạt được thì còn một số hạn chếnhư : nhãn mác cụ thể của một số loại rau còn chưa có, nguồn gốc và quytrình sản xuất rau còn chưa được ghi rõ ràng, làm cho khách hàng
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các sốliệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa từngđược dùng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được chỉ rõnguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Đặng Thị Mai
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này được thực hiện và hoàn thành tại Bộ môn Kinh tế nôngnghiệp và Chính sách thuộc Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn của TrườngĐại học Nông nghiệp Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tớiGS.TS Đỗ Kim Chung, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và địnhhướng tôi trưởng thành trong công tác nghiên cứu khoa học và hoàn thiệnkhóa luận Bản thân tôi đã học được ở GS.TS Đỗ Kim Chung rất nhiều kiếnthức mới về công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt về phương pháp tư duy đểgiải quyết các vấn để trong nghiên cứu cũng như trong cuộc sống Trong suốtquá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡtận tình của các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Kinh tế nông nghiệp vàChính sách, Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn Tôi xin cảm ơn sâu sắc tớicác thầy, cô về sự hỗ trợ quý báu này
Tôi xin cảm ơn đến lãnh đạo các Ban quản lý siêu thị trên địa bàn HàNội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian đi thực tế tại các đơn vị Tôi cũngxin cảm ơn đến các siêu thị bán rau đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thực hiện đề tài.Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Th.S Nguyễn Thị Tân Lộc, thuộc bộ môn Kinh TếThị Trường, Viện Nghiên cứu Rau quả Đồng thời, ở đây tôi cũng rất biết ơn
sự tạo điều kiện của các lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả, các cô, chú cán
bộ nghiên cứu tại Bộ môn Kinh tế thị trường, Viện Nghiên cứu Rau quả đã rấtdày công giúp chúng tôi tiếp cận thực tế địa bàn khảo sát và trong thời gianthực tập
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến bạn bè và gia đình: bố, mẹ tôiluôn luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần cũng nhưvật chất để tôi hoàn thành luận văn này Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơntới tất cả mọi người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Đặng Thị Mai
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Rau tươi là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu không thể thiếu được trongbữa ăn hàng ngày của con người Rau cung cấp cho cơ thể những chất dinhdưỡng cần thiết cho cơ thể Những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế,dân số ngày càng tăng nhanh, đặc biệt là tại các khu đô thị, thành thị, kéo theo
là mức sống của người dân được cải thiện nhu cầu về dịch vụ cung ứng vàchất lượng rau ngày được coi trọng Xuất phát thực tế chúng tôi lựa chọn đề
tài: “Đánh giá hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa
bàn Thành phố Hà Nội”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: từ thực trạng tiêu thụ rau của hệ thốngcác siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp cótính khả thi nhằm phát triển tiêu thụ rau tại các siêu thị trong thời gian tới nóđược thể hiện bằng 3 mục tiêu cụ thể sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thựctiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội Đánh giáthực trạng tiêu thụ rau tại các siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội trongnhững năm vừa qua Đề xuất định hướng, giải pháp nhằm nâng cao khả năngtiêu thụ rau tại các siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội trong những nămtới Để nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng các phương pháp thu thập số liệu (đãcông bố, số liệu mới), phương pháp phân tích, xử lý thông tin, số liệu (phântích thông kê, chuyên gia, chuyên khảo, xử lý số liệu phần mềm SPSS củamáy tính)
Qua quá trình nghiên cứu, tôi thu được những kết quả sau : số lượngsiêu thị có bán rau trên địa bàn Hà Nội tăng lên theo từng năm Mạng lưới cácsiêu thị kinh doanh rau ngày càng nhiều và phân bố chủ yếu tại nhưng khuđông dân cư, trên trục đường chính của thành phố Hà Nội Đặc điểm của hệthống diêu thị có bán rau trên địa bàn thì tại các siêu thị lớn thì có quy mô bày
Trang 4bán mặt hàng rau xanh thường lớn hơn những siêu thị vừa và nhỏ khác, hệthống cơ sở hạ tầng và năng lực quản lý tại các siêu thị lớn luôn được hoànthiện hơn so với các siêu thị nhỏ khác Hoạt động tiêu thụ rau của các quầybán rau trong siêu thị là khác nhau về cách thức tổ chức hoạt động bán hàng
về nguồn gốc, chủng loại, cách thức bày hàng và niềm yết giá, nhãn mác củasản phẩm Lượng bán trong ngày của các loại siêu thị là khác nhau đối vớiĐại siêu thị khoảng 1250 kg/ngày, siêu thị vừa khoảng 1300 kg/ngày, siêu thịnhỏ khoảng 100 kg/ngày Và xu hướng tiêu thụ rau có xu hướng tăng trongnhững năm gần đây do như cầu về rau an toàn của người dân tăng cao Nhữngmặt đạt được của hệ thống siêu thị kinh doanh rau : về cơ sở hà tầng và dịch
vụ ngày càng đươc cải thiện, nguồn gốc rau và tiêu chí rau an toàn bán trongsiêu thị được nâng cao Bên cạnh những mặt đạt được thì còn một số hạn chếnhư : nhãn mác cụ thể của một số loại rau còn chưa có, nguồn gốc và quytrình sản xuất rau còn chưa được ghi rõ ràng, làm cho khách hàng chưa rõ.Các yêu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn
Hà Nội là : nguồn lực của chủ doanh nghiệp, nguồn cung ứng rau, chất lượngsản phẩm, giá cả loại sản phẩm, cơ sở hạ tầng, đối thủ cạnh tranh, nhãn mác.Quản lý chất lượng, quy mô siêu thị
Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ rau thông qua hệthống siêu thị trên địa bàn Hà Nội: Mở rộng quy mô siêu thị.Nâng cao cơ sở
hạ tầng và chất lượng dịch vụ tại hệ thống siêu thị Nhãn mác cần được ghi cụthể nguồn gốc xuất xứ cụ thể của từng loại mặt hàng: nơi xuất xứ, địa chỉ, sốđiện thoạt, quy trình sản xuất rau Sử dụng hiệu quả vốn cho hoạt động kinhdoanh rau Nâng cáo chất lượng và đa dạng sản phẩm, hàng hóa Nâng caođội ngũ lao động trong ngành hàng rau và đẩy mạnh công tác quản lý siêu thị.Tối thiểu hóa chi phí Đẩy mạnh hoạt động công tác marketing
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THÔNG SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 4
2.1 Cơ sở lý luận của tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị 4
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị……… 4
2.1.2 Vai trò của việc tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị 13
2.1.3 Đặc điểm của tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị 16
2.1.4 Nội dung nghiên cứu hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị 16
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị 18
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20
2.2.1 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới 20
2.2.2 Tình hình tiêu thụ rau ở Việt Nam 22
2.2.3 Tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị tại Hà Nội 24
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
3.1.1 Đặc điểm địa bàn Thành phố Hà Nội 28
3.1.2 Đặc điểm về hệ thống siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
Trang 63.2.1 Phương pháp tiếp cận 34
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: 35
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin số liệu 37
3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế trong tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội 40
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1Tình hình tiêu thụ rau của hệ thống các siêu thị trên địa bàn Hà Nội 42
