1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân biệt thẩm quyền của tòa án và viện kiểm sát trong các cấp xét xử

28 2,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 95,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn cuối cùng là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố khi có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ không được khởi tố vụ án hình s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ LỚP QUẢN TRỊ - LUẬT K35

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu Trang 3

A Phân biệt thẩm quyền của Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn trước khi xét xử

1 Giai đoạn khởi tố Trang 4

2 Giai đoạn điều tra Trang 8

3 Giai đoạn truy tố Trang 11

B Phân biệt thẩm quyền của Viện kiểm sát và Tòa án trong các cấp xét xử

4 Giai đoạn xét xử sơ thẩm Trang 15

5 Giai đoạn xét xử phúc thẩm Trang 24

6.

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Tòa án, một danh từ được hầu như mọi người biết đến trong đời sốnghiện nay Nó là một sản phẩm của nền văn minh nhân loại Là biểu tượng của sựcông bằng hiện hữu… Rất nhiều mỹ từ được dùng để mô tả về Tòa án hiện nay

Về nguyên tắc, Tòa án là một trong ba nhánh của của chế độ “Tam quyền phânlập” theo tư tưởng của Roussel Đây chính là một trong những thành tựu lớnnhất của Phương Tây mà Việt Nam đã học hỏi được trong quá trình xây dựng và

đi lên Tương ứng với ba nhánh quyền được phân lập theo học học thuyết, Tòa

án đảm nhiệm nhánh quyền lực tư pháp Có nghĩ là nơi hiện thực hóa Pháp luậtcủa giai cấp thống trị và giữ cho mọi thứ nằm dưới luật pháp

Một vấn đề được đặt ra là liệu rằng có trường hợp người canh giữ Luậtpháp có thể bằng cách nào đó lạm dụng nó chăng? Dùng nó vào mục đích saitrái, hay đạp lên những nguyên tắc mà nó bảo vệ? Câu trả lời là có thể có Vìnhững quyền hạn mà Tòa án nắm giữ cho phép nó chi phối được cán cân công

lý, đổi trắng thay đen Cho nên, cần phải có một cơ quan khác ra đời, tồn tạisong song với nó để kiểm tra và giám sát hoạt động của nó, nhằm đảm bảo rằngTòa án luôn thực thi đúng chức năng của mình

Đó chính là nguyên nhân mà Viện Kiểm Sát ra đời Ở các nước phươngTây, cũng có một cơ quan đóng vai trò là quyền công tố của nhà nước, được gọi

là viện Công tố Hai tên gọi khác nhau nhưng gần như thực hiện cùng một chứcnăng, đó là thay mặt nhà nước thực hiện quyền công tố Trong bộ máy của cácnước xã hội chủ nghĩa hiện nay, Viện kiểm sát được xây dựng bắt nguồn từnguyên tắc “quyền lực thuộc về nhân dân” Khi đó, Viện Kiểm sát được giaochức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nói chung (Hiến pháp 1960,1980).Sau khi đất nước thực hiện cải cách thắng lợi và đạt được nhiều thành tựu vềmọi mặt, năm 1992 hiến pháp mới được ban hành, trong đó quy định rõ hơnquyền hạn và chức năng của Viện kiểm sát là kiểm sát việc tuân theo pháp luật

và thực hiện quyền công tố

Và từ đó thẩm quyền, nhiệm vụ của Viện kiểm sát và tòa án cũng thayđổi cho phù hợp với chức năng của mình trong từng giai đoạn giải quyết vụ ánhình sự khác nhau Trong phần trình bày dưới đây, nhóm chúng em xin giớithiệu và phân biệt thẩm quyền của hai cơ quan trên trong giai đoạn tiền xét xử

và trong các cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm

Trang 4

A Giai đoạn khởi tố vụ án

Định nghĩa: khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng

hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm

để quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án Giai đoạn khởi tố bắt đầu

từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tội phạm và kết thúc bằng một quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Trình tự khởi tố vụ án hình sự có thể chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu, là giai đoạn tiếp nhận tố giác hoặc tin báo về tội phạm Tất cả các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội đều phải có trách nhiệm tiếp nhận sự tố giác hoặc tin báo về tội phạm và có những việc biện pháp cần thiết để ngăn chặn hành vi phạm tội và dấu vết của tội phạm

Sau khi nhận được tố giác hoặc tin báo về tội phạm, cơ quan nhà nước không

có thẩm quyền khởi tố và các tổ chức xã hội phải báo ngay cho Cơ quan điều tra.

Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn kiểm tra xác minh các tin tức về tội phạm được quy định trong điều 103 BLTTHS.

Giai đoạn cuối cùng là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố khi có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự hay không khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm và quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự bao gồm những cơ quan sau đây:

- Cơ quan điều tra

- Viện kiểm sát

- Tòa án

- Bộ đội biên phòng

- Hải quan

Trang 5

1 Về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

Căn cứ theo điều 109 thì trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát

có quyền hạn và trách nhiêm như sau:

Trong mọi hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát đều giữ vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo việc thực hiện đúng đắn trình tự, thủ tục, các quy định của BLTTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng Ở giai đoạn khởi tố cũng vậy, Viện kiểm sát có trách nhiệm cũng là quyền hạn phải thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình sự để lọt tội phạm cũng như làm oan người vô tội Căn cứ vào đó, Việc kiểm sát có quyền và trách nhiệm kiểm sát việc đăng ký và giải quyết các tố giác và tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra Việc kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thông báo về tình hình tội phạm, kiểm tra, đối chiếu sổ sách với Cơ quan điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra giải quyết các tố giác và tin báo đúng thời hạn luật định.

Khi Viện kiểm sát tiến hành hủy bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra và ra quyết định khởi tố vụ án; vì Viện kiểm sát có lý do cho rằng quyết định trên là không có căn cứ.

Khi Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án vì qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

Trang 6

2 Về thẩm quyền của Tòa án trong giai đoạn khởi tố:

Căn cứ theo khoản 1 điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Tòa án có thẩm quyền khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án qua việc xét xử tại phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử.

Trước khi tiến hành xét xử nếu Tòa án phát hiện tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì Tòa án sẽ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, căn cứ theo khoản 1 điều 179

Bộ luật Tố tụng hình sự

3 Phân biệt thẩm quyền của Tòa án và Viện kiểm sát

- Theo điều 136 hiến pháp 1992 quy định: “Các bản án và quyết định của Tòa

án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tộn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Tòa án là cơ quan xét xử

duy nhất ở nước ta và các bản án và quyết định khi xét xử vụ án có hiệu lực của Tòa

án phải được thi hành Vì vậy, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không được khởi tố lại vụ án đó nữa Trong trường hợp có cơ sở xác định bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án không đúng thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

- Về mặt pháp lý, pháp luật quy định Viện kiểm sát có quyền công tố và kiểm sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hoạt động của các cơ quan

có thẩm quyền khác trong giai đoạn khởi tố Do đó, Tòa án cũng chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát Tuy nhiên, trong khoản 1 điều 104 BLTTHS quy định cho Tòa án có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình

sự nếu qua việc xét xử tại tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra Nếu việc yêu cầu của Tòa án là có căn cứ pháp luật, thì Viện kiểm sát phải khởi tố vụ án hình sự, nếu việc yêu cầu là không có căn cứ thì Viện kiểm sát

có thể kháng nghị lên Tòa án cấp trên (theo khoản 3 điều 109 BLTTHS).

Tuy nhiên, trên thực tế quy định này còn rất nhiều bất cập về thẩm quyền của Tòa án và Viện kiểm sát.

Trang 7

 Đối với thẩm quyền của Tòa án trong giai đoạn khởi tố, nhiều quan điểm cho rằng luật quy định thẩm quyền khởi tố là trái với chức năng và nhiệm vụ của Tòa án.

Và quy định này trên cũng không thể thực hiện được trên thực tế.

“Theo LS Đỗ Ngọc Quang, Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng, việc luật trao cho Tòa án có quyền khởi tố vụ án là hết sức vô lý vì Tòa án là cơ quan xét xử Tòa xét xử trên cơ sở quyết định truy tố của VKS Do đó nếu Tòa khởi tố, rồi sau đó lại xét xử chính quyết định khởi tố của mình thì "nghe chừng" khó khách quan và "lấn sân" phần việc của CQĐT Qui định này cũng cho thấy đang có sự thiếu rõ ràng, "nhập nhằng" giữa chức năng điều tra, truy tố và xét xử vì chức năng của Tòa án chỉ là xét xử, là trọng tài để đưa ra phán quyết dựa trên hồ sơ vụ án và sau khi nghe các bên buộc tội,

gỡ tội trình bày quan điểm, chứng cứ.

