1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực tiễn việc thay đổi người tiến hành tố tụng

26 2,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 165,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, trong hoạt động tư pháp hình sự, nơi mà hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án mang tính quyền lực nhà nước rất cao, nơi mà mọi hoạt độ

Trang 1

Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

Khoa Quản trị

Lớp Quản trị - Luật K35 Bài tiểu luận môn:

Thực tiễn việc thay đổi người THTT

GV hướng dẫn: Lê Thị Thùy Dương

Năm học 2012 - 2013

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU:

Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân; bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân… là những đòi hỏi quan trọng của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

Đặc biệt, trong hoạt động tư pháp hình sự, nơi mà hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) mang tính quyền lực nhà nước rất cao, nơi

mà mọi hoạt động chính đều liên quan lớn đến quyền, lợi ích của công dân thì việc quy định rõ ràng, cụ thể nhũng trường hợp bắt buộc phải thay đổi người tiến hành tố tụng, có

ý nghĩa rất quan trọng không chỉ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, mà còn đảm bảo cho nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án được tôn trọng, đặc biệt là bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng trong khi làm nhiệm vụ

Trong nhiều năm qua, pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) nước ta đã có nhiều tiến bộ trong việc quy định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng (THTT) Đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động TTHS đạt hiệu quả Tuy nhiên, nhiều quy định còn bất cập; một số quy định còn vướng mắc trong triển khai thực hiện trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay

I Những vấn đề chung về thay đổi người THTT trong pháp luật TTHS VN:

1 Một số khái niệm liên quan:

a Khái niệm người tiến hành tố tụng:

Tố tụng là toàn bộ những hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT, các cơ quan Nhà nước khác và những công dân có liên quan nhằm giải quyết đúng đắn những vụ

án theo quy định của pháp luật Trong quá trình tố tụng, người THTT giữ vai trò rất quan trọng, họ là những người tìm ra sự thật khách quan của vụ án

Người THTT là những người nhân danh Nhà nước tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân Người THTT có trong nhiều lĩnh vực tố tụng khác nhau như hành chính, dân sự, thương mại, lao động….trong đó có cả hình sự Người THTT trong TTHS

là những chủ thể theo quy định của pháp luật TTHS có quyền hạn và nhiệm vụ áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hình sự (VAHS) theo những trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) không đưa tra khái niệm về người THTT mà chỉ liệt kê những chủ thể là người THTT tại khoản 2 Điều 33 BLTTHS, bao gồm:

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên;

+ Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên;

+ Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án

Trang 3

Có thể thấy rằng, người THTT có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết VAHS Người THTT mang tính chất quyết định đối với việc giải quyết một VAHS Do

đó, khi có những căn cứ cho rằng họ không vô tư, khách quan theo quy định của BLTTHS thì chính những nguời THTT phải từ chối THTT hoặc bị đề nghị thay đổi để đảm bảo cho quá trình giải quyết VAHS một cách khách quan

b Khái niệm căn cứ thay đổi người THTT:

Khái niệm thay đổi người THTT:

Thay đổi người THTT là việc đưa một người THTT này vào “thay thế” cho một người THTT khác nhằm làm “khác đi” tình trạng có khả năng không vô tư, khách quan của người THTT đó và người thay thế phải đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hình sự và TTHS, người THTT phải đảm bảo nguyên tắc xác định sự thật vụ án, đảm bảo vô tư khách quan trong suốt quá trình THTT Điều đó có nghĩa là khi phát hiện Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (CQĐT), Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (VKS), Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không đảm bảo sự vô tư, khách quan khi tiến hành các hoạt động tố tụng thì phải thay đổi họ trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng

Như vậy, thay đổi người THTT để đảm bảo mục đích chung của TTHS, để củng cố niềm tin trong nhân dân về sự công minh của cơ quan bảo vệ pháp luật, tin tưởng vào những người bảo vệ chân lý Tất cả mọi hoạt động của người THTT đều liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, đặc biệt là bị can, bị cáo, để đảm bảo pháp chế XHCN trong TTHS cần có các căn cứ thay đổi người THTT

