Trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 Ban hành theo Quyết định số 711/2012/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 đã nêu mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: “Hoàn th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC _
T¹I VIÖN §¹I HäC Më Hµ NéI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có được thành quả ngày hôm nay, tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến các Thầy Cô giáo của Học viện Quản lý giáo dục đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt là sự giúp đỡ của Thầy giáo Tiến sĩ Phạm Viết Nhụ, Thầy đã sửa chữa,
bổ sung và đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Với tình cảm chân thành, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các Phòng, Trung tâm chức năng, các bạn đồng nghiệp của Viện Đại học Mở Hà Nội
Do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, bản luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tôi mong muốn tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy Cô giáo và đồng nghiệp
Xin trân tr ọng cảm ơn!
Hà N ội, tháng 7 năm 2012
Tác giả
Phạm Thị Thiên Thanh
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TRUYỀN THÔNG 6
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 9
1.2.1 Khái niệm về quản lý 9
1.2.2 Quản lý giáo dục 10
1.2.3 Khái niệm về biện pháp và biện pháp quản lý 11
1.3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐÀO TẠO TỪ XA 13
1.3.1 Thế nào là đào tạo từ xa 13
1.3.2 Những lợi ích của đào tạo từ xa 15
1.3.3 Xu thế phát triển giáo dục từ xa trên thế giới 17
1.4 QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TỪ XA 19
1.5 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA 23
1.5.1 Công nghệ thông tin 23
1.5.2 Vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông vào quá trình quản lý đào tạo từ xa 28
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 31
2.1 GIỚI THIỆU MỘT SỐ NÉT VỀ VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 31
2.1.1 Một số nét về lịch sử phát triển 31
2.1.2 Quy mô và chất lượng đào tạo 32
2.1.3 Đội ngũ cán bộ giảng viên 37
2.1.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo 40
2.1.5 Mở rộng mạng lưới đào tạo và tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế 42
2.2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO TỪ XA TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 44
Trang 52.2.1 Quan điểm, chủ trương của Viện Đại học Mở Hà Nội về đào tạo từ
xa 44
2.2.2 Thực trạng đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội 46
2.2.3 Thực trạng công tác quản lý đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội 48
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CNTT - TT TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 57
2.4 NGUYÊN NHÂN VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CNTT - TT 62
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 65
3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 65
3.1.1 Tính pháp lý 65
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.3 Nguyên tắc đảm tính thiết thực và khả thi 67
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 67
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 67
3.2 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VĐHMHN TRONG THỜI GIAN TỚI 67
3.2.1 Công tác đào tạo 67
3.2.2 Công tác nghiên cứu khoa học 71
3.2.3 Công tác tổ chức quản lý 71
3.2.4 Công tác chính trị - tư tưởng 72
3.2.5 Công tác quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế 73
3.2.6 Công tác sinh viên 73
3.2.7 Công tác xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ quản lý và đào tạo 74
3.3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CNTT - TT TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI 74
3.3.1 Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng kỹ năng sử dụng CNTT-TT cho cán bộ, giảng viên, sinh viên của Viện Đại học Mở Hà Nội 74
3.3.2 Tăng cường công tác đầu tư, nâng cấp hạ tầng cơ sở vật chất về CNTT-TT phục vụ hoạt động đào tạo từ xa 75
3.3.3 Ứng dụng phần mềm CNTT-TT một cách toàn diện vào tất cả các khâu của quản lý hoạt động đào tạo từ xa 76
3.4 KHẢO NGHIỆM VỀ MỨC ĐỘ CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 91
Tiểu kết chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Kiến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99
Trang 6của các biện pháp
91
Trang 8- Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ làm cơ sở cho tiếp nhận, thích nghi, làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông
- Phát triển các công nghệ cơ bản có định hướng nhằm hỗ trợ cho việc nhập, chuyển giao và phát triển công nghệ trong lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin và truyền thông
- Ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực này vào trong phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng
Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của đông đảo nhân dân phục vụ công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước thì cần phải nhanh chóng đổi mới nền giáo dục - đào tạo của nước ta cả về nội dung và
Trang 9phương pháp cùng với các loại hình đào tạo đa dạng Mục tiêu trong chiến lược giáo dục - đào tạo của nước ta là :
- Nâng cao dân trí
- Đào tạo nhân lực
- Bồi dưỡng nhân tài
Với nhu cầu cấp bách hiện nay về đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, nếu chỉ có sự phát triển của các loại hình đào tạo truyền thống thì không thể đáp ứng nổi và đào tạo từ xa ra đời đã cùng với các loại hình đào tạo truyền thống tạo nên làn sóng học tập mới và có thể đáp ứng được các yêu cầu trên
Trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 (Ban hành theo Quyết định số 711/2012/QĐ-TTg ngày 13/6/2012) đã nêu mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: “Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học; điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận
có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới
Đến năm 2020, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ khả năng tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp THCS; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và đại học đạt khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350-400”
Về giải pháp, Chiến lược đã nêu:
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở các cấp
