Tính cấp thiết của đề tài Trong thời đại ngày nay – thời đại của sự bùng nổ thông tin, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục là điều không thể thiếu. Giới trẻ ngày nay được tiếp cận với nhiều công nghệ mới, tiếp nhận hằng ngày một lượng thông tin lớn và luôn luôn thay đổi, cập nhật. Vì vậy nhà trường không thể áp dụng cách dạy và cách học theo lối truyền thống cũ, mà thay vào đó cần đào tạo cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu để các em có khả năng tự học suốt đời, rèn luyện cho các em đức tính tự tin trong học tập. Nghị quyết TW2 khoá VIII đã nhấn mạnh “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”3. Tất cả những yếu tố trên đã thúc đẩy các cấp học, ngành học phải đổi mới PPDH. Các phương tiện hỗ trợ đóng một vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng của việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học. Dạy học với sự trợ giúp của CNTT là một trong những biện pháp cần thiết nhằm đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả dạy và học. Hiện nay, việc ứng dụng CNTT đang là một trong những vấn đề được các giáo viên quan tâm và khai thác sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau. Trước thực trạng về việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh thì việc thiết kế và sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT trong dạy học là một trong những biện pháp quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều giáo viên vẫn chưa chú ý nhiều đến việc thiết kế và sử dụng PHT hoặc việc sử dụng PHT vẫn chưa đạt hiệu quả cao và chưa được sử dụng đúng mục đích. Nguyên nhân ở đây là do giáo viên chưa có sự đầu tư, tìm hiểu về quy trình thiết kế PHT cũng như vai trò và tác dụng của PHT trong dạy học. Điều này có thể là do việc thiết kế PHT đòi hỏi mất nhiều thời gian, công sức. Mặt khác, trình độ CNTT của giáo viên còn hạn chế, trang thiết bị CNTT cung cấp cho các trường chưa đồng bộ và kịp thời… Do đó, việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT chưa được nhiều giáo viên quan tâm. Chính vì thế, thiết kế và sử dụng PHT có ứng dụng CNTT đối với từng bài học cụ thể là một việc làm rất thiết thực nhằm đổi mới PPDH nói chung và PPDH vật lí nói riêng. Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về PHT được vận dụng trong dạy học địa lý, lịch sử, sinh học, vật lí nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu sử dụng PHT với sự hỗ trợ của máy vi tính. Từ những lí do trên chúng tôi thấy rằng để tổ chức các hoạt động dạy học vật lí nói chung, dạy học phần “Nhiệt học” nói riêng đạt hiệu quả cao thì người giáo viên cần quan tâm đến vấn đề đổi mới PPDH. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học phần Nhiệt học vật lí 10 nâng cao với sự hỗ trợ của máy vi tính” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào công việc nâng cao chất lượng dạy học vật lí ở trường phổ thông..
Trang 1MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3 Mục tiêu của đề tài 7
4 Giả thuyết khoa học 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Đối tượng nghiên cứu 8
8 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 8
9 Cấu trúc của luận văn 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MVT TRONG DH VL 10
1.1 Quan niệm về PHT 10
1.1.1 Định nghĩa PHT 10
1.1.2 Các chức năng cơ bản của PHT trong DH 11
1.1.3 Phân loại PHT 12
1.1.3.1 Căn cứ vào chức năng của PHT 12
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng PHT 12
1.1.3.3 Căn cứ vào nội dung của PHT 17
1.1.3.4 Căn cứ vào tiêu chí phát triển kĩ năng 21
1.1.4 Vai trò của PHT trong DH VL 25
1.2 Vai trò của MVT hỗ trợ PHT trong DH VL 26
1.2.1 Vai trò của MVT trong DH VL ở trường phổ thông 26
1.2.2 Vai trò của MVT hỗ trợ PHT trong DH VL 27
Trang 21.3 Thực trạng của việc sử dụng PHT trong DH VL 31
Kết luận chương 1 37
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHT TRONG DẠY HỌC PHẦN NHIỆT HỌC VẬT LÍ 10 NÂNG CAO VỚI SỰ HỖ TRỌ CỦA MVT 38
2.1 Mục tiêu dạy học 38
2.2 Đặc điểm phần Nhiệt học 39
2.3 Nguyên tắc và quy trình thiết kế PHT 40
2.3.1 Nguyên tắc thiết kế PHT 40
2.3.2 Quy trình thiết kế PHT 42
2.4 Nguyên tắc và quy trình sử dụng PHT 47
2.4.1 Nguyên tắc sử dụng PHT 47
2.4.2 Quy trình sử dụng PHT 49
2.4.3 Một số PPDH sử dụng kết hợp với PHT 52
2.5 Thiết kế tiến trình DH một số tiết thuộc phần Nhiệt học có sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT 57
2.5.1 Xây dựng kho tư liệu cho phần Nhiệt học 57
2.5.2 Thiết kế tiến trình DH một số tiết thuộc phần Nhiệt học có sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT 59
Kết luận chương 2 67
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 68
3.1.1 Mục đích của TNSP 68
3.1.2 Nhiệm vụ của TNSP 68
3.2 Đối tượng và nội dung của TNSP 69
3.2.1 Đối tượng của TNSP 69
3.2.2 Nội dung của TNSP 69
3.3 Phương pháp TNSP 69
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 69
3.3.2 Quan sát giờ học 70
3.3.3 Các bài kiểm tra 71
3.4 Đánh giá kết quả TNSP 71
3.4.1 Nhận xét tiến trình DH 71
3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 72
3.4.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 75
Kết luận chương 3 77
Trang 3KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay – thời đại của sự bùng nổ thông tin, việc ứng dụng côngnghệ thông tin vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục làđiều không thể thiếu Giới trẻ ngày nay được tiếp cận với nhiều công nghệ mới, tiếpnhận hằng ngày một lượng thông tin lớn và luôn luôn thay đổi, cập nhật Vì vậy nhàtrường không thể áp dụng cách dạy và cách học theo lối truyền thống cũ, mà thay vào
đó cần đào tạo cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu để các em có khả năng
tự học suốt đời, rèn luyện cho các em đức tính tự tin trong học tập
Nghị quyết TW2 khoá VIII đã nhấn mạnh “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”[3].
Tất cả những yếu tố trên đã thúc đẩy các cấp học, ngành học phải đổi mới PPDH.Các phương tiện hỗ trợ đóng một vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng củaviệc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học Dạy học với sựtrợ giúp của CNTT là một trong những biện pháp cần thiết nhằm đổi mới phương pháp,nâng cao hiệu quả dạy và học Hiện nay, việc ứng dụng CNTT đang là một trongnhững vấn đề được các giáo viên quan tâm và khai thác sử dụng dưới nhiều hình thứckhác nhau
Trước thực trạng về việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh thì việc thiết kế và sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVTtrong dạy học là một trong những biện pháp quan trọng và cần thiết Tuy nhiên, hiệnnay, nhiều giáo viên vẫn chưa chú ý nhiều đến việc thiết kế và sử dụng PHT hoặc việc
sử dụng PHT vẫn chưa đạt hiệu quả cao và chưa được sử dụng đúng mục đích Nguyênnhân ở đây là do giáo viên chưa có sự đầu tư, tìm hiểu về quy trình thiết kế PHT cũngnhư vai trò và tác dụng của PHT trong dạy học Điều này có thể là do việc thiết kế PHTđòi hỏi mất nhiều thời gian, công sức Mặt khác, trình độ CNTT của giáo viên còn hạn
Trang 5chế, trang thiết bị CNTT cung cấp cho các trường chưa đồng bộ và kịp thời… Do đó,việc nghiên cứu xây dựng và sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT chưa được nhiềugiáo viên quan tâm Chính vì thế, thiết kế và sử dụng PHT có ứng dụng CNTT đối vớitừng bài học cụ thể là một việc làm rất thiết thực nhằm đổi mới PPDH nói chung vàPPDH vật lí nói riêng.