Khái niệm căn cứ thay đổi người THTT:

Như đã phân tích ở trên, người THTT là cán bộ Nhà nước với những chức danh khác nhau thực hiện nhiệm vụ, chức năng của các cơ quan THTT nhằm bảo vệ chế

độ XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết và triệt để mọi hành vi phạm tội

Trong quá trình THTT, nếu có một lý do cho rằng người THTT có khả năng làm ảnh hưởng đến việc bảo đảm giải quyết VAHS một cách đúng đắn, toàn diện, khách quan thì buộc phải thay đổi Người THTT thuộc những trường hợp, có thể bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài hoặc do chính bản thâm, khiến họ có thể có những hành vi là sai lệch đi sự thật vụ án thì buộc họ phải thay đổi

Người THTT không bị thay đổi một cách ngẫu nhiên mà cần phải có những căn cứ cụ thể, rõ ràng Căn cứ thay đổi người THTT là cơ sở đề người THTT phải tự mình

từ chối THTT hoặc là cơ sở để đề nghị thay đổi người THTT của những chủ thể có quyền

đề nghị theo quy định của pháp luật

Trang 4

Điều 42, 44, 45, 46, 47 BLTTHS đã liệt kê các căn cứ làm cơ sở cho việc thay đổi người THTT, theo đó, người THTT sẽ bị thay đổi khi có nhưng căn cứ sau:

Thứ nhất: họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,

người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo

Thứ hai: họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng,

người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó

Thứ ba: đã THTT trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Kiểm sát

viêm, Thẩm phán, Hội thẩm hoặc Thư ký Tòa án Đối với Thẩm phán và Hội thẩm cùng trong một HĐXX và là người thân thích với nhau hoặc đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc THTT trong vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký TA

Thứ tư: có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi

làm nhiệm vụ

Như vậy, khi người THTT thuộc một trong các căn cứ thay đổi người THTT trên thì việc thay đổi người THTT trong trường hợp này là cần thiết, một mặt nhằm đảm bảo sự khách quan, vô tư của người THTT, nhằm đảm bảo cho nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án được tôn trọng và bảo đảm pháp chế XHCN trong TTHS Mặt khác, việc xây dựng các căn cứ thay đổi người THTT là một bước dự liệu phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật của người thực hiện quyền lực Nhà nước, tạo môi trường pháp lý trong sạch, củng cố niềm tin của nhân dân vào cơ quan bảo vệ pháp luật, vào chế độ XHCN

2 Mục đích, ý nghĩa của việc thay đổi

a Mục đích:

Nhằm loại bỏ những điều kiện khách quan và chủ quan tác động đến người THTT, tạo điều kiện cho người THTT hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Nếu người THTT có biểu hiện không vô tư khách quan, bị chi phối bởi những lợi ích cá nhân mà làm sai lệch sự thật vụ án thì buộc phải thay đổi, không thể để họ có điều kiện thực hiện hành vi vi phạm, giúp họ giữ được danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức nâng cao chất lượng công tác từ hoạt động đúng đắn của họ,

Đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS để họ lựa chọn những người đáng tin cậy tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm xác định sự thật vụ án nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân họ hoặc bảo vệ lợi ích cho các chủ thể khác

b Ý nghĩa

Trang 5

Tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật của người thực hiện quyền lực nhà nước, tránh các hiện tượng tiêu cực trong hoạt động tư pháp do không có quy định của pháp luật điều chỉnh, tạo điều kiện để việc giải quyết vụ án được thực hiện một cách khách quan.

Là hành lang pháp lý cho việc thực hiện dân chủ, tôn trọng và bảo đảm quyền của công dân

Tạo niềm tin trong nhân dân về một hệ thống pháp luật hoàn thiện, trong đó quyền và lợi ích của họ được bảo đảm

3 Các nguyên tắc TTHS chi phối việc quy định, áp dụng chế định thay đổi NTHTT

Việc quy định và áp dụng chế định thay đổi NTHTT chịu sự chi phối của nhiều nguyên tắc, như: nguyên tắc pháp chế XHCN; nguyên tắc xác định sự thật vụ án; nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của NTHTT; nguyên tắc xác định trách nhiệm của cơ quan THTT, người THTT; nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Tuy nhiên, nhóm xin trình bày hai nguyên tắc chính có tác động trực tiếp đến chế định này

Nguyên tắc xác định sự thật vụ án:

Điều 10 BLTTHS có quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án

phải dùng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự của bị can, bị cáo”.