4.1.1 Mạng lưới các siêu thị có bán rau tại địa bàn Thành phố Hà Nội 43
4.1.2 Đặc điểm của quầy bán rau tại hệ thống các siêu thị trên địa bàn Hà Nội .45
4.1.3 Hoạt động tiêu thụ rau của hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội 50
4.1.4 Đặc điểm của khách hàng mua rau tại hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội 65
4.1.5 Hoạt động mua rau của khách hàng tại hệ thống siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội 66
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội 68
4.2.1 Nguồn lực của chủ doanh nghiệp 68
4.2.2 Nguồn cung ứng 70
4.2.3 Giá sản phẩm 76
4.2.4 Chất lượng sản phẩm 79
4.2.5 Hạ tầng cơ sở 80
4.2.6 Đối thủ cạnh tranh 80
4.2.7 Nhãn mác 83
4.2.8 Hành vi của người tiêu dùng 84
4.2.9 Các yếu tố khác 85
4.3 Giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội 85
4.3.1 Đầu tư, mở rộng quy mô của hệ thống các siêu thị trên địa bàn 85
4.3.2 Tổ chức hoạt động bán hàng một cách hợp lý 86
Trang 74.3.3 Có sự liên kết chặt chẽ với nhà cung cấp rau cho hệ thống siêu thị 86
4.3.4 Đa dạng sản phẩm, hàng hóa 86
4.3.5 Chủ doanh nghiệp đầu tư trong công tác quản lý siêu thị 88
4.3.6 Sản phẩm bày bán trong siêu thị có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng từ nhà cung cấp 90
4.3.7 Chiến lược giá phù phợp 90
4.3.8 Sử dụng hiệu quả vốn cho hoạt động kinh doanh rau 90
4.3.9 Tối thiểu hóa về chi phí 91
4.3.10 Đẩy mạnh hoạt động về Marketing 91
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Kiến nghị 95
5.2.1 Đối với Nhà Nước 95
5.2.2 Đối với Thành Phố Hà Nội 96
5.2.3 Đối với siêu thị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sản lượng rau tính theo đầu người/ ngày 21
Bảng 2.2: Sản lượng rau của một số nước trên Thế Giới qua các năm 1961-1996 .22
Bảng 2.3 Tỷ lệ thiêu thụ đối với từng sản phẩm theo vùng 23
Bảng 2.4: Biến động diện tích năng suất sản lượng rau tại địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2012 25
Bảng 2.5 Khối lượng rau tiêu thụ bình quân 1 ngày 27
Bảng 3.1 Tên các siêu thị tiến hành khảo sát 35
Bảng 3.2 Số lượng siêu thị điều tra 37
Bảng 3.3 Số lượng người tiêu dùng mua rau tại siêu thị qua phỏng vấn nhanh .37
Bảng 4.1 Số lượng siêu thị trên địa bàn Hà Nội và cả nước trong 3 năm 2010 – 2012 44
Bảng 4.2 Hệ thống các siêu thị và một số đặc điểm của siêu thị trên địa bàn 45 Hà Nội 45
Bảng 4.3 Diện tích mặt bằng và diện tích bày bán rau của hệ thống siêu thị Metro 46
Bảng 4.4 Diện tích mặt bằng và diện tích bày bán rau của hệ thống siêu thị 47 Bảng 4.5 Cơ cấu nhân viên của hệ thống siêu thị có bán rau tại địa bàn Hà Nội 49
Bảng 4.6 Đặc điểm của một số nhà cung cấp rau cho hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội 56
Bảng 4.7 Tỷ lệ lượng rau mà nhà cung cấp cung ứng rau cho hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội 57
Bảng 4.8 Số lượng mặt hàng rau bán tại các siêu thị trên địa bàn hà nội 58
Trang 9Bảng 4.9 Số lượng siêu thị lựa chọn các loại sản phẩm mà họ đã phát triểntheo xu hướng 60Bảng 4.10 Khối lượng rau bán trong một ngày tại các siêu thị trên địa bànhành phố hà Nội 61Bảng 4.11 Giá bán và khối lượng hàng bán được của một số lợi rau tại hệthống siêu thị trên địa bàn Hà Nội 63Bảng 4.12 Doanh thu từ hoạt động kinh doanh rau của hệ thống siêu thị trênđịa bàn Hà Nội trong một ngày 65Bảng 4.13 Lợi nhuận từ việc kinh doanh rau thông qua hệ thống siêu thị trênđịa bàn Hà Nội trong một ngày 65Bảng 4.14 Số siêu thị lựa chọn theo sự quan tâm của khách hàng đến màu sắccủa rau theo tiêu chí của siêu thị : 67Bảng 4.15 Số siêu thị lựa chọn theo sự quan tâm của khách hàng đên đến sâubệnh của rau: 67Bảng 4.16 Số lượng siêu thị lựa chọn theo tiêu chí khách hàng quan tâm đến
độ tươi của rau 68Bảng 4.17 Số lượng nhân viên phục vụ trong nhành hàng rau và trình độ 70Bảng 4.18 Siêu thị lựa chọn tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp trên địa bàn thànhphố Hà Nội 73Bảng 4.19 Số lượng siêu thị lựa chọn tiêu chí đầu tiên nhằm lựa chọn nhàcung cấp của hệ thống các siêu thị trên địa bàn Hà Nội 74Bảng 4.20 Số lượng siêu thị lựa chọn tiêu chí thứ hai lựa chọn nhà cung cấpcủa hệ thống siêu thị 75Bảng 4.21 Số lượng siêu thị lựa chọn tiêu chí thứ ba để chọn nhà cung cấp 75Bảng 4.22 Giá của một số loại rau được bán tại hệ thống siêu thị trên địa bàn
Hà Nội 77Bảng 4.23 So sánh giá rau trung bình của một số loại rau tại các siêu thị vàchợ truyền thống 78
Trang 10Bảng 4.24 Tỷ lệ hao hụt của rau trong quá trình tiêu thụ 79Bảng 4.25 So sánh giữa siêu thị và chợ truyền thống 83Bảng 4.26 Số lượng siêu thị lựa chọn theo tiêu chí khi mua rau của kháchhàng 84
Trang 12PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là nguồn thực phẩm không thế thay thế được trong đời sốngcon người Rau xanh không chỉ là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao
mà còn có nhiều tác dụng khác trong đời sống: cung cấp vitamin, cung cấpchất khoáng, tạo năng lượng, cân bằng tế bào… mà các loại thực phẩm kháckhông thể thay thế được
Trong những năm gần đây Việt Nam có những bước đột phá trong cáclĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội Đời sống người dân cải thiện, kéo theonhu cầu tiêu dùng các loại hàng hóa nói chung và rau xanh nói riêng ngàycàng gia tăng Tuy nhiên, việc nghiên cứu về cầu tiêu dùng các sản phẩmnông nghiệp, cũng như cầu tiêu dùng rau xanh chưa được chú ý Lượng tiêudùng sản phẩm rau xanh ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng dân số vàthu nhập, nhưng không phải mọi nhu cầu đều được đáp ứng vì thị trường cungcấp rau còn tồn tại nhiều hạn chế, bên cung ứng chưa tạo dựng được niềm tincho người tiêu dùng
Tại địa bàn Hà Nội, kinh tế ngày càng phát triển, nhiều các siêu thị,trung tâm thương mại mọc lên ngày một nhiều nhằm đáp ứng được nhu cầu vềmọi mặt Bên cạnh đó, theo chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội năm 2013 cho biếtnhu cầu rau xanh của thành phố khoảng 2600 tấn/ngày tương đương với
950000 tấn/năm Tuy nhiên, thành phố chỉ mới cung ứng được 60% nhu cầurau xanh của Thủ đô, còn lại 40% là lượng rau từ các địa phương khác nhập về
Siêu thị là một trong những nguồn cung cấp rau xanh lớn của thànhphố Rau bán ở siêu thị phải được công nhận bằng giấy chứng nhận rau antoàn, với nhiều chủng loại rau, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng,cung cấp các loại rau sạch, đảm bảo chất lượng Ở siêu thị có hệ thống cơ sở
hạ tầng tốt, đảm bảo vệ sinh và có điều kiện duy trì được rau tươi suốt trong
Trang 13ngày Có nguồn gốc rau rõ ràng, vệ sinh an toàn thực phẩm được kiểm soátnghiêm ngặt hơn Tuy nhiên, hầu hết siêu thị dành diện tích cho bán rau nhỏ,giá cao, chưa phù hợp với phần lớn khách hàng do thói quen mua bán, khảnăng ít tạo việc làm cho người lao động Thêm vào đó, nhu cầu của ngườitiêu dùng ngày càng cao đòi hỏi các siêu thị cần có những giải pháp hữu hiệu
để tăng khả năng tiêu thụ rau cho mình
Xuất phát từ vấn đề đó, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tiêu thụ rau của hệ thống các siêu thịtrên địa bàn Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp có tính khả thinhằm phát triển tiêu thụ rau tại các siêu thị trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các siêu thị có bán rau trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu thực trạng tình hình tiêu thụ rau xanh hàng năm của một sốsiêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THÔNG
SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1 Cơ sở lý luận của tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
2.1.1.1 Khái niệm về siêu thị
* Khái niệm
Siêu thị là dạng cửa hàng tự phục vụ, thường đặt ở các đô thị.
