1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bảo đảm quyền, lợi ích của người làm chứng theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam

25 1,9K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Đảm Quyền, Lợi Ích Của Người Làm Chứng Theo Pháp Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Người hướng dẫn Cô Lê Thị Thùy Dương
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Tiểu Luận Nhóm
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 114,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ quy định trên của pháp luật, ta có thể hiểu người làm chứng là ngườibiết được tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng triệu tập tham gia tố tụn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN NHÓM MÔN LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

ĐỀ TÀI:

BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Cô Lê Thị Thùy Dương

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Nhiệm vụ của đề tài 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6

1.1 Khái luận về người làm chứng 6

1.1.1 Khái niệm người làm chứng 6

1.1.2 Đặc điểm của người làm chứng 6

1.1.3 Vai trò của người làm chứng 8

1.1.4 Phân loại người làm chứng 9

1.1.5 Những trường hợp không được làm chứng 11

1.2 Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng 12

1.2.1 Quyền của người làm chứng 12

1.2.2 Nghĩa vụ của người làm chứng 14

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 15

2.1 Quyền được bảo đảm về vật chất của người làm chứng 15

2.2 Quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe, tính mạng của người làm chứng 16

2.3 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tinh thần 18

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 20

3.1 Giải pháp bảo đảm quyền của người làm chứng 20

3.1.1 Đối với quyền được bảo đảm về vật chất của người làm chứng 20

3.1.2 Đối với quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tinh thần của người làm chứng 20

3.2 Định hướng hoàn thiện bộ luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm hơn nữa quyền của người làm chứng 22

3.2.1 Quyền được trở thành người làm chứng 22

3.2.2 Quyền được mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình tố tụng 23

3.2.3 Quyền được đối đáp, trình bày ý kiến tại phiên tòa 23

3.2.4 Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng 23

3.2.5 Quyền kháng cáo 23

3.2.6 Quyền tố cáo của người làm chứng 24

KẾT LUẬN 25

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, pháp luật Tố tụng Hình sự ngày càng đề cập nhiều đến vị trị, vai trò,quyền lợi, nghĩa vụ của người làm chứng Cụ thể, điều này quy định trong Bộluật Tố tụng Hình sự 2003 và thông qua các văn bản pháp luật như: Nghị quyết

số 04/2004/NQ-HĐTP và Nghị quyết 05/2005/NĐ-HĐTP của Hội đồng thẩmphán; Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự đốivới người tham gia tố tụng là người chưa thành niên Gần đây nhất, Ủy banThường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 về chi phígiám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tốtụng, bên cạnh đó là những Quyết định do Bộ công an ban hành nhằm quy địnhquy trình dẫn giải người làm chứng không được xâm phạm trái pháp luật tínhmạng, danh dự, nhân phẩm của người làm chứng bị dẫn giải, gồm: Quyết định số810/2006/QĐ-BCA-C11 và quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA

Những bổ sung tiến bộ về bảo đảm quyền của người làm chứng trong Tố tụngHình sự hiện hành đã quan tâm đến quyền con người theo nghĩa rộng, cụ thể là

đã bảo đảm một số quyền hiến định và luật định cho người làm chứng Liệu rằngviệc ban hành những quy định trên lý thuyết có đi kèm với việc thực hiện haychưa, ngoài ra khi thực hiện đã và đang gặp phải những bất cập như thế nào, nay

để tìm hiểu sâu hơn vấn đề này và đưa ra những giải pháp cụ thể dựa trên thựctrạng hiện nay, nhóm quyết định thực hiện đề tài “Bảo đảm quyền, lợi ích củangười làm chứng theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam.”