Yêu cầu xác định sự thật vụ án đặt ra là sự thật vụ án phải được xác định một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Tính khách quan, toàn diện và đầy đủ là những đòi hỏi mang tính chỉ đạo từ việc thu thập, kiểm tra đến đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác liên quan đến vụ án Phải đánh giá dựa trên những cứ có thật, liên quan đến vụ án chứ không dựa trên những suy luận chủ quan của người THTT

Để đảm bảo xác định sự thật khách quan của vụ án đòi hỏi những người có thẩm quyền TTHS cần phải vô tư, không để lợi ích, tình cảm cá nhân xen vào công việc Nếu có những căn cứ để cho thấy họ không vô tư trong khi làm nhiệm vụ thì trước hết đòi hỏi họ phải tự giác từ chối, trong trường hợp không từ chối thì sẽ bị đề nghị thay đổi

Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người THTT:

Để đảm bảo vụ án hình sự được xử lý chính xác, khách quan, góp phần vào cuộc đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả cũng như để bảo vệ tốt các quyền tự do, dân chủ của công dân thì các chủ thể THTT phải vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ

Do đó, nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người THTT hoặc người TGTT luôn được đề cao

Trang 6

trong TTHS Điều 14 BLTTHS quy định: “Thủ trưởng, Phó Thử trưởng cơ qun điều tra,

Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không được tiến hành tố tụng…, nếu có lý do xác đáng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình”.

Nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của người THTT hoặc người TGTT là điều kiện

để đảm bảo xác định được sự thật khách quan, giúp cho việc xử lý vụ án chính xác, công bằng Nếu người THTT có những biểu hiện thiên lệch, không vô tư trong THTT thì sự thật vụ án không được phản ánh đầy đủ Một trong những nhân tố trực tiếp tác động đến

sự vô tư của người THTT đó là tình cảm, mà cụ thể là những tình cảm xuất phát từ mối quan hệ thân thích Do có mối quan hệ tình cảm nên khi THTT, đánh giá một vấn đề liên quan đến lợi ích của người thân thích người THTT chắc chắn sẽ không tránh được sự thiên lệch, không vô tư; từ đó trong các nhận định, phán quyết không phản ánh được đầy

đủ, khách quan sự thật của vụ án và điều này dẫn đến việc áp dụng pháp luật cũng như các phán quyết của Tòa án sẽ không đạt được mục đích

Ngoài mối quan hệ thân thích giữa người THTT và người TGTT còn một số quan hệ khác chi phối sự độc lập, khách quan của người THTT như: sự chịu ơn, sự cho nhận tài sản… Nếu người THTT thực hiện nhiệm theo đúng quy định của pháp luật thì có thể sẽ mất đi một vài quyền lợi từ phía người TGTT Người THTT đứng trước sự lựa chọn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của người TGTT khác trong vụ án họ sẽ khó giữ được sự thanh bạch mà có những hành vi làm sai lệch vụ án

Mặt khác, một người không thể tự đưa ra những nhận định, phán xét cho chính mình hoặc người mà mình đại diện một cách vô tư, khách quan, công bằng Cho nên người THTT không thể đồng thời tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS với hai tư cách tố tụng khác nhau, vừa là người THTT vừa là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự vừa có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo Trong trường hợp này, người THTT phải tự từ chối khi thấy mình không thể vô tư trong quá trình giải quyết vụ án hoặc bị đề nghị thay đổi để đảm bảo cho việc xác định sự thật khách quan của một vụ án