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại ViệtNam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004:
“Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tồng hợp hoặc chuyêndoanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng;đáp ứng các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản
lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm
thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”.
Trên thế giới hiện có một số khái niệm về siêu thị như sau:
Theo Philips Kotler, siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có
mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa".
Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻ
theo phương thức tự phục vụ có diện tích từ 400m 2 đến 2500m 2 chủ yếu bán hàng thực phẩm".
Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z:
"Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu
Trang 16cầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, dụng
cụ gia đình và các loại vật dụng cần thiết khác".
Siêu thị truyền thống thường được xây dựng trên diện tích lớn, gần khudân cư để tiện lợi cho khách hàng và đảm bảo doanh thu
Phân biệt đô thị với chợ và trung tâm thương mại:
Quy mô của siêu thị thì lớn hơn các cửa hàng tạp phẩm (hoặc chợ) vàtương đối nhỏ hơn các trung tâm thương mại
mại có quy mô lớn hơn, không chỉ bao gồm các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạtđộng dịch vụ mà còn bao gồm cả hội trường, phòng họp, văn phòng chothuê…được bố chí tập trung, liên hoàn
Tiêu chuẩn xếp hạng siêu thị ở Việt Nam:
Theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, siêu thị được phân làm
3 hạng:
Siêu thị hạng I:
Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảoquản, khu vệ sinh, khu giải trí, các siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảocác tiêu chuẩn cơ bản sau:
+ Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên;
+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
Trang 17+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên;
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
+ Diện tích từ 250m2 trở lên (như siêu thị tổng hợp);
+ Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên
2.1.1.2 Khái niệm về thị trường , marketing
a) Khái niệm về thị trường
* Định nghĩa: Thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán(đây là khái niệm phổ biến nhất)
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, traođổi Như vậy ở đâu diễn ra các hoạt động trên thì ở đó xuất hiện thị trường.Theo học thuyết của Mác thì cần hiểu rằng là nơi diễn ra các mối quan hệkinh tế, là nơi chữa đựng tổng số cung-cầu, là nơi tập hợp nhu cầu của mộtloại hàng hóa nào đó
Từ các khái niệm nêu trên cho thấy: Thị trường chứa đựng tổng số cung
và tổng số cầu về một loại hàng hóa nào đó Thị trường bao gồm các yếu tốthời gian và yếu tố không gian, trên thị trường luôn diễn ra hoạt động muabán và các mối quan hệ tiền tệ
* Chức năng của thị trường bao gồm:
+ Chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hóa dịch vụ;
+ Chức năng thực hiện giá cả;
+ Chức năng điều tiết kích thích tiêu dùng xã hội;
+ Chức năng thông tin thị trường
Trang 18* Các quy luật của thị trường:
+ Quy luật về giá trị: Là quy luật cơ bản của tiền sản xuất hàng hóa,quy luật này yêu cầu trao đổi hàng hóa phải dựa trên chi phí lao động xã hộicần thiết để sản xuất hàng hóa đó
+ Quy luật cạnh tranh: Đây chính là cơ chế vận động của thị trường.Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó cũng đàothải những hàng hóa không được thị trường chấp nhận
+ Quy luật cung cầu:
Cầu là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó; là sự cần thiếtcủa một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà cá thể sẵn sàng có khảnăng thanh toán cho hàng hóa hay dịch vụ đó
Cung là một thuật ngữ dùng để chỉ thái độ của người bán và khả năng bán vềmột loại hàng hóa nào đó
- Quy luật cầu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa giá cả và lượngcung về hàng hóa dịch vụ
b) Marketing:
Theo quan niệm của các nghiên cứu thì định nghĩa về Marketing đượctrình bày theo hai khái niệm khác nhau phù hợp với các giai đoạn phát triểncủa Marketing đó là Marketing cổ điển và Marketing hiện đại
Theo quan điểm cổ điển: Marketing là quá trình mà ở đó nhu cầu về hàng hóa
và dịch vụ được dự đoán về thỏa mãn thông qua một quá trình bao gồm nhậnthức thúc đẩy và phân phối.Về thực chất, Marketing là hoạt động kinh doanhnhằm hướng luồng hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêudùng Đặc trưng của Marketing cổ điển là hoạt động Marketing chỉ diễn ratrên thị trường trong khâu lưu thông Hoạt động đầu tiên là hoạt động thịtrường sau đó là tổ chức các kênh phân phối; các chủ trương và biện pháp đềunhằm mục tiêu là bán được hàng hóa, tăng được doanh số và lợi nhuận
Theo quan điểm hiện đại: Từ những năm 50 của thế kỷ XX, kinh tế và
Trang 19khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, cạnh tranh trên thị trường gay gắt, giá cảbiến động mạnh, rủi ro trong kinh doanh nhiều, khủng hoàng kinh tế diễn rabuộc các nhà kinh doanh phải có những biện pháp mới ứng xử với thị trường.Chính vì vậy Marketing hiện đại ra đời Marketing hiện đại có đặc trưng cơbản là coi khách hàng là trung tâm, coi nhu cầu của người mua là quyết định.Marketing hiện đại bắt đầu từ việc nghiên cứu phát hiện nhu cầu và làm mọicách để thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng, từ đó nhằm đạt mục tiêu kinhdoanh Khẩu hiệu của Marketing hiện đại là “ Hãy bán cái thị trường cần,đừng bán cái mình có” Từ những đặc trưng của Marketing cổ điển vàMarketing hiện đại có thể khái quát về Marketing như sau:
Marketing là chức năng quản lý của doanh nghiệp về tổ chức toàn bộcác hoạt động nhằm hướng tới thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, từviệc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầuthực sự về một hàng hóa cụ thể đến việc mua hàng hóa đến người tiêu dùngcuối cùng nhằm làm cho khách hàng thỏa mãn khi tiêu dùng hàng hóa haydịch vụ của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đảm bảo cho doanh nghiệp đạt đượcmục tiêu đề ra
2.1.1.3 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm rau
a Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình chuyển sang hìnhthái giá trị của sản phẩm, sản phẩm được coi là tiêu thụ khi khách hàng chấpnhận thanh toán theo quan điểm này, quá trình tiêu thụ bắt đầu khi đưa vàolưu thông và kết thúc khi bán hàng xong
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm, là một quá trình bao gồm nhiềukhâu từ việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất tổ chức bánhàng và thực hiện các dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng, như vậy theoquan điểm này tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổchức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán đựơc sản phẩm
