1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”

69 893 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 716,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

các sản phẩm đậu đũa an toàn đòi hỏi phải sử dụng thuốc hoá học hợp lý. Cơ sở của việc dùng thuốc hoá học hợp lý phải hiểu biết về thành phần sâu hại, đặc điểm sinh học, sinh thái học, quy luật phát sinh của sâu hại và ý nghĩa của biện pháp phi hoá học trong phòng trừ chúng trên cây đậu đũa. Với yêu cầu thực tế trên và để đáp ứng sản xuất đậu đũa an toàn.

Trang 1

Đậu đũa là loại rau ăn quả giàu protein, trồng vụ hè cho năng suất cao nhất Cây đậu đũa ưa ánh sang mạnh, chịu được nhiệt độ cao (300C) Đậu đũa không kén đất nhưng thích hợp với các loại đất tơi xốp, dễ thoát nước, nhất là thời kỳ tháng 9, tháng 10 mưa nhiều, tốt nhất nên chọn đất thịt nhẹ có pH từ 6 đến 7 Đất trồng đậu đũa nên trồng luân canh với các cây trồng khác, đặc biệt là lúa nước Đậu đũa có 2 nhóm giống: giống quả ngắn, chiều dài quả 20 – 25cm, hạt dày, thịt quả chắc, ăn ngon; giống quả dài, chiều dài quả >30cm, hạt thưa, thịt quả xốp, lóng dài, ăn nhạt, giống quả dài cho năng suất cao hơn giống quả ngắn

Thành phần dinh dưỡng của đậu đũa: Trong 100g quả đậu đũa có 47mg Canxi; 8,3g đường tổng số; 3,2g protein; 0,5g chất béo; 0,2g chất xơ; 1,6 mg sắt; 22mg Vitamin C và 1,8mg Vitamin PP (Rubatzky, 1997) [40]

Ngoài việc sử dụng làm rau, đậu đũa còn là vị thuốc Theo đông y cổ truyền, đậu đũa (chủ yếu là hạt), có vị ngọt hơi mặn, tính bình, có tác dụng bổ tỳ,

vị, điều hoà ngũ tạng, bổ thận và sinh tuỷ Tại Ấn Độ, đậu đũa được dùng nấu ăn

để trị giun sán, bồi bổ dạ dày, nước ép từ lá có thể sử dụng cho mục đích y học (Xu, 1993) [54] Lá non và giá của đậu đũa có thể sử dụng làm rau

Việt nam có lịch sử trồng đậu đũa lâu đời, thống kê cho thấy đậu đũa được dùng làm thức ăn cách đây khoảng 5 – 6 ngàn năm Hiện nay đang được trồng ở

Trang 2

hầu hết các vùng ở nước ta Cây đậu đũa sinh trưởng và phát triển thích hợp trong điều kiện nhiệt độ 20 – 300C, độ ẩm >70% Trong điều kiện này cây đậu đũa là đối tượng cho nhiều loại côn trùng và bệnh gây hại Theo đánh giá của các nước trên thế giới năng suất đậu có thể bị giảm từ 10 – 60% do sâu hại gây nên (Kay,1079) Cây đậu đũa có tác dụng cải tạo và nâng độ phì nhiêu đất, do bộ rễ

có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần để cố định đạm từ nitơ không khí tạo thành đạm mà cây có thể sử dụng được, hàng năm có thể để lại cho đất từ 200 –

300 kg N/ha (Lê Văn Cẩn, 1976) [2 ] Hiện nay để phòng trừ sâu hại chính trên cây đậu đũa trên thế giới cũng như ở nước ta chủ yếu là dung thuốc hoá học Ở nước ta trong một vụ phải phun thuốc từ 4 – 12 lần, lượng thuốc dùng cho một

ha thường tăng gấp đôi so với lượng thuốc sử dụng trên rau thập tự, do vậy trong

20 mẫu đậu đũa phân tích thì 14 mẫu có dư lượng vượt mức cho phép của FAO- WHO (trung tâm kiểm định thuốc BVTV phía Bắc, 1994)

Vì vậy muốn có sản phẩm đậu đũa an toàn đòi hỏi phải sử dụng thuốc hoá học hợp lý Cơ sở của việc dùng thuốc hoá học hợp lý phải hiểu biết về thành phần sâu hại, đặc điểm sinh học, sinh thái học, quy luật phát sinh của sâu hại và

ý nghĩa của biện pháp phi hoá học trong phòng trừ chúng trên cây đậu đũa Với yêu cầu thực tế trên và để đáp ứng sản xuất đậu đũa an toàn Được sự đồng ý của

bộ môn Côn trùng – khoa Nông hoc, với sự hướng dẫn trục tiếp của T.S Trần

Đình Chiến và Th.s Nguyễn Đức Khánh chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu

2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”

Trang 3

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở điều tra thu thập thành phần côn trùng và thiên địch của sâu hại chính trên đậu đũa vụ hè thu, đồng thời xác định mối quan hệ giữa một số loài bắt mồi quan trọng với sâu hại Từ đó, đề xuất các biện pháp phòng chống sâu hại đậu đũa đạt hiệu quả kinh tế và môi trường

- Nuôi sinh học sâu đục quả đậu (Maruca testulalis Geyer.) trong phòng

thí nghiệm để tìm một số đặc điểm sinh vật học của chúng

- Xác định hiệu quả của biện pháp hoá học trong việc phòng trừ sâu hại trên cây đậu đũa

Trang 4

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Tình hình sản xuất cây đậu đũa

Cây đậu đũa Vigna unguiculata ssp sesquipedalis L là cây chiếm một

vị trí khá quan trọng trong đời sống con người về nguồn gốc đậu đũa có nhiều ý kiến trái ngược nhau Có ý kiến cho rằng có nguồn gốc từ Trung và Đông châu Phi (Tạ Thu Cúc, 2005; Maghirany,1991) [3], nhưng theo (www.echotech Org) [65] lại cho rằng đậu đũa có nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc Còn (www.ngb Org/gardening/fact) [66] thì cho rằng đậu đũa

có nguồn gốc từ Đông Nam Á và hiện nay được trồng rộng rãi ở châu Á, châu Âu và gần đây nhất đây là châu Mỹ Quá trình trồng cây đậu đũa gắn liền với lịch sử trồng cây lúa miến và cây kê ở trên thế giới người ta trồng đậu đũa với nhiều giống khác nhau và cho năng suất khác nhau

Khu vực Đông Nam Á: Ở Indonesia, có 7 giống được đánh giá là nổi bật nhất có năng suất hơn 19 tấn/ha (Piluek và cộng sự, 1996) [34]; Ở Malaysia cho thấy có 6 giống cho năng suất quả trung bình hơn 17 tấn/ha; Ở Philippines có 4 giống cho năng suất cao và ổn định trong cả hai mùa, năng suất quả tươi trung bình vào mùa khô là 1,16 tấn/ha, vào mùa mưa là 4,41 tấn/ha Mặc dù cho năng suất thấp hơn các giống của 3 nước trên nhưng đều cho năng suất cao hơn những giống được trồng ở nước ta

Ngày nay, ở Việt Nam đậu đũa giữ một vai trò nhất định trong hệ thống luân canh cây trồng và có ý nghĩa hơn đối vùng chuyên canh cây rau màu Do nhu cầu sử dụng rau xanh của người dân ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của xã hội, có ý nghĩa trong việc đáp ứng nhu cầu rau ở các thời kỳ rau giáp vụ

Trang 5

Đậu đũa được trồng ở khắp các khu vực trên đất nước ta, và có lịch sử lâu đời Nhưng chúng được trồng ở khu vực Bắc Bộ là nhiều nhất và cho năng suất cao nhất

Ở Việt Nam, số lượng giống còn ít mới chỉ chọn lọc ra được giống HA05

do Viện Nghiên cứu Rau quả chọn ra từ 30 giống có nguồn gốc địa phương và nhập nội từ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển châu Á Nhưng chủ yếu được trồng là các giống nhập ngoại, trong đó giống YP5 có nguồn gốc từ Đài Loan được nhập vào nước ta từ năm 1992 Vũ Tuyên Hoàng và CTV (1997) [7] đã phân lập và chọn ra dòng đậu đũa S5 ổn định về cả đặc tính sinh học cũng như các đặc tính kinh tế, cho năng suất cao nhất vào vụ xuân hè khoảng 15 – 20 tấn/ha, quả dài (>60), quả xanh hấp dẫn, ăn giòn và ngọt