Người THTT cũng phải trung thực xem xét các kết kuận của người giám định, người phiên dịch bằng trình độ hiểu biết của mình; không được vì quen biết mà tin tưởng hoàn toàn vào kết quả đó, không đối chứng với chứng cứ khác, những tình tiết khác có liên quan trong vụ án để làm sáng tỏ sự thật vụ án, sẽ đi đến tình trạng oan sai, quyền và lợi ích hợp pháp của người TGTT không được bảo đảm

Do đó, khi người THTT rơi vào một trong những căn cứ quy định tại Điều 42 BLTTHS, người THTT không thể đảm bảo sự vô tư khi đưa ra các kết luận đúng đắn vì

Trang 7

sự thật khách quan của vụ án thì họ phải tự mình từ chối THTT, hoặc bị đề nghị thay đổi bởi những chủ thể được quy định tại Điều 43 BLTTHS.

II Căn cứ thay đổi người THTT trong pháp luật TTHS Việt Nam – thực tiễn áp dụng

và kiến nghị hoàn thiện:

1 Các căn cứ thay đổi:

a Các căn cứ thay đổi:

Người THTT là chủ thể không thể thiếu trong quá trình tố tụng, người THTT với những chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, để làm được những điều đó họ phải thực sự vô tư, khách quan trong khi THTT Nếu có những lí do cho rằng họ không còn vô tư, khách quan khi phán thì họ phải từ chối hoặc bị đề nghị thay đổi Điều 42, 44, 56, 46, 47 BLTTHS quy định các thay đổi người tiến hành tố tụng

Căn cứ thứ nhất, Khoản 1 Điều 42 BLTTHS quy đinh: “Họ đồng thời là

người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo”.

Đồng thời có nghĩa là người THTT tham gia cùng lúc với hai tư cách tố tụng,

vừa là người THTT vừa là người TGTT Trong trường hợp này người THTT phải từ chối THTT hoặc bị thay đổi vì họ khó có thể khách quan khi quyết định lợi ích của chính mình, của những người thân thích hay của những người mình đại diện

Người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây

ra (khoản 1 Điều 51 BLTTHS) Nếu người THTT đồng thời là người bị hại, họ sẽ tự đưa

ra các chứng cứ rồi tự xem xét các chứng cứ mình đưa ra để buộc tội người phạm tội; người THTT sẽ không thể vô tư khi xem xét quyền lợi cho chính mình, do đó ở những trường hợp này nếu người THTT không tự mình từ chối thì phải bị đề nghị thay đổi bởi những chủ thể có thẩm quyền

Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra

và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (khoản 1 Điều 52 BLTTHS) Không thể để người THTT đồng thời là nguyên đơn dân sự vì lợi ích vật chất là thứ khiến con người ta dễ sa ngã; nguyên đơn dân sự đưa ra yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, với tư cách người THTT

tự mình phán quyết cho khoản thiệt hại mà mình được bồi thường, như vậy sẽ xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người phải bồi thường thiệt hại – bị đơn dân sự

Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu

trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra (khoản 1 Điều 53 BLTTHS) Bị đơn dân sự có thể không là người trực tiếp gây ra thiệt hại mà theo quy định của pháp luật họ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, họ có thể là cha mẹ, người giám hộ nếu người gây thiệt hại là người chưa thành

Trang 8

niên hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cơ quan, tổ chức đối với trường hợp cán bộ, nhân viên trong cơ quan, tổ chức đó gây ra thiệt hại Nếu người THTT đồng thời là bị đơn dân sự, họ sẽ tự xem xét tính chất, mức độ mà mình phải bồi thường, sẽ đưa ra những chứng cứ có lợi cho mình để phải bồi thường ít hơn so với thiệt hại thực tế; điều đó có thể gây thiệt hại cho những người có quyền và lợi ích liên quan.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người mà việc giải quyết