Trang 20Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sảnxuất, là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữacác chủ thể kinh tế Quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hìnhthái vật chất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chuyển vốn của đơn vị sản xuấtkinh doanh được hoàn thành Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ tạo điềukiện thu hồi chi phí sản xuất kinh doanh và tích lũy để thực hiện tái sản xuất
mở rộng Tiêu thụ sản phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình chuyển sanghình thái giá trị của sản phẩm, sản phẩm được coi là tiêu thụ khi khách hàngchấp nhận thanh toán theo quan điểm này, quá trình tiêu thụ bắt đầu khi đưavào lưu thông và kết thúc khi bán hàng xong
Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm, là một quá trình bao gồm nhiềukhâu từ việc tổ chức nghiên cứu thị trường, định hướng sản xuất tổ chức bánhàng và thực hiện các dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng, như vậy theoquan điểm này tiêu thụ sản phẩm là một quá trình xuất hiện từ trước khi tổchức các hoạt động sản xuất và chỉ kết thúc khi đã bán đựơc sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sảnxuất, là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữacác chủ thể kinh tế Quá trình tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được chuyển từ hìnhthái vật chất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chuyển vốn của đơn vị sản xuấtkinh doanh được hoàn thành Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ tạo điềukiện thu hồi chi phí sản xuất kinh doanh và tích lũy để thực hiện tái sản xuất
mở rộng
b Khái niệm về tiêu thụ rau
Tiêu thụ sản phẩm rau là quá trình người sản xuất rau bán sản phẩmcủa mình ra thị trường để mang lại thu nhập Thu nhập từ việc tiêu thụ sảnphẩm rau giúp người sản xuất sử dụng nhanh chóng thực hiện quá trình táisản xuất
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm rau trên thị trường được cấu thành bởi rất nhiều
Trang 21các yếu tố khác nhau, chủ thể kinh tế tham gia bao gồm:
+ Người sản xuất: là người trực tiếp tạo ra sản phẩm rau nhằm thỏamãn nhu cầu của thị trường
+ Người thu gom: thu mua sản phẩm hàng hóa của người sản xuất vàbán lại cho người bán buôn, bán lẻ
+ Người bán buôn: là những người mua hàng hóa với số lượng lớn rồibán cho những người bán lại hoặc bán lẻ
+ Người bán lẻ: là những người trực tiếp chuyển giao sản phẩm hànghóa đến người tiêu dùng
+ Người tiêu dùng: là những người tham gia vào khâu cuối cùng củakênh phân phối, có nhu cầu về sản phẩm Họ mua sản phẩm để tiêu dùng cho
cá nhân và gia đình
2.1.1.4 Khái niệm về kênh tiêu thụ
Có rất nhiều định nghĩa về kênh tiêu thụ Kênh tiêu thụ có thể được coi
là đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng
Nó cũng được coi như một dòng chuyển quyền sở hữu các hàng hoá khichúng được mua bán qua các tác nhân khác nhau Một số ý kiến khác lại chorằng, kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để thựchiện mục đích thương mại
Các loại kênh tiêu thụ:
* Phân loại kênh tiêu thụ theo tính chất tiếp xúc gồm có:
1- Kênh trực tiếp là kênh không có trung gian, là cầu nối gắn liền ngườisản xuất với người tiêu dùng Kênh trực tiếp thường xảy ra ở kiểu sản xuất cổtruyền, ở miền núi, vùng dân tộc ít người, quy mô sản xuất nhỏ, người sảnxuất gần người tiêu thụ (kênh tiêu thụ đến thẳng người sản xuất để mua hoặcngười sản xuất phục vụ tận nhà) và sản phẩm tươi sống khó bảo quản
+ Ưu điểm của kênh trực tiếp là sản phẩm nhanh đến tay người tiêudùng, chủ động, đơn giản về thời gian và khách hàng, nhanh thu hồi vốn
Trang 22+ Nhược điểm của kênh tiêu thụ trực tiếp là:
- Khó khăn đối với sản xuất quy mô lớn như các trang trại hoặc cácdoanh nghiệp tư nhân Khó khăn đối với những nơi sản xuất, tiêu thụ sảnphẩm tập trung như từ ngoại thành vào nội thành phố lớn
- Hạn chế đối với sản xuất hàng cao cấp vì sản xuất hàng cao cấp đòihỏi phải phân loại, phân cấp sản phẩm và đòi hỏi công nghệ bao bì và đónggói công phu không phù hợp với loại kênh này
- Hạn chế phát triển thương mại và khó khăn cho phát triển phân cônghợp tác lao động xã hội vì không điều kiện hình thành tầng lớp trung gian,không tạo ra sự phân công lao động mới trong nông nghiệp
- Kênh gián tiếp là kênh có trung gian tham gia Trung gian là cầu nốigiữa người sản xuất và người tiêu dùng Các loại trung gian bao gồm: Ngườithu gom, đại lý, hợp tác xã tiêu thụ, các cửa hàng, người bán lẻ, người bánbuôn, trung thị, siêu thị, đại lý siêu thị, các công ty và tổng công ty xuyênquốc gia
Trung gian là cần thiết là quan trọng, song trung gian có tính hai mặt,cần phải phát huy tính tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của nó
* Những tính tích cực của trung gian cần được phát huy:
- Phải sử dụng trung gian như là cầu nối giữa người sản xuất và ngườitiêu dùng để đảm bảo hình thành mạng lưới phân phối ổn định, tiến bộ và hợp lý
- Giúp cho ổn định giá cả, nhất là các mặt hàng chiến lược quan trọngnhư thóc, gạo Những năm vừa qua, các doanh nghiệp Nhà nước đã góp phần
ổn định giá cả thóc, gạo
- Giúp phát triển ngành dịch vụ, đặc biệt trung gian Nhà nước đứng ra làmtrung gian xuất nhập khẩu rất có lợi nếu thực hiện đúng chức năng yêu cầu
* Một số mặt tiêu cực của trung gian cần phải hạn chế:
- Qua nhiều trung gian làm cho giá mua tăng lên đối với người tiêudùng, nếu không quản lý chắt chẽ những người này sẽ làm ảnh hưởng đến
Trang 23chính sách, chữ tín của những người sản xuất.
- Độc quyền của các trung gian lớn: Phải hạn chế độc quyền của cáctrung gian lớn, phải cạnh tranh lành mạnh
* Phân loại theo độ dài kênh:
1- Kênh phân phối ngắn: Là dạng kênh phân phối trực tiếp từ doanhnghiệp đến người sử dụng sản phẩm hoặc có sử dụng người mua trung giantham gia xen giữa khách hàng và doanh nghiệp
2- Kênh phân phối dài: Là kênh phân phối có nhiều loại, nhiều cấp muatrung gian Hàng hóa của doanh nghiệp có thể được chuyển dần quyền sở hữucho một loại các nhà buôn bán lớn đến nhà buôn bán nhỏ rồi qua nhà bán lẻđến tay người tiêu dùng cuối cùng
* Phân loại theo số cấp:
1: Là kênh trực tiếp từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng.Kênh này có đặc điểm nhanh, giảm chi phí lưu thông, quan hệ giao dịch vàchi phí mua bán
2: Lưu chuyển phân phối qua trung gian, người bán lẻ Đây là loạikênh ngắn Thuận lợi cho người tiêu dùng cuối cùng Hàng hóa nhanh,người cung ứng cuối cùng được giải phóng khỏi chức năng bán lẻ nhưsiêu thị, cửa hàng lớn
3: Nhiều khâu trung gian và bán buôn, bán lẻ, từng khâu đượcchuyên môn hoá, thuận lợi mở rộng thị trường, sử dụng hiệu quả cơ sở vậtchất kỹ thuật
4: Hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng như kênh 3 Nhưngtrong quan hệ mua bán, giao dịch xuất hiện môi giới trung gian Nó giúp cảngười sản xuất và người tiêu dùng có đầy đủ thông tin về thị trường, đem lạihiệu quả cho các bên tham gia
Kênh tiêu thụ của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của sảnphẩm nhưng phải đảm bảo các yếu tố như:
Trang 24+ Đảm bảo tính linh hoạt và đồng bộ của hệ thống.