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về PHT được vận dụng trong dạyhọc địa lý, lịch sử, sinh học, vật lí nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu sử dụng PHTvới sự hỗ trợ của máy vi tính
Từ những lí do trên chúng tôi thấy rằng để tổ chức các hoạt động dạy học vật línói chung, dạy học phần “Nhiệt học” nói riêng đạt hiệu quả cao thì người giáo viên cần
quan tâm đến vấn đề đổi mới PPDH Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Thiết kế và
sử dụng phiếu học tập trong dạy học phần Nhiệt học vật lí 10 nâng cao với sự hỗ trợ của máy vi tính” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào công việc nâng cao chất
lượng dạy học vật lí ở trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu và sử dụng PHT trong dạy học, đã có một số tác giả quan tâmnghiên cứu như:
Bài báo “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học hợp tác” của tác giả
Đặng Thành Hưng đăng trên báo Phát triển Giáo dục số 8, tháng 8/2004 Tác giả đãnêu định nghĩa, chức năng của một số dạng PHT, nêu cách thiết kế và quy trình sửdụng PHT trong DH hợp tác
Bài báo “Xây dựng phiếu học tập dùng trong dạy học trên lớp môn Địa lý lớp 10 THPT” của tác giả Đậu Thị Hòa, đăng trong Tạp chí Giáo dục số 168 tháng 7/2007.
Tác giả đã nêu lên bản chất của PHT, nguyên tắc và quy trình xây dựng PHT trongdạy học trên lớp môn Địa lý lớp 10
Bài báo “Phương pháp sử dụng phiếu học tập trong dạy học Địa lý lớp 10 nhằm phát huy tính tích cực và độc lập của học sinh” của tác giả Đậu Thị Hòa trong Tạp chí
Giáo dục số 195 tháng 8/2008 Tác giả đã trình bày nguyên tắc và phương pháp sử
Trang 6dụng PHT trong dạy học Địa lý lớp 10, trong đó tác giả chú trọng trình bày phươngpháp sử dụng PHT trong dạy bài mới và củng cố bài học
Luận văn thạc sĩ của Trần Thùy Uyên “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học địa lí” và Hoàng Châu Âu “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương Sóng ánh sáng và Lượng tử ánh sáng vật lí 12 nâng cao ” Các tác giả đã trình
bày định nghĩa, chức năng, các dạng PHT trong dạy học; xây dựng được các nguyêntắc, quy trình thiết kế và sử dụng PHT trong DH bài mới và củng cố bài học
Việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học cũng đã được nhiều tác giả quantâm Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Lê Công Triêm,Phạm Xuân Quế, Nguyễn Quang Lạc, Quách Tuấn Ngọc, Nguyễn Mạnh Cường…vềviệc ứng dụng CNTT trong dạy học vật lí đăng trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục,các báo cáo hội thảo khoa học…Trong công trình của mình, các tác giả đều nhấn mạnhvai trò của công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay và việc ứng dụng CNTT mộtcách có hiệu quả vào quá trình dạy học
Tác giả Mai Văn Trinh với “Nâng cao hiệu quả dạy học vật lí trong nhà trường phổ thông trung học thông qua việc sử dụng máy vi tính và các phương tiện dạy học hiện đại” đã sử dụng ngôn ngữ lập trình như Turbo Pascal, Visual Basic, Parma, Power
Point để xây dựng một số phần mềm dạy học vật lí Những phần mềm này nhằm mụcđích mô phỏng, minh họa các hiện tượng, quá trình vật lí để hỗ trợ giáo viên giảng dạyphần Quang hình và Động học
Tác giả Trần Huy Hoàng với “Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm với sự hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học một số kiến thức cơ học và nhiệt học trung học phổ thông”
thì đề cập đến việc sử dụng máy vi tính để tạo ra các thí nghiệm ảo hoặc thí nghiệm môphỏng, từ đó thiết kế tiến trình dạy học cho một số bài thuộc phần cơ học và nhiệt họclớp 10
Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu thiết kế và sử dụng PHTtrong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của máy vi tính và đây cũng là một đề tài nghiên cứucần thiết nhằm phục vụ cho việc đổi mới PPDH vật lí
Trang 73 Mục tiêu của đề tài
Với hướng nghiên cứu mà đề tài đặt ra thì đề tài cần phải đạt được các mục tiêusau:
- Bổ sung vào cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học vật lí
- Thiết kế được các dạng PHT trong dạy học vật lí phần Nhiệt học
- Xây dựng tiến trình dạy học phần “Nhiệt học” có sử dụng PHT với sự hỗ trợ củaMVT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
4 Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT trong dạy học vật lí là một trong nhữngbiện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh Trong quá trình tổ chứchoạt động dạy học, nếu giáo viên thiết kế và sử dụng PHT với sự trợ giúp của máy vitính theo cách thức tổ chức mà chúng tôi đề xuất thì sẽ phát huy tính tích cực, tự lực,chủ động cho HS đồng thời rèn luyện cho các em một số kĩ năng học tập cần thiết, gópphần nâng cao chất lượng dạy học vật lí ở trường phổ thông
5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới phương pháp dạy học hiện nay;
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc ứng dụng CNTT trong dạy học vật lí ở trường
phổ thông và khả năng hỗ trợ của MVT trong dạy học phần Nhiệt học;
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học vật lí;
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình và SGK vật lí 10 nâng cao;
- Xây dựng quy trình thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học vật lí;
- Thiết kế một số tiến trình dạy học sử dụng PHT phần Nhiệt học với sự hỗ trợcủa MVT ;
- Điều tra thực trạng về việc sử dụng PHT trong dạy học vật lí;
- Tiến hành TNSP ở một số trường THPT để đánh giá hiệu quả của việc sử dụngPHT với sự hỗ trợ của MVT trong dạy học vật lí
Trang 87 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy học phần Nhiệt học có sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT
8 Phương pháp nghiên cứu đề tài
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các văn bản của Nhà nước và của ngànhGiáo dục đào tạo;
- Nghiên cứu các sách, bài báo, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành;
- Nghiên cứu chương trình, SGK, sách bài tập, tài liệu tham khảo vật lí lớp 10nâng cao
8.2 Phương pháp điều tra:
- Trao đổi với giáo viên về việc thiết kế và sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVTtrong dạy học vật lí ở trường THPT;
- Lấy ý kiến học sinh về việc đổi mới PPDH của GV hiện nay và nhu cầu học tậpcủa các em trong dạy học vật lí
8.3 Phương pháp TNSP:
- Tiến hành giảng dạy một số tiết có sử dụng PHT với sự hỗ trợ của MVT;
- Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của học sinh trong các giờ học có
Trang 9Dựa vào số liệu thu thập được, sử dụng phương pháp thống kê thông dụng đểphân tích, xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sựkhác biệt trong kết quả học tập giữa hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
9 Cấu trúc của luận văn
Trang 10NỘI DUNGChương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ
SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH
TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 1.1 Quan niệm về PHT
- “Phiếu” là tờ giấy ghi nhận một quyền lợi nào đó cho người sử dụng
- “Phiếu” là tờ giấy biểu thị ý kiến trong cuộc bầu cử hoặc biểu quyết [23].
Theo chúng tôi, “phiếu” là một tờ giấy hoặc một tập giấy có kích thước nhất định,
nội dung của phiếu tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng
Ví dụ: phiếu điều tra, phiếu bầu cử, phiếu xuất kho,…
“Học tập” có thể hiểu là một hoạt động tích cực, tự lực và sáng tạo của người
học nhằm tạo ra sự thay đổi trong nhận thức, thái độ và kỹ năng trên cơ sở những kiếnthức, thái độ và kỹ năng hiện có của bản thân nhằm tìm kiếm tri thức mới
Căn cứ vào các định nghĩa về “phiếu” và “học tập”, nhiều tác giả đã đưa ra địnhnghĩa về PHT như sau:
Các tác giả Đặng Thị Dạ Thủy, Nguyễn Khoa Lân, Phan Đức Duy, Biền Văn
Minh, Nguyễn Bá Lộc thì “PHT là những tờ giấy rời, in sẵn những công tác độc lập hay nhóm nhỏ, được phát cho học sinh, yêu cầu tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học”[8].