VAHS liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ, họ không phải là người phạm tội cũng không phải bồi thường hay được bồi thường nhưng họ TGTT vì quyền lợi của họ bị ảnh hưởng bởi quyết định của TA Nếu họ đồng thời là người THTT thì chính họ sẽ là người định đoạt tài sản của mình, như vậy không thể nào đảm bảo được người THTT đó sẽ vô

tư, khách quan

Người đại diện hợp pháp là người nhân danh và vì lợi ích của những người nêu

trên hoặc cuả bị can, bị cáo tham gia tố tụng tại phiên tòa, gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Đại diện theo pháp luật là đại diện theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, chẳng hạn cha mẹ là người đại diện cho con chưa thành niên, người giám hộ là người đại diện cho người được giám hộ Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập giữa người đại diện và người được đại diện; cá nhân hoặc người đứng đầu các cơ quan, tổ chức có thể tự mình hoặc ủy quyền cho người khác TGTT Dù là đại diện theo pháp luật hay theo ủy quyền thì người đại diện luôn vì lợi ích của người được đại diện Nếu người THTT đồng thời là người đại diện, họ sẽ nghiêng

về việc bảo vệ cho quyền lợi của người mà họ đại diện, sẽ đưa ra những đánh giá, nhận định có lợi cho người được đại diện, không đảm bảo quyền lợi cho những chủ thể khác cùng tham gia vào vụ án, sẽ làm mất đi tính dân chủ của pháp luật

Người thân thích là những người được xác định theo quan hệ huyết thống, được

quy định rõ ràng và chi tiết tại điểm b khoản 4 mục I Nghị quyết 03/2004 của Hội đồng

Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi quy định tại Điều 42 BLTTHS: “Người thân thích

của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can, bị cáo là những người có quan hệ sau đây với với một trong những người này: là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; là cụ nội, cụ ngoại của một trong những trường hợp trên đây; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; tà cháu mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột”.

Tại điểm b khoản 4, mục I Nghị định 03/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn Điều 42

BLTTHS có quy định: “Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị

thay đổi, nếu họ là người thân thích của một trong những người sau đây trong vụ án hình

sự mà họ được phân công xét xử: người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; bị can, bị cáo.”

Trang 9

Người thân thích tuy không phải là người có quyền lợi trực tiếp liên quan đến

vụ án nhưng nếu người THTT đồng thời là người thân thích của những người nêu trên, họ

sẽ vì tình riêng, vì mối quan hệ thân thích mà làm sai lệch nội dung vụ án, lạm dụng quyền lực của mình bao che, tạo điều kiện tốt nhất cho những người TGTT là người thân thích của mình Trong trường hợp này, người THTT phải từ chối THTT hoặc bị đề nghị thay đổi để đảm bảo cho VAHS được giải quyết một cách đúng đắn, bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN được tuân thủ một cách triệt để

Tuy nhiên, trường hợp người THTT là người thân thích của người đại diện hợp pháp, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì pháp luật lại không quy định có phải từ chối hay bị thay đổi hay không Thiết nghĩ, mối quan hệ này cũng khiến cho người THTT không thể vô tư, khách quan nên cần phải bổ sung trường hợp này người THTT phải từ chối THTT hoặc bị thay đổi

Căn cứ thứ hai, Khoản 2 điều 42 BLTTHS quy định: “Họ đã tham gia với tư

cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ

án đó”.

Người bào chữa là người TGTT để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm

chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ TNHS của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp họ những hoạt động pháp lý cần thiết Người bào chữa thực hiện chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo chứ không thể đưa ra các chứng cứ buộc tội cho bị can, bị cáo; nếu để

họ đồng thời là người THTT đương nhiên họ sẽ không khách quan, vô tư; họ sẽ xem xét giải quyết các vấn đề theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo không đảm nguyên tắc xác định

sự thật của vụ án Khi người THTT đồng thời là người bào chữa thì phải từ chối THTT hoặc bị thay đổi Tuy nhiên, pháp luật không quy định trường hợp người THTT đồng thời

là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự thì có phải từ chối THTT hoặc bị thay đổi hay không Về tư cách TGTT thì người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự là như nhau, chỉ khác nhau ở tư cách người TGTT được họ bảo vệ Đây là một hạn chế mà PLTTHS cần khác phục

Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án được

triệu tập đến làm chứng (khoản 1 Điều 55 BLTTHS) Khi TGTT người làm chứng có nghĩa vụ khai báo trung thực tất cả các tình tiết về vụ án Thông thường, khi chứng kiến một vụ án, nguời làm chứng có thể sẽ hình thành định kiến với người thực hiện hành vi phạm tội, họ sẽ có thiện cảm hơn đối với người bị hại Do đó, khi khai báo họ có thể khai những tình tiết không có lợi cho bị can, bị cáo Mặt khác, pháp luật không cấm những người thân thích với nhau không thể được ra làm chứng, nếu họ biết được tình tiết về vụ

án, được TA triệu tập thì họ vẫn có thể tham gia phiên tòa, khi đó, họ có thể sẽ khai báo theo hướng có lợi cho người thân thích của mình Do đó, họ không thể vừa là người đưa

ra các chứng cứ, vừa là người THTT kiểm tra tính đúng đắn, xem xét, đánh giá chứng cứ

mà mình đưa ra

Trang 10

Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định

được Cơ quan THTT trưng cầu theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 60 BLTTHS) Người giám định TGTT theo nghĩa vụ, họ cung cấp những kết luận về lĩnh vực mà họ giám định cho TA Người giám định không thể đồng thời là người THTT vì họ không thể

là người vừa đưa ra các kết quả giám định, vừa là người xem xét các kết luận giám định

mà mình đã đưa ra

Người phiên dịch là người do Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án yêu

cầu trong trường hợp có người TGTT không sử dụng được tiếng Việt (khoản 1 Điều 61 BLTTHS) Người phiên dịch phải đảm bảo nội dung dịch trung thực, nếu có gian dối thì người phiên dịch phải chịu trách nhiệm theo Điều 307 BLHS Do đó, việc người phiên dịch đồng thời là người THTT sẽ không đảm bảo tính vô tư, khách quan trong việc xem xét tính đúng đắn lời dịch của họ, làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án

Các chủ thể nêu trên là những người TGTT theo nghĩa vụ pháp lý hoặc để hỗ trợ pháp lý cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đến vụ án hoặc bị can, bị cáo Họ không chỉ bảo vệ quyền lợi của những người TGTT mà còn giúp cơ quan THTT làm rõ tình tiết liên quan đến vụ án Họ không thể đồng thời là người THTT trong vụ án, một cá nhân không thể cùng lúc đảm nhiệm hai

vị trí tố tụng khác nhau, để đảm bảo cho vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan

Căn cứ thứ ba, khoản 3 Điều 42 BLTTHS quy định: “Có căn cứ rõ ràng khác

để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ”.

Tại điểm c khoản 4, mục I Nghị định 03/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn những quy định về không vô tư khi làm nhiệm vụ như sau: Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng

họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ là ngoài các trường hợp quy định tại khoản

1, khoản 2 Điều 42 BLTTHS thì trong các trường hợp khác (như trong quan hệ tình cảm, quan hệ thông gia, quan hệ công tác, quan hệ kinh tế…) Có căn cứ rõ ràng để có thể khẳng định là Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

Ví dụ: Hội thẩm là anh em kết nghĩa của bị can, bị cáo; Thẩm phán là con rể của bị cáo; người bị hại là Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ của Thẩm phán làm việc… Mà có căn cứ rõ ràng chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế…

Cũng được coi là có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ nếu cùng một phiên tòa xét xử vụ án hình sự, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội Thẩm và Thư ký là người thân thích với nhau

Căn cứ thứ tư, “Đã THTT trong vụ án đó với một tư cách khác tư cách tố tụng

mà họ đang đảm nhiệm” (Điểm b khoản 1 Điều 44, 45, 47, điểm c khoản 1 Điều 46

BLTTHS).