+ Giảm tối thiểu chi phí lưu thông
+ Đạt được mục tiêu mở rộng thị trường
+ Quản lý và điều tiết, kiểm soát được hệ thống kênh tiêu thụ
- Mục tiêu các yếu tố chi phối việc lựa chọn kênh tiêu thụ
* Mục tiêu định lượng gồm: Tối đa hoá lượng tiêu thụ, tối đa hóa doanhthu, tối thiểu hoá chi phí trung gian và tối thiểu hóa chi phí tiêu thụ
- Mục tiêu chiến lược: Đó là mục tiêu chiếm lĩnh khách hàng, chiếmlĩnh thị trường
- Các yếu tố chi phối việc lựa chọn kênh tiêu thụ
5- Năng lực của tổ chức trung gian
2.1.2 Vai trò của việc tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
2.1.2.1 Vai trò của tiêu thụ sản phẩm rau
- Giải quyết đầu ra cho các sản phẩm sản xuất ra, nhằm bù đắp chi phí, có tích lũy để tái sản xuất mở rộng.
Tiêu thụ sản phẩm rau chính là quá trình thực hiện giá trị của sản phẩm,
là giai đoạn làm cho sản phẩm ra khỏi quá trình sản xuất bước vào lưu thông,đưa sản phẩm từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực tiêu dùng Các hộ trồng rauchủ yếu cung cấp ra cho thị trường như vậy đầu ra cho sản phẩm là rất quantrọng đối với việc thu hoạch rau Sau khi bán sản phẩm ra thị trường thu nhập
mà hộ sản xuất rau thu được sẽ nhằm bù đắp chi phí mà họ đã bỏ ra và tíchlũy để tái mở rộng sản xuất
- Tiêu thụ rau là mục đích và động lực cho sản xuất rau phát triển.
Trang 25Tổ chức tốt và có hiệu quả việc tiêu thụ sản phẩm rau sẽ có tác dụngmạnh mẽ đến quá trình sản xuất rau Tiêu thụ hết và kịp thời những sản phẩmrau làm ra là một tín hiệu tốt cho người sản xuất bổ sung, điều chỉnh kế hoạchsản xuất, gieo trồng cho vụ tiếp theo Thu nhập từ việc tiêu thụ sản phẩm raugiúp người sản xuất sử dụng hợp lý nguồn vốn sản xuất, tránh ứ động vốn vànhanh chóng thực hiện quá trình tái sản xuất.
- Đáp ứng nhu cầu hàng ngày cho người tiêu dùng Đảm bảo lợi ích của người sản xuất và các tác nhân tham gia quá trình tiêu thụ rau.
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất phải hướng tới tiêu dùng và lấytiêu dùng làm mục tiêu để hoạt động sản xuất kinh doanh.Tiêu thụ đóng vaitrò quan trọng trong đầu mối này Thông qua tiêu thụ sản phẩm mà nắm bắtthị hiếu người tiêu dùng về số lượng, mẫu mã, chủng loại mặt hàng
Ngược lại, tiêu thụ sản phẩm cũng chuyển tải những kết quả của lĩnhvực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng Vì vậy tiêu thụ sản phẩm kịp thời vànhanh chóng là tiền đề quan trọng thực hiện phân phối sản phẩm và kết thúcquá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất rau
Giá cả phụ thuộc vào lượng hàng nông sản cung cấp trong khi mứctiêu thụ hạn chế dẫn đến tình trạng rau có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ Điềunày ảnh hưởng đến quyết định sản xuất cũng như lợi ích của nông dân
2.1.2.2 Vai trò của tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
- Tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp cácnhà sản xuất, phân phối hiểu thêm về kết quả sản xuất phân phối của mình vànhu cầu của khách hàng Rau được bán trong siêu thị sẽ tạo điều kện tiếp cận tớinhiều đối tượng khách hàng, từ đó hiểu được nhu cầu căn bản của người tiêudùng hướng đến cho người sản xuất cần phải làm gì và làm như thế nào
- Siêu thị là nơi bày bán những mặt hàng uy tín, đảm bảo về mặt chấtlượng vị vậy khi rau được bán thông qua kênh siêu thị sẽ tạo thương hiệu rauriêng cho cơ sở sản xuất rau,nâng cao thu nhập cho người trồng rau từ đó sẽ
Trang 26được nhiều người tiêu dùng biết đến.
- Tiêu thụ rau thông qua kênh tiêu thụ giúp cho sự liên kết từ khâu sảnxuất đến khâu tiêu thụ được từ đó giảm thiểu khó khăn trong khâu tiêu thụcủa người sản xuất cũng như người tiêu dùng khi lựa chọn rau
- Rau trước kia chỉ được bày bán ở các chợ thị nay đã có mặt trong cácsiêu thị điều này cho thấy rau bán trong các siêu thị giúp mở rộng thị trườngtiêu thụ ngành hàng rau
- Siêu thị bán hàng theo phương thức tự phục vụ (self-service hay libre
- service): Đây là phương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứngdụng trong nhiều loại cửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủyếu của xã hội văn minh giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ có sựphân biệt:
+ Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hoá sẽ đến chỗngười bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ,hướng dẫn của người bán
+ Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc
xe đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào Người bánvắng bóng trong quá trình mua hàng
- Phương thức thanh toán thuận tiện: Hàng hóa gắn mã vạch, mã
số được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét để đọc giá, tínhtiền bằng máy và tự động in hóa đơn Đây chính là tính chất ưu việt của siêuthị, đem lại sự thỏa mãn cho người mua sắm Đặc điểm này được đánh giá làcuộc đại "cách mạng" trong lĩnh vực thương mại bán lẻ
- Ngành sản xuất rau là ngành mang tính hàng hóa cao, điều này làđược thể hiện là sau khi thu hoạch, sản lượng rau trở thành hàng hóa trao đổitrên thị trường chiếm tỷ lệ cao Do vậy ngành sản xuất rau có mối quan hệchặt chẽ với các khâu trong tiêu thụ rau như: công tác thu mua, vận chuyểnlưu thông, phân phối, giá cả… nếu các khâu trên phối hợp chặt chẽ với nhau
Trang 27thì sản phẩm rau được lưu thông và phân phối kịp thời đến tay người tiêudùng, từ đó mà đảm bảo lợi ích của người sản xuất cũng như người tiêu dùnggóp phần thúc đẩy ngành rau phát triển.