Trang 4

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu về chế định người làm chứngnhưng chỉ mới dừng lại ở việc phân tích về những vấn đề lý luận của người làmchứng nói chung, như: khái niệm, đặc điểm, vai trò của người làm chứng…nhằmđưa ra các vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật về người làm chứngvào thực tiễn Tuy nhiên lại chưa có một đề tài nào nghiên cứu tổng quát và khaithác cụ thể các bất cập của pháp luật trong việc bảo đảm quyền lợi của người làmchứng như quyền được bảo đảm về vật chất; quyền được bảo đảm an toàn về sứckhỏe, tính mạng; quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tinh thần để từ đó đưa

ra các kiến nghị hoàn chỉnh cơ sở pháp lý cũng như các giải pháp, các chế tài đểgiải quyết các vấn đề trên nhằm bảo vệ quyền lợi cho người làm chứng Dưới đây

là các công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu, bài viết trên báo, tạp chí trong vàngoài trường có liên quan mà nhóm tác giả thu thập, thống kê được trong quátrình tìm hiểu để thực hiện đề tài “BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜILÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM”:

Ngoài trường:

Nguyễn Văn Cừ, (2006), Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số tháng 3/2006, Bảo

vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại, trang 61

Nguyễn Văn Cừ (2006), Tạp chí Kiểm sát số tháng 8/2006, Bàn thêm về việcbảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình

sự, trang 26

Đinh Tuấn Anh (2008), Tạp chí Kiểm sát số tháng 4/2008, Một số vấn đề cầnchú ý về tâm lý xã hội của người làm chứng, trang 46

Trang 5

3 NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

- Về mặt lý luận:

+ Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến chế định người làm chứng.Trong đó đi sâu vào tìm hiểu các khái niệm, đặc điểm, phân loại người làmchứng cũng như vị trí, vai trò của họ trong quá trình tham gia tố tụng

+ Hệ thống hóa và phân tích các quy định của pháp luật hiện hành vềquyền và nghĩa vụ của người làm chứng

+ Nâng cao hiểu biết pháp luật cho mọi người nhất là cho người làm chứng,giúp họ có thể hiểu một cách cơ bản nhất về quyền lợi mà họ được hưởng trongquá trình vụ án được đưa ra xét xử, giúp họ mạnh dạn hơn khi ra tố giác tộiphạm và ra làm chứng bảo vệ công lý

Trang 6

CHƯƠNG MỘT NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái luận về người làm chứng

1.1.1 Khái niệm người làm chứng

Khoản 1 Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 đưa ra khái niệm ngườilàm chứng như sau: “Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ ánđều có thể được triệu tập đến làm chứng”

Từ quy định trên của pháp luật, ta có thể hiểu người làm chứng là ngườibiết được tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng triệu tập tham gia tố tụng.1 Khái niệm này đã xác định một cáchchính xác về phạm vi, nội dung và tính chất pháp lý của người làm chứng, đó làbất cứ người nào biết được tình tiết liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiếnhành tố tụng triệu tập đến để khai báo nên người làm chứng phải trực tiếp thamgia tố tụng chứ không thể ủy quyền cho người khác hoặc cho người khác đạidiện

1.1.2 Đặc điểm của người làm chứng

a) Người làm chứng phải là những người biết được các tình tiết có liênquan đến vụ án

Người làm chứng tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự khôngchỉ là “người đứng ra xác nhận những gì mình đã chứng kiến, đã nghe thấy” mà

họ tham gia vào quá trình tố tụng là để trình bày một cách trung thực và chínhxác tất cả những tình tiết liên quan đến vụ án để các cơ quan tiến hành tố tụng sửdụng làm chứng cứ trong vụ án hình sự, nhằm xác định sự thật khách quan của

vụ án Do đó, nhận thức của người làm chứng về các tình tiết của vụ án có thể làtrực tiếp (trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy) hoặc gián tiếp (được người khác kể lại).Việc người làm chứng biết được những tình tiết của vụ án một cách trực tiếp haygián tiếp chỉ liên quan đến việc đánh giá chứng cứ chứ không ảnh hưởng tới tưcách tố tụng của họ Đồng thời, theo tinh thần của luật, phạm vi “những tình tiếtliên quan đến vụ án” là phạm vi rộng Nếu so sánh với “những vấn đề cần chứngminh trong vụ án” quy định tại Điều 63 thì phạm vi này rộng hơn bởi lẽ Điều 63chỉ quy định phạm vi tối thiểu những vấn đề cần phải được làm rõ trong bất kì vụ