Trang 11

Tức là trong vụ án đó đã THTT với tư cách là Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm hoặc Thư Ký Tòa án (đối với trường hợp thay đổi Điều tra viên); đã THTT với tư cách Điều tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm hoặc Thư ký (đối với trường hợp thay đổi Kiểm sát viên); đã THTT với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án (đối với trường hợp thay đổi Thẩm phán, Hội Thẩm); đã THTT với tư cách Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán hoặc Hội thẩm (đối với trường hợp thay đổi Thư ký Tòa án)

Tại điểm b khoản 6 mục I NQ 03/ 2004 hướng dẫn điểm c khoản 1 Điều 46 BLTTHS có quy đinh “đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng trong vụ án đó” với tư cáchThấm phán, Hội thẩm; nghĩa là đã tham gia giải quyết vụ án

và đã ra bản án sơ thẩm hoặc bản án phúc thẩm hoặc quyết định đình chỉ vụ án Nếu Thẩm phán, Hội thẩm được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm nhưng chỉ tham gia các quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, hủy quyết định đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa, thì vẫn được giải quyết vụ án

Hơn nữa, pháp luật chỉ quy định trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm không được THTT lại với cùng tư cách tố tụng trước đó (điểm c khoản 1 Điều 46 BLTTHS) chứ không có quy định tương tự đối với các trường hợp thay đổi Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án Đây là một thiếu sót mà pháp luật TTHS cần bổ sung để hoàn thiện hơn nữa chế định căn cứ thay đổi người THTT

Ngoài ra, khi Thẩm phán và Hội thẩm cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau thì cũng phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi (điểm b khoản 1 Điều 46), đây có thể là quan hệ thân thích giữa Thẩm phán với Hội thẩm, Hội thẩm với Hội thẩm Việc có quan hệ thân thích giữa các thành viên HĐXX không đảm bảo nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập theo Điều 16 BLTTHS, quyết định của HĐXX có thể bị tác động tiêu cực bởi mối quan hệ thân thích Nếu trong một HĐXX

có hai thành viên thân thích với nhau thì chỉ cần một người bị thay đổi cũng đủ làm triệt tiêu quan hệ thân thích trong tố tụng, do đó, khi hai người thân thích với nhau, thì chỉ có một người bị từ chối hoặc thay đổi

Khoản 8 mục I NQ 03/2004 quy định việc thay đổi người THTT là Chánh án, Phó Chánh án Tòa án: khi Chánh án, Phó Chánh án Tòa án THTT với tư cách là Thẩm phán (chủ tọa phiên tòa hoặc là thành viên HĐXX) có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quy định tại Điều 39 thì sẽ từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định tại Điều 42, Điều

46 BLTTHS Tuy nhiên luật lại không quy định thủ tục thay đổi và những chủ thể nào sẽ

có thẩm quyền thay đổi, đây là một thiếu sót mà pháp luật TTHS cần được ghi nhận và bổ sung

b Quyền đề nghị thay đổi

Theo Điều 43, những chủ thể sau có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng:

Trang 12

Thứ nhất, Kiểm sát viên.

Khi tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước thực hiện nhiệm vụ buộc tội bị can, bị cáo, bảo vệ những lợi ích của Nhà nước và của công dân bị tội phạm xâm hại Ngoài ra, Kiểm sát viên có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự để đảm bảo tính khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật của các hoạt động này Để bảo vệ được quyền lợi Nhà nước, cơ quan, tổ chức cũng như cũng như công dân, pháp luật TTHS quy định họ được quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng khi thấy những người THTT không khách quan, vô

tư trong khi tiến hành tố tụng Quyền này xuất phát từ trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc kịp thời phát hiện và loại trừ khả năng vi phạm pháp luật của người THTT

Thứ hai, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và

người đại diện hợp pháp của họ.

Để đảm bảo cho những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích của mình, pháp luật TTHS quy định cho họ được quyền đề nghị thay đổi người THTT nếu thấy những người THTT đó không vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ

Bị can, bị cáo là những người có quyền và lợi ích đang bị đe dọa, bị hạn chế hoặc tước bỏ nên pháp luật quy định cho họ quyền đề nghị thay đổi người THTT, được lựa chọn những người THTT mà họ tin rằng sẽ khách quan, vô tư khi quyết định các vấn

đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ, để họ tin tưởng vào sự công bằng của pháp luật,

sự quan minh của những người THTT

Người bị hại là người bị tội phạm gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần, tài sản Nếu phát hiện người THTT có ý bao che, gian dối trong khi thực hiện nhiệm vụ thì người bị hại có quyền yêu cầu thay đổi để đảm bảo quyền lợi của mình được giải quyết thỏa đáng hợp lý, công bằng trước pháp luật