+ Đối với người sản xuất: giúp họ nâng cao thu nhập, tạo việc làm cholao động, nhằm tăng thu nhập kinh tế quốc dân
+ Đối với người tiêu dùng: thỏa mãn nhu cầu của họ đối với mặt hàng rau
2.1.3 Đặc điểm của tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
- Sản phẩm rau mang tính vùng và tính khu vực, mỗi vùng có nhữngloại rau nhất định Nên siêu thị là trung gian, là cầu nối cung cấp nhữngsản phẩm từ nơi có đến nơi không có nhằm thỏa mãn nhu cầu của ngườitiêu dùng
- Tiêu thụ rau ở siêu thị chủ yếu là hình thức bán lẻ cho người tiêudùng Rau thường được đóng gói và bảo quản ở nhiệt độ thích hợp, giúp rauđược tươi, không bị hỏng
- Rau bày bán ở siêu thị tương đối nhiều chủng loại, ngày càng gia tăngnhiều chủng loại, tuy nhiên chủ yếu là các loại rau dễ bảo quản
- Hình thức bán hàng ở siêu thị giúp cho người tiêu dùng dễ nhận biết
về tên sản phẩm, về giá Tại siêu thị thì mặt hàng rau được xếp ngay ngắn,gọn gàng, tập trung vào 1 nơi, không rải rác như các chợ Chính vì vậy, dễnhận thấy là vấn về vệ sinh sạch sẽ
- Xu thế phát triển ở nước Việt Nam: hiện nay nhu cầu tiêu dùng đangtăng tạo ra thị trường tiêu thụ rau thông qua kênh siêu thị phát triển cả về sốlượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm
2.1.4 Nội dung nghiên cứu hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị.
Tiêu thụ rau là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,
là yếu tố quyết định đến sự phát triển của người sản xuất rau cũng như ngườikinh doanh mặt hàng rau Nghiên cứu tình hình tiêu thụ rau là việc tìm hiểu
Trang 28về mạng lưới, đặc điểm thị trường, các yếu tố đầu vào, doanh số bán hàng, đốitượng theo các tiêu chí khác nhau nhằm làm rõ các khía cạnh khác nhau củavấn đề tiêu thụ.
Tình hình tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn thànhphố Hà Nội hể hiện qua các vấn đề sau:
- Mạng lưới các siêu thị có bán rau trên địa bàn Hà Nội nghiên cứu tại
Hà Nội hiện có bao nhiêu siêu thị và cơ cấu của siêu thị so với cả nước thếnào, nghiên cứu về sự phân bố và tập trung của hệ thống các siêu thị trên địabàn tại các vị trí khác nhau
- Đặc điểm của siêu thị có bán rau trên địa bàn Thành phố Hà Nội:xác định quy mô của các siêu thị, diện tích cho kinh doanh mặt hàng rau và cơcấu so với tổng diện tích của siêu thị, có cơ sở hạ tầng vật chất như thế nào sựkhác nhau cơ bản giữa siêu thị lớn với siêu thị vừa và siêu thị nhỏ, các thứcvận hành và quản lý trong hoạt đông tiêu thụ rau của siêu thị
- Hoạt động kinh doanh rau của hệ thống siêu thị trên địa bàn nghiêncứu cần tìm hiểu về chủng loại rau có bán tại các siêu thị, nguồn cung ứng raucho siêu thị và tiêu chí của siêu thị khi lựa chọn nhà cung cấp, cách siêu thị tổchức hoạt động bán hàng như: trưng bày sản phẩm, đóng gói và phâm loại sảnphẩm, treo biển giá, nhãn mác lượng rau bán được của các siêu thị trong thờiđiểm (trong ngày), giá của các mặt hàng rau giữa các siêu thị khác nhau,doanh thu từ hoạt động kinh doanh rau và lợi nhuận từ việc kinh doanh raucủa siêu thị trong một ngày
- Đặc điểm của người mua rau tại hệ thống siêu thị trên địa bàn Thànhphố Hà Nội: cần tìm hiều về giới tính, trình độ, thu nhập, lượng mua rau trênmột lần mua, tần suất vào siêu thị mua rau và tiêu chí lựa chọn khi mua rau tạisiêu thị
- Hoạt động mua rau của khách hàng tại hệ thống siêu thị trên địa bàn
Hà Nội xác định đối tượng mua rau trong hệ thống các siêu thị là ai, có nguồn
Trang 29thu nhập như thế nào, trên thị trường có rất nhiều người tiêu dùng nhưng họlại có nhiều cách lựa chọn như địa điểm, số lượng, chùng loại rau, thời gian,xem xét về tiêu chí mua rau tại các siêu thị như thế nào Tiêu chí đánh giá khikhách hàng mua rau tại siêu thị như thế nào, lượng mua của khác hàng mỗikhi tới siêu thị là bao nhiêu, tần suất đến siêu thị Vì vậy khách hàng chính làyếu tố quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, họ có nhữa hành viứng xử khác nhau trong nhiều trường hợp Xác định khối lượng hàng bánđược tại các siêu thị, giá bán của một số loại rau
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị
- Nguồn lực của chủ doanh nghiệp: một người hay một doanh nhân
muốn tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thì nguồn là nhân tố tất yếukhông thể thiếu Nguồn lực ở đây bao gồm vồn và lao động
- Nguồn cung cấp: Muốn tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, trước hết, khâu
sản xuất phải đảm bảo số lượng, cơ cấu, chủng loại sản phẩm thích hợp vớicầu của người tiêu dùng Sản phẩm hàng hoá phải được cung ứng đúng thờiđiểm (Lê Sơn Hải, 2006)
Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiệngiao dịch của họ đối với doanh nghiệp, những nhà cung cấp yếu thế có thểchấp nhận các điều kiện mà doanh nghiệp đưa ra, nhờ đó doanh nghiệp giảmđược chi phí và tang lợi nhuận trong sản xuất, ngược lại, những nhà cungcaaos lớn có thể gây sức ép đối với ngành sản xuất bằng nhiều cách, chẳnghạn đặt giá bán nguyên liệu cao để san sẻ lợi nhuận của ngành
Một số quyết định của nhà cung cấp:
+ Mức độ tập trung của các nhà cung cấp Sức mạnh của nhà cung cấp
sẽ rất lớn nếu mức độ tập trung của họ cao Nếu nhà cung cấp của một doanhnghiệp phải cạnh tranh với nhiều nhà cung cấp khác, thì có khả năng là họ sẽphải chấp nhận những điều khoảng bất lợi, vì doanh nghiệp có thể nhanhchóng chuyển sang đặt hàng của nhà cung cấp khác, do đó, nhà cung cấp buộc
Trang 30phải chấp nhận tình trạng bị ép giá Sức mạnh nhà cung cấp tăng lên, nếu mức
độ tập trung trong lĩnh vực cung cấp cao
+ Chi phí thay đổi nhà cung cấp Chi phí này cao thì doanh nghiệp sẽcàng phải chịu nhiều khoản bất lợi mà nhà cung cấp đặt ra
+ Nguy cơ tang cường hợp nhất giữa các nhà cung cấp và đơn vị sảnxuất Khả năng này cao thì sức mạnh nhà cung cấp càng lớn
+ Sức mạnh của doanh nghiệp thu mua Trong giao dịch thương mại,sức mạnh của khách hàng đương nhiên sẽ làm giảm sức mạng của nhà cungcấp Sức mạnh này được thể hiện rõ một kho khách hàng tẩy chay không muasản phẩm
- Giá cả sản phẩm: Giá cả là sự thể hiện bằng tiền của giá trị sản
phẩm Trong nền kinh tế thị trường, giá cả là tín hiệu phản ánh mối quan hệkinh tế giữa người mua và người bán; giữa người sản xuất, kinh doanh vàthị trường Giá cả nhiều khi lại là yếu tố quyết định đến hoạt động sản xuất,tiêu thụ sản phẩm
- Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm hàng hoá, doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm càng cao thì càng được người tiêu dùng thừa nhận.Nâng cao chất lượng sản phẩm tạo thuận lợi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm,tăng chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời góp phần tăng uy tíncủa sản phẩm trên thị trường
- Cơ sở hạ tầng của siêu thị: cơ sở hạ tầng vật chất rất quan trong trong
việc chọn lựa của khách hàng, cơ sở vật chất hiện đại, tốt hấp dẫn nhiều ngườitiêu dùng ghé qua
- Đối thủ cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh là người, công ty, doanh nghiệp
kinh doanh hay đầu tư cùng mặt hàng với chúng ta, vì quyền lợi của riêngmình nên hay xảy ra tranh chấp nên sẽ ảnh hưởng tới quá trình tiêu thụ
- Các yếu tố khác: Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt
động tiêu thụ sản phẩm như quản lý chất lượng sản phẩm trong siêu thị, quy
Trang 31mô của siêu thị.