2.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại đậu đũa

Cây đậu đũa là cây trồng quan trọng ở nhiều nước trên thế giới, có tác dụng cung cấp một lượng thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho con người, được coi là nguồn cung cấp protein cho các quốc gia đang phát triển (Gethi

và Khaemba, 1985; Alghli, 1991) [19] và có tác dụng cải tạo đất rất tốt cho cây trồng vụ kế tiếp như lúa, ngô…Tuy nhiên, việc trồng đậu đũa cũng gặp không ít khó khăn, trong đó phải kể đến sự có mặt và gây hại của nhiều loài dịch hại ( chủ yếu là côn trùng gây hại)

Số lượng sâu hại chính trên đậu đũa khá đa dạng và phong phú

Nghiên cứu của Eruch cho thấy ở Nam Nigeria, loài rầy xanh (Empoasca colichi Paoli) và sâu đục quả (Cydia plychora Meyr) là những loài sâu hại

phổ biến Còn ở vùng Đông Uttar Paradesh (Ấn Độ) đã xác định được 8 loài

sâu hại chính, đó là Madurasia obscurella Jac, rầy xanh (Empoasca kerri Pruthi), ruồi đục thân (O phaseoli), rệp đậu (Aphis craccivora Koch), Acrocercops spp., sâu đục quả đậu (Euchrysops cnejus F.), bọ trĩ hại hoa (Megalurothrips distalis Karny.) và bọ xít (Ripturtus sp.)

Trang 6

Ở vùng Bắc Kinh (Trung Quốc), sâu đục quả đậu (Maruca vitrata Geyer.) và sâu đục quả (Lampides boeticus L.) được coi là những loài sâu

hại quan trọng trên đậu đũa (Luo và CTV, 1992) [25] Còn bọ trĩ hại hoa

(Megalurothrips usitatus (Bagn.) là loài sâu hại quan trọng trên đậu đũa ở

Đài Loan (Niann, 1990) [28]

Theo thống kê chung của các nước trên thế giới năng suất của đậu đũa

có thể bị giảm từ 10 – 60% do sâu hại gây nên (Kay,1979) [20] Các nghiên cứu cho thấy ở Ghana đã xác định được 7 loài gây hại chính trên đậu đũa trong 150 loài côn trùng gây hại Theo Campell và W.Reed (1986) [14], ở Ấn

độ có trên 200 loài sâu hại đậu đũa, ở giai đoạn cây con chúng cắn chết cây, làm khuyết và giảm mật độ cây Ở vùng Đông Nam Á và Nam Á trên đậu đũa có 10 loài sâu hại chính Theo Waterhouse (1998) [59], ở vùng Đông Nam Á đã ghi nhận có 30 loài gây hại trên đậu đũa thuộc 6 bộ côn trùng và lượng này ở từng nước này như sau: Campuchia và Myanma mỗi nước có 11 loài, Indonesia có 15 loài, Brunei 5 loài (ít nhất), Malaysia 26 loài, Lào 10 loài, Singapore 17 loài và Thái Lan 20 loài Theo Waterhouse (1974) [60], ở Myanmar và Thái Lan tương ứng có 4 và 9 loài sâu hại chính nhưng chỉ có

loài Helicoverpa armigera Hubn là loại sâu hại quan trọng Nghiên khác của

Porn Suddhiyam và Somjai Kowsurat cũng chỉ ra rằng trên cây đậu đũa ở Thái Lan có 4 loài sâu hại chính là: bọ phấn, rệp đậu, sâu đục quả đậu và sâu xám Theo Wanchai Thanomsub và Anat Watanasit [61] có 3 loài sâu hại

chính trên cây đậu đũa: Heliothis armigera, Etiella zinckenella và maruca testulalis Ở Campuchia và Brunei đều có loài Helicoverpa armigera (Hubn)

và Maruca testulalis (Geyer) là sâu hại quan trọng, ở Lào có 4 loài sâu hại chính được phát hiện thì loài Helicoverpa armigera và Ophiomyia phaseoli

(Tryon) là 2 loài quan trọng Tại Malaysia đã xác định được 11 loài sâu hại

chính, trong đó có 6 loài quan trọng là: Heliothis armigera Gour, Maruca

Trang 7

testulalis Geyer, Ophyonyia phaseoli, Chromatomyia horticola Gour, Anomis flava Fabr và Callosubsuchos chinensis L Gần đây bọ trỹ đã trở

thành loài gây hại phổ biến và quan trọng trên đậu đũa Theo Spencer (1973), hiện nay có nhiều cây thực phẩm (kể cả đậu đũa, đậu trạch, đậu cove) bị ruồi đục lá hại rất nặng phần lớn là các loài ruồi đục lá thuộc giống

Liriomyza, Phytomyza, Chronyatomyia (Diptera: Agromyzidae)

Các loài sâu hại đậu đũa gây ra những tổn thất đáng kể cả về mặt năng suất và chất lượng quả Theo ước tính của Saxenna và CTV (1978) [42], con

số này dao động từ 53 – 98% nếu không tiến hành các biện pháp phòng trừ Theo Rejesus (1978) [40], thiệt hại năng suất trên cây đậu đũa là 66 – 100% Theo Liao C.T.j- và Lin C.S.(2000) [25] Theo Sing và Allen (1980) [45], sâu

đục quả Maruca testulalis có thể làm giảm năng suất hạt đậu đũa từ 20 –

60% nếu không phòng trừ Ở Băngladesh, Ohno và Alam (1989) [32] cho biết, sâu đục quả có thể gây hại tới 54,4% quả đậu đũa khi thu hoạch và làm giảm năng suất khoảng 20% Theo Ogunwolu (1990) [31], ở Nigieria năng suất đậu đũa giảm từ 48 – 72% do sâu hại, còn theo Bal (1991), nếu không phòng trừ bọ trĩ thì năng suất đậu đũa giảm đi từ 30 – 90% Theo Singh và Van Emden (1979) [52]; Taylor (1964) [47] (dẫn theo Nguyễn Quý Dương,

1997) [6] Năng suất cây đậu đũa giảm tới 60% do sự gây hại của loài M testulalis và nó còn kết hợp với loài bọ trĩ Megalurothrip sjostedti làm mất

khả năng sinh sản của hoa

Có một số lượng lớn các loài sâu hại gây ra các tác hại khác nhau cho

cây đậu đũa Trong số 85 loài tấn công trên đậu đũa, loài M testulalis được

coi là loài sâu hại chính (Atachi và Ahohoendo,1989; Singh, 1980) [11] Theo Reed và Lateef (1990) [41] loài M testulalis là nguyên nhân chính gây

ra việc giảm năng suất cây đậu đũa ở khu vực nhiệt đới ẩm Trong khi đó ở

Trang 8

vùng cận nhiệt đới thì 2 loài H armigera (Hubner) và M obtusa là 2 loài có

sự gây hại quan trọng nhất

Trong số các loài sâu hại trên đậu đũa thì sâu đục quả đậu M testulalis

được ghi nhận là loài sâu quan trọng nhất Theo singh (1978) và Taylor (1974) [44] từ những nghiên cứu thực địa cho thấy sâu đục quả có thể xuất hiện và gây hại sớm từ trước khi cây đậu đũa ra hoa và sống trên búp, ngọn, thân cây, ở các chồi Thời điểm đậu đũa ra hoa thì sâu non chủ yếu sống trên hoa và nụ hoa, khi có quả sâu non tấn công đục vào quả Taylor (1974) [48] cho rằng loài sâu này là nguyên nhân chính gây mất mùa đậu ở Nigeria do chúng phá hoại khoảng 50% số lượng quả xanh Theo các thông số về sự giảm năng suất ở tất cả các vùng và các mùa trồng đậu đũa thì loài sâu đục quả luôn có sự gây hại nghiêm trọng cả ở trên hoa và quả Trong hầu hết các

trường hợp, sự gây hại của loài M.testulalis gây hại cho quả có sự liên quan

chặt chẽ với số lượng sâu non có ở trên quả Số lượng sâu non và khả năng gây hại của chúng đối với hoa và quả luôn là nguyên nhân dẫn đến việc giảm năng suất của đậu đỗ (Odulja và Oghiakhe, 1993) [30] Mức độ gây hại đối với bất cứ quả nào đều phụ thuộc và số lượng sâu non hiện có Taylor (1967) [49] ước tính rằng một con sâu non có thể gây hại từ 10-20% trọng lượng của một quả