Trang 10xa, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nước trong giai đoạn hiện nay và lâu dài
Trong quá trình hoạt động, do đặc thù riêng của Viện Đại học Mở Hà Nội là:
- Địa bàn tuyển sinh rộng với các trung tâm đào tạo từ xa đặt tại các tỉnh, thành phố, trải dài từ Bắc vào Nam, từ biên giới tới hải đảo
- Quy mô đào tạo lớn trên mọi vùng miền, ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề khác nhau và rất đa dạng về trình độ khi vào học
- Với nhiều ngành đào tạo như: Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tiếng Anh, Tin học, Điện tử viễn thông, Luật kinh tế
- Theo quy chế, đào tạo từ xa không giới hạn số lần thi hết môn và số lần thi lại tốt nghiệp
Vì vậy, việc quản lý đào tạo là tương đối khó khăn và phức tạp
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động đào
tạo từ xa bằng ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông tại Viện Đại
lý giáo dục nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quản lý đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, đề xuất một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông trong quản lý hoạt động đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 113 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo từ xa bằng ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông
3.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đào tạo từ xa và ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông trong quản lý hoạt động đào tạo
từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo từ xa bằng ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông tại Viện Đại học Mở Hà Nội
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông trong quản lý hoạt động đào tạo từ xa tại Viện Đại học Mở Hà Nội
5 Phạm vi nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo từ xa có nhiều nội dung Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả xin giới hạn nghiên cứu 6 trong số các nội dung của quản lý hoạt động đào tạo từ xa là quản lý tuyển sinh; quản lý kết quả học tập; quản lý tốt nghiệp; quản lý sau tốt nghiệp; quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động học của học viên
6 Giả thuyết khoa học
Với sự phát triển của giáo dục đào tạo và nhu cầu học tập của xã hội, việc đa dạng hóa các loại hình đào tạo, trong đó có đào tạo từ xa là một sự phát triển tất yếu ở Viện Đại học Mở Hà Nội Với quan điểm kinh tế và chất lượng, việc quản lý đào tạo theo phương pháp truyền thống và thủ công sẽ bị hạn chế Nếu tìm được một số biện pháp quản lý mới thích hợp, trong đó có
sử dụng CNTT-TT sẽ khắc phục được những hạn chế đang tồn tại trong thực
Trang 12tiễn, sẽ nâng cao được chất lượng trong đào tạo từ xa của Viện Đại học Mở
Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, phân tích các tư liệu để tổng quan cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng; lấy ý kiến chuyên gia
- Nội dung
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, Luận văn gồm 3 chương:
công nghệ thông tin - truyền thông
nghệ thông tin - truyền thông tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo từ xa bằng ứng dụng
công nghệ thông tin - truyền thông tại Viện Đại học Mở Hà Nội
- Kết luận và kiến nghị
- Phụ lục
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TRUYỀN THÔNG
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ những năm đầu của thập kỷ 60 ở nước ta đã có hình thức tự học có hướng dẫn như là các khóa học hàm thụ (theo hình thức gửi thư) của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội góp phần đào tạo nguồn nhân lực ngay tại các địa phương, cơ quan, xí nghiệp
Giai đoạn từ 1977-1988, Bộ Giáo dục đã mở thí điểm các khóa đào tạo giáo viên tại các địa phương theo hình thức tự học kết hợp với thực tập sư phạm thường xuyên, đã đào tạo được gần 2000 sinh viên, thi tốt nghiệp chung với hệ chính quy, góp phần bổ sung đội ngũ giáo viên phổ thông đang thiếu hụt ở thời kỳ đó
Tiếp theo Chính phủ đã cho phép thành lập hai trường Đại học Mở (Viện Đại học Mở Hà Nội và Đại học Mở - Bán công thành phố Hồ Chí Minh) với chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo từ xa
Nhằm đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu ngày càng tăng về đào tạo từ xa của người học trên toàn quốc và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ năm 1994 đến nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép một số trường đại học lớn trên toàn quốc hình thành các trung tâm đào tạo từ xa như: Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Quốc gia TP.HCM, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Đại học Đà Lạt, Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học dân lập Bình Dương, v.v để tiến hành đào tạo theo phương thức từ xa
Bên cạnh việc thành lập các Trường, các Trung tâm đào tạo từ xa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế đào tạo đại học theo hình thức Tự
Trang 14học có hướng dẫn (Quyết định số 2091/GD-ĐT ngày 7-10-1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Để quản lý quá trình đào tạo đại học theo phương thức đào tạo từ xa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế tạm thời về xét tuyển, thi - kiểm tra
và cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp giáo dục từ xa (ban hành theo Quyết định số 1860/GDĐT ngày 25/5/1995 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) và ban hành chính thức Quy chế tổ chức đào tạo, thi, kiểm tra cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp theo hình thức giáo dục từ xa (theo Quyết định số 40/2003/QĐ – BGD&ĐT ngày 8/8/2003) Quy chế này đã giúp cho các cơ sở đào tạo từ xa làm cơ sở pháp lý để triển khai việc đào tạo đảm bảo chất lượng
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII : “Đa dạng hóa các loại hình giáo dục – đào tạo, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu
và hoàn cảnh của mình… Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa hình thức giáo dục…”
Khoản 2, Điều 45 Luật Giáo dục (2005) đã khẳng định : “Các hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm :
a) Tại chức (Vừa làm vừa học);
b) Học từ xa;
c) Tự học có hướng dẫn"
Chiến lược Phát triển giáo dục 2001 – 2010 cũng đã khẳng định: “Phát triển giáo dục không chính quy như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người ở mọi trình
độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực” … “Củng cố và mở thêm các cơ sở giáo dục thường xuyên như
Trang 15Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm học tập cộng đồng, trường Bổ túc văn hóa đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên của mọi người, ở mọi lứa tuổi và trình độ Tăng cường cho hai Đại học Mở về phương tiện, thiết bị, tài liệu để mở rộng hình thức giáo dục từ xa”
Bên cạnh đó các Trung tâm giáo dục từ xa qua vệ tinh và trung tâm giáo dục thường xuyên tại các địa phương đã được hình thành và phát triển Điều này đã tạo thành một hệ thống thuận lợi cho giáo dục từ xa
Một số trường đại học đã xây dựng được đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy và trang bị các phương tiện kỹ thuật để thực hiện giáo dục từ xa Bên cạnh đó, một số trường đã tiến hành nghiên cứu và đã biên soạn được nhiều học liệu có chất lượng khoa học, thích hợp với đối tượng tự học Các trường đều đang quan tâm nghiên cứu nhằm từng bước hoàn thiện quy trình tổ chức quản lý việc giảng dạy và học tập theo phương thức giáo dục từ xa
Hệ thống phát thanh, truyền hình quốc gia đã phát triển mạnh Các tỉnh
và thành phố đã có đài phát thanh – truyền hình địa phương có khả năng tiếp sóng đài Trung ương rất hiệu quả Điều này khá thuận lợi cho việc chuyển tải các chương trình giáo dục từ xa tới các vùng sâu, vùng xa,
Ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong quản lý đào tạo từ xa
là hết sức quan trọng Nó góp phần rất lớn cho sự thành công của phương thức đào tạo này
“CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại” Mục tiêu của CNTT Việt Nam đến năm 2020 là đạt trình độ tiên tiến của Khu vực Để đạt mục tiêu đó, Chỉ thị 58-CT/TW Bộ Chính trị khẳng định: “Ứng dụng và phát triển CNTT
là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước
Trang 16đi trước Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển…”[11, tr.1] Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD & ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành
GD giai đoạn 2001 - 2005 nêu rõ: “CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập” [9, tr.1]
Về ứng dụng CNTT-TT vào hoạt động quản lý giáo dục đã có một số luận văn thạc sĩ:
- Những biện pháp hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý giáo dục tại Trường Cao đẳng nghề Nam Định của Nguyễn Ngọc Hiệu, Khoa Sư phạm, ĐHQG Hà Nội, 2008;
- Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục ở các trường mầm non tỉnh Nam Định của Trịnh Thúy Hoa, Học viện QLGD, 2010;
- Biện pháp tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động quản lý của Phòng GD&ĐT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang của Phan Văn Vinh, Học viện QLGD, 2011;
- Ứng dụng CNTT trong quản lý dạy học tại các trường THCS huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La của Trần Minh Đức, Học viện QLGD, 2011
- Biện pháp quản lý của hiệu trưởng tăng cường ứng dụng CNTT-TT trong hoạt động dạy học ở trường THCS huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc của Nguyễn Thành Trung, Học viện QLGD, 2012
Tuy nhiên, đến nay chưa có đề tài nào về quản lý hoạt động đào tạo từ xa bằng ứng dụng CNTT-TT tại Viện Đại học Mở Hà Nội
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Khái niệm về quản lý
Khái niệm “quản lý” được đưa ra theo nhiều cách khác nhau, dựa trên cơ
sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là
Trang 17vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm Sau đây là một số định nghĩa về “quản lý ”:
- Theo F.W.Taylor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”
- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm: “Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Trong học thuyết quản lý của mình, H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản
lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra
Ngày nay, bốn chức năng cơ bản của quản lý là : Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá được khẳng định và được sử dụng rộng rãi trong
lý luận quản lý Với khái niệm này, về cơ bản chu trình quản lý có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:
Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của người quản lý (chủ
th ể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) trong một tổ chức,
nhằm làm cho một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức
Tổ chức
Trang 18mà trách nhiệm là của nhà nước và hệ thống đa cấp của ngành giáo dục từ trung ương đến địa phương
Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể quản
lý trực tiếp thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo mà xã hội đang yêu cầu
N ội dung cơ bản của quản lý giáo dục:
- Quản lý cơ sở vật chất và các nguồn lực tạo nên sự vận hành và phát triển của nhà trường theo quy định của pháp luật
- Xây dựng, củng cố các cơ cấu cần thiết giữa nhà trường và các lực lượng hữu quan ngoài nhà trường có điều kiện tham gia trực tiếp vào tất cả các hoạt động
- Nâng cao trách nhiệm và quyền hạn của giáo viên tham gia vào qúa trình quyết định quản lý các mặt tài chính, nhân sự,… kể cả cải tiến nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm cụ thể của nhà trường
- Quản lý hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu chương trình giáo dục trên cơ sở pháp lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên, tuyển sinh và quản lý người học
- Quản lý môi trường sư phạm trong nhà trường và xây dựng nhà trường thành hệ thống mở nhằm xã hội hoá và công khai hoá các hoạt động giáo dục, đào tạo của nhà trường hướng vào các mục tiêu cấp học
- Quản lý và hoàn thiện hệ thống thông tin giữa các lực lượng chủ thể
và khách thể trong và ngoài trường, phục vụ cho hoạt động dạy, học và thiết chế đánh giá kết quả hoạt động sư phạm của nhà trường
1.2.3 Khái niệm về biện pháp và biện pháp quản lý
Khái niệm về biện pháp:
Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1997) “là cách làm, cách giải
Trang 19quyết một vấn đề cụ thể”
Trong giáo dục, người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp So với phương pháp, biện pháp bao giờ cũng có tính chất cụ thể hơn nó được sáng tạo ra và đúc kết lại từ trong thực tiễn GD và trong tổng kết kinh nghiệm tiên tiến của các nhà
GD Còn phương pháp so với biện pháp có tính chất khái quát hơn, nó là kết quả của sự khái quát hóa và hệ thống hóa các biện pháp đã có Nói như thế không có nghĩa là biện pháp bao giờ cũng có trước phương pháp, trái lại trên