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự cũng đặt niềm tin vào những người THTT – những người xem xét, quyết định mức độ thiệt hại và trách nhiệm bồi thường của họ Pháp luật quy định cho họ được quyền đề nghị thay đổi người THTT để quyền lợi của các bên được đảm bảo, vì khi người THTT không khách quan, vô tư, cố ý bảo vệ quyền lợi của một bên nào đó sẽ gây thiệt hại cho bên còn lại

Khi những người nêu trên là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì khi TGTT sẽ có người đại diện hợp pháp, có thể là cha, mẹ, anh, chị em hoặc người giám hộ, họ cũng có quyền đề nghị thay đổi người THTT Quy định này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, tránh những hành vi xâm phạm từ phía những người THTT khi họ là người hạn chế khả năng nhận thức

Trang 13

Thứ ba, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn

dân sự, bị đơn dân sự.

Những người này có quyền đề nghị thay đổi người THTT để bảo vệ quyền lợi của những người mà họ nhận trách nhiệm giúp đỡ khi thấy những người THTT không vô

tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ

Trong quá trình TGTT, người bào chữa được tìm hiểu những tình tiết của vụ án nhằm làm giảm nhẹ TNHS, gỡ tội cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, qua đó kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của những người THTT nhằm phát hiện những người không trung thực, khách quan, vô tư khi THTT, vì quyền lợi của người được bào chữa họ sẽ yêu cầu thay đổi người THTT trong vụ án đó góp phần thực hiện pháp chế XHCN

Với trình độ hiểu biết pháp luật của mình, người bảo vệ quyền lợi dễ dàng nhận

ra những thiếu sót, sai lầm và vi phạm của người THTT từ đó đề nghị thay đổi người THTT nhằm thực hiện vai trò của mình trong quá trình tố tụng: bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, đảm bảo sự công minh của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của những người được bảo vệ công bằng giữa mức độ thiệt hại mà họ gây ra với trách nhiệm bồi thường và hình phạt

Ngoài các chủ thể được quy định tại Điều 43 BLTTHS, tại đoạn 2 khoản 3 Điều

306 BLTTHS quy định đại diện nhà trường, tổ chức tham gia phiên tòa khi bị cáo là người chưa thành niên cũng có quyền đề nghị thay đổi người THTT Tuy nhiên, luật không quy định cụ thể những người THTT nào có thể bị thay đổi trong trường hợp này Nếu chỉ quy định chung chung như vậy có thể dẫn đến hiểu làm rằng họ chỉ có thể đề nghị thay đổi những người THTT tại phiên tòa, cụ thể là Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án chứ không thể là Điều tra viên Pháp luật TTHS cần có những quy định rõ hơn ở trường hợp này

Tuy những chủ thể này có quyền đề nghị thay đổi người THTT những họ cần phải sử dụng quyền này một cách đúng đắn, không được lợi dụng việc này để gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan THTT Người đề nghị thay đổi Điều tra viên, Kiểm sát viên, thành viên HĐXX, Thư ký TA phải nêu rõ lý do và căn

cứ, nếu không có căn cứ rõ ràng về một trong các trường hợp phải thay đổi người THTT theo quy định tại các Điều 42, 44, 45, 46, 47 và Điều 33 BLTTHS thì yêu cầu của họ về việc thay đổi người THTT sẽ không được Thủ trưởng CQĐT, Viện trưởng VKS, Chánh án

TA và HĐXX chấp nhận Hơn thế, “quyết định thay đổi người THTT tại phiên tòa có thể

ảnh hưởng đến uy tín của người bị thay đổi Do đó, cần được HĐXX cân nhắc thận trọng

và theo đúng quy định cuả pháp luật TTHS”.

c Thẩm quyền quyết định sự thay đổi:

Khi có căn cứ thay đổi người THTT mà người THTT không tự mình từ chối THTT thì một trong những chủ thể quy định tại Điều 43 BLTTHS có quyền đề nghị thay

Ngày đăng: 17/08/2014, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w