Theo Atachi và ctv CTV (1989) [11], ở Becnin, mật độ sâu đục quả đạt cao nhất vào thời điểm 40-70 ngày sau trồng, ngoài sâu đục quả ra thì bọ trĩ cũng luôn có mật độ cao trong cả vụ Theo kết quả nghiên cứu của Karel

(1985) [85] thì sâu đục quả đậu (M.testulalis) và sâu xanh (Heliothis armigera) là hai loài sâu nguy hiểm nhất trên đậu cove Thiệt hại do hai loài

này gây ra trên hoa trung bình là 31%, trên quả sâu xanh gây hại khoảng 13%, sâu đục quả là 31% Năng suất hạt cũng bị giảm từ 33-53% do hai loài này, trong đó chủ yếu là do sâu đục quả gây ra

Trang 9

Sâu đục quả đậu đỗ (M.testulalis) phân bố rất rộng trên cây đậu đỗ ở

các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới thuộc châu Phi, châu Á và vùng Thái Bình Dương Vùng phân bố chính xác được xác định từ đảo Verde ở Tây Phi, kéo dài về phía Đông tới Kiji, Samoa và cả Tây Ấn, Nam Mỹ Ngoài ra nó còn xuất hiện trên đậu đũa ở một phần của phía Nam châu Phi (Phelp và Ootihuigen, 1958), miền Nam nước Mỹ (Williamson, 1943) và Úc (Paslow, 1968) Sâu đục quả đậu đũa được phát hiện lần đầu tiên trên cây “Katjan” (một loại đậu) ở Indonexia (Dielx, 1914) Nó được Hubner mô tả đầu tiên và sau khi ông mất Geyer đã công bố kết quả này Tuy những nhà phân loại học ngày nay cho rằng Geyer mới là người đã mô tả về loài sâu đục quả đậu

Maruca testulalis

Sâu đục quả có thể gây hại trên cây đậu đũa ngay khi hạt mới nẩy mầm, giai đoạn cây con cho đến khi cây ra hoa kết quả Sâu non của sâu đục quả nhả tơ kết các lá non lại rồi đục lá (đối với sâu non tuổi nhỏ) hoặc đục từ qua lại từ bên nọ sang bên kia (đối với sâu non tuổi lớn) Sâu non có thể tấn công trực tiếp vào các bộ phận còn non như làm mất đỉnh ngọn cây đậu đũa

ở giai đoạn ra hoa và hình thành quả, nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của cây trồng Điều kiện thuận lợi cho việc ra hoa và hình thành quả cũng thường là điều kiện thuận lợi cho sâu đục quả sinh trưởng và phát triển Trưởng thành đẻ trên là đài và cánh hoa, sâu non sau khi nở ra di chuyển dọc theo mép cánh hoa rồi đục lỗ chui vào bên trong nụ hoa Chúng chủ yếu tấn công vào bộ phận sinh sản của hoa, trước tiên là bao phấn, chỉ nhị, vòi nhụy, bầu nhụy sau đó đến tràng hoa Triệu chứng mà chúng để lại trên hoa

là cánh hoa bị biến màu, mất màu Sự tái tạo của các phần của hoa bị ảnh hưởng thậm chí bị mất hẳn Các hoa bị sâu non bị phá hoại sẽ thối và rụng

Vì vậy việc sâu non của sâu đục quả đũa xuất hiện sớm ở giai đoạn cây ra nụ hoa có liên quan chặt chẽ đến sự thiệt hại về năng suất (Akinfewa, 1975)

Trang 10

(dẫn theo Nguyễn Quý Dương, 1997) [6] Kết quả điều tra nghiên cứu về sự phân bố của sâu non sâu đục quả đậu đũa trên các tầng ra hoa và sự biến động về mật độ của chúng ở Shang hua, Đài Loan cho thấy: sự phân bố của sâu non sâu đục quả đậu đũa không có sự khác biệt giữa các tầng hoa và tầng quả Thông thường, trên mỗi nụ hoa có từ 1 đến vài sâu non, trong khi trên quả có một số lượng lớn 4 – 5 sâu non được tìm thấy Sự phát triển của sâu non không diễn ra trên hoàn toàn một hoa mà chúng thường di chuyển từ hoa này đến hoa khác sau khi đã tấn công các bộ phận sinh sản của hoa, trung bình một sâu non có thể phá hại từ 4 – 6 hoa (Liao và Lin, 2000) [25] Khi hoa đậu quả thì chúng chuyển sang gây hại cho quả non và các hạt đang phát triển Ngoài ra chúng có thể phá hoại ở vùng cuống quả, cuống lá và cành non, Taylor (1967) [49] Theo Usua và Singh (1975) [53], sự tấn công gây hại vào thân cây cũng gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt đối với giống đậu đũa thân mềm Tuy nhiên theo các số liệu thống kê cho thấy thiệt hại lớn nhất xảy ra khi sâu non xuất hiện nhiều ở giai đoạn cây ra hoa

rộ và giai đoạn hình thành quả non

Những đặc tính sinh học, sinh thái cơ bản của loài M testulalis đã

được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu cả trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng Wolcott (1930) [63] là người đầu tiên đưa ra những mô tả tổng quát về quá trình phát triển của 3 loài sâu đục quả trên cây đậu Lima ở Puerto Rico Tác giả Taylor (1967) [49] nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu này ở phía Nam Nigreia Sau đó Akinfewa (1975) [10], Usua và Singh (1975), Usua (1977) [53] đã bổ sung thêm chi tiết về đặc điểm sinh học của loài này Pornparn Suddhiyam và Somjai Kowsurat [35]

cũng chỉ ra rằng loài sâu đục quả M.testulalis là một trong 4 loài sâu bệnh

nguy hiểm cho các vùng trồng đậu đũa ở các vùng trồng đậu đũa ở Thái Lan năm 1997/ 1998 Liao và Lin (2000) [25] nghiên cứu về đặc tính gây hại và

Trang 11

phân bố của loà M testulalis trên cây đậu đũa ở các tuổi sâu non ở Đài Loan

Các tác giả Nitonifor; Jackai; Ewete (1996) [29]thuộc viện Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế ở Ibadan, Nigeria nghiên cứu về phổ kí chủ và tập tính

sinh sống của loài M testulalis Geyer trong phòng thí nghiệm và trong nhà

lưới từ trưởng thành đến thế hệ F1 Các nhà nghiên cứu đều đưa ra nhận định, rất khó ghép đôi và đẻ trứng khi nuôi trong phòng thí nghiệm Do vậy phải có sự kết hợp với các nghiên cứu ngoài đồng ruộng để đưa ra các kết luận chính xác

Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, sâu đục quả thường đẻ trứng trên

nụ hoa và hoa của cây đậu đũa Tuy nhiên trong một số trường hợp cũng tìm thấy trứng trên lá, nách lá, đỉnh sinh trưỡng cả quả (Bruner, 1931; Wolcott, 1933; Krishwasnurthy, 1936, 1967) [13] Khi theo dõi vị trí đẻ trứng của loài sâu này trên cây đậu đũa Wallis và Byth (1986) [64]cũng có kết luận tương

tự Nghiên cứu về đặc điểm của trứng loài sâu đục quả, Taylor (1967) [49] cho thấy, trứng có hình bầu dục, kích thước 0.65 x 0.45mm, màu vàng nhạt trên bề mặt có những đường cân hình mạng lưới Theo Jackai (1981) [56] trứng thường có đường kính 0.35mm và rất khó phát hiện khi nhìn bằng mắt thường Việc xác định khả năng đẻ trứng của trưởng thành tương đối khó khăn do vị trí đẻ trứng luôn thay đổi Theo kết quả nghiên cứu của Taylor (1967) [49] thì một trưởng thành cái có thể đẻ từ 8 – 140 quả trứng, còn theo Akinfewa [10] là từ 6 – 189 quả Jackai, Ochieng và Raulson (1990) [57] khi nuôi sâu trong phòng thí nghiệm với tỷ lệ 10 đực : 10 cái cho kết quả trung bình 440 trứng, cao hơn nhiều so với các kết quả nghiên cứu trước đó Kết quả giải phẫu một con trưởng thành cái thời kì chuẩn bị sinh sản cho thấy có