cơ sở một phương pháp đã được hình thành và những biện pháp đã có của nó, nhưng biện pháp mới thuộc về những phương pháp đó vẫn được các nhà giáo dục tiếp tục sáng tạo ra và làm giàu thêm một số biện pháp trong một phương pháp, tất nhiên cũng có một số biện pháp mới nào đó được tạo ra, nhưng đồng thời đó cũng là sự ra đời của một phương pháp mới
Biện pháp quản lý
Là cách làm, cách giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản
lý nhằm đặt mục tiêu quản lý Các biện pháp quản lý cơ bản của quản lý giáo dục được thể hiện cụ thể ở trong các chức năng quản lý
Trong quản lý, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng (khách thể) quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho quá trình quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan Như vậy, biện pháp quản lý là việc người quản lý sử dụng các chức năng quản lý, công cụ quản lý một cách phù hợp cho từng tình huống vào đối tượng mà mình quản lý để đưa đối tượng, đơn vị mình quản lý đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý xây dựng, đưa chất lượng quản lý lên một vị trí mới, tình trạng mới tốt hơn hiện tại
Trang 201.3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐÀO TẠO TỪ XA
1.3.1 Thế nào là đào tạo từ xa
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy – học từ xa nhưng phần lớn là nói tới sự giao tiếp giữa giáo viên và học viên diễn ra không tiếp giáp nhau Nhiều người cùng cho rằng: “Đào tạo từ xa là một quá trình đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ chương trình đào tạo có sự tách biệt giữa thầy
và trò về mặt không gian hoặc thời gian”
Qua đó cho thấy đào tạo từ xa không chỉ là một hình thức học, một phương tiện giảng dạy mà được coi là một hệ thống phức tạp về mặt tổ chức
và sư phạm Hệ thống này cũng luôn cần có sự phối hợp chặt chẽ hai loại hoạt động dạy và học
Khác với phương thức giáo dục truyền thống “mặt giáp mặt - face to face” yêu cầu phải có lớp học, giảng đường với những quy định chặt chẽ với
số học sinh trên lớp, về tỉ lệ giáo viên/sinh viên, phương thức đào tạo từ xa dựa trên các phương tiện chủ yếu như giáo trình, tài liệu in, băng tiếng, băng hình, phát thanh, truyền hình, điện thoại, internet v.v…
Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển Bách khoa – 2001): “Đào tạo từ xa là hình thức đào tạo không tập trung, qua các phương tiện phát thanh, truyền hình, bưu điện, báo chí, v.v , qua CNTT hiện đại như máy tính
cá nhân, máy tính nói mạng, v.v dành cho những người có nguyện vọng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và văn hóa chung Cơ quan đào tạo từ xa có trách nhiệm chuyển tải các nội dung học tập bằng các phương tiện của mình tới người học, qua đó người học tự lĩnh hội và cũng bằng các phương tiện quy định gửi các bài làm, bài kiểm tra về nơi đào tạo để được nhận xét và đánh giá Người học hoàn thành chương trình đào tạo và thi đạt yêu cầu tốt nghiệp quy định của bậc học, cấp học, ngành học nào thì được cấp bằng tốt nghiệp đào tạo từ xa tương ứng với cáp, bậc, ngành đó và có giá trị
Trang 21tương đương với bằng tốt nghiệp của hình thức chính quy”
Đào tạo từ xa đã giúp cho mọi người đều có thể tự học, tự trang bị kiến thức, kỹ năng cho công việc và cho cuộc sống Đào tạo từ xa giúp tất cả mọi người với những điều kiện khác nhau về không gian, thời gian, lứa tuổi, hoàn cảnh sống và làm việc có cơ hội học tập như nhau
Nhìn vào bản chất của đào tạo từ xa, chúng ta thấy rõ đặc thù của đào tạo từ xa:
- Đây là một quá trình đào tạo mà người tham gia học tập phải tự học là chính mà không cần phải lên lớp hàng ngày cùng với sự hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của giảng viên (Mỗi môn học người học có thể chỉ cần tham gia học tập trung để nghe hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, phụ đạo, khoảng 15 đến 25% số giờ kế hoạch toàn khoá - Quy định của Bộ GD&ĐT) [3, tr.5])
- Việc cho phép tổ chức đào tạo từ xa cũng mềm dẻo và linh hoạt (cho phép cơ sở đào tạo tự tổ chức hoặc liên kết với các trường hoặc các trung tâm đào tạo và dạy nghề của các địa phương (từ tỉnh đến huyện)
Tóm lại, bản chất của đào tạo từ xa là tạo ra một môi trường mới cho người học Trong môi trường mới này, cho phép người học tự học dưới sự hướng dẫn
cả về nội dung và phương pháp học tập Qua đó nó cũng cho phép người học phát huy được tối đa tính chủ động, tự giác, tư duy sáng tạo trong học tập Mà điều này cũng chính là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình học tập
Từ đó giúp người học luôn có được tri thức cần thiết cho họ cũng là nhằm thực hiện công việc xã hội hóa giáo dục – giáo dục cho mọi người
Ngày nay nhờ sự phát triển của CNTT-TT, một phương thức học tập mới hình thành và phát triển: học tập trực tuyến – E-learning
Một số định nghĩa e-Learning tiêu biểu (http://www.ddth.com):
+ E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton)
Trang 22+ E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc)
+ E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center) + Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (Sun Microsystems, Inc )
+ Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân (e-learningsite)
1.3.2 Những lợi ích của đào tạo từ xa
1) Thực hiện bình đẳng trong giáo dục :
Giáo dục từ xa góp phần thực hiện bình đẳng trong giáo dục, tạo cơ hội học tập cho mọi người, học suốt đời Giáo dục từ xa có thể vươn tới những nơi mà giáo dục truyền thống chưa vươn tới được hoặc chưa đáp ứng được (về vị trí địa lý, đối tượng đào tạo, cách thức phục vụ, v.v…)
2) Thực hiện được chính sách dân tộc, công bằng xã hội:
Giáo dục từ xa khắc phục được khó khăn về khoảng cách địa lý giữa người học với trung tâm văn hóa, cơ sở đào tạo Học viên ở vùng sâu, vùng xa hay nơi hải đảo đều có thể theo học ở cấp đại học qua các phương tiện truyển tải thông tin Thế mạnh này của giáo dục từ xa có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện chính sách dân tộc, công bằng xã hội về cơ hội học tập và tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền khác nhau của đất nước
3) Đào tạo lại và cập nhật kiến thức:
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và