án nào Trong khi đó, phạm vi thông tin mà người làm chứng biết được là nhữngthông tin bất kì nào có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, trong quátrình khai báo, người làm chứng phải nói rõ vì sao họ biết được những tình tiết cóliên quan đến vụ án, nếu không lời khai của họ sẽ không được chấp nhận, khôngđược dùng làm chứng cứ chứng minh và trong trường hợp này, tư cách của họ sẽ

Trang 7

Một người biết được các tình tiết của vụ án mà không được cơ quan tiếnhành tố tụng triệu tập thì không thể xem là người làm chứng Hay nói cách kháckhông có triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng thì một công dân cụ thể khôngthể tham gia vào vụ án với tư cách người làm chứng Quyết định triệu tập côngdân đến làm chứng của cơ quan tiến hành tố tụng chính là cơ sở pháp lý phát sinhquyền và nghĩa vụ tố tụng hình sự của người làm chứng, đồng thời nó làm phátsinh trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền khi triệu tập, lấy lời khai người làmchứng Về hình thức triệu tập người làm chứng, bên cạnh hình thức phổ biến làgiấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng còn có thể có hình thức giản đơn làthể hiện quyết định của điều tra viên về việc chấp nhận cá nhân cụ thể là ngườilàm chứng ngay trong biên bản lấy lời khai đầu tiên với người đó.

Trong thực tiễn điều tra có nhiều người biết tình tiết của vụ án đang điều tranhưng không trở thành người làm chứng do cơ quan có thẩm quyền xét thấykhông cần thiết phải triệu tập họ để lấy lời khai với tư cách người làm chứngtrong vụ án Trường hợp có nhiều người biết các thông tin liên quan đến vụ án,các cơ quan tiến hành tố tụng phải có sự lựa chọn Những người biết được nhiềutin tức quan trọng, biết được các tình tiết một cách sâu sắc, chính xác, đầy đủ;những người có khả năng mô tả lại một cách tốt nhất những hiểu biết của họ mà

cơ quan điều tra đang cần; những người có thiện chí, có trách nhiệm thực hiệnnghĩa vụ người làm chứng thường được các cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn.Việc lựa chọn triệu tập ai là người làm chứng sẽ làm giảm được khối lượng côngviệc cũng như thời gian thu thập chứng cứ

Bên cạnh đó, bởi vì người làm chứng là người biết về các tình tiết trong vụ án,nên trong nhiều trường hợp chính các bị can, bị cáo, bị hại … trong vụ án hình sự

có thể yêu cầu tòa triệu tập người do mình chỉ định tham gia tố tụng với tư cách

là “người làm chứng” (Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003) – nhằm mục đíchlàm sáng tỏ những vấn đề có lợi cho mình Điều này cũng có nghĩa là bị can, bịcáo cần chủ động tìm người làm chứng, chứ không nên chỉ trông chờ vào việc đểtòa án “tự động” triệu tập Vì Tòa đâu thể biết hết mọi việc, trong khi luật quiđịnh quyền chứng minh – tức là quyền làm sáng tỏ sự thật – thuộc về bị can, bịcáo (theo Điều 10 Luật Tố tụng hình sự 2003)

Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, việc quy định điều kiện để trở thành ngườilàm chứng là phải được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập thì chưa đáp ứng yêucầu phòng chống tội phạm mà cần thiết phải có quy định “mở” về người làmchứng, đó là trường hợp biết được sự việc và tự mình đến làm chứng Bởi lẽngười làm chứng tham gia tố tụng trình bày những tình tiết sự việc cho các cơquan tiến hành tố tụng không phải chỉ để buộc tội hoặc tăng nặng trách nhiệmhình sự cho bị can, bị cáo mà nó còn có thể gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệmhình sự cho bị can, bị cáo (nếu có) Đồng thời, việc người làm chứng tự mình tìmđến cung cấp, trình bày những tình tiết sự việc cho cơ quan tiến hành tố tụngcũng là nhằm đảm bảo cho việc xử lý được đúng người đúng tội, tránh xảy ra oansai và cũng là để thực hiện tích cực nghĩa vụ công dân của họ (với điều kiện lànhững thông tin họ cung cấp là có ích cho các cơ quan tiến hành tố tụng trongquá trình giải quyết vụ án và điều này lại thuộc khả năng nhận thức và đánh giácủa những người tiến hành tố tụng)

Trang 8

c) Tính không thể thay thế được.

Người làm chứng là người không thể thay thế trong tố tụng nên người làmchứng không thể cử đại diện cho mình tham gia tố tụng.2 Bởi lẽ, lời khai ngườilàm chứng là loại chứng cứ mà nguồn của nó là lời khai của những con người cụthể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, về tính cách và nhâncách … Ngoài ra, khác với những người tham gia tố tụng khác có thể tự mìnhhoặc ủy quyền cho người đại diện thay mặt tham gia tố tụng (người bị hại,

nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…) thì người làm chứng có nghĩa vụ tự mìnhcung cấp và trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến vụ án cho các cơquan tiến hành tố tụng (điểm b khoản 4 Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003)nên họ không thể cử người khác thay thế Và cũng chính vì người làm chứng làngười tái hiện lại các tình tiết, sự kiện có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án nênmột người trong một vụ án không thể vừa là bị can vừa là người làm chứng, vừa

là người làm chứng vừa là giám định viên,… Do vậy nếu một người đã bị khởi tố

bị can thì không thể lấy lời khai của người đó theo trình tự lấy lời khai của ngườilàm chứng Trường hợp người làm chứng chết hoặc không tìm được do thay đổiđịa chỉ thì lời khai của người làm chứng không thể thay thế bằng người kháchoặc bằng những chứng cứ khác

1.1.3 Vai trò của người làm chứng

Trong lịch sử phát triển của khoa học tố tụng hình sự, chế định người làmchứng đã trải qua những thăng trầm nhất định và ngày nay lời khai của người làmchứng chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống chứng cứ để giải quyết vụ ánhình sự Mặt khác, người làm chứng tham gia vào quá trình tố tụng cũng là đểthực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân đối với nhà nước và xã hội: “Đấutranh phòng chống tội phạm là nghĩa vụ của các tổ chức, cơ quan nhà nước vàmọi công dân” (theo nguyên tắc quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự2003) Vì vậy, việc người dân tham gia vào hoạt động đấu tranh phòng chống tộiphạm mà biểu hiện cụ thể ở đây là tham gia làm chứng trong vụ án hình sự có ýnghĩa rất quan trọng, đó là biểu hiện của người làm chủ trong xã hội, tham giagiám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức xã hội nói chung và các cơ quan bảo

vệ pháp luật nói riêng Bên cạnh đó, sự có mặt của người làm chứng cũng tácđộng đến các chủ thể khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Đối với các chủ thể như nguyên đơn dân sự, người bị hại, họ cần sự có mặtcủa người làm chứng để xác định những thiệt hại do người phạm tội gây ra cho

họ, làm căn cứ để xác định bồi thường thiệt hại

Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, thông tin có được từ người làm chứng

có ý nghĩa trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự Qua việckhai báo, người làm chứng sẽ cung cấp các tình tiết mà họ biết về vụ án, từ đó cơquan có thẩm quyền sẽ cùng với các nguồn chứng cứ khác dùng làm căn cứ đểxác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tộicũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Hoạtđộng tố tụng càng có tính tranh tụng cao bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền của

2 Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự 1999

Trang 9

các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thìvai trò người làm chứng càng được khẳng định Những tình tiết mà người làmchứng biết được vẫn là một trong những chứng cứ không thể thiếu được trongquá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ

án được nhanh chóng, chính xác, không bỏ sót tội phạm, không làm oan người vôtội, tăng niềm tin của nhân dân vào pháp luật, công lý

Đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu người làmchứng là người biết các thông tin có thể giúp gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệmhình sự hoặc hình phạt cho họ thì sự hiện diện của người làm chứng trong quátrình giải quyết vụ án hình sự sẽ có lợi cho họ Trong trường hợp này, khả năngngười làm chứng gặp nguy hiểm do người phạm tội gây ra nhằm che giấu hành vimình đã thực hiện hầu như là không có Ngược lại, nếu một người biết các tìnhtiết trong vụ án hình sự là những thông tin có tính chất khẳng định sự việc, hành

vi phạm tội, lỗi, các tình tiết có tính chất tăng nặng trách nhiệm hình sự … thì khi

đó sự hiện diện của người làm chứng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đốivới người phạm tội là không có lợi Chính vì vậy, người đã thực hiện hành viphạm tội có thể có những hành vi gây nguy hiểm cho người làm chứng (có thểtrực tiếp với người làm chứng hoặc gây nguy hiểm cho người thân của người làmchứng để tác động đến họ)

Như vậy, lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứquan trọng được sử dụng để làm sáng tỏ những vấn đề cần được chứng minhtrong vụ án hình sự Do đó, người làm chứng có thể tham gia tố tụng ở tất cả cácgiai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Kết hợp lời khai của người làmchứng với những tình tiết của vụ án, với những chứng cứ, tài liệu thu thập được

từ những nguồn khác, các cơ quan tiến hành tố tụng mới có thể kết luận đượchành vi phạm tội của bị can, bị cáo Ngược lại, có nhiều trường hợp do không thuthập được lời khai cần thiết của người làm chứng và cơ quan tiến hành tố tụngkhông thể khẳng định được sự thật khách quan và vì thế vụ án trở nên bế tắc.Điều này cho thấy, chính giá trị và ý nghĩa của lời khai người làm chứng mới làyếu tố có tính quyết định đến vai trò của họ khi tham gia tố tụng

1.1.4 Phân loại người làm chứng

Yêu cầu của việc nghiên cứu người làm chứng trong tố tụng hình sự đòihỏi phải có sự phân loại những người làm chứng một cách cụ thể dựa trên nhữngcăn cứ khác nhau Việc phân loại người làm chứng có ý nghĩa rất quan trọngtrong quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng,trong lựa chọn phương hướng điều tra, cách thức lấy lời khai, … sao cho đạt hiệuquả cao nhất Mỗi loại người làm chứng đều có đặc điểm riêng Thực tế cho thấy,

ở mỗi lứa tuổi, mỗi trình độ nhận thức, hoàn cảnh khác nhau, … người làmchứng có một cách tiếp cận thông tin khác nhau Khả năng nhận thức của ng ườilàm chứng tham gia tố tụng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kiến thức xã hội, sựnhạy bén của các giác quan, mức độ chú ý, sự hứng thú và trạng thái tâm lý khinhận thức, sức khỏe, nghề nghiệp, mối quan hệ với người tham gia tố tụng

khác,… điều này cho thấy thông tin mà các cơ quan tiến hành tố tụng có thể khaithác được ở những người làm chứng khác nhau là khác nhau và do vậy ảnhhưởng rất nhiều đến kết quả chứng minh Vì vậy, nắm bắt được những đặc điểm

Trang 10

Hoàng Quốc Hùng, Nghiệp vụ xác minh, thu thập chứng cứ thanh tra bằng phương pháp lấy lời khai

tâm lý, suy nghĩ, nhận thức,… và những đặc điểm liên quan khác của người làmchứng là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình lấy lời khai.Muốn vậy phải dựa trên những kết quả phân loại người làm chứng để rút ranhững kết quả và đánh giá chính xác về đối tượng Thông thường, có 5 cách phânloại chủ yếu sau đây:3

