1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề hoạch định các chính sách xã hội của đảng

39 512 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề hoạch định các chính sách xã hội của đảng
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUTrở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới dù đãtừng là nạn nhân của những cuộc khủng hoảng lương thực nặng nề cách đây vàithập niên, là một trong những

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới dù đãtừng là nạn nhân của những cuộc khủng hoảng lương thực nặng nề cách đây vàithập niên, là một trong những quốc gia gặt hái thành tựu to lớn trong thực hiệnchính sách xóa đói giảm nghèo – vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liênhợp quốc, là thành viên năng động của các tổ chức quốc tế như tổ chức thươngmại thế giới (WTO), tổ chức y tế thế giới (WHO) v.v, có quan hệ với hơn 500 tổchức phi chính phủ trên toàn thế giới,… Những thông tin trên đã chuyển tải mộthình ảnh sơ lược về đất nước Việt Nam qua hơn 25 năm đổi mới, đang tiếp tụcvươn lên chuyển mình mạnh mẽ khẳng định vị thế quốc gia trong cộng đồng quốctế

Công cuộc đổi mới được đặt nền móng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VI (tháng 12 - năm 1986) Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, từ Đại hội

VI, Đảng ta đã từng bước khẳng định, phát triển công cuộc đổi mới trên các mặtchính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội mà trong đó, những chủ trương, đường lốinhằm giải quyết các vấn đề xã hội – hoạch định các chính sách xã hội đã đạt đươcnhiều kết quả đáng khích lệ

Trang 2

I Tình hình thế giới và thực trạng xã hội trong nước trước yêu cầu Đổi mới:

Vào những năm 80-90 của thế kỷ 20, tình hình thế giới và Việt Nam cónhiều biến động đặt ra những yêu cầu cho việc thực hiện một sự thay đổi toàn diện– một công cuộc đổi mới đất nước nói chung, và đổi mới trên các mặt kinh tế - xãhội nói riêng:

1 Thế giới:

Xu thế toàn cầu hóa:

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ thúc đẩy một xu thếchung được xác lập trên toàn thế giới: Toàn cầu hóa Trong xu thế đó, các quốc giavừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau trong tinh thần chung hòa bình và độc lập.Các dân tộc được đặt trong đòi hỏi phải tranh thủ thời cơ vươn lên, vượt qua tháchthức trong thời kỳ hội nhập quốc tế, “mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế trở thànhnhu cầu tự thân đối với mọi nền kinh tế”1 và nói như đồng chí Nguyễn Văn Linhtrong diễn văn phát biểu khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng:

“Để hòa nhịp với những đổi thay của thời đại”, chúng ta phải đổi mới

Hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới với nhiều biến động:

Công cuộc cải cách đất nước ở các nước Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông

Âu với những cách thức tiến hành và kết quả khác nhau: Ở Trung Quốc, côngcuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường – mở cửa được áp dụng từ năm 1978đem lại nhiều thành tựu trong khi ở Liên Xô, cuộc cải tổ không thành công khi vaitrò lãnh đạo của Đảng dần bị xóa bỏ, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh

1

PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Qúa trình đổi mới tư duy và lý luận của Đảng từ năm 1986 đến nay, NXB CTQG, 2008, tr.96.

Trang 3

tế - chính trị - xã hội nghiêm trọng Hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và cácnước Đông Âu sụp đổ là “cú sốc chấn động nhân loại trong thế kỷ 20, dẫn đếnnguy cơ mất còn của chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Sự vươn lên mạnh mẽ của các nước láng giềng ASEAN

Thành công của các nước công nghiệp mới – vốn xuất phát từ nền kinh tế nôngnghiệp ở Đông Nam Á như Thái Lan, Inđônêxia… đã thể hiện triển vọng pháttriển của các quốc gia với những nét tương đồng về kinh tế - văn hóa – xã hộiphương Đông, trong xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế thế giới

2 Thực trạng xã hội trong nước:

Trong những năm 80 của thế kỷ 20, có thể nói Việt Nam đã ở trong tình trạng

“trầm trọng nhất của khủng hoảng kinh tế - xã hội”

Từ 1980 – 1985, tình trạng sản xuất đình đốn, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 0,4 %/năm (kế hoạch là 13-14 %) trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 % Trongquan hệ kinh tế với thế giới, Việt Nam gặp khó khăn liên tiếp khi thị trường kinh

tế ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nguy cơ bị thu hẹp lại phải gánh chịu ràocản cấm vận của Mĩ

Mức tăng trưởng kinh tế gần như “chạm đáy” trong khi nạn lạm phát tăng nhanh(từ 30-50% vào đầu những năm 80) và kéo dài thời kỳ lạm phát ở mức 3 con sốvào giữa những năm 80, đạt kỷ lục ở mức 775% vào năm 1986

Như câu nói ngàn xưa “Có thực mới vực được đạo”, sự khủng hoảng của tình hìnhkinh tế trong giai đoạn này đã kéo theo hệ quả thực trạng xã hội cũng bị khủnghoảng nghiêm trọng:

 Tình trạng sản xuất đình đốn trong công nghiệp và nông nghiệp đã dẫn đếntình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt và nạn đói tại nhiều nơi, là nước

Trang 4

nông nghiệp nhưng trong giai đoạn từ năm 1980 – 1985, nước ta phải nhập1.567 triệu tấn lương thực Tại nông thôn vốn là cái “nôi lương thực” cũnggặp cảnh thiếu ăn của hàng triệu hộ gia đình.