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình tiêu thụ rau trên thế giới
Cây rau có vai trò quan trọng trong đời sống con người, nó được pháttriển dựa trên sự phát triển của xã hội Ở các nước phát triển thì rau được chútrọng hơn các nước đang phát triển
Tùy theo phong tục tập quán ẩm thực của từng nước, vùng mà có thịhiếu về các loại rau khác nhau Ở các nước phát triển, rau không được ăn sốngnhiều lắm, chúng thường được nấu chín và ăn như món ăn thêm hoặc lẫn vớithịt, cá hoặc thức ăn khác Tại các nước phát triển nhu cầu rau tươi rất cao.Riêng đối với các nước có mùa đông kéo dài thường phải dùng cả rau đônglạnh, nhưng sở thích của họ vẫn là rau tươi, hầu hết các loại rau được dùngthông qua chế biến, một phần nhỏ dùng đóng hộp và giầm dấm Đối với cácnước châu Phi lại có kiểu sử dụng rau khác so với tình hình sử dụng chung
Ví dụ: trồng sắn ngoài việc ăn củ họ còn dùng cả lá, lá sắn là loại rau quatrọng nhất ở châu Phi
Mức tiêu thụ rau khác nhau ở các nước khác nhau và thường phụ thuộcvào mức thu nhập, tuy nhiên một số nước còn phụ thuộc vào tập quản của họ
Ví dụ Indonexia mức tiêu dùng bình quân mỗi người là 22 kg/năm và hàngnăm họ vẫn xuất khẩu rau sang Malaixia và Singapo; ở Ấn Độ mức tiêu dùng
là 54 kg/năm; Thái Lan là 53 kg/năm… Một số nước khác có mức tiêu dùngrau cao như Đài Loan 115 kg/người/năm, Hàn Quốc 229 kg/người/năm.Nhưng lượng rau tiêu dùng được trao đổi giữa các nước rất lớn Có nhiềukênh tiêu thụ tồn tại, nhưng kênh tiêu thụ số lượng rau lớn nhất là: người sảnxuất-HTX-người buôn bán-người bán lẻ-người tiêu dùng
Trên thế giới những người nhập khẩu rau lớn là những nước không cókhả năng sản xuất rau (do điều kiện thời tiết, đất đai…) hoặc là những nước
Trang 32có nền công nghiệp dịch vụ phát triển như Nhật Bản, Singapo, Hồng Kông,Mỹ… Nên hàng năm các nước này phải nhập khẩu hàng nghìn tấn rau đểphục vụ nhu cầu của người dân.
Theo Ku Ahmet và M Shaj ham cho thấy: Nếu tính số lượng rautrên đầu người ở các nước phát triển cao hơn các nước đang phát triển, sovới lương thực thì ở các nước phát triển tỷ lệ 2/1 còn ở các nước đangphát triển thì tỷ lệ1/2
Cũng theo Ku Ahmet và M Shaj ham 2005 thì số lượng rau tiêu thụtính theo đầu người ở một số nước được thể hiện qua bảng sau
Bảng 2.1: Sản lượng rau tính theo đầu người/ ngày
(Nguồn: theo Ku A met và M Shaj ham 2005)
Qua bảng 2.2 ta thấy nhu cầu tiêu thụ rau của con người cũng tăng theo
sự phát triển của xã hội, ở những nước phát triển thì nhu cầu cao hơn so vớicác nước đang phát triển Sản lượng rau trên thế giới ngày càng tăng do nhucầu sử dụng ngày càng tăng Sức tăng trưởng sản lượng rau của một số nướctrên thế giới được thể hiện qua bảng 2.3
Trang 33Bảng 2.2: Sản lượng rau của một số nước trên Thế Giới qua các năm 1961-1996
TT Tên nước 1961- 1965 1971- 1975 1981- 1985 1991- 1995 1995 1996
Tăng trưởng 69-95 (lần)
( Nguồn: the FAO )
2.2.2 Tình hình tiêu thụ rau ở Việt Nam
Hiện nay mức tiêu dùng về rau ở nước Việt Nam mới chỉ đạt khoảng75% so với nhu cầu dinh dưỡng và chiếm 62% so với bình quân chung củacác nước châu Á Theo thống kê, nhu cầu ăn rau trung bình của mỗi ngườidân Việt Nam là 100kg/năm Cả nước mỗi năm tiêu thụ khoảng 8 triệu tấnrau,thị trường tiêu thụ rau vẫn tập trung chủ yếu trong những hoạt động kinh
tế mạnh ở những thành phố lớn và khu công nghiệp trong đó thành phố HồChí Minh là nơi tiêu thụ lớn nhất, 600.000 tấn/năm Từ những năm 2000 trởlại đây, dân cư ở các khu vực này cũng tăng nhanh đi liền với nó là nhu cầurau ở các khu vực này cũng tăng lên, điển hình là hai thành phố lớn của cảnước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Ở thành phố Hồ Chí Minh diện tích gieo trồng rau những năm trướcđây khoảng 10.000 -> 12.000 ha/năm, sản lượng 200.000 -> 300.000 tấn rau
Thành phần tiêu thụ rau quả cũng thay đổi theo vùng Đậu, su hào vàcải bắp là những loại rau được tiêu thụ rộng rãi hơn ở miền Bắc; trong khicam, chuối, xoài và quả khác lại được tiêu thụ phổ biến hơn ở miền Nam Sựtương phản theo vùng rõ nét nhất có thể thấy với trường hợp su hào với trên
Trang 3490% số hộ nông thôn ở miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Hồng tiêu thụ,nhưng dưới 15% số hộ ở miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Longtiêu thụ ở các khu vực thành thị, tỷ lệ hộ tiêu thụ đối với tất cả các sản phẩmđều cao Thể hiện dưới bảng 2.3
Bảng 2.3 Tỷ lệ thiêu thụ đối với từng sản phẩm theo vùng
(Nguồn: Báo cáo tham luận sản xuất và tiêu thụ quả Việt Nam, Viện kinh tế nông nghiệp, trong http://luanvan.net.vn/luan-van/bao-cao-tham- luan-san-xuat-va-tieu-thu-qua-viet-nam-7339/ truy cập ngày 18/01/2014)
Hiện nước ta có khoảng 60 cơ sở chế biến rau quả với tổng năng suất290.000 tấn sản phẩm/năm, trong đó DNNN chiếm khoảng 50%, DN quốcdoanh 16% và DN có vốn đầu tư nước ngoài 34%, ngoài ra còn hàng chụcngàn hộ gia đình làm chế biến rau quả ở qui mô nhỏ
Hiện nay tiêu thụ rau chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, sản phẩm raucho chế biến chiếm tỷ lệ không đáng kể, năm 2005 rau quả xuất khẩu chỉ đạt
235 triệu USD, trong đó phần lớn là từ quả chế biến Sản phẩm rau cho xuấtkhẩu chủng loại rất hạn chế, hiện chỉ một số loại như: cà chua, dưa chuột, ngôngọt, ngô rau, ớt, dưa hấu ở dạng sấy khô, đóng lọ, đóng hộp, muối mặn, cô
Trang 35đặc, đông lạnh và một số xuất ở dạng tươi.