Một thẩm phán TAND TC đã có thâm niên 30 năm trong nghề cho biết, tuy chưa có thống kê trong toàn ngành Tòa án, nhưng quyền khởi tố của Tòa án dường như chưa hề được áp dụng kể từ ngày Bộ luật TTHS có hiệu lực thi hành, còn bản thân ông qua xét xử, nếu thấy có dấu hiệu tội phạm, hoặc người phạm tội mới thì thường ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để yêu cầu điều tra bổ sung, làm rõ các dấu hiệu, hành vi phạm tội.

Hơn nữa, qua xét hỏi tại Tòa, việc xác định các hành vi có dấu hiệu tội phạm

"phát sinh", hoặc phát hiện ra người phạm tội mới và khẳng định đủ cơ sở để khởi tố

vụ án không hề đơn giản, bởi để ra quyết định khởi tố vụ án, các điều tra viên phải mất một thời gian nhất định để tìm hiểu về vụ việc mới có thể quyết định khởi tố vụ

án Bởi vậy, không ít vụ việc HĐXX thấy có dấu hiệu tội phạm, nhưng để "an toàn" thì không sử dụng quyền khởi tố mà trả hồ sơ và yêu cầu khởi tố.” 1

Đối với thẩm quyền của Viện kiểm sát

Về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, hiện nay cũng có vài quan điểm của những người làm công tác nghiên cứu hay những người làm công việc thực tế đưa ra cần xem xét như sau:

1 Trích từ http://www.baomoi.com/Ky-6-Quyen-khoi-to-chua-Toa-cap-nao-dung-den/58/9192013.epi

Trang 8

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án Sau đó, quyết định khởi tố vụ án sẽ được chuyển qua để Viện kiểm sát kiểm tra, giám sát Quy định này được nêu ra nhằm thực hiện chức năng kiểm sát trong quá trình tố tụng của Viện kiểm sát Về phần khởi tố bị can, thì quyết định khởi tố phải do Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Về mặt lý luận, quy định này dường như rất chặt chẽ vì quá trình khởi tố được tiến hành và giám sát cẩn thận bởi hai cơ quan riêng biệt Nhưng trên thực tế, quy định này lại khó thực hiện vì Viện kiểm sát không thể nắm được thực chất việc khởi tố được thực hiện bởi cơ quan điều tra, bởi vì còn tồn tại nhiều bất cập trong quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin

Còn về thẩm quyền ra quyết định thay đổi hay bổ sung quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát cũng có khá nhiều điều đáng suy nghĩ Tại khoản 1 điều 127 Bộ

luật Tố tụng hình sự quy định “khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi

phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can” Về điều luật này, tiến sĩ Đỗ Ngọc Quang trong bài viết “Hoàn thiện

thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư

pháp” đã đưa ra nhận định sau: “Việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đã

dẫn đến sự tùy tiện của Cơ quan điều tra trong việc truy đến cùng, người có quyết định khởi tố bị can phải phạm vào một tội nào đó (bằng việc chuyển hết tội danh này sang tội danh khác)” Âu cũng là một điều đáng suy ngẫm !

B Giai đoạn điều tra vụ án

I Quyền Công Tố:

Khái niệm “quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận chính thức làtrong các văn bản luật pháp là trong hiến pháp 1980 (điều 138) và trong hiếnpháp năm 1992 (điều 137) Đây là một trong những căn cứ để xác lập vai trò củaViện kiểm sát trong hệ thống pháp lý của Việt Nam Theo định nghĩa của từ điểntiếng Việt thì “công tố” có nghĩa là các hoạt động điều tra, truy tố và buộc tội kẻphạm tội trước tòa Như vậy, về mặt ngữ nghĩa, ta có thể hiểu rằng quyền công

Trang 9

tố chính là quyền tạo nên đặc trưng của Viện kiểm sát Không có quyền công tố,Viện kiểm sát chỉ đóng vai trò như một cơ quan giám sát bình thường