Trang 23công nghệ, trong quá trình làm việc hoặc công tác, mỗi người trong chúng ta luôn có nhu cầu cập nhật kiến thức, thông tin để hiệu quả công việc đạt được cao nhất Mà điều này qua đào tạo và giáo dục từ xa sẽ giúp cho chúng ta đáp ứng nhu cầu cập nhật kiến thức của mình một cách nhanh và có hiệu quả 4) Nâng cao dân trí:
Giáo dục từ xa sẽ giúp cho tất cả mọi người có những kiến thức phổ thông cần thiết về chính trị, kinh tế, xã hội Qua đào tạo từ xa có thể giúp cho những người nông dân biết những kiến thức cơ bản về trồng trọt, chăn nuôi Hoặc qua đào tạo từ xa có thể giúp cho mọi người dân trong xã hội có những kiến thức cơ bản về sức khỏe, luật pháp, vệ sinh, sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong sinh hoạt, v.v…
5) Tính kinh tế của giáo dục từ xa:
- Trong giáo dục từ xa, do học viên không bắt buộc phải đến trường nên chi phí đào tạo giảm đáng kể đối với cả người học và nhà trường:
+ Người học không phải chi phí cho việc đi lại, ăn ở tại nơi học Họ sử dụng nhiều kênh thông tin khác nhau để tiếp thu kiến thức
+ Nhà trường bớt được chi phí cho cơ sở vật chất, giảm được đội ngũ cán bộ, nhân viên và cán bộ giảng dạy
- Giải quyết bài toán phát triển giáo dục cả về quy mô và chất lượng: + Nếu như một lớp học truyền thống khoảng vài chục người thì số học viên của lớp học từ xa có thể có hàng mấy trăm người cùng theo học Họ chỉ cần học thông qua các phương tiện chuyển tải thông tin như đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, tài liệu in ấn, máy vi tính, mạng Intranet hoặc Internet + Nguồn tri thức cung cấp cho học viên được đảm bảo chất lượng vì các
cơ sở đào tạo phải mời những nhà khoa học, giảng viên có trình độ học vấn cao, giàu kinh nghiệm thiết kế và biên soạn tài liệu, chương trình học cho giáo dục từ xa
Trang 246) Tạo ra sự bổ trợ hữu hiệu cho giáo dục truyền thống:
- Đào tạo từ xa luôn đem lại sự bổ trợ hữu hiệu cho giáo dục truyền thống ở các lý do sau đây:
+ Các tài liệu biên soạn cho các chương trình giáo dục từ xa cũng có thể
sử dụng cho sinh viên đang theo học trong các trường truyền thống tham khảo, tự cập nhật và mở mang tri thức
+ Sinh viên có điều kiện theo học thêm nhiều chuyên ngành khác nhau
để tăng sức mạnh cho chuyên ngành chính của họ, giúp họ có được tri thức tổng hợp và hệ thống hơn
Hiện nay trong các trường truyền thống của nhiều nước như Mỹ, Pháp, Canađa, Ôtxtrâylia, … đã và đang sử dụng công nghệ giáo dục từ xa (hệ thống video, mạng Internet, phần mềm máy tính…) để giảng dạy nhiều môn trong chương trình đào tạo của họ Sự phối hợp giữa giáo dục từ xa và giáo dục truyền thống đã tạo ra được hiệu quả cao trong đào tạo, nên ngay cả các nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc đã và đang tiến hành các lớp học “không giảng đường” dựa trên hệ thống các mạng Intranet hoặc Internet
1.3.3 Xu thế phát triển giáo dục từ xa trên thế giới
• Xu thế phát triển chung:
Ngày nay hầu hết các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển
đã triển khai giáo dục từ xa là do sự tác động mạnh mẽ của các nhân tố:
- Nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu ngày càng tăng của dân chúng đối với giáo dục đào tạo
- Sự đòi hỏi của nhu cầu học tập, sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin
- Do sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, để phát triển kinh tế-xã hội, lực lượng lao động luôn cần được bổ sung kiến thức và
kỹ năng để đáp ứng nhu cầu Sự phát triển của khoa học, công nghệ càng
Trang 25nhanh thì nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực càng lớn Thực tế cho thấy các nước trong khu vực như Singapo, Hồng Kông, … cũng do nhu cầu phát triển nguồn nhân lực đã thành lập trường Đại học Mở và tiến hành giáo dục từ xa Các nước khác như Mỹ, Anh, Ôxtrâylia,… đã xây dựng được hệ thống giáo dục từ xa hiện đại và hữu hiệu
- Các nước đang phát triển mong muốn rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển, tránh nguy cơ bị tụt hậu, đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và lấy giáo dục từ xa làm phương tiện hữu hiệu để đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực, thích ứng với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại Các nước nghèo còn tiến hành giáo dục từ xa để khắc phục khó khăn, thiếu thốn
về cơ sở vật chất như trường lớp, trang thiết bị và thiếu hụt về đội ngũ cán bộ, giáo viên, v.v…
- Hiệu quả kinh tế đối với người học
• Một số nước đã thành lập các trường đại học chuyên đào tạo từ xa
- Trường Đại học Phát thanh và Truyền hình Trung Quốc
- Trường Đại học Không trung ở Nhật Bản, Triều Tiên, v.v…
- Để tổ chức và thực hiện các chương trình giáo dục từ xa Cũng với mục đích này nhiều nước khác lại tổ chức dưới mô hình trường bán chuyên đào tạo từ xa như Venezuela, Peru, Columbia, Achentina, Libi, Kenia, Pakistan, v.v…
• Nhằm liên kết hợp tác, trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo
dục từ xa, hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều tổ chức như:
Trang 26- Hội đồng Quốc tế về giáo dục từ xa (International Council for Distance Education)
- Hiệp hội các trường Đại học Mở Châu Á (Asian Association of the Open Universities – AAOU)
- Hội đồng Quốc tế Đại học không tường (University Without Walls International Council)
- Hội đồng giáo dục từ xa Châu Á (Distance Education Council for Asia), Hội Quốc tế đào tạo từ xa của khối các nước dùng tiếng Pháp (Consortium International des Pays Francophones de Formation à Distance – CIFFAD)
1.4 QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TỪ XA
Quản lý công tác tuyển sinh:
Đào tạo từ xa là một quá trình đào tạo trong đó có sự cách xa nhau về không gian, thời gian giữa người dạy và người học Học theo hình thức đào tạo từ xa, người học phải tự học là chủ yếu
Các cơ sở đào tạo lập kế hoạch tuyển sinh, mở các khóa đào tạo, tổ chức xây dựng kế hoạch đào tạo, sản xuất học liệu cho từng ngành, từng khóa học Sau khi chuẩn bị hết những công việc cần thiết cho các khóa học từ xa,
cơ sở đào tạo sẽ tiếp nhận việc đăng ký học của học viên và tiến hành đào tạo Hiện nay người học khi học theo phương thức đào tạo này không phải
dự thi đầu vào, chỉ xét tuyển với yêu cầu tốt nghiệp trung học phổ thông Với các đặc điểm đó, quản lý công tác tuyển sinh cũng khác với hình thức đào tạo chính quy tập trung
Quản lý chương trình và quy trình đào tạo
Cũng giống như chương trình đào tạo hệ chính quy tập trung, chương trình đào tạo từ xa của trình độ đào tạo đại học phải dựa vào chương trình chuẩn của ngành học theo quy chế văn bản hiện hành