Câu chuyện minh họa:

ĂN QUA LOA

Trong một lần “xuống cơ sở”, Bộ trưởng Bộ Lương thực-Thực phẩm Hồ ViếtThắng ghé thăm gia đình bác nông dân nọ Để bày tỏ sự quan tâm của thượngcấp, ông Bộ trưởng ân cần hỏi chủ nhà:

“Bà con ta ở đây lâu nay ăn uống ra sao?”

“Dạ, chúng tôi chỉ ăn uống qua loa thôi ạ.”

“Đề nghị bác cho tôi biết cụ thể ăn qua loa là ăn những món gì để tôi còn vềbáo cáo lên Trung ương về thành tích cải thiện đời sống nông dân Bữa ăn của

bà con ta có đủ no không? Hằng ngày có thịt, có cá chứ?”

“Thưa Bộ trưởng, tôi đã nói cụ thể lắm rồi mà! Nhiều năm nay, bà con chúng

tôi chỉ ăn qua loa thôi ”

Nói đến đây, bác nông dân liền chỉ tay lên chiếc loa phát thanh công cộng

đang đọc oang oang một bài của báo Nhân dân thống kê vô số thành tích vượt

bậc về sản xuất lương thực - thực phẩm, cải thiện đời sống nhân dân, v.v

 Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa vàvùng thiên tai Nhiều người lao động không có việc làm trong khi chỉ sốlạm phát luôn ở mức cao đẩy mức giá cả tăng trung bình hàng năm 20 %.Hàng tiêu dùng thiết yếu thiếu trầm trọng, sản phẩm văn hóa còn nghèonàn… Nhìn chung, nhu cầu cơ bản của nhân dân về đời sống vật chất vàvăn hoá chưa được bảo đảm trong giai đoạn này

Trang 5

 Về tâm lý của người dân, qua một thời kỳ dài Đảng thực hiện chế độ baocấp - phân phối bình quân, người dân trở nên bị động, ỷ lại, thiếu động lực

tự phát triển cá nhân mà chỉ trông chờ vào tập thể và Nhà nước Bộ mặt xãhội ở Việt Nam thời kỳ này dù “ổn định nhưng kém năng động, chậm pháttriển về nhiều mặt”2 Ngoài ra, đời sống gặp nhiều khó khăn đã ít nhiều làmgiảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.Tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trong giai đoạn lịch sử đã đặt ra yêu cầuthay đổi toàn diện nhằm mục tiêu đưa đất nước thoát khỏi những khó khăn, ổnđịnh và phát triển kinh tế - xã hội Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

VI, Đảng đã nhận định: “"Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân (…) Chúng ta đã trả giá đắt để thu được những hiểu biết và kinh nghiệm ngày nay, và chúng ta đã có bước trưởng thành” 3

“Đổi mới là quá trình tự biến đổi mang tính cách mạng”, thập niên 80 của thế kỷ

20 với những biến động trong tình hình chính trị - kinh tế - xã hội nói chung vàtình hình kinh tế - xã hội nói riêng trên phạm vi thế giới, khu vực và trong nước đãđặt ra nhiều thách thức, yêu cầu Đảng ta tiến hành công cuộc thay đổi mang tínhcách mạng, đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ; hòa nhịp vớinhững đổi thay của thời đại; phát triển và hội nhập trong xu thế chung trên toànthế giới

II Quá trình đổi mới nhận thức, quan điểm và chủ trương của Đảng về chính sách xã hội trong thời kì đổi mới:

Trang 6

1 Đường lối của Đảng về vấn đề hoạch định chính sách xã hội ở đại hội VI1986 – 1990:

Đại hội nhận định: Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối vớiĐảng và nhân dân ta Đại hội cũng nhận rõ: Tình hình kinh tế - xã hội đang cónhững khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp;phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tếchậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đờisống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng ta chưa thựchiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tìnhhình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Từ thực tiễn, Đại hội đã đưa raquan điểm và phương hướng trong 5 năm:

1.1 Quan điểm :

Tại Đại hội VI (từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986), lần đầu tiên Đảng ta nâng các vấn đề xã hội lên tầm chính sách xã hội, đặt rõ tầm quan trọng của chính sác xã hội đối với chính sách kinh tế và chính sách ở các lĩnh vực khác Đại hội khẳng định rằng: “phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ kinh tế với

xã hội, xã hội với kinh tế”4

Mục tiêu ổn định tình hình, giải phóng năng lực sản xuất không chỉ là pháttriển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mới mà còn là giải quyết các vấn

đề xã hội, từ công việc làm đến đời sống vật chất và văn hoá, bồi dưỡng sức dân,xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, lối sống lành mạnh, thực hiện công bằng xãhội, với ý thức người lao động là lực lượng sản xuất lớn nhất, là chủ thể của xãhội5

4

ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐBTQ lần 6, NXB Sự Thật, 1987, tr 10

5

ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐBTQ lần 6, NXB Sự Thật, 1987, tr 12

Trang 7

1.2 Chủ trương :

Một là, tạo thêm việc làm, sử dụng tốt lực lượng lao động xã hội, kế hoạch

hóa phát triển dân số

Bố trí cho những người đang làm việc có đủ việc làm, có điều kiện làm việcvới năng suất cao Ban hành chính sách mở đường cho người lao động tự tạo việclàm dưới mọi hình thức hợp pháp

Quy hoạch, phân bố lại lực lượng lao động giữa nông thôn và thành thị,giữa các lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp…

Giảm tỉ lệ phát triển dân số từ 2.2% năm 1986 xuống 1.7% vào năm 1990

Hai là, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Bảo đảm được mức cần thiết và ổn định của nhân dân về lương thực vàthực phẩm chủ yếu như cá, thịt, rau, nước chấm, dầu thực vật, đường mật

Phấn đấu để tăng dần vải mặc, phù hợp với tính chất lao động của từngngành, nghề và điều kiện khí hậu của từng vùng, chú ý các vùng dân tộc

Đảm bảo vấn đề nhà ở cũng như nhu cầu thắp sáng của toàn dân

Ba là, mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng công tác y tế và thể dục

thể thao, nhất là ở cơ sở, đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo vệ sức khoẻ của nhân dân

Tăng quỹ thuốc thông thường, thuốc kháng sinh, thuốc chống dịch, thanhtoán dần các bệnh sốt rét, bạch hầu, bại liệt, ho gà, sởi

Xây dựng thêm các cơ sở y tế, bệnh viện ở những nơi chưa đáp ứng đượcnhu cầu khám chữa bệnh của người dân, đồng thời nâng cấp cơ sở vật chất – kĩthuật của các bệnh viện…

Trang 8

Đẩy mạnh phong trào luyện tập thể dục, thể thao cho mọi lứa tuổi.

Bốn là, chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường

Cải thiện điều kiện vệ sinh ở các khu dân cư như giải quyết vấn đề cốngrãnh, bãi rác, cấp nước sinh hoạt Áp dụng các biện pháp giữ sạch nguồn nước

Rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường của người dân

Năm là, công tác giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội.

Bảo đảm cho trẻ em đến tuổi được đi học, tạo điều kiện về trường sở, giáoviên, phương tiện giảng dạy và học tập Đặc biệt quan tâm bồi dưỡng nghiệp vụ, ýthức trách nhiệm và có chính sách bảo đảm đời sống cho đội ngũ giáo viên Pháttriển giáo dục mầm non, chú trọng chất lượng nuôi, dạy trẻ em

Đối với giáo dục phổ thông trung học, cải tiến nội dung chương trình theomục tiêu đào tạo mới, nhất là chú trọng giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp

Trang 9

Nuôi dưỡng tốt thương binh, bệnh binh nặng; thực hiện đầy đủ chính sáchđối với thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ, nhất là những thân nhân liệt sĩ

neo đơn; chăm sóc trẻ mồ côi, người tàn tật, người già cô đơn.

Bảy là, phát triển các hoạt động văn hóa, thông tin

Tăng lượng sách xuất bản và số báo hằng ngày quan trọng Xây dựng cáctrạm truyền thanh ở các huyện, mở rộng mạng lưới truyền hình

Tăng cường, củng cố, bảo tồn các hoạt động văn hóa, văn nghệ truyềnthống

Đời sống của một bộ phận nhân dân đã được cải thiện và ổn định hơn sovới 5 năm trước, nhưng nhìn chung còn nhiều khó khăn Từ cuối năm 1988 trở đi,vấn đề lương thực xét cân đối chung trên phạm vi cả nước đã được giải quyết tốthơn Thị trường thực phẩm dồi dào Nhu cầu mặc được đáp ứng khá Nhà ở củamột bộ phận dân cư cả ở thành thị và nông thôn được cải thiện Một bộ phậnnhân dân có thu nhập cao chính đáng nhờ biết kinh doanh, hoặc có lao động xuấtkhẩu