Tác giả Đặng Thành Hưng thì cho rằng “PHT là một trong những phương tiện dạy học cụ thể, đơn giản và có khả năng tương thích rất cao với tuyệt đại đa số người học thuộc mọi lứa tuổi và trong lĩnh vực học tập Đó là văn bản bằng giấy hoặc dạng giấy do giáo viên tự làm, gồm một hoặc một số tờ, có vai trò học liệu để bổ sung cho sách và tài liệu giáo khoa quy định, có chức năng hỗ trợ học tập và giảng dạy vừa như
Trang 11công cụ hoạt động, vừa như điều kiện hoạt động của người học và người dạy, mà trước hết như một nguồn thông tin học tập”[15].
Tác giả Đậu Thị Hòa đã đưa ra định nghĩa “PHT là những tờ giấy rời, có in sẵn những thông tin, số liệu, sự kiện,…cần thiết nhưng không có trong sách giáo khoa để yêu cầu HS phân tích, khai thác kiến thức phục vụ cho bài học, hoặc có ghi sẵn nhiệm
vụ học tập dưới dạng các vấn đề, câu hỏi…”[11].
Từ các định nghĩa trên, theo chúng tôi PHT có thể được hiểu là một công cụ dùng
trong dạy học, PHT có thể là một tờ hoặc một tập giấy rời in sẵn những câu hỏi, bài
tập, những yêu cầu có thể kèm theo sự gợi ý, hướng dẫn của GV, đòi hỏi HS phải tích cực, tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập nhằm tạo ra sự thay đổi trong nhận thức, thái
độ và kỹ năng.
1.1.2 Các chức năng cơ bản của PHT trong DH
1.1.2.1 Chức năng cung cấp thông tin và sự kiện
Đây là một trong những chức năng quan trọng vì những thông tin, sự kiện cungcấp cho HS thông qua PHT là những thông tin, sự kiện không có trong SGK nhưng rấtcần thiết cho bài học Chính những thông tin này giúp HS hiểu sâu hơn bản chất củacác hiện tượng, quá trình, làm sáng tỏ thêm kiến thức bài học
Những thông tin, sự kiện trong PHT có thể là văn bản, bảng số liệu, hình ảnh, sơ
đồ, các thí nghiệm thực hay thí nghiệm mô phỏng Các thông tin này do GV cung cấphoặc GV hướng dẫn HS lấy từ các sách tham khảo, báo, tạp chí, internet
1.2.2.2 Chức năng công cụ hoạt động và giao tiếp
Các tác giả Đặng Thành Hưng và Nguyễn Đức Vũ đều cho rằng chức năng công
cụ hoạt động và giao tiếp là chức năng cơ bản của PHT bởi vì nó nêu lên những yêucầu hoạt động, đòi hỏi người học phải thực hiện nhiệm vụ học tập của mình thông quanhững gợi ý, hướng dẫn của GV [15], [39]
Để thực hiện nhiệm vụ học tập, HS có thể hoạt động theo hình thức cá nhân hoặchoạt động theo nhóm tùy theo yêu cầu của GV
Như vậy, thông qua PHT học sinh có thể hoạt động, trao đổi ý kiến với bạn bè và
GV để tìm kiếm một kết quả tốt nhất
Trang 121.1.3 Phân loại PHT
1.1.3.1.Căn cứ vào chức năng của PHT
Căn cứ vào chức năng PHT có thể phân thành 2 dạng sau:
- Phiếu cung cấp thông tin và sự kiện
Loại phiếu này thường được sử dụng khi dạy những bài có nội dung mang tínhchất trừu tượng, khó hiểu Do đó, cần phải bổ sung thông tin cho HS nhằm làm rõ nộidung bài học
Đối với loại phiếu này, thông thường GV phải xây dựng được kho tư liệu, lựachọn và đưa vào phiếu những thông tin cần thiết, sát thực giúp HS nhanh chóng hiểu rõvấn đề
- Phiếu là công cụ hoạt động và giao tiếp
Với chức năng này thì PHT nêu lên những nhiệm vụ học tập, những yêu cầu hoạtđộng, những vấn đề và công việc để HS giải quyết hoặc thực hiện kèm theo nhữnghướng dẫn, gợi ý cách làm của GV Do đó, nội dung chứa đựng trong phiếu phải đượcthể hiện rõ ràng, đảm bảo cho tất cả HS có thể hiểu được bài học
Loại phiếu này có thể sử dụng trong các giai đoạn của quá trình dạy học như kiểmtra bài cũ, dạy bài mới, củng cố, ôn tập
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng PHT
- Phiếu dùng trong kiểm tra bài cũ
Loại phiếu này thường sử dụng với mục đích kiểm tra cùng một lúc nhiều họcsinh, nhưng nội dung trong phiếu có thể khác nhau Những câu hỏi trong phiếu thường
là những câu hỏi lí thuyết và bài tập vận dụng nhỏ nhằm kiểm tra mức độ nắm vữngkiến thức của học sinh Loại phiếu này có thể được thể hiện thông qua một loạt câu hỏitrắc nghiệm Do thời gian kiểm tra bài cũ rất ít nên các câu hỏi, bài tập thường ngắngọn, đơn giản Vì vậy, loại phiếu này không phát huy được năng lực tư duy của HS Do
đó, trong dạy học, GV cần phải phối hợp với phương pháp dạy học truyền thống làkiểm tra miệng
Hình thức tổ chức khi dùng PHT loại này là HS độc lập, tự lực hoạt động cá nhân
Trang 13Ví dụ: PHT dùng kiểm tra bài cũ trước khi học bài 45 “Định luật Bôilơ -Mariốt.”
PHIẾU HỌC TẬP
1 Trình bày các tính chất của chất khi
………
………
………
2 Hãy trình bày nội dung thuyết động học phân tử chất khí Trên có sở đó, hãy giải thích tính chất hỗn loạn của chuyển động nhiệt của phân tử được thể hiện ở tốc độ phân tử như thế nào? ………
………
………
………
………
………
………
- Phiếu dùng trong dạy bài mới
Loại phiếu này có nội dung rất cụ thể, rõ ràng, được sắp xếp theo một trình tự logic có thể kèm theo sự gợi ý của GV Với việc sử dụng loại phiếu này trong dạy học,
HS có thể phát huy được các kĩ năng cũng như vốn kiến thức của mình nhằm hoàn thành phiếu trong thời gian ngắn nhất Trong quá trình hoàn thành phiếu, HS có thể hoạt động cá nhân hoặc trao đổi với bạn bè và GV Nhờ vậy, HS sẽ phát huy được tính tích cực, sáng tạo thông qua việc hình thành và đề xuất các phương án thí nghiệm hoặc đưa ra những câu hỏi hay Tuy nhiên, khi sử dụng PHT trong dạy bài mới GV cần phải chú ý đến năng lực, trình độ của HS vì không phải HS nào cũng có thể hoàn thành hết các nhiệm vụ trong phiếu Do đó, GV phải hướng dẫn riêng đối với những HS này Nội dung của một bài học thường bao gồm nhiều đề mục Do đó, khi dùng PHT trong giai đoạn này, GV nên lựa chọn những mục nào trọng tâm và có thể phát huy được tính tích cực của học sinh cũng như rèn luyện được cho các em các kĩ năng học tập cần thiết
Trang 14Hình thức tổ chức chủ yếu khi dùng loại phiếu này là hoạt động nhóm, có thể kèm theo phương pháp đàm thoại vấn đáp
Ví dụ: PHT dùng để dạy mục 1 bài 47: “Phương trình trạng thái khí lí tưởng Định luật Gay Luy Xac”.
PHIẾU HỌC TẬP
Thiết lập phương trình trạng thái bằng cách thực hiện hai giai đoạn biến đổi:
1 1 1 p V T
' 2 2 1 p V T
2 2 2 p V T Đường biểu diễn hai giai đoạn biến đổi trên đồ thị p-V như hình sau: Gợi ý: Áp dụng định luật Bôi lơ Mariot và Sac lơ ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
p
p1 p
2
p’
2
2
V
1
2
2’
Trang 15- Phiếu dùng trong củng cố bài
Loại phiếu này được sử dụng sau khi đã học xong kiến thức bài mới Thời giandành cho phần củng cố cũng rất ngắn nên loại phiếu này thường là những câu hỏi trắcnghiệm nhằm củng cố phần kiến thức về lí thuyết, các câu hỏi mang tính chất thực tế
và các bài tập vận dụng áp dụng nhanh các công thức vừa học Việc dùng PHT trongphần này sẽ giúp HS tổng quát, hệ thống lại toàn bộ kiến thức của bài học, giúp các emhiểu, nắm vững bài học hơn
Ví dụ: PHT dùng để củng cố bài 46 “Định luật Sắc lơ Nhiệt độ tuyệt đối.”