Trang 27Các môn học được xây dựng theo chương trình khung của Bộ Giáo dục
& Đào tạo ban hành, bao gồm những học phần bắt buộc (phần cứng) và học phần tự chọn (phần mềm)
Đào tạo từ xa không bắt buộc học viên lên lớp 100% thời lượng môn học mà chỉ từ 15% - 25% kể cả thời gian giải đáp thắc mắc còn chủ yếu là tự học Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản của đào tạo từ xa so với đào tạo tập trung chính quy
Với sự trợ giúp của cơ sở đào tạo, người học tự học theo giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD, các chương trình phần mềm trên máy tính, hay theo các chương trình được phát trên các phương tiện phát thanh, truyền hình, truyền tải qua mạng Internet, v.v
Sơ đồ 1.2 Mô tả hình thức theo học từ xa
Với phương thức E-learning, các chức năng trong hệ thống đào tạo từ xa được mô tả như sơ đồ 1.3 [17, tr.15]:
- Bưu điện: Telephone, Fax…
- Mạng Internet, Intranet
- Truyền thanh, truyền hình
- Tài liệu học tập gồm dạng in, đĩa CD, băng tiếng, băng hình (học liệu điện từ)
- Các thông báo, hướng dẫn, kế hoạch học
Người học
Trang 28Sơ đồ 1.3 Sơ đồ các thành tố trong đào tạo từ xa theo E-learning
Tham gia học từ xa, người học được tự lựa chọn các chương trình học
tập phù hợp với họ
Với người học chọn các khoá học, hoặc các chương trình đào tạo có cấp
bằng tốt nghiệp thì họ phải đăng ký và tham gia một chương trình đào tạo bắt
buộc với các môn học phù hợp quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về
chuyên ngành họ đã đăng ký
ĐẠI HỌC ẢO GIÁO DỤC MỞ
Tài liệu giảng dạy
Đánh giá Giảng dạy từ xa
Bảng tin Phòng lab ngữ văn Phòng hội thảo mở Thư viện điện tử E-mail Quản lý lớp học
Thông tin người dùng
- Tài liệu giảng dạy
- Thời khoa biểu
- Tài liệu đặc biệt
- Bài giảng trực tuyến
- Bài giảng dùng VOD
- Thảo luận quan Internet
- Tra cứu thư viện
- Thông báo giờ học
- Thông tin cá nhân
- Thông tin người dùng
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 11 pt
Formatted: Font: (Default) Arial Narrow, 12 pt
Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial, 13
pt, Bold Formatted: Font: (Default) Arial Narrow, 13 pt, Bold
Trang 29Trong quá trình học tập, người học phải tự học theo giáo trình quy định
và tự tìm hiểu tài liệu theo hướng dẫn nhằm tích lũy kiến thức cần thiết để đảm bảo yêu cầu về kết quả học tập qua các kỳ thi kết thúc môn học, hoặc thi tốt nghiệp theo chuyên ngành đã đăng ký
Với các đối tượng người học tham gia học tập chỉ nhằm mục đích cập nhật kiến thức, hoặc bổ sung kiến thức cho cuộc sống hoặc cho công việc hiện hành mà không cần cấp bằng hoặc chứng chỉ thì họ chỉ cần đăng ký và tham gia theo học các chuyên đề phù hợp với mục đích của mình
Trong quá trình đào tạo từ xa, các cơ sở đào tạo đã kết hợp với các Trung tâm giáo dục thường xuyên tại các địa phương để làm cầu nối giữa người học và cơ sở đào tạo
Quản lý công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra, đánh giá là khâu hết sức quan trọng để đạt được hiệu quả trong giảng dạy, học tập từ xa Việc thi, kiểm tra được thực hiện một cách nghiêm túc, công bằng, chính xác, đúng quy chế Đề thi được chọn một cách ngẫu nhiên từ ngân hàng đề thi và được bảo mật một cách tuyệt đối Hình thức thi đa dạng, có thể thi tự luận hoặc trắc nghiệm Việc chấm thi và lên điểm tổ chức theo đúng quy trình (từ rọc phách, dồn túi, ghép phách)
Văn bằng, chứng chỉ của đào tạo từ xa có giá trị sử dụng như văn bằng, chứng chỉ của các loại hình đào tạo khác
Quản lý phương tiện học tập
So với phương thức đào tạo truyền thống, tài liệu và các phương tiện dạy học từ xa được coi là một trong những khâu then chốt nhất, tài liệu giáo trình in ấn vẫn là phương tiện chủ yếu Vì học từ xa chủ yếu là tự học do vậy tài liệu giáo trình phải đảm bảo yêu cầu ngắn gọn, dễ hiểu, có tóm tắt nội dung, các câu hỏi theo các chương, bài tập mẫu…
Học viên theo học hình thức đào tạo từ xa chủ yếu là tự học, tự nghiên
Trang 30cứu thông qua các học liệu như giáo trình, băng hình, băng tiếng, đĩa CD ROM, phần mềm vi tính, các phương tiện nghe nhìn cá nhân, các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình, mạng Internet, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện … dưới sự tổ chức, trợ giúp của nhà trường Ngày nay, với sự phát triển của CNTT-TT, việc phát triển học liệu điển
tử tạo nên sự thuận lợi trong đào tạo từ xa, việc sử dụng và quản lý phương tiện học tập cũng thuận lợi và hiệu quả
Quản lý về tài chính trong ĐTTX
Học viên theo học hệ ĐTTX phải đóng đầy đủ các khoản lệ phí thi, tiền giáo trình, băng tiếng mới được dự thi hết môn học, học phần
Các trung tâm liên kết đào tạo trực tiếp thu các khoản kinh phí sau đó nộp về Phòng Kế hoạch Tài chính Viện
Khoa Đào tạo Từ xa phối hợp với Phòng Kế hoạch Tài chính để quản lý chặt chẽ tình hình thu nộp lệ phí
1.5 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA
1.5.1 Công nghệ thông tin
Công nghệ
Khái niệm công nghệ hầu như đã được sử dụng trong hoạt động sử lý vật chất, trong những quá trình lao động với đối tượng vật chất Ngày nay, khái niệm công nghệ đang có xu hướng mở rộng ra những hoạt động với đối tượng hoạt động không vật chất như hình thành nhân cách trong giáo dục, đào tạo con người, điều khiển con người…
Theo nghĩa chung nhất, công nghệ là quá trình xử lý, chuyển hoá các nguyên vật liệu ở đầu vào thành sản phẩm ở đầu ra của một quá trình sản xuất Theo nghĩa này, so với mục tiêu, công nghệ thuộc phạm trù phương tiện; tức là ứng với một mục tiêu có thể có nhiều công nghệ khác nhau về
Trang 31cách tổ chức quá trình thực hiện, bao gồm các yếu tố đối tượng lao động (Chất liệu, vật liệu cần được gia công), công cụ lao động (Thủ công, cơ khí,
tự động hoá, điện tử, máy tính), trình tự diễn biến quá trình (chia thành các công đoạn, các bước…các thao tác, được sắp xếp trước sau theo trục thời gian), nhân lực tham gia quá trình (chức năng, nhiệm vụ, năng lực, trình độ ở những khâu nhất định)
Có thể tóm tắt các yếu tố trên vào 4 nhóm yếu tố gắn bó với nhau thành
hệ thống, đặc biệt là thành quy trình hành động:
- Nguồn lực kỹ thuật của công nghệ : Technoware
- Nguồn lực con người của công nghệ: Humanware
- Nguồn lực tổ chức của công nghệ : Organware
- Nguồn lực thông tin của tổ chức : Informware