Việc thực hiện chính sách kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tạo điềukiện quan trọng để giải quyết thêm việc làm Nhà nước, tổ chức cá nhân đứng ra tổ

Trang 10

chức và phát triển nhiều hình thức đào tạo nghề nghiệp, giới thiệu việc làm Nhờnhững biện pháp ấy, trong 5 năm, 1986-1990 có thêm 4,2 triệu lao động đã tìmđược việc làm Nội dung giáo dục phổ thông được đổi mới Tổ chức lại và có một

số cải tiển về quá trình đào tạo đại học và chuyên nghiệp Số học sinh, sinh viênnước ta tại thời điểm này là 15 triệu người, chiếm gần ¼ dân số Công tác chămsóc sức khỏe ban đầu có một số tiến bộ Giảm nhiều số trẻ em chết dưới 1 tuổi.Chủ trương bảo vệ sức khỏe nhân dân nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản và cấpbách như chống các bệnh nhiễm trùng, chống suy dinh dưỡng và vệ sinh môitrường, …bước đầu đã thu được một số kết quả Phong trào thể dục, thể thao quầnchúng được duy trì và mở rộng ở nhiều nơi

Việc thực hiện chính sách xã hội tuy có một số tiến bộ, nhưng chưa đượcquan tâm đúng với tầm quan trọng của nó và còn nhiều thiếu sót Vì nguồn thunhập chính dựa vào tiền lương và trợ cấp xã hộ, cuộc sống người dân gặp khókhăn gay gắt và mức sống bị giảm sút Nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội của nước

ta có nguyên nhân ở tốc độ phát triển dân số quá cao Tốc độ tăng dân số quánhanh tạo nên áp lực lớn về đời sống và việc làm, cản trở việc thực hiện các mụctiêu kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống của nhân dân Một bộ phận không nhỏnhân dân ta còn sống dưới nhu cầu tối thiểu Số trẻ em suy dinh dưỡng còn lớn

Vấn đề việc làm đặc biệt gay gắt, các chính sách và biện pháp giải quyếtviệc làm còn bị động, chắp vá, chỉ có 1 phần của nhu cầu việc làm cho toàn xã hộiđược giải quyết, số người không có việc làm từ nhiều nguồn tăng lên nhanh Nềngiáo dục chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém do trình độ kinh tế, do thiếu sự quantâm đúng mức ở tầm chỉ đạo chiến lược, đồng thời do công tác quản lý của ngànhgiáo dục và đào tạo còn nhiều khuyết điểm Kinh phí của nhà nước không đủ chonhu cầu của y tế Đa số các bệnh viện từ trung ương đến tỉnh, huyện xuống cấpnhiều, việc thu viện phí chưa hợp lý Vệ sinh môi trường như cung cấp nước sạch,giải quyết chât thải công nghiệp, bảo vệ môi trường sống là những vấn đề tồn tạilớn

Trang 11

2 Đường lối của Đảng về vấn đề hoạch định chính sách xã hội ở đại hội VII: Thông qua "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm

2000, ngày 27-6-1991

Cuối tháng 6/1991, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộngsản Việt Nam họp tại Hà Nội, diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27 Đại hội tiến hànhtrong bối cảnh tình hình trong nước cũng như thế giới lúc này đang có nhiều diễnbiến phức tạp, đó là sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội ởLiên Xô và Đông Âu, sự chống phá nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủnghĩa Mác – Lênin và Đảng Cộng sản, những âm mưu và thủ đoạn của các thế lựcthù địch quốc tế hòng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và sự hoang mang daođộng của một bộ phận những người cộng sản trên thế giới đã tác động đến tưtưởng và tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam Đấtnước ta lúc này cũng phải đương đầu với các hoạt động phá hoại của các lực lượngthù địch ở cả trong và ngoài nước Tình hình kinh tế và đời sống của nhân dân vẫncòn khó khăn, đất nước vẫn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội

Tuy nhiên, công cuộc đổi mới được Đảng ta đề ra từ Đại hội lần thứ VI(12/1986), bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhờ đó mà nước ta đãđứng vững và tiếp tục phát triển Hơn bốn năm đưa Nghị quyết Đại hội VI vàocuộc sống là quá trình thể nghiệm, tìm tòi, từng bước cụ thể hoá, phát triển và tổchức thực hiện những định hướng lớn của Nghị quyết đại hội Đảng và Nhà nướcvừa tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội cấp bách, giữ vững ổn địnhchính trị, vừa thực hiện đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội Từ giữa năm

1988 trở đi, các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt,tình hình kinh tế và đời sống nhân dân dần dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủtrong xã hội ngày càng được phát huy, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổimới tăng lên

2.1 Quan điểm :

Trang 12

Phát triển kinh tế - xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiếnlên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương,xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do,hạnh phúc.

Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường Lấy phân phối theo lao động làm hình thức

chính, khuyến khích làm giàu đi đôi với giảm số người nghèo, nâng cao phúc lợi

xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, thực hiện nam nữ bình đẳng, tạo cơhội cho mọi người đều được cống hiến và được hưởng thành quả của sự pháttriển

Dân chủ hoá đời sống xã hội; quyền công dân, quyền con người và tự do

cá nhân được bảo đảm bằng pháp luật, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

và chỉ bị ràng buộc bởi pháp luật

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với ổn định và đổi mới về chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự,

an toàn xã hội

2.2 Chủ trương :

Một là, chính sách dân số và việc làm

Thực hiện đồng bộ chiến lược dân số trên cả ba mặt: quy mô dân số, cơ cấu

dân số và sự phân bố dân số; giảm tỷ lệ phát triển dân số mỗi năm khoảng 0,4-0,6phần nghìn

Thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình với những giải pháp mạnh

mẽ, đồng bộ dựa trên cuộc vận động xã hội rộng lớn và sâu sắc, huy động mọi lựclượng, bằng nhiều hình thức tổ chức, bảo đảm tính tự nguyện, tính thuyết phục gắnvới lợi ích của các đối tượng, với việc bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, với sự

Trang 13

nghiệp giải phóng phụ nữ Giảm tỷ lệ phát triển dân số hằng năm là một nhiệm vụquan trọng của các cấp chính quyền và đoàn thể, nhất là ở những nơi, những tầnglớp dân cư đang còn tỷ lệ sinh đẻ cao Nhà nước đầu tư đúng mức cho chươngtrình này đồng thời huy động các hình thức tự nguyện góp công, góp của, tích cựctranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn tài trợ của quỹ dân số Liên hợp quốc vàcác tổ chức quốc tế khác

Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu

quan trọng hàng đầu của chiến lược, là một tiêu chuẩn để định hướng cơ cấu kinh

tế và lựa chọn công nghệ Hướng ưu tiên là giải quyết việc làm cho những ngườiđến tuổi lao động, đặc biệt ở thành phố và bộ đội xuất ngũ, học sinh ra trường

Người lao động chủ động tạo việc làm và tìm việc làm Mọi nghề mang lạithu nhập cho người lao động và có ích cho xã hội đều được tôn trọng Nhà nướctạo điều kiện về cơ chế, chính sách, môi trường sản xuất kinh doanh và đào tạonghề nghiệp Tăng nhanh tỷ trọng lao động có nghề chuyên môn, khuyến khíchbiết nhiều nghề

Ban hành Luật lao động, bảo đảm cho mọi người làm chủ sức lao động củamình Trong khuôn khổ luật pháp, mọi người được tự do học nghề và hành nghề,lựa chọn việc làm và nơi làm việc, thuê mướn nhân công Tổ chức thị trường sứclao động, các hình thức giao dịch về việc làm; đổi mới các chính sách cư trú và hộkhẩu; mở rộng chế độ hợp đồng lao động; có chính sách ưu đãi người làm việc ởnhững nơi điều kiện lao động và sinh hoạt khó khăn

Chương trình quốc gia về việc làm hướng vào phát triển một số ngành vàđịa bàn trọng điểm tạo được nhiều việc làm như: nuôi trồng và chế biến nông, lâm,thuỷ sản, làm hàng xuất khẩu, các ngành công nghiệp dùng nhiều lao động, phủxanh và sử dụng đất trống, đồi trọc, xây dựng kết cấu hạ tầng, mở mang các ngành

dịch vụ, xuất khẩu lao động

Hai là, chính sách thu nhập và bảo đảm xã hội

Khuyến khích mọi người làm ăn hợp pháp để tăng thu nhập Trả công lao động theo năng suất lao động, hiệu quả sản xuất - kinh doanh và hiệu suất công

Trang 14

tác; hình thành tương quan thu nhập phù hợp với thang bậc giá trị tiến bộ trong xãhội Nhà nước dùng thuế thu nhập để góp phần thực hiện công bằng xã hội

Cải cách chế độ tiền lương trong khu vực nhà nước theo hướng bảo đảm tái

sản xuất sức lao động, tiền tệ hoá tiền lương, xoá bao cấp và khắc phục tính chấtbình quân Cải cách tiền lương gắn với việc cải tổ bộ máy; sắp xếp lại biên chếtheo cơ chế mới, cải cách chế độ bảo hiểm Khi giá cả biến động lớn, Nhà nước bùđắp kịp thời và thỏa đáng cho những người hưởng lương và trợ cấp cố định