Đây chính là điểm làm nên sự khác biệt giữa Viện kiểm sát và Tòa ántrong quá trình điều tra vụ án Lật lại toàn bộ các văn bản luật, ta không hề thấyhoặc khó có thể thấy được vai trò rõ rệt của Tòa án trong giai đoạn này Hãynhìn nhận lại vai trò của hai cơ quan này và đối chiếu với chức năng được quyđịnh trong luật, ta sẽ thấy được điều cần làm rõ

Điều tra, như đã nói là một hoạt động cần thiết trong xét xử ở Tòa án Bất

cứ một vụ án hình sự nào xảy ra, yếu tố được quan tâm nhất chính là bằngchứng, chứng cứ Bởi sau khi thực hiện tội phạm, kẻ phạm tội thường có xuhướng che giấu nó, hoặc biến đổi hình thái pham tội nhằm mục đích thoát tộihoặc làm nhẹ tội danh đã phạm phải… Lúc này đây, chứng cứ trở thành thứ duynhất mà cơ quan chức năng còn có thể sử dụng để tìm ra sự thật Hoạt động thuthập chứng cứ được thực hiện suốt trong quá trình điều tra vụ việc bởi những cơquan điều tra khác nhau tùy vào tính chất của vụ việc đang diễn ra

Viện kiểm sát với chức năng kiểm sát tính hợp pháp của công tác giảiquyết vụ án nên nó có quyền giám sát các cơ quan điều tra trong quá trình làmviệc Chính điều này giúp loại trừ những hành vi phạm pháp trong quá trình tiếnhành tố tụng Về cơ bản, việc thực hiện quyền công tố nhằm đạt được mục đíchbảo vệ các nguyên tắc luật định, tránh phạm sai lầm do các yếu tố chủ quan, duy

ý chí từ phía cơ quan Tòa án Do tòa án là một cơ quan đặc thù chuyên về xét

xử, nên mọi thứ được sử dụng làm công cụ phá án đối với tòa án mà nói, phảimang tính khách quan Nói cách khác, trong xét xử, Tòa án chỉ được sử dụngnhững gì được xem là độc lập, là xuất phát từ khách quan đã qua kiểm chứng

mà không được tùy tiên đưa ra bất kì một nội dung nào khác ngoài những nộidung đã quy định, nghĩa là tránh việc xảy ra trường hợp “vừa đá bong, vừa thổicòi” Nếu trong một vụ án được xét xử, Tòa án vừa xét xử, vừa kiêm luôn việcđiều tra thì rất khó tránh khỏi việc kết quả của vụ án bị bẻ cong theo quan điểmcủa HĐXX Cho dù hiện nay, về thực tế, công tác điều tra là thuộc về các cô

Trang 10

quan điều tra do Luật TTHS quy định nhưng cũng không có một cơ sở nào lấylàm chắc chắn rằng kết quả đó là khách quan.

II Vai trò kiểm sát:

Đây chính là câu trả lời cho vấn đề được đặt ra ở trên Để đảm bảo tínhkhách quan trong quá trình điều tra vụ việc, ta cần “kiểm tra” và “giám sát” quátrình đó Nội tại chức năng “kiểm sát” của Viện kiểm sát đã bao hàm hai hoạtđộng đó

Để công bằng trong xét xử, đòi hỏi những người có trách nhiệm trong quátrình xét xử phải tuyệt đối chí công vô tư, quang minh chính trực, gạt bỏ mọiyếu tố làm ảnh hưởng có thể khiến tư duy không còn được khách quan, gây nênthiên lệch trong quá trình xét xử Tuy nhiên, đã là con người thì không phải aicũng có thể tránh được sai lầm, cám dỗ khi đang làm việc Vậy nên, vấn đềkiểm tra và giám sát các hoạt động tố tụng đã hình thành từ rất sớm trong quátrình hình thành và phát triển của loài người Trong thần thoại Hi Lạp cũng có

để cập đến một phiên tòa mà chính các vị thần lần lượt đóng các vai trò như

“người tố cáo”, “người bênh vực”, và “người phán xét”… Dù chỉ là một câutruyện thần thoại, nhưng nó đã phản ánh rõ nhận thức của người xưa về một cơchế hoạt động hiệu quả cho Tòa án, và ngày nay, trong ngành tư pháp hiện đại,những điều đó đã trở thành cơ chế và nguyên tắc hoạt động