Cách thức tổ chức những yếu tố trên thành qui trình bao gồm những công đoạn những bước đi, những thao tác…tạo nên công nghệ
Trong phạm vi công nghệ, thường có 2 giai đoạn thiết kế công nghệ và thực hiện công nghệ
Thông tin
Khái niệm thông tin đã được sử dụng từ lâu và thường xuyên trong cuộc sống cũng như trong khoa học, song việc định nghĩa nó một cách chính xác lại rất khó khăn
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thông tin Nhưng phần lớn đều hiểu thông tin là tất cả những gì có thể cung cấp cho con người những hiểu biết về đối tượng được quan tâm trong tự nhiên và xã hội, về những sự kiện diễn ra trong không gian và thời gian, về những vấn đề chủ quan và khách quan … Tóm lại, tất cả những gì có thể giúp cho con người hiểu đúng về đối tượng mà
họ quan tâm đều được gọi là thông tin
Thông tin có thể được truyền trên những vật mang tin khác nhau âm
Trang 32thanh, ánh sáng, tín hiệu điện từ, sách báo, hình vẽ, … Người ta gọi những vật mang tin là môi trường, còn vật được mang thông tin là thông báo Người ta thường xét một thông báo theo hai mặt sau đây
Dung lượng thông tin: Một thông báo có dung lượng thông tin lớn nếu
nó phản ánh nhiều về hệ thống được nghiên cứu
Chất lượng thông tin: Một thông báo có chất lượng thông tin cao nếu nó phản ánh được những mặt bản chất, những quy luật vận động và phát triển của hệ thống
Xét trên góc độ thông tin thì quá trình đào tạo nói chung, quá trình dạy học nói riêng là quá trình cung cấp và thu nhận thông tin về những đối tượng trong tự nhiên và xã hội Đổi mới quản lý đào tạo theo xu thế hiện nay là vận dụng, kết hợp các phương tiện quản lý đào tạo, các trang thiết bị hiện đại để các thông báo có dung lượng thông tin lớn nhất và chất lượng thông tin cao nhất
Công nghệ thông tin (Informational Technology - IT):
CNTT là thuật ngữ để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin Theo cách nhìn đó CNTT bao gồm các phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại, chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống nội dung thông tin điện tử nhằm tổ chức, lưu giữ, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người
"CNTT (tin học), thuật ngữ chỉ chung cho một tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông tin và quá trình xử lý thông tin Theo nghĩa đó CNTT cung cấp cho chúng ta các quan điểm, phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kỹ thuật hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng
Trang 33có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh
tế, xã hội, văn hóa và con người" (Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1 Hà Nội 1995)
Từ hai định nghĩa trên có thể nhận thấy, giữa khái niệm tin học và khái niệm công nghệ thông tin có nhiều điểm tương đồng nhưng không thể đồng nhất giữa chúng
Tin học là ngành khoa học nghiên cứu việc xử lý bằng máy tính điện tử các tri thức của loài người dưới dạng các thông tin trong các lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế và xã hội
Như vậy, tin học là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu cấu trúc và tính chất của thông tin khoa học, cùng với việc thu thập, xử lý, lưu trữ, biến đổi và truyền gửi những thông tin này Trong xã hội hiện đại, lĩnh vực khoa học này ngày càng thâm nhập sâu rộng và nhanh chóng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Công nghệ thông tin và tin học đều là lĩnh vực khoa học có đối tượng nghiên cứu là việc thu thập, xử lý và truyền gửi thông tin
Công nghệ thông tin nghiên cứu về các khả năng và các phương pháp, tức là nghiêng về phía công nghệ theo cách hiểu truyền thống Khi nói công nghệ thông tin là hàm ý muốn nói tới nghĩa kỹ thuật, công nghệ Trong khi
đó, tin học chủ yếu nghiên cứu về cấu trúc và tính chất, tức là nghiêng về phương diện khoa học
Khoa học mang tính ổn định tương đối nhưng không được định hình rõ nét về sản phẩm Công nghệ mang tính linh hoạt, dễ thay đổi nhưng sản phẩm thường được định hình trước Tuổi thọ của công nghệ thấp hơn nhiều so với tuổi thọ của khoa học Khoa học là cơ sở để hình thành những công nghệ khác nhau
và ngược lại công nghệ kích thích sự phát triển của kỹ thuật và khoa học
Công nghệ thông tin và tin học đều là lĩnh vực khoa học và ứng dụng
Trang 34khoa học rộng lớn và đều có những chuyên ngành hẹp Vì vậy, khả năng và quy
mô ứng dụng của tin học cũng như của công nghệ thông tin vô cùng rộng lớn
Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and
Communication Technologies- ICTs ):
Là một tổ hợp từ được dùng để mô tả phạm vi các công nghệ thu thập, sắp xếp, khôi phục, xử lý, phân tích và truyền thông tin
(www.smartstate.qld.gov.au/strategy)
ICT là công nghệ đòi hỏi cho các quá trình thông tin Cụ thể là việc sử dụng các máy tính điện tử và các phần mềm để lưu giữ, sắp xếp, bảo mật, truyền dẫn và khôi phục các thông tin bất cứ đâu, bất cứ lúc nào
Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học :
Là quá trình ứng dụng ICTs vào hoạt động dạy học một cách hợp lý Trong đó có sử dụng các loại hình TBDH như:
- Phim đèn chiếu
- Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu CD
- Băng, đĩa ghi âm
- Băng hình, đĩa hình
Trang 35- Phần mềm dạy học
- Giáo án điện tử, bài giảng điện tử, giáo án kỹ thuật số, sách giáo khoa điện tử
- Trang Web học tập, Phòng thí nghiệm ảo…
1.5.2 Vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông vào quá trình quản lý đào tạo từ xa
Có nhiều cách ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong giáo dục từ xa, tuỳ theo các góc độ khác nhau Từ góc độ người học, ứng dụng công nghệ thông tin tạo cho học viên sự linh hoạt và tương tác giữa thầy và trò không cần phải thông qua các buổi lên lớp trực tiếp Từ góc độ người thầy, công nghệ thông tin tạo môi trường và nhiều cơ hội trao đổi giữa thầy và trò hơn Từ góc độ cơ sở đào tạo, ứng dụng công nghệ thông tin tạo cơ hội cho người học khai thác thông tin, giảm thiểu chi phí và thời gian đi lại, tăng hiệu quả phổ cập các chương trình đào tạo Từ góc độ quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp cho nhà quản lý giải quyết các công việc một cách chính xác, nhanh chóng, giảm các chi phí (giảm các nguồn lực), đạt hiệu quả cao Từ góc độ phát triển chiến lược, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ làm tăng sự hiểu biết quốc tế và các nền văn hoá đa dạng, cũng như việc sử dụng ngoại ngữ