200 – 300 quả trứng đã phát triển đầy đủ (Taylor, 1967) [49] Trứng thường được đẻ thành từng đợt, mỗi đợt có từ 2 – 16 quả (Taylor, 1967; Jackai và cộng sự 1990) [49]

Trang 12

Thời gian phát dục của trứng là từ 2 – 3 ngày (Taylor, 1967; Akinfewa, 1975) [49] (dẫn theo Nguyễn Quý Dương, 1997) [6], kết quả nghiên cứu của Ramasubramanian và Babu (1989) trên 3 loài cây thuộc họ đậu cũng cho kết quả tương tự Ở Đài Loan, thời gian phát dục của trứng được ghi nhận là 4 – 5 ngày (Chang và Chen, 1989) [15] Đặc tính ghép đôi của sâu đục quả cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Jackai, Ochieng và Raulson (1990) [57], nếu trưởng thành ghép đôi trong 4 – 5 đêm thì sẽ cho tỷ lệ giao phối và đẻ trứng cao nhất Theo các tác giả trên thì trưởng thành đực có khả năng giao phối nhiều lần trong khi trưởng thành cái chỉ giao phối một lần Quá trình giao phối thường diễn ra trong khoảng từ 21 – 220C và ẩm tương đối cao 80 – 100%, cao điểm của sự giao phối vào lúc 2 – 3 giờ sáng

Giai đoạn của sâu non của loài M testulalis Geyer có 5 tuổi (Taylor,

1967; Kochler và Mehta, 1972) [49] Thời gian phát dục sâu non từ 8 – 13 ngày và 10 – 14 ngày theo kết quả của Akinfewa (1975) [10] Theo kết quả nghiên cứu của Ramasubramanian và Babu (1989) [39] thì thời gian phát dục của trứng trên đậu đũa là 13,86 ngày Nghiên cứu của Chang và Chen (1989) cho kết quả là 20 – 24 ngày Taylor (1978) [50] cho rằng thời gian phát dục của sâu non kéo dài khoảng 3 tuần Sâu non tuổi 5 chuẩn bị hoá nhộng, chúng thường nhả tơ, dệt một lớp kén mỏng Giai đoạn này được gọi là thời

kì tiền nhộng, thường được kéo dài 1-2 ngày Sâu non thường hoá nhộng ở dưới đất ở độ sâu 2-3cm tuy nhiên trong điều kiện không thuận lợi cho việc hoá nhộng ở dưới đât chúng có thể hoá nhộng ngay ở trên cây bằng cách nhả

tơ kéo gập mép lá vào thành tổ, hoặc kết kén giữa các lá sát nhau Khi sâu non vừa hoá nhộng thì nhộng có màu vàng, sau chuyển sang màu sẫm Thời gian phát dục của pha nhộng thường kéo dài từ 6-8 ngày Các kết quả nghiên cứu của Ke, Fang, Li (1985) [22] tại Quảng Châu-Trung Quốc cho thấy

Trang 13

nhộng của loài M.testulalis thường qua đông trong các lớp đất bề mặt, đến

tháng 5 mới vũ hoá trưởng thành bay ra

Sau khi vũ hoá trưởng thành cái không đẻ trứng ngay mà nó cần một thời gian ăn thêm để hoàn thành bộ máy sinh sản Vào thời gian này chất lượng thức ăn có sự ảnh hưởng rất lớn đến thời điểm bắt đầu đẻ trứng và số lượng trứng đẻ Nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy nếu được ăn thêm bằng dung dịch đường glucose 25% thì sau khi vũ hoá 3-4 ngày trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng Sự đẻ trứng đạt mức cao nhất là khoảng 6-8 ngày sau khi giao phối Trung bình trưởng thành cái sống từ 8,5-

10 ngày, trưởng thành đực có khoảng thời gian ngắn hơn 5,9 – 6,1 ngày

Việc nghiên cứu khả năng đẻ trứng của loài M.testulalis trên một số loài cây

kí chủ khác nhau nhằm xác định kí chủ phù hợp cho việc nhân nuôi chúng trong phòng thí nghiệm cho kết quả là số trứng được đẻ và tỉ lệ nở cao nhất ở trên cây đậu ván (Ramasubramanian và Babu, 1989) [39] Thời gian phát dục của sâu non trên đậu ván ngắn nhất (12.9 ngày) và trưởng thành vũ hoá từ những sâu non cũng có thời gian sống lâu hơn Từ đó hai tác giả này đi đến kết luận rằng đậu ván là thức ăn thích hợp cho việc nhân nuôi loài sâu này trong phòng thí nghiệm

Ngoài việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của loài sâu đục quả

M testulalis, nhiều nhà khoa học cũng đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm

sinh thái học của chúng Tại Đài Loan, sâu đục quả xuất hiện quanh năm và

số lượng quần thể tăng dần từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Vòng đời của chúng có sự thay đổi theo vùng sinh thái, ở miền Nam Nigeria là 18 -35 ngày

còn ở miền Bắc là 30 -35 ngày (Booker, 1965) [12] Loài M testulalis luôn

có những giai đoạn phát triển khác nhau trong suốt năm nhờ vào hai nguồn thức ăn chính là những cây trồng chính được trồng ở vùng đất được canh tác

và những cây hoang dại Sự tồn tại của của loài sâu đục quả phụ thuộc vào

Trang 14

sự tồn tại của các kí chủ mà không phụ thuộc vào sự ngủ nghỉ bắt buộc (diapause) hay sự ngủ nghỉ do điều kiện thời tiết bất thuận (Ananthakrishnan

và Gopichandran, 1993) [10] Những cây trồng có sẵn trong tự nhiên vừa là nguồn cung cấp thức ăn vừa là nơi cư trú và nơi đẻ trứng cho sâu hại này (Van Emden,1981; Way và Heong, 1994) [51] Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, chúng không có thời gian ngừng hoạt động, sâu non của loài sâu này có thể phát triển và gây hại bất cứ mùa nào trong năm do chúng có phổ kí chủ rộng (cây trồng, cây dại và cả nông sản trong quả trình bảo quản)

và khả năng gây hại của chúng) trên mọi bộ phận của cây: Lá hoa, quả,

hạt…) Ở Nigeria thời gian hoạt động của trưởng thành loài M testulalis trên

đậu đũa đã được Nitonifor và cộng sự (1996) [29] xác định thông qua bẫy ánh sáng Kết quả cho thấy loài sâu này tập trung chủ yếu gây hại chủ yếu vào 2 vụ: từ tháng 6 đến tháng 8 và từ tháng 10 đến tháng 11 ở Nam Nigeria;

từ tháng 7 đến tháng 10 ở Bắc Nigeria Ở gần khu vực trồng đậu đũa (ở Châu Phi) người ta tiến hành thu thập định kì các loài sâu hại trên hoa các giống cây đậu đũa của loài sâu đục quả Số liệu điều tra của các loài sâu hại đó để

so sánh (so sánh về số lượng các loài sậu hại có mặt trên cây kí chủ dại và

trên cây đậu đũa) Kết quả cho thấy loài M testulalis rất hiếm có mặt trên

cây kí chủ dại mà thường xuyên có mặt trên ruộng trồng đậu đũa Điều này cho thấy rằng số lượng cùng với tính chất bề ngoài của các loài kí chủ quyết

định kích cỡ của chủng quần sâu hại (Zebitz, Zenz, koch,1999) [55]