Nguyên tắc đó chính là có một cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụcông tố và kiểm sát mọi hoạt động xét xử của Tòa án.Với quyền công tố, ta đãnêu ở trên nên không cần phải nhắc lại Đối với vai trò kiểm sát, Viện kiểm sátluôn là bên chủ động thực hiện nhằm bảo đảm rằng các quy định của pháp luậtđược tuân thủ một cách nghiêm túc bởi các cơ quan thi hành

Trong hệ thống tư pháp các nước tiến bộ trên thế giới, cơ quan tiến hànhthực thi quyền công tố và kiểm sát chính là viện công tố (VCT) VCT đầu tiên

Trang 11

xuất hiện ở Pháp vào năm 1302 duới triều vua Philippe IV như là cơ quan đạidiện cho lợi ích của nhà vua trong cuộc đấu tranh chống lại sự lạm quyền củacác lãnh chúa phong kiến để củng cố quyền lực của mình Thuật ngữ “công tốviên” chỉ được sử dụng vào đầu thế kỷ XVIII Lúc đầu chức năng của VCTkhông hoàn toàn là chức năng pháp lý Theo nhà sử học người Nga V.I.Veritenhicốp thì VCT được xem như là “đôi mắt của nhà vua để thông qua đó

có thể theo dõi sự vận hành của toàn bộ bộ máy nhà nước có đúng hay không”.Các công tố viên thực hiện nghĩa vụ của mình mọi lúc mọi nơi để bảo vệ lợi íchcủa nhà vua, theo dõi hoạt động của các quan chức có đáp ứng yêu cầu của nhàvua hay không? Trọng tâm trong hoạt động của VCT Pháp là bảo vệ ngân quỹnhà nước Lúc đó hoạt động xét xử của tòa án là một trong những nguồn thuchính của ngân quỹ nhà nước do vậy công tố viên có nhiệm vụ phát hiện và đưacác vụ việc vi phạm pháp luật của nhà vua đến tòa án để xử lý và tác động saocho quyết định của tòa án có lợi cho nhà nước VCT của Pháp là mẫu hình tiêubiểu của VCT nhiều nước ở phương Tây Sau này, trong quá trình phát triển,VCT dần dần được hoàn thiện them những chức năng của nó và đạt được sựhoàn thiện như ngày hôm nay, và tùy theo điều kiện đặc thù của mỗi vùng quốcgia hay lãnh thổ mà quyền hạn của VCT có sự khác biệt Tuy nhiên, dù có khácbiệt thế nào đi chăng nữa thì chức năng kiểm sát sự tuân thủ pháp luật của các

cơ quan tư pháp là yếu tố không thể tách rời được

C Giai đoạn truy tố

Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự do Viện kiểm sát (VKS) có thẩmquyền tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết nhằm buộc tội bị can trước Tòa

án (TA) có thẩm quyền thể hiện qua bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố

Có thể thấy, thông qua định nghĩa thì giai đoạn truy tố chỉ do một chủ thếduy nhất là VKS thực hiện Do vậy, nhiệm vụ của giai đoạn này cũng là nhiệm

vụ của VKS Nhiệm vụ của VKS có hai nội dung cơ bản là thực hảnh quyền

Trang 12

công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Riêng trong giai đoạn truy tố,nhiệm vụ của VKS có những nét đặc thù cụ thể như sau:

- Đối với nhiệm vụ thực hành quyền công tố, VKS có quyền khởi tố vụ án,khởi tố bị can; trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung; khi cần thiết có thể trực tiếpđiều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết địnhđình chĩ, tạm đình chỉ vụ án…

- Đối với nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKS có quyền kiểmsát các hoạt động điều tra thông qua kết quả điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án;kiến nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp xử lý hành vi viphạm pháp luật…

 Hoạt động của VKS trong giai đoạn truy tố:

Trong giai đoạn truy tố, VKS thực hiện các hoạt động bắt đầu từ việc tiếpnhận hồ sơ vụ án từ cơ quan có thẩm quyền về điều tra Sau đó người có thẩmquyền của VKS phân công Kiểm sát viên tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án vàtiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, nếu thấy cần thiết thì VKS sẽ tiến hành trao đổi với Tòa án Cáctrường hợp trao đổi trong Thông tư liên tịch số 01 ngày 8/12/1988 của Tòa ánnhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định tại phần II nói vềvấn đề họp trù bị như sau:

- Khi Tòa án thấy cần trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, đổi tộidanh nặng hơn hoặc áp dụng khung hình phạt nặng hơn;

- Khi Tòa án thấy cần đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;

Trang 13

Nếu vấn đề cần trao đổi không quá phức tạp thì kiểm sát viên được phâncông thụ lý vụ án sẽ trực tiếp trao đổi với Thẩm phán được phân công chủ tọaphiên tòa Nếu vấn đề phức tạp thì có thể mời lãnh đạo của Tòa án và Viện kiểmsát tham dự trao đổi hay có thể có sự có mặt của đại diện cơ quan điều tra, cơquan giám định cùng tham gia trao đổi nhằm đưa ra những kết luận quyết địnhcủa việc giải quyết vụ án trong khuôn khổ của pháp luật Những quyết định củacác bên có thống nhất hay không thì cũng không ảnh hưởng đến sự quyết địnhnội dung của việc truy tố của VKS.

Trong trường hợp bị can bỏ trốn ảnh hưởng đến việc truy tố và buộc tội

bị can của VKS, VKS sẽ làm văn bản yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết địnhtruy nã bị can

 Trong giai đoạn truy tố, VKS có quyền ban hành những quyết định sau:

1 Quyết định chuyển vụ án

Về thẩm quyền truy tố, thẩm quyền chuyển,thủ tục chuyển, thời điểmchuyển vụ án…, Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) không có quy định cụ thể.Theo nguyên tắc, trong quá trình tố tụng thì thẩm quyền của truy tố sẽ căn cứvào thẩm quyền điều tra Có nghĩa là cơ quan điều tra nào, cấp nào có thẩmquyền điều tra, đề nghị truy tố thì VKS nơi đó, cấp đó sẽ có thẩm quyền truy tố

Và trong thực tiễn, VKS thường căn cứ vào trình tự, thủ tục chuyển vụ án tronggiai đoạn điều tra được quy định tại điều 116 BLTTHS

Do đó có thể thấy, VKS chỉ có quyền truy tố những bị can trong vụ ánthuộc thẩm quyền của mình

2 Quyết định áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: cơ sởpháp lý được quy định tại khoản 2 Điều 166 BLTTHS

3 Quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung

VKS ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sungtrong 3 trường hợp sau:

Trang 14

- VKS thấy hồ sơ vụ án còn thiếu những chứng cứ quan trọng mà VKSkhông thể tự mình bổ sung được

- Khi VKS có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc pháthiện có người đồng phạm khác

- VKS phát hiện có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng Tuy nhiên,BLTTHS chưa có quy định cụ thể rõ ràng vi phạm như thế nào mới được xem lànghiêm trọng mà VKS có những căn cứ nhất định trong thực tiễn để xem xétviệc trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung

4 Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án cơ sở pháp lý căn cứ vàoBLTTHS quy định tại khoản 2 điều 164 BLTTHS

5 Quyết định truy tố bị can thông qua bản cáo trạng

Bản cáo trạng là văn bản tố tụng hình sự do VKS đưa ra trên cơ sở nghiêncứu hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra Cơ quan điều tra khi có đầy đủ chứng

cứ để xác định tội phạm và bị can Đây là cơ sở để xác định phạm vi xét xử củaTòa án, là cơ sở để Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử

VKS phải chuyển giao bản cáo trạng và toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án

có thẩm quyền, đồng thời VKS phải giao bản sao bản cáo trạng cho bị can Tòa

án có quyền từ chối nhận hồ sơ vụ án nếu VKS chưa giao bản cáo trạng cho bịcan Vì căn cứ theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP, phần I, mục 1.1 quy định

về việc nhận hồ sơ vụ án và thụ lý hồ sơ vụ án có nêu rõ nếu các tài liệu cótrong hồ sơ vụ án chưa đầy đủ so với bản kê tài liệu hoặc bản cáo trạng chưađược giao cho bị can, Tòa án có quyền không nhận hồ sơ vụ án vì chưa đúngquy định của BLTTHS

 Phân biệt thẩm quyền của Tòa án và Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố:

- Đầu tiên, như đã được định nghĩa ở phần trên, chỉ có VKS mới có quyềntruy tố Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra và đề nghị truy tốcủa cơ quan có thẩm quyền, VKS xét thấy có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm

Ngày đăng: 17/08/2014, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w