Phát triển các dịch vụ bảo hiểm sản xuất và đời sống dựa trên đóng góp tựnguyện, hoạt động theo phương thức hạch toán kinh doanh, được Nhà nước bảo

hộ

Thực hiện chính sách toàn dân đóng góp để đền ơn trả nghĩa đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với nước; chính sách bảo trợ trẻ

mồ côi, người tàn tật, người già cô đơn; chính sách cứu hộ những vùng gặp thiên

tai, rủi ro và những gia đình quá nghèo khổ Nguồn kinh phí dựa vào các quỹ xãhội, các hội từ thiện, tranh thủ sự viện trợ của các tổ chức nhân đạo quốc tế và mộtphần dựa vào ngân sách Nhà nước

Đổi mới chính sách nhà ở Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận

lợi cho nhân dân xây dựng nhà theo quy hoạch Người có nhà được quyền chothuê, nhượng, bán Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được bán hoặc cho thuê đúnggiá, tính đủ tiền nhà vào tiền lương Các công ty nhà ở hoạt động theo cơ chế hạchtoán kinh doanh, thu hồi vốn để tái đầu tư Phát triển ngân hàng nhà ở

Ba là, chính sách bảo vệ sức khoẻ

Bảo vệ, nâng cao sức khoẻ và thể chất của nhân dân, chống suy dinh dưỡngtrong trẻ em, tăng chiều cao, cân nặng của thế hệ trẻ, tăng tuổi thọ trung bình củangười Việt Nam

Xoá nạn đói kinh niên và giáp hạt còn tồn tại trên một số vùng; cải thiệnbữa ăn, tăng thức ăn giàu năng lượng, chất dinh dưỡng; phát triển sản xuất thựcphẩm chế biến sẵn; phấn đấu đến năm 2000 đạt mức ăn bình quân đầu người 2.400kilôcalo/ngày

Trang 15

Mở rộng và nâng cao chất lượng phòng bệnh và chữa bệnh; phát triển đồng

bộ nền y học dự phòng, kết hợp y dược học truyền thống với y dược học hiện đại,tạo một số mũi nhọn của y học Việt Nam

Củng cố và mở rộng mạng lưới y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ ban đầu đến

hộ gia đình Thực hiện tốt các chương trình tiêm chủng miễn dịch cho trẻ em,chống bệnh sốt rét, bướu cổ Thanh toán trên từng vùng các bệnh nhiễm trùng, kýsinh trùng, các bệnh xã hội nhiều người mắc, khống chế các bệnh phổ biến khác;ngăn chặn kịp thời bệnh SIDA Thực hiện các chương trình cung cấp nước sạch,

xử lý chất thải, xây dựng các công trình vệ sinh ở thành thị và nông thôn Khắcphục tình trạng xuống cấp, trang bị thêm phương tiện, nâng cao chất lượng điều trịcủa các bệnh viện nhà nước Phát triển các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng,chăm sóc sức khoẻ người già Xây dựng một số trung tâm y tế hiện đại Khuyếnkhích, hướng dẫn và kiểm soát hoạt động của các cơ sở dịch vụ y tế tập thể và tưnhân Phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất, nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu dược liệu,thuốc chữa bệnh và phương tiện y tế

Thu phí dịch vụ y tế hợp lý; đưa kinh phí bảo vệ sức khoẻ của công nhân,viên chức vào tiền lương; có chính sách trợ cấp trực tiếp cho một số đối tượng cầnthiết Mở rộng hình thức mua bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn

Xây dựng phong trào toàn dân rèn luyện thân thể, hoạt động thể dục, thể thao, nhất là trong thanh, thiếu niên; kết hợp phổ cập và nâng cao Phát triển các

câu lạc bộ và hội thể dục thể thao hoạt động theo nguyên tắc tự quản và tự bù đắpchi phí có sự quản lý và tài trợ một phần cần thiết của Nhà nước

Bốn là, chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường

Bảo vệ và sử dụng hợp lý các tài nguyên, cải thiện môi trường, ngăn chặntình trạng huỷ hoại đang diễn ra nghiêm trọng, chống xu hướng chạy theo tốc độtăng trưởng và lợi ích trước mắt, gây hại cho môi trường Tích cực phòng chốngthiên tai

Mọi tài nguyên đưa vào sử dụng phải nộp thuế hoặc trả tiền thuê

Trang 16

Đối với các nguồn tài nguyên tái tạo, khai thác phải đi đôi với bảo vệ, tậndụng những ưu thế của thiên nhiên nhiệt đới để bồi dưỡng, phục hồi và phát triển

chúng; giữ gìn quỹ gien sinh vật Giữ cho được vốn rừng, nhất là rừng đầu nguồn

và phục hồi độ che phủ của rừng lên khoảng 40% vào năm 2000 Sử dụng hợp lý

tài nguyên đất, hạn chế việc dùng đất canh tác vào các mục đích phi nông nghiệp;

chống xói mòn và thoái hoá đất Lập quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên

nước; giải quyết nguồn nước cho công nghiệp và sinh hoạt ở thành thị và một số

vùng nông thôn; thường xuyên kiểm tra các hệ thống xử lý nước thải, khai thác

hợp lý các nguồn tài nguyên biển, ngăn chặn nguy cơ làm cạn kiệt nguồn hải sản;

chủ động phòng ngừa ô nhiễm biển khi phát triển công nghiệp dầu khí Khai thác

và sử dụng tổng hợp, có hiệu quả nhất tài nguyên khoáng sản Tất cả các xí nghiệp

phải có luận chứng xử lý chất thải, không gây ô nhiễm hoặc gây tiếng ồn lớn chocác khu dân cư