Ngày nay, ở Việt Nam nền kinh tế đã có những bước phát triển mạnh

mẽ, làm cho đời sống người dân ngày càng được nâng cao, dẫn đến nhu cầu

về rau sạch và an toàn cũng được chú trọng hơn Mặt khác, cây đậu đũa giữ vai trò nhất định trong hệ thống luân canh, cải tạo đất cho vùng chuyên canh trồng rau Nhưng do dân trí chưa thực sự cao và người dân vẫn đặt vấn đề năng suất lên hàng đầu, sử dụng thuốc hoá học vẫn tỏ ra hết sức tuỳ tiện

Trang 15

Điều này chứng tỏ rằng những nghiên cứu về sâu hại đậu rau và đậu đũa nói riêng ở nước ta có được quan tâm nhưng chưa nhiều

Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản của Viện BVTV năm 1967 –

1968 ở phía bắc và năm 1977 – 1978 phía Nam ghi nhận có 39 loài sâu hại, trong đó có 5 loài thu thập trên cây đậu đũa và đậu co ve, đó là, loài sâu đục

quả M testulalis đã có mặt ở hầu hết các tỉnh trong cả nước như: BắcThái,

Hà Giang, Hà Nội, Hà Tây, Lào Cai, Thái Bình, Thanh Hoá, Quang Bình Ngoài sự gây hại cho các cây trồng thuộc họ đậu như lạc, đậu tương,

đậu đen, điền thanh, sâu đục quả đậu đậu đỗ M.testulalis còn xuất hiện trên

một số cây trồng khác như lúa, khoai lang, cao lương, vông, dâu, chè, cao su, rau cải, bí ngô, cà pháo, cam, quýt, mơ, mận, bắc hà

Trên cây đậu đũa, một số loài sâu hại chính cũng được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Theo Trần Hồng Lập và Hoàng Thị Dung (1978) [8] loài sâu đục quả này chủ yếu gây hại trên các cây họ đậu với tỉ lệ khá cao: Trên đậu đũa là 70-80%, đậu bở là 40,3%, đậu cobơ 9,5% Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Cung và CTV (1996) cho thấy sâu đục quả và rệp muội là những sâu hại quan trọng trên đậu rau Còn theo Nguyễn Thị Nhung (2001) [9] thì loài sâu đục quả là một trong 8 loài sâu xuất hiện thường xuyên và phổ biến trên cây đậu ăn quả Cũng theo tác giả này, loài

M.testulalis là đối tượng gây hại nặng nhất, tỉ lệ quả bị hại có thể lên tới

50,65% và cao nhất vào tháng 5 Sâu đục quả phát sinh quanh năm trên cây đậu ăn quả và có hai đỉnh cao mật độ trong năm, đỉnh cao thứ nhất thường vào tháng 5, có mật độ trung bình dao động từ 26,2-42,2 con/100 quả, đỉnh cao thứ 2 vào tháng 10 mật độ dao động từ 12,6-20,4 con/100 quả Mật độ sâu đục quả trong một vụ đậu trạch, đậu đũa đạt đỉnh cao ở giai đoạn đầu của

vụ thu hoạch

Trang 16

2.3 Tình hình nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu đũa

Cây đậu đũa, cây leo cao kết hợp với việc sử dụng thuốc hoá học còn nhiều và liên tục, đây chính là nguyên nhân chính ảnh hưởng tới thành phần,

số lượng thiên địch chống lại sâu hại

Theo kết quả nghiên cứu về thiên địch của sâu hại chính trên đậu đũa trên toàn thế giới, trong các tài liệu tham khảo được, chưa thấy có tài liệu nào thống kê hoàn chỉnh số lượng các loài thiên địch mà chỉ nêu đến thiên địch của một số loài cụ thể

Theo Lateef và Reedy (1984) [24] đã thu thập được 16 loài kí sinh sâu đục quả

Theo Waterhouse và CTV (1987) [59], ở Srilanca đã phát hiện được 9 loài kí

sinh sâu đục quả trong đó loài kí sinh nhộng Antrocephlus nr subelongatus,

có vai trò quan trọng hơn cả, có khả năng gây chết cho 12 -20% nhộng M testulalis Ở Ghana có 6 loài kí sinh sâu non sâu đục quả đậu đũa, trong đó 3

loài thuộc bộ Diptera , 2 loài thuộc bộ Hymenoptera và 1 loài thuộc bộ Acarina Kết quả nghiên cứu thành phần kẻ thù tự nhiên sâu hại ở Srilanka cho thấy chúng bị kí sinh bởi 5 loài ong kí sinh, trong đó có 2 loài thuộc họ Braconidae và chlcididae, 3 loài còn lại thuộc các họ celionidae, Eulophidae

và chalcididae

Theo Waterhouse và Norris (1987) [60] thì quần thể ruồi đục lá trên đậu đũa ở Vanuatu bị kiềm chế bởi ong kí sinh thuộc họ Eulophydae

Khi nghiên cứu về rệp đậu (Aphis craccivora), nhiều tác giả chỉ ra

rằng, có nhiều thiên địch tấn công và hạn chế loài rệp này, trong đó quan

trọng nhất là loài bọ rùa, điển hình là loài bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus F., bọ rùa chữ nhân (Coccinella repanda Thunb., bọ rùa 2 mảnh đỏ (Lemnia biplagiata Swartz), bọ rùa 8 vạch đen (Harmonia dimidiata F.)…(Prasuraman, 1989) [34]

Trang 17

Kết quả nghiên cứu của EPPO (1989), chỉ ra rằng, có 20 loài thiên

địch của bọ trĩ (Thrips palmi), trong đó quan trọng có 7 loài bọ xít bắt mồi, gồm 6 loài thuộc họ Anthocoridae (Orius insidiosus, O masidentex, O minutus, O sauteri, O similis, O tantillus) và 1 loài thuộc họ Miridae (Campylomma sp.)

Trước những năm 2000, đã có nhiều công bố về thiên địch ở Việt Nam, tuy vậy vẫn chưa có công bố nào chuyên về thiên địch trên đậu rau Từ những năm 2000 đến nay đã có một số tác giả nghiên cứu về thiên địch trên đậu rau trong đó có đậu đũa đã thu được một số kết quả

Nguyễn Thị Nhung và CTV (2000) [8], khi nghiên cứu về sâu hại đậu rau vùng ngoại thành Hà Nội và phụ cận đã đưa ra kết luận, thành phần và mật độ thiên địch trên đậu đũa, đậu trạch, đậu cove là tương tự nhau và rất nghèo nàn, qua điều tra ghi nhận được 3 loài bọ rùa (bọ rùa đỏ, bọ rùa chữ nhân, bọ rùa 6 chấm), 1 loài giòi ăn rệp, một vài loài nhện lớn, bọ cánh cứng,

bọ 3 khoang, chúng tồn tại trên đồng ruộng với mật độ thấp (<1 (con/m2), còn vào tháng 6, 7, 10, 11 mật độ cao hơn (khoảng 1 – 3 con/m2)

Theo Đặng Thị Dung (2004) [5], khi nghiên cứu thành phần côn trùng

kí sinh của 4 loài sâu hại chính trên đậu rau (sâu cuốn lá, sâu đục quả, sâu khoang, ruồi đục lá) đã phát hiện ra 14 loài côn trùng kí sinh, trong đó 12 loài thuộc bộ cánh màng, 2 loài thuộc bộ 2 cánh Tỷ lệ sâu hại bị kí sinh là khá cao, sâu cuốn lá bị kí sinh từ 8,6% - 27%, sâu đục quả từ 4% - 6,8%, ruồi đục lá 32,2% – 46,1%

2.4 Các biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây đậu đũa

Biện pháp cổ điển nhất nhưng mang lại hiệu quả cao trong việc hạn chế sự gây hại của các loài sâu hại đó là biện pháp canh tác Biện pháp này đặc biệt có ý nghĩa đối với vùng chuyên canh trồng rau với diện tích lớn Người dân có thể thu hái các quả bị sâu đục quả hoặc bóp chết sâu non ngay

Trang 18

trong đường đục của sâu ngay trong quả và vẫn để quả ở trên cây (Van Emden, 1978), kết hợp với việc vệ sinh đồng ruộng, nhổ bỏ cỏ dại và ngắt bỏ những lá già ở tầng dưới giúp ruộng thông thoáng nhằm làm là mất chỗ cư trú của sâu hại khi áp dụng các biện pháp canh tác khác