PHIẾU HỌC TẬP Hãy hoàn thành bài tập ô chữ sau:
1 Khí lí tưởng là khí tuân theo đúng định luật Bôilơ-Mariốt và định luật
- Phiếu dùng để giao bài về nhà
Loại phiếu này thường được GV giao cho HS thực hiện ở nhà Nội dung trongphiếu chính là những câu hỏi, bài tập với mục đích giúp HS ôn tập, vận dụng kiến thức
123
4
5
Trang 16thành thạo, linh hoạt Ngoài mục đích ôn tập, phiếu cũng nêu ra yêu cầu đòi hỏi HS phải nghiên cứu, chuẩn bị bài mới cho tiết học sau
Ví dụ: PHT áp dụng để giao bài về nhà sau khi HS đã học xong bài 46 “Định luật Săclo Nhiệt độ tuyệt đối.”
PHIẾU HỌC TẬP
1 Ôn tập lại kiến thức bài 45 “’Định
luật Bôilơ-Mariốt” và bài 46 “Định
luật Săclơ Nhiệt độ tuyệt đối”.
- Nội dung định luật
- Biểu thức
- Dạng đồ thị các đường đẳng
nhiệt, đường đẳng tích
2 Xem trước nội dung bài mới, Bài
47 “Phương trình trạng thái khí lí
tưởng Định luật Gay luy xăc”.
1 Tìm sự phụ thuộc của áp suất vào mật
độ phân tử khí?
………
………
………
2 Một lượng khí ở 270C được biến đổi qua 2 giai đoạn + Giãn nở đẳng nhiệt cho đến khi áp suất giảm đi một nửa + Nén đẳng tích về áp suất ban đầu a) Tìm nhiệt độ cuối cùng của khí b) Biểu diễn quá trình trên hệ tọa độ (p,V) ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 171.1.3.3 Căn cứ vào nội dung của PHT
Tùy vào nội dung của bài học, PHT có thể phân thành các dạng sau:
- Phiếu thực hành
Loại phiếu này yêu cầu học sinh trực tiếp tiến hành các thao tác thí nghiệm, thu thập số liệu, xử lí số liệu và báo cáo kết quả thực hành, nhằm rèn luyện cho các em kĩ năng quan sát, đo đạc, phân tích, xử lí số liệu…
Loại phiếu này dùng cho các bài thực hành
Ví dụ: Bài 57 Thực hành: Xác định hệ số căng bề mặt của chất lỏng
PHIẾU THỰC HÀNH
Họ và tên:………Lớp:………….Nhóm:………
BÁO CÁO THÍ NGHIỆM 1 Mục đích thí nghiệm ………
………
2 Cơ sở lí thuyết ………
………
………
………
………
3 Phương án thí nghiệm ………
………
………
………
………
………
………
4 Kết quả thí nghiệm
Trang 18+ Trường hợp chiều dài cạnh AB là l1 = 5 cm
23
l2=10 cm
4.2 Xác định hệ số căng bề mặt của nước cất
123
Trang 19Nội dung của phiếu là các bài tập, có thể sử dụng trong giai đoạn củng cố kiến thức, giao bài về nhà hay dùng trong các tiết bài tập chính khóa trên lớp, tiết tự chọn
Ưu điểm của loại phiếu này là giúp HS củng cố được các kiến thức đã học, biết vận dụng vào việc giải bài tập Tuy nhiên, tùy theo giai đoạn sử dụng phiếu mà GV lựa chọn những bài tập cho phù hợp
Ví dụ: Phiếu dùng để dạy bài 49 “Bài tập về chất khí”.
PHIẾU HỌC TẬP
Bài 1 Một bình chứa ôxi nén ở áp suất p1 = 15 MPa và nhiệt độ t1 = 370C có khối lượng (bình và khí) M1 = 50 kg Dùng khí một thời gian, áp suất khí là p2 = 5 MPa ở nhiệt độ t2 = 70C, khối lượng của bình và khí là M2 = 49 kg
a, Hỏi khối lượng khí còn lại trong bình là bao nhiêu?
b, Tính dung tích V của bình Biết khối lượng mol của ôxi là 32g/mol
………
………
………
………
………
………
………
………
Bài 2 Vẽ đường biểu diễn quá trình làm nóng đẳng áp 10g khí heli có áp suất p0 = 105 Pa và nhiệt độ ban đầu T0 = 300K trên các đồ thị p - V, p – T, V – T ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
- Phiếu giải quyết các tình huống, hiện tượng
Trang 20Nội dung của phiếu yêu cầu HS giải thích các hiện tượng, các tình huống có vấn
đề Khi sử dụng loại phiếu này, để có thể đưa ra các tình huống có vấn đề, thường GV lựa chọn các thí nghiệm vui hay thí nghiệm đơn giản, đòi hỏi ở HS khả năng quan sát, suy luận, phân tích…để rút ra những kết luận chính xác
PPDH thích hợp có thể sử dụng đối với loại phiếu này là PPDH nêu và giải quyết vấn đề hay phương pháp thực nghiệm
Loại phiếu này thường sử dụng để dạy bài mới, giao bài về nhà
Ví dụ: PHT dùng để dạy mục 2 bài 54 “Hiện tượng dính ướt và không dính ướt Hiện tượng mao dẫn”
PHIẾU HỌC TẬP
1 Lấy ba ống thủy tinh hở hai đầu, có bán kính nhỏ và khác nhau nhúng thẳng
đứng vào chậu nước Quan sát thí nghiệm và rút ra nhận xét.
………
………
………
………
………
2 Hiện tượng thu được từ thí nghiệm trên được gọi là hiện tượng mao dẫn Điều kiện để xảy ra hiện tượng mao dẫn là gì? ………
…….………
………
3 Hãy giải thích hiện tượng mao dẫn? Gợi ý: Dựa trên cơ sở sự căng bề mặt và sự dính ướt (hay không dính ướt). ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 211.1.3.4 Căn cứ vào tiêu chí phát triển kỹ năng
Mục tiêu của bài học ở trường phổ thông đều nhằm tới đích là phải hình thànhcho HS cả về ba mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ Do đó, GV cần hướng dẫn HS thuthập, xử lí thông tin để rút ra kiến thức mới
Căn cứ vào tiêu chí phát triển kĩ năng có thể phân thành các dạng PHT sau:
- Phiếu phát triển kĩ năng thu thập thông tin
Nội dung trong PHT dạng này thường không trình bày nhiều thông tin sẵn có màđòi hỏi HS phải khai thác, sưu tầm tài liệu, tìm hiểu trên các thông tin đại chúng, trênmạng internet…hoặc HS phải hoạt động thông qua việc làm thí nghiệm nếu là nhữngthí nghiệm đơn giản, dễ thực hiện, không nguy hiểm hay quan sát thí nghiệm do GVlàm nếu là những thí nghiệm phức tạp hoặc quan sát tranh ảnh, các thí nghiệm môphỏng…Do nội dung bài học được trình bày dưới một trình tự xác định của các hoạtđộng tự lực của HS nên sẽ góp phần thuận lợi, tạo điều kiện cho việc thu thập thông tinđược dễ dàng hơn
PHT dạng này thường sử dụng cho các bài học có sử dụng thí nghiệm Do đó, đốivới loại phiếu này, nội dung của phiếu thường chứa đựng những nhiệm vụ đòi hỏi HSphải trung thực, khách quan khi tiến hành thu thập thông tin
Ví dụ: PHT dùng để thu thập số liệu khi khảo sát quá trình đẳng nhiệt của chất khí Dùng trong bài 45 “Định luật Bôilơ -Mariot”
PHIẾU HỌC TẬP
Tiến hành thí nghiệm với bộ thí nghiệm như hình bên, đo các giá trị của P, V
và ghi kết quả vào bảng sau:
123
Trang 22- Phiếu phát triển kĩ năng xử lí thông tin
Xử lí thông tin là một hoạt động đòi hỏi khả năng tư duy, sáng tạo của HS PHTdạng này thường yêu cầu HS phải xây dựng được bảng, biểu đồ, vẽ đồ thị, rút ra kếtluận…
Loại phiếu này đòi hỏi học sinh phải sử dụng các kĩ năng phân tích, tổng hợp, sosánh, quy nạp, suy luận…để kiểm tra, đánh giá các thông tin thu được nhằm giải quyếtnhiệm vụ học tập
Tuy nhiên, khi sử dụng loại phiếu này, GV lưu ý không phải bất kì HS nào cũng
có khả năng tư duy cao nên đối với các HS yếu thì GV cần hướng dẫn kĩ càng hơn
Ví dụ: PHT dùng dạy mục 6 bài 44: “Thuyết động học phân tử chất khí Cấu tạo chất”
PHIẾU HỌC TẬP
Hãy phân biệt các trạng thái cấu tạo chất và điền đầy đủ thông tin vào bảng dưới đây:
Đặc điểm Trạng thái khí Trạng thái lỏng Trạng thái rắn
- Phiếu phát triển kĩ năng truyền đạt thông tin
PHT dạng này có nội dung ngắn gọn, thường yêu cầu HS giải quyết nhiệm vụdưới hình thức thông báo kết quả xử lí thông tin của cá nhân hay của nhóm,thảo luậnkhoa học, trình bày báo cáo, nhận xét đánh giá ý kiến của nhóm khác
Ưu điểm của loại phiếu này là giúp HS phát triển được năng lực ngôn ngữ và rènluyện các phẩm chất trung thực, công bằng, khách quan
Ví dụ: PHT dùng để dạy bài 60 “Nguyên tắc hoạt động của động cơ nhiệt và máy lạnh Nguyên lí II Nhiệt động lực học.”