Đối với giáo dục từ xa việc quản lý đào tạo thông qua ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt là các phần mềm quản lý sẽ giúp cho việc quản lý được dễ dàng, chính xác đạt hiệu quả cao đáp ứng được quản lý một quy mô lớn người theo học một cách có hệ thống và vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo Thực hiện được điều này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho cơ sở đào tạo, cho học viên Quá trình quản lý như vậy sẽ được thuận lợi, chặt chẽ, nhanh
Trang 36chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian, công sức cho những người làm công tác đào tạo Giải quyết tốt sự trao đổi thông tin giữa học viên và cơ sở đào tạo Ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông vào công tác quản lý đào tạo từ xa giúp chúng ta chủ động trong từng khâu của quá trình quản lý học viên Tất cả việc ghi chép, theo dõi quá trình học tập của học viên không phải thực hiện bằng tay Dữ liệu được lưu trữ với độ an toàn cao hơn, đồng bộ và chính xác hơn Khả năng tra cứu, kết xuất thông tin được nhanh chóng Việc lưu trữ dữ liệu được diễn ra an toàn và khả năng lưu trữ lớn Thông tin về học viên được cập nhật kịp thời và thuận tiện Đối với mỗi công việc cần thực hiện trong quá trình quản lý được thực hiện với thời gian được rút ngắn, hiệu quả lại cao, giảm bớt nhiều chi phí không cần thiết
Tóm lại, ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra nhiều triển vọng phục vụ người quản lý và các cơ hội sáng tạo khác Tuy nhiên công nghệ thông tin chỉ phát huy tối đa khi có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật Công nghệ thông tin đã được ứng dụng trong các cơ sở giáo dục đại học như một phần của chiến lược
mở rộng thông tin, tăng cường số lượng người theo học
Thành công trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục từ
xa đòi hỏi những điều kiện tiên quyết đảm bảo khả năng duy trì và sử dụng ổn định Yêu cầu của quản lý đào tạo từ xa thông qua ứng dụng công nghệ thông
tin nhằm nâng cao chất lượng đào tạo từ xa, là công cụ, phương tiện để tăng
quy mô nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đào tạo từ xa, tăng hiệu quả quản lý đào tạo
Trang 37Các khái niệm và các cơ sở lý luận này làm khái niệm và công cụ khoa học cho việc nghiên cứu đề tài: khảo sát thực tiễn và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo từ xa bằng ứng dụng CNTT-TT
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TỪ XA BẰNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG
TẠI VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
2.1 GIỚI THIỆU MỘT SỐ NÉT VỀ VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
2.1.1 Một số nét về lịch sử phát triển
Viện Đại học Mở Hà Nội Được thành lập theo quyết định số 535/TTg ngày 3/11/1993 tiền thân là Viện Đào tạo Mở rộng I "Viện Đại học Mở Hà Nội là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu với các loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội góp phần tăng tiềm lực của cán bộ khoa học, kỹ thuật cho đất nước" (trích Quyết định thành lập Viện Đại học Mở Hà Nội)
"Viện Đại học Mở Hà Nội là tổ chức hoạt động trong hệ thống các trường Đại học quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý và được hưởng mọi quy chế của một trường Đại học công lập" (QĐ 535/1993/TTg) Như vậy, về tính chất Viện Đại học Mở Hà Nội khác Đại học truyền thống ở thuật ngữ "Mở "
- Mở về đối tượng: nhằm tạo cơ hội học tập cho nhiều người, đặc biệt
là những người ngoài độ tuổi đến trường chính quy những người nghèo, bị thiệt thòi hoặc cư trú tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo
- Mở về phương thức tuyển sinh: Công nhận nguyên tắc tuyển sinh dễ dàng, không đòi hỏi người học phải qua kỳ tuyển sinh quốc gia Khi số lượng đăng ký nhập học quá đông so với khả năng thu nhận của trường thì áp dụng hình thức xét tuyển, kiểm tra năng lực theo một số tiêu chí riêng của từng ngành học, từng loại chương trình giáo dục không đòi hỏi người học phải theo đuổi việc học trong suốt khoá học nếu không có ý định lấy chứng chỉ, văn bằng
Trang 39- Mở về mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục
- Mở về cơ chế đầu tư, quản lý tài chính: các Đại học Mở được nhà nước đầu tư ban đầu khá lớn để xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học sau đó các trường được phép thu các nguồn kinh phí khác ngoài ngân sách Nhà nước, hoạt động theo phương thức tự hạch toán theo các quy định
về tài chính của Nhà nước
- Mở về phương thức dạy và học : Lý do ra đời của các Đại học Mở là
để đáp ứng nhu cầu học tập, đào tạo của đông đảo nhân dân Vậy để có thể thu hút hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn người theo học trong điều kiện cơ sở vật chất, trường lớp, đội ngũ giáo viên cơ hữu không nhiều, đồng thời không gây nên sự cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của các trường Đại học khác bằng cách thu hút, lôi kéo giáo viên của các trường này
Đại học Mở áp dụng phương thức giáo dục từ xa, phương thức này dựa chủ yếu vào các phương tiện giáo trình, tài liệu in, băng tiếng, băng hình, phát thanh, truyền hình, điện thoại, internet vv để tổ chức đào tạo tại chỗ (chỗ ở
và chỗ làm việc)
2.1.2 Quy mô và chất lượng đào tạo
2.1.2.1 Quy mô đào tạo
Khi mới thành lập năm 1993 Viện chỉ có 04 ngành đào tạo (Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tin học, Tiếng Anh) Cho đến năm 2012 Viện đã có được 16 ngành đào tạo của 12 khoa và 1 trung tâm đào tạo gồm:
1 Khoa Công nghệ Tin học: + Tin học quản lý Toán
Trang 40+ Hóa thực phẩm
+ Quản trị du lịch
5 Khoa Tạo dáng công nghiệp: + Nội - ngoại thất
+ Đồ họa, Thời trang, Kiến trúc
8 Khoa Điện tử - Thông tin: + Điện tử viễn thông
9 Khoa Tài chính - Ngân hàng: + Tài chính, Ngân hàng
+ Luật quốc tế
11 Khoa đào tạo sau đại học: + Điện tử thông tin
+ Quản trị kinh doanh
12 Khoa Đào tạo từ xa
13 Trung tâm E-Learning
Qua 18 năm xây dựng và phát triển, Viện Đại học Mở Hà Nội đã thực hiện các loại hình đào tạo đa dạng, đó là:
- Đào tạo Chính quy tập trung
- Đào tạo Cao đẳng
- Bằng đại học thứ hai (hệ chính quy, tại chức)
- Đào tạo song bằng
- Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp
- Cao đẳng liên thông (từ TCCN lên Cao đẳng chính quy)
- Hệ hoàn chỉnh kiến thức (từ Cao đẳng lên đại học)
- Đào tạo Từ xa
- Đào tạo thạc sỹ
- Đào tạo cấp chứng chỉ nghiệp vụ