Thực hiện biện pháp canh tác trồng xen giữa cây đậu đũa với cây trồng cạn khác như ngô, bông, sắn cũng có hiệu quả trong việc hạn chế sự gây hại

của sâu đục quả M testulalis Tuy nhiên việc lựa chọn trồng xen là rất quan

trọng Theo Ezuch, Taylor (1984) [18], gieo đậu đũa đồng thời cùng ngô sẽ làm cho số lượng sâu đục quả tăng lên Nếu gieo đậu đũa vào tuần thứ 12 sau khi gieo ngô sẽ có tác dụng giảm sự gây hại của 3 loài sâu hại chính trong đó

có sâu đục quả đậu

Mật độ gieo trồng cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh gây hại của các loài sâu hại và năng suất cây trồng Theo Karel và Mghogho (1985) [23], đậu đũa được trồng với mật độ 200.000 – 290.000 cây/ha thì hoa và quả bị gây hại ít nhất Sự gây hại nặng nhất diễn ra trên ruộng trồng với mật độ 100.000 cây/ha Năng suất cũng như kích cỡ hạt đạt mức cao nhất ở những ruộng trồng với mật độ 200.000 cây/ha

Thời vụ trồng có ảnh hưởng lớn đến thiệt hại do sâu hại gây ra Theo Taylor (1967) [49] đã tiến hành theo dõi đánh giá thiệt hại do sâu đục quả gây ra ở Nigeria ở các thời vụ khác nhau và đi đến kết luận rằng, sự thiệt hại diễn ra ở vụ mùa sớm ít hơn vụ mùa muộn, số lượng quần thể sâu hại có xu hướng tăng dần trong vụ mùa sớm, chúng sẽ tích luỹ và gây hại nặng ở những cây đậu ở vụ mùa muộn

Taylor (1967) [49] cho rằng lượng mưa cũng có ảnh hưởng đến quá trình chín của quả và như vậy ảnh hưởng đến khả năng tấn công của sâu non sâu đục quả vào quả và mô quả Nếu lượng mưa ở đầu vụ mà lớn thì sâu non

Trang 19

xuất hiện sớm trên quả Nếu lượng mưa kéo dài ở cuối vụ thì làm cho sâu non của sâu đục quả có thời gian tồn tại lâu hơn

Đặc điểm thực vật học về các giống đậu đũa cũng ảnh hưởng đến mức

độ hại của sâu hại nghiên cứu của Taylor (1989) [50] chỉ ra rằng độ dày của

mô ở cuống quả và quả tỷ lệ thuận với tính kháng của sâu ở các giống đậu khác nhau Theo Jakai và Oghiakhe (1989) [58], lông phủ trên thân, lá và quả nhiều thì giảm được mức độ hại của sâu, do đó các giống hoang dại có nhiều lông hơn nên sẽ ít bị hại hơn là các giống mới và giống thuần hoá

Ngoài các biện pháp kĩ thuật có sự can thiệp của con người như trên để giúp cho cây tránh khỏi sự gây hại của sâu hại, việc tạo ra tính kháng chủ động cho cây có ý nghĩa rất quan trọng cho công tác phòng chống sâu bệnh ngoài đồng ruộng Việc tạo ra các giống đậu đũa có tính kháng có thể được thực hiện thông qua việc phát hiện và chọn lọc các cây có tính kháng ở trong

tự nhiên hoặc lai tạo giữa các giống có khả năng kháng sâu nhằm tích luỹ tính kháng cho các tổ hợp lai hoặc nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực di truyền để tạo ra các giống có gen kháng

Công tác phòng trừ hiện đại sâu hại đậu đũa gắn liền với sự khai thác mối quan hệ sinh học giữa các loài sâu hại và các côn trùng khác có mối quan hệ mật thiết với chúng trong mạng lưới dinh dưỡng, đó chính là việc khai thác kẻ thù tự nhiên để phòng trừ chúng Trong công tác phòng trừ sâu hại chính mà đó là sâu đục quả đã được nghiên cứu từ lâu Theo Waterhose

và CTV (1987) [65], kí sinh có thể gây chết cho 12 – 20% nhộng

M.testulalis Theo Murphy (1999) [27], sâu đục quả có 2 loài kí ấu trùng quan trọng là Baeoglatha sp và Cotesia sp.… Các tác giả Zebitz, Zenz,

Koch (1999)[55] khi nghiên cứu kí sinh sâu đục quả ở 3 địa điểm ở Châu Phi

là Lema, Tokpa Ayou và IITA cho thấy các vụ trước cao hơn các vụ tiếp theo Tỷ lệ sâu non chết do kí sinh thứ tự là 18,7%; 3,8%; và 1,6% Loài kí

Trang 20

sinh quan trọng nhất trên sâu non là loài ong Phanerotoma leucobasis, Dolichogeniea sp và Braunsia Kriegeri (Hymenoptera: Braconidae) đã được

công nhận từ số liệu nghiên cứu của Lema

Bên cạnh hướng dùng các loài kí sinh thì hướng dùng các vi sinh vật gây bệnh cho sâu đục quả cũng là một hướng có triển vọng Viêc thử nghiệm

chế phẩm Bacillus thurigensis (BT) trên sâu đục quả cũng cho những kết quả

đáng khích lệ (Taylor,1968) [49] Tại Kenya các nhà khoa học đã thu thập mẫu của loài sâu này trên đậu đũa cho thấy vi khuẩn gây bệnh ở 2 pha nhộng

và sâu non với tỷ lệ mắc bệnh là 62,2% Ngoài ra còn phát hiện được 2

chủng vius là Nuclear polyhedrosis và Granulosis virus gây bệnh cho sâu

non với tỷ lệ 2,7% ở trong phòng và 1,1% ở ngoài đồng

Việc phòng trừ các loài sâu hại bằng các biện pháp kỹ thuật canh tác, biện pháp sinh học, sử dụng giống chống chịu phải thường xuyên diễn ra và liên tục mới có hiệu quả cao Nhưng khi mật độ của các loài sâu hại đến mức cao thì phải dùng đến các biện pháp hoá học nhằm làm giảm số lượng sâu hại và bảo vệ năng suất cây trồng Các thuốc hoá học để phòng trừ sâu hại thuộc nhiều nhóm: Chlo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat, Pyrethroit (Amatobi, 1995) [10] Ở Trung Quốc, vào các năm 1978 – 1979, người ta sử dụng thuốc DDVP để phu cho cây đậu với mức 2 – 3 lần/ 1 vụ khi mật độ sâu trên hoa lên đến 40%, đã thu được kết quả tốt Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy khi phun thuốc oxydemeton-methyl 0,0025% hoặc Monocrotophos 0,04% cho năng suất cao hơn từ 30 – 58% so với ruộng không xử lý Theo Don Herbison Evans, Stella Crooley và Bart Hacobian [17] cho rằng, nếu mật độ của sâu non đục quả ở mức 3 con/ 1m2 thì cần phun thuốc

Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc hỗn hợp các loại thuốc trừ dịch hại cho hiệu phòng trừ cao hơn, nhất là vùng sâu bệnh cùng tập trung gây hại nặng Theo Oladiran và Oso (1985) [33], khi sử dụng hỗn

Trang 21

hợp Benomyl 0,5 kg/ ha với Monocrotophos 0,7 kg/ ha vào thời điểm 35 –

49 ngày sau khi trồng đậu đũa cho kết quả phòng trừ tốt với sâu đục quả

Việc lựa chọn thời điểm phun thuốc cũng ảnh hưởng tới hiệu quả phòng trừ sâu hại Sâu đục quả thường rời bỏ chỗ ẩn nấp vào lúc chiều tối do

đó phun thuốc vào thời điểm này cho hiệu quả cao nhất Vào thập niên 20 biện pháp phòng chống sâu hại đã ra đời và người ta quá lạm dụng điều đó,

vì nó giải quyết vấn đề cơ bản tiêu diệt nhanh các loài sinh vật gây hại Tuy nhiên việc dùng thuốc hoá học đã để lại những hậu quả trực tiếp cho con người và môi trường xung quanh Do vậy, cùng với hướng sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học trong công tác bảo vệ thực vật, các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm đến việc tìm ra các thuốc thảo mộc có khả năng phòng trừ sâu hại mà chủ yếu là sâu đục quả đậu Ở Nigeria và các nước khác, qua nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy rằng trong dịch chiết của lá, quả và hạt xoan có hỗn hợp các chất Tetranortripterpionid và Azadirachtin có tác dụng mạnh trong việc gây ra sự ăn ngán cho sâu đục quả đậu Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy loại dịch chiết này có thể gây chết 100% sâu non của sâu đục quả Ưu điểm lớn nhất là thuốc thảo mộc không gây độc cho con người và kẻ thù tự nhiên của sâu hại