Có biện pháp giảm bụi trong các thành phố

Nhà nước quy định cụ thể quyền sở hữu, quyền và trách nhiệm sử dụng tàinguyên để chấm dứt tình trạng tài nguyên vô chủ Ban hành Luật bảo vệ thiênnhiên Giáo dục và tuyên truyền sâu rộng việc bảo vệ tài nguyên và môi trườngngay từ lứa tuổi trẻ em Xây dựng tổ chức bảo vệ tài nguyên và môi trường từtrung ương đến địa phương, kết hợp với phong trào quần chúng trong lĩnh vựcnày Sớm tham gia và phối hợp hoạt động với các tổ chức quốc tế và khu vựctrong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường và cảnh quan

2.3 Thành tựu :

Trong giai đoạn 1991-1995, mỗi năm cả nước đã tạo thêm khoảng từ 1-1,2 triệuviệc làm Số lao động không có việc làm giảm từ 8-9% (1990) xuống 6-7%(1995) So với năm học 1991-1992, trong năm học 1995-1996, số học sinh phổthông tăng 1,25 lần, số sinh viên đại học tăng 2,7 lần Công cuộc xóa mù chữ vàphổ cập giáo dục được đẩy mạnh Tính đến năm 1995, cả nước đã có 14 tỉnhthành, 252 quận huyện, 6252 xã phường đạt tiêu chuẩn quốc gia về cấn đề trên Tỷ

Trang 17

lệ người biết chữ trong cả nước đã tăng từ 88% (1990) lên 90% (1997) Đặc biệttrong những năm 1991-1995, Chính Phủ đã đầu tư trên 300 tỷ đồng để xây dựng

và phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú, bao gồm 5 trường dự bị đại học ởTrung ương, 39 trường tỉnh, 164 trường huyện, 5 trường thiếu sinh quân, thu hút

88 780 học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số

Bên cạnh đó, Nhà nước dành từ 24,4% đến 28,4% ngân sách Nhà nước để chicho các chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội,tạo việc làm, bảo vệ môi trường, khắc phục thiên tai, thu hẹp diện các hộ đóinghèo và phòng chống các tệ nạn xã hội.6 Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình

đã trở thành một trong các chương trình quốc gia lớn nhất Kinh phí Nhà nước chocông tác này tăng hơn 10 lần, từ 27 tỷ đồng năm 1992 lên 285 tỷ đồng năm 1995.Việc mở rộng công tác truyền thông dân số gắn liền với dịch vụ kế hoạch hóa giađình được đưa xuống tận xã, phường đã nâng số cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh

đẻ tự nguyện chấp nhận các biện pháp tránh thai hiện đại từ gần 5,4 triệu năm

1988, bằng 37,7% lên hơn 7,8 triệu năm 1995, bằng 49% Số con trung bình củamột phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 3,8 con năm 1989 giảm xuống 3,1 con năm

19947 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 2,3% ở thời kỳ 1985-1990, xuống hơn2% năm 1994

Theo kết quả điều tra 1993, có 51,7% gia đình được hỏi tự đánh giá có mức sốngkhá lên so với năm 1990; 30,7% gia đình có mức sống được cải thiện ở một sốmặt Cuộc tổng điều tra về mức sống nhân dân được tiến hành trong năm 1995 lạicho thấy tỉ lệ số hộ gia đình được cải thiện tiếp tục tăng lên.8

Ngân sách Nhà nước chi cho ngành y tế liên tục tăng 15-20% trong thời kỳ

1991-1995, đồng thời còn huy động thêm sự đóng góp của nhân dân và tranh thủ sự giúp

đỡ của quốc tế Việc tiêm chủng mở rộng đề phòng ở trẻ em đạt 85-90% Tỷ lệ tửvong ở bà mẹ và trẻ sơ sinh giảm đáng kể Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5

6 Có một VN như thế đổi mới và phát triển, Trần Nhâm, NXB Chính trị quốc gia, tr.198-214

7 Mai Kỷ, Bước phát triển mới trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, Tạp chí Cộng sản số 15, tháng 8 năm 1996