- Tiêu thụ trong nước không nhiều và giá cả thất thường phụ thuộc vàolượng hàng nông sản cung cấp trong khi mức tiêu thụ hạn chế dẫn đến tìnhtrạng một mặt hàng nông sản có năm rất đắt, có năm lại rất rẻ ảnh hưởng đếntính bền vững trong sản xuất
- Sản phẩm rau trở thành hàng hoá ngay sau khi thu hoạch và nó rất dễ
bị hư hỏng trong khi hầu hết các vùng sản xuất hàng hoá lớn chưa có nơi sơchế và kho bảo quản tạm thời
2.2.3 Tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị tại Hà Nội
Trong những năm vừa qua diện tích và sản lượng của rau liên tục tăngđiều này cho thấy sức tiêu thụ rau ngày càng tăng cả về quy mô cũng nhưlượng tiêu thụ tăng lên rõ dệt, thể hiện qua bảng 2.5:
Trang 36Bảng 2.4: Biến động diện tích năng suất sản lượng rau tại địa bàn Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2012
Diện tích
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 37Theo sở Công Thương Hà Nội, mạng lưới tổ chức phân phối nông sản của
Hà Nội bao gồm: 8 chợ bán buôn, 402 chợ bán lẻ, hầu hết các chợ đều có bánrau Các chợ này nằm ở tất cả các quận, huyện Năm 2009 có 44 siêu thị kinhdoanh rau, 78 cửa hàng, quầy hàng rau, ngoài ra người bán rong rau có số lượngrất lớn Tính đến thời điểm hiện tại, Sở Công Thương đã cấp 122 giấy chứngnhận bán rau an toàn trên toàn địa bàn thành phố, trong đó có 44 siêu thị đăng kýkinh doanh rau an toàn, số còn lại là các cửa hàng và quầy hàng
Những thuận lợi và khó khăn trong tiêu thụ rau của Hà Nội
+ Do thành phố chưa tổ chức được đội ngũ quản lý thị trường đủ mạnh đểkiểm tra nguồn gốc rau và chưa có đủ điều kiện để kiểm tra chất lượng rau đến
từ các nguồn khác nhau nên người tiêu dùng rất lo lắng về độ an toàn của rau;
+ Do lượng điểm bán rau an toàn còn phân bố chưa đều nên người tiêudùng ở một số quận/phường khó tiếp cận được với nguồn rau an toàn;
+ Xu hướng phát triển mạng lưới phân phối rau ở Hà Nội, tăng cườngcác hệ thống phân phối hiện đại, hoàn thiện và nâng cao các chợ truyền thốngphân bố hợp lý lại hệ thống chợ, dẹp chợ tam, chợ cóc và từng bước xoá bỏbán rong;
Trang 38+ Tăng cường hệ thống kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.Tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị trên địa bàn Thành phố Hà Nội:Nhìn chung diện tích bán rau trong siêu thị nhỏ, thấp nhất chỉ 4m2 thường đặt ởnhững trí không thực sự thuận lợi nên khó thu hút được khách hàng Các chủngloại rau bán được khá phong phú bao gồm các loại: Dưa chuột, bắp cải, cà chua,cải thảo, cải chíp, cải xanh, susu, mướp đắng, rau muống, mồng tơi, rau ngót, Tuy nhiên, các siêu thị thích kinh doanh các loại rau ăn quả và ăn củ hơn các loạirau ăn lá do dễ bảo quản và ít bị tổn hại hơn trong quá trình vận chuyển, bảoquản so với rau ăn lá Khách hàng mua rau chủ yêu của các siêu thị là có mứcthu nhập bình quân từ 3 triệu đồng/tháng trở lên Tùy theo từng siêu thị màkhách hàng có các mức thu nhập khác nhau thường xuyên hoặc thỉnh thoảngmới tới mua hàng tại siêu thị.
Bảng 2.5 Khối lượng rau tiêu thụ bình quân 1 ngày
Khối lượng rau tiêu thụ
Trang 39PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm địa bàn Thành phố Hà Nội
3.1.1.1 Vị trí địa lý:
Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên,Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đông giápcác tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình vàPhú Thọ
Hà Nội bao gồm 12 quận, 1 thị xã, và 17 huyện
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí vàđịa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học vàđầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
3.1.1.2 Dân cư
Dân số Hà Nội chiếm 6.448.837 người (1/4/2009)
Theo số liệu 1/4/1999 cư dân Hà Nội và Hà Tây (cũ) chủ yếu là ngườidân tộc Việt (Kinh) chiếm tỷ lệ 99,1%; các dân tộc khác: Dao, Mường, Tàychiếm 0,9% Năm 2006 cũng trên địa bàn Hà Nội và Hà Tây (cũ) cư dân đôthị chiếm tỷ lệ 41,1% và cư dân nông thôn là 58,1%; tỷ lệ nữ chiếm 50,7% vànam là 49,3% Mật độ dân cư bình quân hiện nay trên toàn thành phố là 1875người/km2, cư dân sản xuất nông nghiệp khoảng 2,5 triệu người
3.1.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
- Tình hình phát triển kinh tế:
Trong những năm gần đây thành phố Hà Nội có sự tăng trưởng tươngđối nhanh về các lĩnh vực kinh tế,đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp
Trang 40Về cơ cấu nông nghiệp,cơ cấu kinh tế nông thôn cũng đang chuyểnbiến theo chiều hướng tiến bộ,diện tích các loại cây concos chất lượng caongày càng tăng.Diện tích canh tác tăng từ 85799ha lên 88000 ha,hệ số sửdụng đất tăng từ 2 lên 2.5 lần,cơ cấu diện tích cây lương thực chiếm 80-85%,cây thực phẩm tăng từ 7.6-8%,cây ngắn ngày khác tăng từ 7-10%,trong đó dieebj tích cây vụ đông tăng từ 14363-19000 ha chiếm 43-45% tổng giá trị sản lượng hàng năm.Định hướng cơ cấu phát triển kinh tếthành phố đến năm 2015 là:nông nghiệp 25%,công nghiệp 25%,tiểu thủcông nghiệp và thương mại dịch vụ 75%.Giá trị một ha đất nông nghiệp50-80 triệu đồng.
- Cơ sở hạ tầng và vật chất :
Hà Nội có hệ thống cơ sở hạ tầng và vật chất khá hoàn chỉnh, tạođiều kiện thuận lợi cho phát triển toàn diện để Hà Nội xứng đáng là trungtâm - kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội của cả nước
Với vị trí đặc biệt như Hà Nội, cùng với sự quan tâm của các bannghành Trung Ương , cơ sở hạ tầng hà nội ngày càng được hoàn thiện mởrộng Mạng lưới giao thông nội thị chằng chịt, phức tạp đang được cải tạonâng cấp để thuận lợi cho đi lại của nhân dân Đồng thời, các bến bãi, củangõ giao lưu từ các tỉnh vào thủ đô luôn được tu sửa và quản lý nghiêmngặt Hệ thống điện của Hà Nội khá hoàn chỉnh, đảm bảo cung cấp điện antoàn và chất lượng ổn định Hệ thống này đảm bảo tiêu chuẩn kỉ thuật,phục vụ tốt cho nhu cầu điện, cho sản xuất và sinh hoạt của thành phố nóichung và sản xuất công nghiệp nói riêng Cùng với tốc độ phát triển chống