PHIẾU HỌC TẬP Dựa vào SGK/300 và hình vẽ 60.2 các em hãy trình bày các nội dung sau:
1 Thế nào là động cơ nhiệt?
Trang 23- Phiếu phát triển kĩ năng vận dụng thông tin
Loại phiếu này giúp HS vận dụng những kiến thức và kỹ năng có được trong quátrình thu nhập và xử lý thông tin để giải quyết những tình huống mới trong học tậpcũng như trong thực tiễn
Nội dung của phiếu chứa đựng những câu hỏi, bài tập ở các mức độ khác nhau, cóthể được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ định tính đến định lượnghay từ việc giả các bài tập áp dụng công thức sẵn có đến những bài tập đòi hỏi sự suyluận, tư duy cao…
PHT loại này thường được sử dụng trong giai đoạn củng cố và giao bài về nhà
Ví dụ: PHT dùng để củng cố sau khi học bài 54 “Hiện tượng dính ướt và không dínhướt Hiện tượng mao dẫn.”
Trang 24- Phiếu phát triển kĩ năng thực hành vật lí
Loại phiếu này thường dùng trong các tiết thực hành, yêu cầu HS tiến hành vàlắp ráp thí nghiệm để thu thập các số liệu Thông qua việc lắp ráp, sử dụng các dụng cụ
đo lường đơn giản, dụng cụ thí nghiệm đơn giản, HS sẽ rèn luyện được kĩ năng thựchành vật lí
- Phiếu phát triển khả năng đề xuất dự đoán khoa học và phương án thí nghiệm kiểm tra
Loại phiếu này được sử dụng rất nhiều trong các bài dạy học có sử dụng thínghiệm với việc kết hợp PP thực nghiệm Qua việc đề xuất các dự đoán, hay đưa ranhững phương án thí nghiệm sẽ giúp HS phát huy được tính tích cực, thể hiện đượcnăng lực tư duy, khả năng suy luận, phân tích, tổng hợp…
Ví dụ: PHT dùng để dạy mục 1 bài 46 “Định luật Sac lơ Nhiệt độ tuyêt đối.”
Trang 25PHIẾU HỌC TẬP
Giải thích tại sao xăm xe đạp dễ bị nổ vào trời nắng? Qua đó, hãy dự đoán về
sự thay đổi của áp suất khi nhiệt độ thay đổi và đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đó?
1.1.4 Vai trò của PHT trong dạy học Vật lí
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, ngành Giáo dục và Đào tạo ở nước ta đã đổimới nội dung, chương trình và sách giáo khoa sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
Để phù hợp với việc làm đó thì đổi mới phương pháp dạy học là một việc cần thiết, đã
và đang xảy ra từng ngày PPDH là một trong những yếu tố quan trọng của quá trìnhdạy học Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thứccủa học sinh là một nhiệm vụ quan trọng nhằm rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy,năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề Vì vậy quá trình dạy học phải là quátrình tổ chức cho HS hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo
PHT là một phương tiện DH do GV tự thiết kế Nội dung của PHT chứa đựngnhững nhiệm vụ học tập được trình bày một cách logic, khoa học nhằm giúp HS dễdàng lĩnh hội kiến thức Hơn nữa, PHT là công cụ để GV tổ chức các hoạt động học tậpcho HS Thông qua PHT và vốn kiến thức, kĩ năng của mình, HS sử dụng PHT để thựchiện các nhiệm vụ học tập được giao nhằm lĩnh hội kiến thức mới Việc sử dụng PHT
có thể được tổ chức thông qua hoạt động cá nhân hay hoạt động tập thể góp phần pháttriển các kỹ năng học tập cần thiết cho HS
Trang 26Để có thể sử dụng PHT hiệu quả, HS phải tự mình nghiên cứu SGK, tiến hànhcác thí nghiệm, Như vậy, HS sẽ dùng trí não để ghi nhớ kiến thức hoặc bằng các thaotác thí nghiệm các em tự mình rút ra được kết quả Từ đó, HS dễ dàng khắc sâu kiếnthức, nội dung của bài học
Khi sử dụng PHT, HS vận dụng những thông tin, những quan niệm có được từvốn sống nên còn mang tính chất kinh nghiệm, cảm tính Có nhiều nguồn thông tin HS
có thể sử dụng nhưng cũng có những thông tin sai lệch, thông tin nhiễu Trong quátrình truyền đạt thông tin, xử lí thông tin, HS được tự do trình bày ý kiến, đóng góp ýkiến, nhận xét ý kiến Chính việc làm này sẽ giúp các em biết phân tích đúng, sai trongviệc tìm ra kiến thức mới Do đó, GV phải đưa ra những câu hỏi hướng dẫn phù hợp,định hướng được HS vào những thông tin chính
Việc hướng dẫn HS thu thập và xử lí thông tin theo hướng tăng cường hoạt động
tự lực, rèn luyện các phương pháp đặc thù của vật lí đòi hỏi HS phải thông qua hoạtđộng mới thu thập được Do đó, dựa trên kết quả của việc hoàn thành PHT, GV có thểđánh giá được năng lực, trình độ của HS Từ đó, có những điều chỉnh phù hợp hơntrong PPDH mới của mình
Như vậy, việc sử dụng PHT đóng một vai trò quan trọng trong DH hiện nay nhằmphát huy tính tích cực nhận thức, rèn luyện các kĩ năng học tập cần thiết cho HS Do
đó, việc nghiên cứu thiết kế và đưa vào sử dụng PHT trong DH VL là rất quan trọng vàcần thiết
1.2 Vai trò của MVT hỗ trợ PHT trong DHVL
1.2.1 Vai trò của máy vi tính trong dạy học vật lí ở trường THPT
Trên thế giới và ngay cả nước ta hiện nay, MVT đang xâm nhập mạnh mẽ vàomọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Giáo dục và khoa học côngnghệ có một mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau Giáo dục phát triển sẽ kéo theo sựphát triển của khoa học công nghệ, sự phát triển của khoa học công nghệ lại làm thayđổi mục tiêu, nội dung của giáo dục Chính vì vậy, xu hướng đang được quan tâm hiệnnay là MVT được sử dụng như một phương tiện dạy học hiệu quả Quá trình dạy học làmột quá trình bao gồm các giai đoạn thu thập thông tin, xử lí thông tin, truyền đạt
Trang 27thông tin và vận dụng thông tin Do đó, việc sử dụng MVT như là một phương tiện dạyhọc phải thực hiện được các chức năng đó của quá trình dạy học.
Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm Tuy nhiên thực tế cho thấy việc dạy họcvật lí ở các trường phổ thông chủ yếu là “dạy chay”, điều đó một phần do thiết bị thínghiệm không phù hợp với yêu cầu của bài học, thực tế cho thấy một số giáo viên vẫnngại sử dụng thí nghiệm trong các giờ học Vì vậy, quá trình dạy học theo hướng tíchcực, tự lực giải quyết vấn đề học tập của học sinh vẫn chưa đạt được những hiệu quảđáng kể Sự phát triển của khoa học kĩ thuật và CNTT đã tạo điều kiện thuận lợi choviệc ứng dụng CNTT trong dạy học Do đó, dạy học với sự hỗ trợ của MVT sẽ đem lạihiệu quả cao
1.2.2 Vai trò của MVT hỗ trợ PHT trong dạy học vật lí
Vai trò chủ yếu của MVT khi kết hợp với PHT là tạo điều kiện cho HS nắm mộtcách chính xác, sâu sắc kiến thức, rèn luyện được các kĩ năng, phát triển năng lực nhậnthức và hình thành nhân cách Trong dạy học, MVT thể hiện vai trò to lớn trong việctạo động cơ, hứng thú học tập cho HS, cung cấp các dữ liệu thực nghiệm, kiểm chứngcác khái niệm, các thuyết, các định luật, mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lí, ôntập, mở rộng, đào sâu kiến thức cho HS…
- Tạo tình huống có vấn đề
Trong dạy học, để kích thích, lôi cuốn học sinh vào bài học một cách sôi nổi,tích cực thì người GV phải tạo ra được các tình huống có vấn đề Khi đó, những mâuthuẫn khách quan được HS biến thành mâu thuẫn chủ quan và chấp nhận như một vấn
đề học tập cần giải quyết GV có thể tạo tình huống có vấn đề bằng nhiều cách thứckhác nhau, một trong số đó là sử dụng các thí nghiệm Với tính năng hỗ trợ thí nghiệm,thông qua MVT, GV có thể trình chiếu những thí nghiệm ảo mang tính bất ngờ,
“nghịch lý” với quan niệm thông thường của HS Từ đó, sẽ kích thích HS phải suynghĩ, phân tích những chỗ sai trong cách hiểu thông thường và tìm ra cách hiểu phùhợp, khoa học hơn
Ví dụ: Tạo tình huống có vấn trước khi nghiên cứu hiện tượng mao dẫn
Trang 28- GV: Lấy ba ống thủy tinh hở hai đầu, có bán kính nhỏ và khác nhau nhúng thẳngđứng vào chậu nước Theo quy tắc bình thông nhau thì mực nước trong ống và mựcnước ở ngoài sẽ như thế nào?
- HS: Đa số HS sẽ dự đoán mực nước trong ống phải bằng mực nước ở ngoài
- GV: Ghi nhận dự đoán của HS, sau đó tiến hành thí nghiệm, cho HS quan sát và nhậnxét kết quả
Từ thí nghiệm trên, GV cho HS hiểu thế nào là hiện tượng mao dẫn Sau đó, GV phátPHT yêu cầu HS hoàn thành những yêu cầu đã nêu trong PHT
Gợi ý: Dựa vào cơ sở sự căng bề mặt và sự dính ướt (hay không dính ướt).
- Mô phỏng, trực quan hóa các thí nghiệm
Trang 29Với tính năng này, MVT có thể hỗ trợ các PHT có dạng là phiếu cung cấp thôngtin và sự kiện Trong dạy học vật lí, muốn cho HS hiểu vấn đề một cách chính xác vàđúng đắn thì phải xây dựng các khái niệm, các thuyết, các định luật…từ sự quan sáttrực tiếp Tuy nhiên, trong thực tế, có một số hiện tượng không thể quan sát trực tiếpđược bằng các giác quan thông thường như các hệ vi mô, hệ vĩ mô, hay các quá trìnhbiến đổi quá nhanh hoặc quá chậm mà các thí nghiệm thực không thể tiến hành được…
Do đó, để giảng dạy các nội dung này có hiệu quả giáo viên nên sử dụng các phươngtiện trực quan Thực ra, do tính ưu việt của MVT, phương pháp mô phỏng còn được sửdụng ngay cả trong những trường hợp con người có thể quan sát được trên đối tượngthực với mục đích làm đơn giản hóa đối tượng, làm thay đổi tốc độ của tiến trình dạyhọc Qua quan sát các hiện tượng, quá trình vật lí xảy ra trên MVT, bằng các thao tác
tư duy, thảo luận, trao đổi lẫn nhau, HS tự tìm kiếm tri thức và hoàn thành nội dungcủa PHT Điều này còn góp phần rèn kuyện cho HS các kĩ năng như kĩ năng quan sát,
so sánh, phân tích, kĩ năng thu thập và xử lí thông tin…
PHIẾU HỌC TẬP
(Dùng trong bài 52 Sự nở vì nhiệt của vật rắn)
1 Quan sát thí nghiệm như hình 52.1 SGK và ghi lại các kết quả đo vào bảng số
Trang 30Đây là bước cuối cùng của việc sử dụng PHT Sau khi thảo luận và hoàn thànhcác yêu cầu trong PHT, HS trình bày các kết quả do các em tự lực nghiên cứu hay thảoluận nhóm GV có thể cho HS trình bày kết quả nhở vào các phương tiện dạy học hiệnđại như projector, máy chiếu overhead,…Trên cơ sở đó, GV nhận xét, chỉnh sửa, bổsung Các kết luận cuối cùng chính là nội dung học tập mà HS cần nắm GV cũng cóthể chiếu trực tiếp các nội dung hoàn chỉnh, đáp án của PHT trên MVT để mọi HS đều
có thể theo dõi Điều này giúp GV tiết kiệm được thời gian giảng dạy
- Quản lí HS trong quá trình hoàn thành PHT
Việc sử dụng PHT thường được kết hợp với hình thức học tập theo nhóm Saukhi GV phát PHT, trong quá trình HS hoàn thành phiếu, GV quan sát, theo dõi ghinhận những em tham gia thảo luận tích cực, đồng thời nhắc nhở những em lơ là, lườinhát để có những đánh giá chính xác, công bằng MVT có thể hỗ trợ cho GV quản lí
HS trong quá trình làm việc (GV có thể quản lí HS nhờ vào phần mềm Mind map)
- Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
Thông qua việc dạy học trực tuyến, HS có thể tự mình khai thác, tìm kiếm trithức và hoàn thành nội dung PHT mà GV yêu cầu Điều này góp phần bồi dưỡng nănglực tự học cho các em Ngoài ra, do có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với MVT, nên các
em cũng tự rèn luyện cho mình những kĩ năng cần thiết khi sử dụng MVT, cũng nhưnhững kĩ năng thu thập thông tin từ mạng Internet…
1.3 Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong DH VL
Chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến của 35 giáo viên bộ môn vật lí ở cáctrường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Kết quả thăm dò thu được như sau:
Trang 31Bảng 1.1 Kết quả điều tra đối với giáo viên
Câu 1: Theo thầy (cô),
trong DH VL, PHT
thường được sử dụng ở
giai đoạn nào của QTDH?
Sử dụng để tổ chức cho HS tìm kiếmkiến thức mới
Câu 3: Theo quí thầy (cô),
Câu 4: Trong quá trình
DH VL, quí thầy (cô) sử
Câu 5: Quí thầy (cô) cho
biết mục đích của việc sử
Trang 32nhất đối với những giờ
học Vật lí:
Câu 7: Trong dạy học Vật
lý quý Thầy (Cô) sử dụng
trong dạy học Vật lý, Thầy
(Cô) gặp những thuận lợi
nào?