Trang 18

tuổi đã giảm từ 50% năm 1990 xuống 42% năm 1995 Hưởng ứng sáng kiến nêulên từ năm 1992 của thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 1995, đã có 41/53 tỉnh,thành trong cả nước xây dựng được chương trình xóa đói giảm nghèo với số vồnbằng khoảng 1-2% ngân sách của các địa phương Tính đến tháng 10-1996, 10 552trong tổng số 10 902 bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống đã được các đơn vị sảnxuất kinh doanh , tổ chức xã hội hoặc cá nhân tình nguyện phụng dưỡng suốt đời.Ngoài ra, cả nước còn xây dựng được gần 85 000 căn nhà tình nghĩa, tặng hơn 212

000 sổ tiết kiệm cho những gia đình thương binh, liệt sĩ, người già cô đơn, trẻ em

mồ côi… Nhà nước cũng đã tăng gấp hơn 5 lần nguồn chi từ ngân sách cho côngtác bảo trợ xã hội trong vòng 5 năm 1991-1995

Từ năm 1991-1994, Ngân hành nông nghiệp đã cho khoảng 2,6 triệu hộ ở nôngthôn vay vốn với lãi suất thấp để phát triển sản xuất Từ năm 1995, với việc thànhlập Ngân hàng phục vụ người nghèo theo quyết định 525/TTg của Thủ tướngChính Phủ, số gia đình nghèo được vay vốn với lãi suất ưu đãi và không đòi hỏi cótài sản đã tăng lên đáng kể

Ở các tỉnh miền núi, cùng với việc cấp không 4 mặt hàng thiết yếu là dầu thắpsáng, thuốc chữa bệnh, giấy học tập và muối I ốt cho nhân dân ở vùng cao, chươngtrình 327 phủ xanh đất trống đồi trọc và chương trình định canh, định cư được đẩymạnh đã giúp cho nhiều gia đình đồng bào các dân tộc thiểu số có công ăn việclàm, tăng thêm thu nhập, ổn định đời sống

Giữa năm 1996, khi phân tích thành tựu của các quốc gia trên thế giới trong lĩnhvực phát triển con người với các chỉ số: mức thu nhập bình quân đầu người, tuổithọ, sức khỏe và khả năng được giáo dục của công dân (gọi tắt là HDI), chươngtrình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) đã xếp Việt Nam vào thứ bậc 121trong tổng soos174 nước Đặc biệt, trong báo cáo về phát triển con người củaUNDP năm 1997 đã đưa ra một điểm bổ sung mới về năng lực giảm nghèo củacác quốc gia (CPM) Về lĩnh vực này, Việt Nam xếp thứ 27 trong tổng số 101nước đang phát triển, trên cả một số nước trong khu vực như Inđonêxia, Malaixia,Philippin, Thái Lan

Trang 19

Vấn đề bức xúc hàng đầu là số người không có hoặc thiếu việc làm còn đông Ởthành thị, 6-7% số người trong độ tuổi lao động chưa có việc làm, trong đó phầnđông là thanh niên Ở nông thôn, thời gian lao động mới được sử dụng khoảng60%, nếu quy đổi 40% còn lại thì có tới 8-9 triệu người lao động thiếu việc làm Hơn nữa, trong khi nhu cầu vốn đầu tư phát triển rất lớn và cấp bách, một số cơquan Nhà nước, Đảng, Đoàn thể, tổ chức kinh tế, một bộ phận cán bộ và nhân dânlại tiêu xài lãng phí quá mức mình làm ra, chưa tiết kiệm để dồn vốn cho đầu tưphát triển Nhà nước còn thiếu chính sách để huy động có hiệu quả nguồn vốntrong dân Năm 1995, đầu tư xây dựng cơ bản bằn vốn trong nước, chỉ chiếm16,7% GDP, trong đó phần vốn ngân sách chỉ chiếm 4,2% GDP, còn rất thấp sovới yêu cầu phát triển kinh tế Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưangăn chặn được Chất lượng giáo dục, đào tạo, y tế ở nhiều nơi còn rất thấp,người nghèo không đủ tiền để chữa bênh và cho con em đi học Tình trạng ùn tắcgiao thông, ô nhiễm môi trường sinh thái, hủy hoải tài nguyên tăng, văn hóa phẩmđộc hại lan tràn, tệ nạn xã hội phát triển, trật tự an toàn xã hội còn nhiều phức tạp.9

3 Đường lối của Đảng về vấn đề hoạch định chính sách xã hội ở đại hội VIII:

3.1 Quan điểm :

Một là, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội

ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Đây là điểm bổ sung quantrọng mà những đại hội trước chưa nhắc đến Công bằng xã hội phải thể hiện ở cảkhâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ởviệc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lựccủa mình Vấn đề nay lại được khẳng định tại hội nghị Trung ương 4 khóa VIII,Đảng ta nhấn mạnh rằng, phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã

Ngày đăng: 17/08/2014, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w