- Căn cứ vào độ tuổi:

Người làm chứng dưới 16 tuổiNgười làm chứng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổiNgười làm chứng từ đủ 18 tuổi trở lên

- Căn cứ vào đặc điểm thể chất, tâm thần:

Người làm chứng bình thường về thể chất và tâm thầnNgười làm chứng có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần (nhưngvẫn có khả năng làm chứng)

- Căn cứ vào đặc điểm quốc tịch và ngôn ngữ mà người làm chứng có khảnăng diễn đạt:

Người làm chứng là công dân Việt NamNgười làm chứng là người nước ngoàiNgười làm chứng là công dân Việt Nam nhưng không biết tiếngphổ thông (như một số đồng bào thuộc dân tộc thiểu số)

- Căn cứ vào nguồn tài liệu chứng cứ phản ánh thông tin mà người làmchứng nhận thức được:

Người làm chứng biết sự việc trực tiếpNgười làm chứng biết sự việc gián tiếp

- Căn cứ vào mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị cáo hoặcngười bị hại:

3

người làm chứng

Tham khảo trực tuyến tại:

http://moj.gov.vn/huongdannv/Lists/TaiLieuNghiepVu/View_Detail.aspx?ItemId=35

Trang 11

1.1.5 Những trường hợp không được làm chứng

Khoản 2 Điều 55 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định những trường hợpsau đây không được làm chứng:

“a) Người bào chữa của bị can, bị cáo;

b) Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khảnăng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báođúng đắn”

Xét trường hợp thứ nhất, đối với người bào chữa của bị can, bị cáo mặc dùbiết rõ các tình tiết liên quan đến vụ án, lời khai của họ có ý nghĩa quan trọng đốivới việc giải quyết vụ án nhưng do đã tham gia tố tụng với tư cách người bàochữa của bị can, bị cáo thì không được tham gia làm chứng Thực tiễn xét xử chothấy, người bào chữa của bị can, bị cáo có thể biết được các tình tiết của vụ án từnhiều nguồn và trong những khoảng thời gian khác nhau: có thể biết được cáctình tiết đó do có mặt ở nơi xảy ra tội phạm, do quen biết bị can, bị cáo hoặc dođược người khác kể lại; có thể người đó biết được các tình tiết vụ án trong quátrình thực hiện nhiệm vụ bào chữa do được đọc hồ sơ vụ án, do tiếp xúc với bịcan, bị cáo … Nắm bắt được những thông tin này nhưng người bào chữa khôngđược tiết lộ những bí mật của bị can, bị cáo mà họ biết được trong khi làm nhiệm

vụ Hơn nữa, người bào chữa tham gia tố tụng để thực hiện chức năng gỡ tội nênchỉ đưa ra các chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo Họ không thể làm chứng vớinghĩa vụ của người làm chứng là khai báo trung thực những gì họ biết về vụ án,nghĩa vụ này mâu thuẫn với nghĩa vụ của người bào chữa Do đó, quy định tạiđiểm a khoản 2 Điều 55 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 là hợp lý nhằm đảm bảo sựkhách quan, vô tư cần thiết trong hoạt động tố tụng, bởi lẽ một người không thểđồng thời tham gia tố tụng với hai tư cách là người bào chữa và người làm chứng

và với hai chức năng là buộc tội và gỡ tội

Xét trường hợp thứ hai, đối với trường hợp người có nhược điểm về thểchất hoặc tâm thần mà không có khả năng nhận thức hoặc khai báo đúng đắncũng là điều kiện hạn chế làm chứng Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định căn

cứ để xác định trường hợp nào không có khả năng nhận thức và trường hợp nàokhông có khả năng khai báo đúng đắn Vì vậy để áp dụng, có thể chia thành haitrường hợp:

- Trường hợp có nhược điểm về thể chất như câm, điếc, mù bị hạn chế vềkhả năng nghe, nhìn, nói nhưng nếu có căn cứ cho rằng nhược điểm đó khôngảnh hưởng quyết định đến khả năng nhận thức và khai báo thì họ vẫn có thể thamgia làm chứng khi có người thân hoặc người khác có thể giúp họ diễn đạt nhữngnội dung muốn trình bày Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật thì người làm

chứng là người biết được các tình tiết liên quan tới vụ án và những người cónhược điểm về thể chất biết được các tình tiết theo cách riêng của họ Người điếckhông nghe thấy được nhưng có thể nhìn thấy, người mù không thể nhìn thấyđược nhưng có thể nghe thấy … Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác định tư cáchlàm chứng của ngững người này rất khó khăn vì đối với người hạn chế về thínhlực, thị lực, khả năng nghe, nhìn không tốt thì vấn đề cần phải quan tâm ở đây

Trang 12

không phải là tư cách làm chứng của họ mà là vấn đề đánh giá tính xác thựctrong lời khai của họ như thế nào.

- Những trường hợp có nhược điểm về tâm thần thì không được tham gialàm chứng Điều quan trọng ở đây là xác định có hay không nhược điểm về tâmthần và nhược điểm tâm thần đến mức nào có thể hạn chế hoặc loại trừ khả năngnhận thức của họ Những vấn đề này các cơ quan tiến hành tố tụng không thể tựmình trả lời được mà cần có sự trợ giúp của giám định tâm thần Tuy nhiên lờikhai của họ nhiều khi rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn điều tra nhằm tìm rachứng cứ khác, định hướng điều tra để loại bỏ hay khẳng định các giả thiết điềutra Do vậy vấn đề quan trọng là cần đánh giá lời khai đó Bởi lẽ trong giai đoạnđiều tra, truy tố, xét xử mọi thông tin liên quan đến tội phạm dù nhỏ vẫn có ýnghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án

1.2 Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng

1.2.1 Quyền của người làm chứng

Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 không quy định về bảo đảm quyền củangười làm chứng mà chỉ có những nghĩa vụ mà người làm chứng phải thực hiệnkhi tham gia vào quan hệ tố tụng Do đó, việc quy định một số quyền về nhânthân và quyền tài sản của người làm chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 làmột điểm tiến bộ so với Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 và điều này là rất cần thiết

vì các lý do sau:

- Thứ nhất, người làm chứng tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự, trước hếtvới tư cách là một con người và đồng thời là người tham gia đảm bảo công lý.Vậy nên họ xứng đáng được hưởng các quyền dân sự và được pháp luật hình sựbảo đảm các quyền con người, quyền công dân của họ được thực thi trên thực tế

- Thứ hai, tuy pháp luật quy định nhiều nguồn chứng cứ trong tố tụng hình sựnhưng theo ý nghĩa nguyên thủy của chứng cứ thì có hai loại chứng cứ quantrọng nhất đó là vật chứng và nhân chứng Người làm chứng có vị trí, vai trò đặcbiệt trong quá trình chứng minh tội phạm, đôi khi lời khai của họ còn có tác dụnghơn cả vật chứng trong quá trình điều tra tội phạm Do đó việc bảo đảm pháp luậtcác quyền tố tụng của người làm chứng sẽ góp phần giúp các cơ quan tiến hành

tố tụng xác định sự thật của vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đầyđủ

Ngoài ra, những sửa đổi bổ sung tiến bộ về bảo đảm quyền của người làmchứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành đã quan tâm đến quyền con ngườitheo nghĩa rộng, bảo đảm một số quyền hiến định cho người làm chứng Xuấtphát từ nguyên tắc có tính chất hiến định “ở Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hộiđược tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp

và luật” (Điều 50 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm1992) Phần lớn các quyền của người làm chứng quy định tại điều 55 Bộ luật Tốtụng hình sự 2003 được cụ thể hóa từ các quyền hiến định của công dân quy địnhtrong đạo luật cơ bản của Nhà nước (Hiến pháp) cụ thể là:

Ngày đăng: 17/08/2014, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w