Minh họa các hiện tượng vật lý mộtcách chính xác và dễ dàng
Khó khăn: Việc soạn PHT mất nhiều thời gian, việc
in sao phiếu tốn kém, số lượng HS trong lớp quáđông, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ điều kiện…
Qua điều tra một số GV, chúng tôi nhận thấy bước đầu đã có sự đổi mới vềPPDH Tuy nhiên, do đặc điểm, điều kiện của từng trường, trình độ của HS mà việc sửdụng các PPDH theo hướng tích cực hoá hoạt động của HS vẫn còn hạn chế Có 10 GV(28,6%) sử dụng PPDH tích cực thường xuyên, 25 GV (71,4%) thỉnh thoảng mới sửdụng và không có GV nào không sử dụng PPDH mới cả
Bảng 1.1 cho thấy hầu hết các giáo viên đều nhận thức rõ tầm quan trọng củaviệc sử dụng PHT trong dạy học vật lí Kết quả điều tra cho thấy việc sử dụng PHTđược các GV sử dụng chủ yếu ở khâu củng cố bài học (51,4%) Như vậy, nếu GV chỉ
sử dụng PHT ở các khâu này sẽ không phát huy hết được vai trò của PHT Mục đíchcủa việc sử dụng PHT được quan tâm nhiều nhất là giúp HS tự lực tìm kiếm kiến thức(51,4%), và rèn luyện các kĩ năng học tập cho HS(28,6%) Điều này cho thấy, các GV
Trang 33rất chú trọng đến việc hình thành cho HS thói quen làm việc độc lập, khả năng pháttriển năng lực tư duy và các kĩ năng cần thiết.
Trong quá trình dạy học, việc sử dụng PHT được các GV tổ chức dưới nhiềuhình thức DH tích cực khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là hình thức học tập nhóm(57,1%) Có thể nói, PPDH theo nhóm là phương pháp khá phù hợp và được nhiều GV
sử dụng
Trong DH Vật lí, việc ứng dụng CNTT vào QTDH tuy được các thầy (cô) sửdụng ở mức độ không thường xuyên (65,7%) nhưng theo kết quả điều tra, các thầy côhầu như cho rằng HS lại rất có hứng thú đối với những giờ học có sử dụng CNTT(57,1%) Các thầy cô thấy rằng, khi sử dụng CNTT tiết học trở nên sinh động, hấp dẫnhơn rất nhiều (51,7%)
Về thuận lợi và khó khăn: Hầu hết các thầy (cô) đều cho rằng việc sử dụng PHT
trong DH là phù hợp với mục tiêu đổi mới PPDH; HS học tập độc lập, tích cực, GVđánh giá được khả năng, trình độ, thái độ học tập của HS Tuy nhiên, việc soạn PHTmất nhiều thời gian, việc in sao phiếu tốn kém, số lượng HS trong lớp quá đông, cơ sởvật chất chưa đáp ứng đủ điều kiện…
Chúng tôi tiến hành điều tra về nhu cầu học tập của học sinh đối với bộ môn vật
lí ở 2 trường THPT của thành phố Đà Nẵng với số lượng học sinh điều tra là 192 họcsinh
Bảng 1.2 Kết quả điều tra đối với học sinh
Câu 1 Theo các em, trong quá trình học tập môn vật lí các em có thể:
Tiêu chí
Mức độ Thường
xuyên
Không thường xuyên
Hoàn toàn không
Tách được các ý chính, bản chất 52 27,1 105 54,7 35 18,2
Trang 34của nội dung bài học
Trả lời được các câu hỏi, bài tập 70 36,5 98 51 24 12,5Phân tích được các hiện tượng,
Câu 2: Theo các em, trong quá trình học tập môn Vật lí những cách thức tổ chức
dạy học nào sau đây là cần thiết và không cần thiết?
Tiêu chí
Mức độ Cần thiết Không cần thiết
GV trình bày đầy đủ lý thuyết SGK, và giao
các bài tập về nhà như SGK đưa ra 35 18,2 157 81,8
HS tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của
Câu 3 Khi giáo viên sử dụng PHT để dạy học trên lớp, các em tiếp thu bài ở mức độ
em có những thuận lợi nào ?
Thuận lợi: Tạo hứng thú học tập, khắc
sâu kiến thức, bổ sung thêm nhữngthông tin ngoài SGK…
Từ bảng 1.2 chúng tôi nhận thấy rằng, trong quá trình học tập môn Vật lí, các kĩnăng học tập cần thiết như kĩ năng thu thập thông tin (như: tách nội dung bài học), kĩnăng phân tích các hiện tượng, đề xuất các ý kiến (như: đề xuất phương án thí
Trang 35nghiệm…) của các em còn thể hiện ở mức độ không thường xuyên, hoặc hoàn toànkhông Điều này cho thấy rằng các em học tập còn thụ động, chưa phát huy được tínhtích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra chúng tôi còn nhận thấy rằng các em có nhucầu HS tập rất cao Các em muốn tự mình nghiên cứu, tìm tòi kiến thức mới dưới sựhướng dẫn của GV (75,6%), tự mình tiến hành các thao tác thí nghiệm, đo đạc, lắp rápthí nghiệm…(83,3%) hay DH phải có sự kết hợp, hỗ trợ của CNTT (89,6%) và đượchọc tập dưới hình thức nhóm (71,9%) Theo các em, với các hình thức dạy học này, các
em có thể mạnh dạn tham gia đóng góp ý kiến trong nhóm, lắng nghe và bổ sung ýkiến cho các bạn, đặt ra những câu hỏi đối với GV trong quá trình học tập Qua cáchoạt động đó sẽ giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp, đồng thời phát huy được tínhtích cực, tự lực, sáng tạo và tinh thần học tập của các em Đa số các em đều cho rằng,việc dạy học có sử dụng PHT sẽ giúp các em tiếp thu bài được tốt hơn (63,5%) Đặcbiệt, với các giờ học có ứng dụng CNTT các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn qua nhữngthí nghiệm, hình ảnh sinh động, trực quan, và các em cảm thấy việc sử dụng PHT với
sự hỗ trợ của CNTT ngoài việc tăng hứng thú học tập còn giúp các em khắc sâu đượckiến thức, bổ sung thêm các thông tin ngoài SGK
Trang 36Kết luận chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách có
hệ thống cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng PHT, nghiên cứu vai trò của MVTtrong việc hỗ trợ PHT trong dạy học vật lí, tiến hành thăm dò ý kiến GV về tình hìnhthiết kế và sử dụng PHT, lấy ý kiến của HS về những nhu cầu học tập của các em ởtrường phổ thông hiện nay
Từ nghiên cứu lí luận và thực tiễn của đề tài cho thấy:
- Trong dạy học nói chung và dạy học vật lí nói riêng, điều quan trọng của đổimới PPDH là giúp học sinh có thể tự xây dựng được kiến thức vật lí một cách logic,sâu sắc; biết vận dụng kiến thức vật lí đó vào thực tiễn một cách linh hoạt, sáng tạo,giúp cho học sinh thói quen tự nghiên cứu, làm việc độc lập
- Qua khảo sát thực trạng dạy học ở các trường phổ thông cho thấy việc sử dụngcác biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong dạy học vật lí vẫncòn hạn chế, các hình thức tổ chức hoạt động học tập của HS còn mang tính chất “dạychay”
- Từ những vấn đề trên chúng tôi nhận thấy rằng việc phát huy tính tích cực, tựlực cũng như việc rèn kuyện các kĩ năng học tập cho HS là một việc làm cần thiết,trong đó, việc sử dụng PHT trong dạy học là một biện pháp quan trọng Trên cơ sởphân tích cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học vật
lí hiện nay, những khó khăn và thuận lợi, cho thấy PHT vẫn chưa được nhiều GV chútrọng quan tâm Do đó, chúng tôi sẽ nghiên cứu thiết kế và đề xuất các hình thức tổchức dạy học với PHT có sự hỗ trợ của MVT nhằm đổi mới PPDH theo hướng pháthuy tính tích cực, tự lực của HS
Trang 37Chương 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC
PHẦN NHIỆT HỌC VẬT LÍ 10 NÂNG CAO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH 2.1 Mục tiêu dạy học
DH nói chung và DH VL nói riêng đều nhằm giúp học sinh đạt được ba mụctiêu về kiến thức, kĩ năng và thái độ:
- Về kiến thức: Giúp cho HS có thể thu thập được một lượng kiến thức cơ bản,khoa học
+ Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lí thường gặp trongđời sống
+ Các đại lượng, các định luật và nguyên lí vật lí cơ bản
+ Những nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng nhất
+ Những ứng dụng phổ biến trong đời sống, kĩ thuật
+ Các phương pháp nhận thức khoa học
- Rèn luyện và phát triển các kĩ năng học tập:
+ Biết quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, đời sốnghằng ngày hoặc trong các thí nghiệm; biết điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ cácnguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập môn vật lí
+ Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của vật lí, có kĩ năng lắp ráp và tiến hànhcác thí nghiệm vật lí đơn giản
+ Biết phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề
ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặcquá trình vật lí, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra
+ Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí,giải các bài tập vật lí và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ởmức độ phổ thông
+ Sử dụng các thuật ngữ vật lí, các biểu, bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chínhxác những hiểu biết cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin
Trang 38- Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm:
+ Có hứng thú học tập môn vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học, trân trọng đối vớinhững đóng góp của VL cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoahọc
+ Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong cẩn thận, chính xác và có tinhthần hợp tác trong học tập cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được
+ Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điềukiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên [tài liệu bồidưỡng GV [4]
2.2 Đặc điểm phần Nhiệt học
Nhiệt học là phần của vật lí học nghiên cứu các hiện tượng về nhiệt Những hiệntượng có thể được giải thích dựa vào cấu trúc phân tử của vật chất, phần vật lí họcnghiên cứu cấu trúc này gọi là vật lí học phân tử Ngoài ra nhiệt học còn dùng phươngpháp vĩ mô để tìm ra quy luật biến đổi cho các quá trình biến đổi có trao đổi nhiệt vàcông, đó là nhiệt động lực học
Phần “Nhiệt học”là phần thứ hai trong chương trình Vật lí 10 Nâng cao bao gồm
3 chương: Chương “Chất khí”( 6 bài), “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” (8 bài),
và chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” (3 bài)
+ Chương “Chất khí”, các kiến thức của chương này chủ yếu nghiên cứu về khí
lí tưởng, nội dung chương trình bày sơ lược về cấu trúc của phân tử, ba định luật và phương trình trạng thái của chất khí Ngoài ra, chương này còn đề cập đến khái niệm nhiệt độ tuyệt đối
+ Chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” trước hết khảo sát các đặctính, cấu trúc, chuyển động nhiệt, một số tính chất vĩ mô của chất rắn và chất lỏng Vídụ: đối với thể rắn thì nói đến sự biến dạng, sự nở vì nhiệt, còn đối với thể lỏng thì nóiđến hiện tượng căng bề mặt, sự dính ướt và không dính ướt, hiện tượng mao dẫn
Tiếp theo là nói đến sự chuyển thể Đầu tiên, là nói đến những vấn đề chung của
sự chuyển thể, đó là sự biến đổi cấu trúc, ản nhiệt chuyển thể và sự biến đổi thể tíchriêng Sau đó, khảo sát sự chuyển thể giữa rắn và lỏng, rồi đến lỏng và khí (hơi) Cụ thể
Trang 39là sự nóng chảy và đông đặc, sự hóa hơi và ngưng tụ, trong đó có những vấn đề nhưhơi bão hòa, hiện tượng sôi, nhiệt độ tới hạn và độ ẩm không khí
+ Chương “Cơ sở của nhiệt động lực học” trình bày các kiến thức về nội năng,
hai cách làm biến đổi nội năng, nguyên lí I nhiệt động lực học và sự vận dụng nguyên
lí vào các quá trình của khí lí tưởng, vào một số hiện tượng nhiệt, nguyên tắc hoạt động
và cấu tạo của động cơ nhiệt và máy lạnh, nguyên lí II nhiệt động lực học
Nhìn chung, phần lớn các kiến thức của phần này rất gần gũi và có nhiều ứngdụng trong đời sống và kỹ thuật Phần này cũng bao gồm nhiều thí nghiệm có thể lànhững thí nghiệm đơn giản, giúp cho HS tự lực tiến hành các thao tác thí nghiệm, đođạc, xử lí số liệu hay GV có thể sử dụng CNTT để HS quan sát các thí nghiệm môphỏng giúp HS dễ dàng lĩnh hội kiến thức, tạo hứng thú học tập trong HS Do đó, việckhai thác các phương tiện dạy học là một việc làm rất cần thiết trong suốt quá trình dạyhọc
Hệ thống bài tập của phần này cũng rất đa dạng và phong phú, có nhiều bài tậpgắn liền với thực tế, giúp các em có sự tin tưởng vào lí thuyết, phù hợp với những trình
độ khác nhau của HS
Một số bài học có cấu trúc tương tự nhau như định luật Bôi lơ Mariot, định luậtSăc lơ, định luật Gay luy xăc, hay bài chất rắn trình bày các đặc điểm của chất rắn,lỏng, khí …Đặc điểm này thuận lợi cho việc thiết kế các PHT mang tính chất so sánh,phân biệt
Qua phân tích đặc điểm của phần này, chúng tôi biết được HS đã biết những gì
và cần hình thành, phát triển những kiến thức, kĩ năng nào cho các em Đó chính là cơ
sở để lựa chọn và đưa ra các hình thức tổ chức dạy học với PHT phù hợp với yêu cầu
về mục tiêu, nội dung chương trình SGK và trình độ của HS
2.3 Nguyên tắc và quy trình thiết kế PHT
2.3.1 Nguyên tắc thiết kế PHT
- Nội dung PHT phải thể hiện mục tiêu bài dạy học
Đây được xem là nguyên tắc quan trọng nhất vì mục tiêu dạy học là những gì họcsinh cần đạt được sau khi học xong một bài, một chương hoặc một môn học Trong dạy
Trang 40học vật lí, mục tiêu có nhiều cấp độ, từ mục tiêu chương trình vật lí phổ thông, mụctiêu chương trình vật lí ở các lớp cụ thể, cho tới mục tiêu mỗi chương, mỗi bài học.Trong tất cả các cấp độ đó, hệ thống các mục tiêu được sắp xếp thành ba lĩnh vực: kiếnthức, kĩ năng và thái độ Với định hướng dạy học mới, mục tiêu dạy học được viết dướigóc độ người học, để nhấn mạnh kết quả cuối cùng của bài học là ở phía HS chứ khôngphải ở phía giáo viên.
Trong dạy học có nhiều biện pháp để HS đạt được mục tiêu bài học, PHT cũngđược xem là một trong những biện pháp hữu hiệu Vì vậy, khi thiết kế PHT, nội dungthể hiện trong phiếu phải giúp HS có thể tự mình nghiên cứu và lĩnh hội những kiếnthức cơ bản, kiến thức trọng tâm của bài học Bài lên lớp có nhiều dạng như bài nghiêncứu kiến thức mới, bài luyện tập, củng cố, bài thực hành thí nghiệm…Căn cứ vào từngdạng bài mà GV xác định những mục tiêu cụ thể và thiết PHT cho phù hợp PHT có thểđược thiết kế cho từng phần của bài học hay cả nội dung bài học
- PHT phải phù hợp với trình độ HS và thể hiện được nhiệm vụ học tập cụ thể.
Khi thiết kế PHT giáo viên cũng phải căn cứ vào trình độ của HS Bởi vì đốitượng của quá trình dạy học là các em HS Tùy thuộc vào trình độ của học sinh mà GVxác định mục tiêu cho phù hợp, vừa sức nhưng vẫn bảo đảm thực hiện mục tiêu chungcủa lớp học, đảm bảo chuẩn kiến thức Từ đó, HS mới có hứng thú trong học tập, tự lựchoàn thành phiếu, phát triển được năng lực tư duy và các kĩ năng học tập cần thiết.Những câu hỏi, bài tập, hay quan sát thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, giải thíchhiện tượng…được nêu trong phiếu học tập chính là nhiệm vụ học tập mà HS cần phảigiải quyết để tiếp thu và lĩnh hội kiến thức Tuỳ theo mục tiêu của từng loại bài học mà
GV yêu cầu HS hoàn thành phiếu ngay tại lớp hay ở nhà Để HS có thể tự lực hoànthành phiếu, GV có thể sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ hay hướng dẫn HStừng bước suy luận, phân tích các tình huống và rút ra nhận xét…
- PHT phải phát huy được khả năng hoạt động và giao tiếp của HS
Hoạt động dạy và học bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
Do đó, trong quá trình dạy học, GV phải tổ chức các hình thức dạy học sao cho phát