Tóm lại, trong công tác phòng trừ sâu hại và phòng trừ sâu hại chính trên đậu đũa thì các biện pháp đơn lẻ sẽ không cho kết quả cao nhất, mà cần phải có sự chủ động phối hợp các biện pháp đó dựa vào sự hiểu biết các mối quan hệ và tác động của 3 yếu tố: cây trồng – sâu hại – môi trường mới đem lại hiệu quả cao nhất

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu hại còn hạn chế, các tài liệu đề cập tới một số biện pháp phòng trừ sâu hại trên cây đậu rau và đậu đũa nói riêng còn ít Nguyễn Văn Cảm (1996) [1] cho rằng có thể

sử dụng chế phẩm Basillus thuringensis (BT) để phòng trừ sâu đục quả M

Trang 22

testulalis Geyer tuy nhiên còn kém hơn nhiều so với biện pháp hoá học, gần

đây nhất là nhóm nghiên cứu gồm Nguyễn Thị Nhung và CTV (1996 – 2000) [8] Qua nghiên cứu về thành phần và đặc điểm phát sinh gây hại đã đưa ra một số biện pháp phòng chống nhưng chủ yếu là thuốc hoá học

Ở các vùng trồng đậu đũa của nước ta việc sử dụng thuốc hoá học là biện pháp chủ yếu để phòng trừ sâu hại Rất nhiều loài thuốc đã được khuyến cáo sử dụng trên đậu đũa như: Cidim 50ND, Padan 95WP, Sherpa 25EC Hoàng Anh Cung và CTV (1996) [4] đã khảo nghiệm 8 loại thuốc khác nhau đối với sâu đục quả và đưa ra 2 loại thuốc có hiệu lực cao nhất là Sherpa và Sumicidin 20EC, với Sherpa và Sumicidin 0.1% phun 3 lần/ 1 vụ khoảng cách là 5 ngày phun một lần sau khi đậu ra quả.l Nhưng các loại thuốc này ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, thiên địch và môi trường

Để tạo điều kiện khuyến khích và phát triển sản xuất cây đậu đũa ở trong cả nước đặc biệt là các điểm trồng rau chuyên canh, việc nghiên cứu chính xác về đặc điểm sinh học, đặc tính sinh thái, sự phân bố và tập tính gây hại ở các vùng miền cũng như các nghiên cứu về kẻ thù tự nhiên của sâu đục quả sẽ là cơ sở vững chắc cho việc lựa chọn các biện pháp phòng chống sâu hại hợp lý và có hiệu quả kinh tế cao

Trang 23

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các loài côn trùng trên đậu đũa

- Các loài nhện lớn bắt mồi trên đậu đũa

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

- Các giống đậu đũa trồng tại Gia Lâm – Hà Nội

* Nhiệt ẩm kế Trung Quốc

* Sổ sách gi chép số liệu điều tra

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Trên các vùng trồng đậu đũa tại xã Gia Lâm – Hà Nội

- Bộ môn côn trùng Khoa Nông Học trường Đại học Nông Nghiệp I

Trang 24

3.1.4 Thời gian nghiên cứu

- Từ ngày 26/06/2007 đến 15/01/2008

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra xác định thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi sâu hại chính

trên đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội

- Theo dõi diến biến mật độ sâu hại chính và thiên địch

- Tìm hiểu ảnh hưởng của thuốc hoá học đến sâu hại chính và thiên địch

3.3 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ số theo dõi, xử lý số liệu

3.3.1.Phương pháp nghiên cứu

+ Điều tra thành phần trên ruộng đậu đũa: điều tra tự do để thu thập thành

phần sâu hại và thiên địch Điều tra ngẫu nhiên mỗi điểm 1 m2, quan sát và thu

bắt tất cả những loài côn trùng có mặt trên điểm điều tra

+ Điều tra diễn biến mật độ sâu hại và thiên địch phổ biến: điều tra theo

phương pháp 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1 m2, định kỳ 5 ngày một lần

+ Phương pháp giám định mẫu: Mẫu côn trùng hại đậu đũa và nhện lớn

bắt mồi sâu hại chính được giám định theo tài liệu chuẩn quốc tế tại phòng thí

nghiệm Côn trùng – Bộ môn côn trùng – Trường ĐHNNI – Hà Nội

3.3.2 Các chỉ số theo dõi, tính toánh, xử lý số liệu

- Chỉ số theo dõi và tính toán

- Lập bảng thành phần sâu hại và côn trùng, nhện lớn bắt mồi trên đậu đũa Mức độ xuất hiện: - : Rất ít (< 20% số lần bắt gặp)

+ : ít ( 21 – 40% số lần bắt gặp) ++ : Trung bình ( 41 – 60% số lần bắt gặp) +++ : Nhiều ( > 60% số lần bắt gặp)

* : Sâu hại chính

Trang 25

- Mật độ sâu hại chính và côn trùng, nhện lớn bắt mồi

Mật độ (con/m2) = Tổng số cỏ thể điều tra được

Tổng số m2 điều tra

Mật độ (con/lỏ) = Tổng số cỏ thể điều tra được

Tổng số lỏ điều tra Kớch thước trung bỡnh của cơ thể:

n1, n2, …ni là thời gian sống trung bỡnh của từng cỏ thể

N: Tổng số cỏ thể theo dừi

Thời gian phỏt dục trung bỡnh của một cỏ thể:

n

Xi: Thời gian phỏt dục của cỏ thể thứ i

ni : Số cỏ thể chuyển pha trong ngày thứ i

Cb: là số cỏ thể sống ở cụng thức đối chứng trước khi phun

Ca: là số cỏ thể sống ở cụng thức đối chứng sau

Tb là số cỏ thể sống ở cụng thức thớ nghiệm trước khi phun

Trang 26

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thành phần sâu hại đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội

Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần sâu hại đậu rau Nhưng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu riêng cho cây đậu đũa Tất nhiên

do chúng đều thuộc cây đậu rau nên có thể là thức ăn chung cho nhiều loại sâu hại Trên các cây họ đậu khác nhau sẽ có những loài sâu hại chính cũng khác nhau Các chỉ tiêu mà chúng ta theo dõi có thể thay đổi tuỳ theo sự thay đổi của các yếu tố sinh thái (khí hậu thời tiết, giống đậu, kỹ thuật canh tác, đặc biệt là sự tác động của thuốc hoá học) Vì vậy, chúng tôi đã tìm hiểu các chỉ tiêu trên trong

vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội Kết quả điều tra, thu thập các loài sâu hại trên đậu đũa được ghi lại ở bảng 1

Trang 27

Bảng 1: Thành phần sâu hại đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội

Maruca testulalis Geyer

Spodoptera litura Fabr

I sp

Helicoverpa armigera Hubner

Euproctis sp

Pyralidea Noctuidae Pyralidae Noctuidae Lymantridae

+++ (*) + +

Oxya velox Fabr

Atrctomorpha chinensis Bolivar

Brachitrupes portentosus Licht

Acrididae Acrididae Gryllidae

+ +

+ +

Trang 28

Nezara viridulala Linnaeus

Leptocorisa acuta Thunberg

Scotinophora lurida Burm

Cletus punctiger Dallas

Megacopta sp

Piezodorus hybneri Gmelin

Pentatomidae Alydidae Pentatomidae Alydidae Plataspidae Pentatomidae

++

- +

Câu cấu xanh lớn

Epicauta impressicornis Pic

Epilachna vigintioctopunctata Fabr

Phyllotreta striolata Fabr

Hypomemes squamosus Fabr

Meloidae Coccinellidae Chrysomelidae Curculionidae

+ + + +

Trang 29

Số liệu bảng 1 cho thấy, trong điều kiện vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội, trên cây đậu đũa xuất hiện 17 loài sâu hại thuộc 6 bộ và 19 họ côn trùng Trong đó Bộ cánh vảy (Lepidoptera) có nhiều loài nhất gồm 5 loài thuộc 2 họ côn trùng, Bộ cánh nửa (Hemiptera) có 3 loài thuộc 2 họ, Bộ cánh cứng có 4 loài thuộc 4 họ, Bộ hai cánh có 1 loài thuộc 2 họ, Bộ cánh thẳng có 2 loài thuộc 2 họ

và Bộ cánh đều có 2 loài thuộc 2 họ

Trong số các loài sâu hại thu được thì có 2 loài sâu hại chủ yếu nhất đó là

sâu đục quả Mruca testulalis Geyer và ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanch

Nhưng chủ yếu gây thiệt hại nặng nhất và trực tiếp nhất

+ Sâu đục quả Maruca testulalis Geyer Là loài có tác động gây hại nặng

nhất cho đậu đũa Chúng không những đục vào quả, ăn hạt làm giảm năng suất

mà ngay khi cây trồng đang ở giai đoạn sinh trưởng cũng bị phá hại ở các bộ phận còn non như chồi ngọn, đỉnh sinh trưởng và thậm chí ở cành (Nguyễn Quý Dương, 1997) Tuy nhiên quả vẫn là thức ăn ưa thích nhất của chúng Khi cây đậu ra nụ và hoa thì chúng chuyển sang gây hại trên các bộ phận này Quá trình

điều tra chúng tôi thấy rằng, loài sâu đục quả Maruca testulalis có thể gây hại từ

30 đến hơn 50% số quả trong điều kiện không phun thuốc Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cả ở trong nước và ngoài nước Taylor (1974) từ những nghiên cứu thực địa cho thấy sâu đục quả có thể xuất hiện và gây hại sớm từ trước khi cây đậu đũa ra hoa và sống trên búp, ngọn, thân cây và ở cả chồi Khi cây đậu ra hoa thì sâu non chủ yếu sống trên hoa và nụ hoa, khi có quả sâu non tấn công đục vào quả Nguyễn Quý Dương (1997) cho thấy sâu đục quả có thể xuất hiện và gây hại sớm từ trước khi cây đậu đũa ra hoa và sống trên búp, ngọn, thân cây, ở các chồi Khi cây đậu ra hoa thì sâu non chủ yếu sống trên hoa

và nụ hoa, khi có quả sâu non tấn công đục vào quả Nguyễn Quý Dương (1997)

cho thấy sâu đục quả ( Maruca testulalis) xuất hiện và gây hại trên cây đậu đũa

Trang 30

với mật độ cao nhất là 2,85 con/cây vào thời kỳ cây ra hoa, quả non và tỷ lệ hại cao nhất là 32,72 % ở giai đoạn quả chắc

Ruồi đục lá những năm gần đây đã trở thành một trong những loài gây

thiệt hại khá lớn đến năng suất đậu đũa Ấu trùng của ruồi đục lá Liriomyza sativa Blanh tạo ra những vết đục ngoằn ngoèo trong lá, khởi điểm là những

đường rất hẹp sau đó lớn dần, mầm cây cũng có thể bị hại, (một số loài có thể hại trên cả thân cây

Trứng của ruồi đục lá đẻ ngay phía trong nhu mô lá và 2 – 5 ngày trứng sẻ

nở tuỳ vào nhiệt độ, rất khó phát hiện trong nhu mô lá bằng mắt thường Sâu non

ăn chủ yếu nhu mô lá và phát triển trong thịt lá qua 3 tuổi, sâu non mới nở không mầu,sau đó chuyển sang màu vàng cam hơi xanh và đến tuổi 3 thì có màu vàng cam thời gian phát triển khác nhau, tuỳ vào nhiệt độ và thức ăn, thường kéo dài

từ 4 đến 7 ngày ở nhiệt độ >240C, nếu nhiệt độ > 300C thì sâu non chết nhanh chóng theo nhiệt độ

Theo nghiên cứu của Hội Bảo Vệ Thực Vật Nhật Bản, truởng thành chích

lỗ trên lá bằng ống đẻ trứng, hút nhựa hoặc đẻ trứng vào trong lá để lại vết thương trắng mờ kích thước 0,13 – 0,15mm, vết đẻ trứng có kích thước bé hơn 0,05mm và có kích thước tương đối đồng nhất Chúng chỉ châm vào các lá bánh

tẻ (không chích vào lá non), trưởng thành đực không có ống đẻ trứng nên phải nhờ vào lỗ châm của con cái để lấy thức ăn Sâu non ăn nhu mô lá tạo ra đường đục lớn có màu trắng, xung quanh lá vùng bị đen ướt, chúng đục thành những đường ngoằn ngoèo, đường này lớn dần khi ấu trùng đẫy sức

Thiệt hại do ruồi đục lá, làm rụng lá phía trên gây nên hiện tượng cháy quả, rám nắng, giảm khả năng quang hợp của cây do đó khả năng tích luỹ dinh dưỡng của cây kém ảnh hưởng lớn đến năng suất

Những giai đoạn nhất định thì bọ xít xanh, sâu khoang cũng có sự gây hại đáng kể cho hoa và quả, đặc biệt là bọ xít xanh, chúng thường xuất hiện với số

Trang 31

lượng lớn, khi đó chúng bám kín trên bề mặt quả và chích hút dịch quả làm quả

bị teo quắt lại, héo và rụng Ngoài những loài sâu hại ở trên thì còn một số loài sâu hại khác như sâu cuốn lá, rệp đậu cũng là những loài sâu hại quan trọng gây hại trên cây đậu rau Hầu hết các loài sâu hại đều xuất hiện vào thời kỳ cây đậu chuẩn bị ra hoa và tồn tại đến cuối vụ Tuy nhiên có một số loài xuất hiện sớm

và tồn tại trong cả vụ như sâu đục quả, sâu khoang Một số loài chỉ xuất hiện ở những giai đoạn nhất định như bọ xít xanh, bọ xít đen, ruồi đục lá

Trang 32

4.2 Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng, nhện lớn bắt mồi trên đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội

Bên cạnh các loài sâu hại luôn luôn tồn tại một lực lượng đối địch với chúng đó là thiên địch Cũng như sâu hại, thiên địch cũng rất phong phú nhưng

có ý nghĩa nhất vẫn là các loài côn trùng bắt mồi và các loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt, đặc biệt là đối với những loài sâu hại có kích thước nhỏ để đánh giá vai trò của côn trùng bắt mồi trên đậu đũa, chúng tôi tiến hành điều tra thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi trên đậu đũa trong vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội kết quả điều tra được ghi nhận tại bảng 2

Trang 33

Bảng 2: Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi và nhện lớn bắt mồi

ăn thịt sâu hại đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội

2 Bọ rùa 6 vằn Melochilus sexmaculatus Fabr Coccinellidae +++

4 Bọ rùa 2 mảnh đỏ Lemnia biplagiata Swartz Coccinellidae +

6 Bọ rùa chữ nhân Propylea jponica Thunbr Coccinellidae +

7 Chân chạy viền trắng Chlaenius circumdatus Brulle Carabidae -

8 Bọ 3 khoang 4 chấm trắng Ophionea indica Thunbr Carabidae +

9 Cánh cộc nâu chân đen Paederus tamulus Curtis Staphylinidae +

Trang 34

12 Bọ xít đen bắt mồi Orius sauteri Poppius Anthocotidae ++

13 Bọ xít nâu đỏ Harpactor fuscipes Fabr Reduviidae -

14 Bọ xít xanh nhỏ bắt mồi Campylomma obscuuisicups H Anthocotidae ++

18 Nhện sói vân hình đinh ba Lycosidae pseudoannulata (Boes et Str.) Lycosidae ++

19 NLM vân xiên trắng Oxyopes javanus Thorell Oxyapidae ++

21 Nhện gập lá Clubiona japonicolla (Boes et Str.) Clubonidae +

Gh i c hú: + ++: R ấ t phổ bi ến

+ + : P hổ bi ến

+ : Ít phổ biến

- : Rất ít phổ biến

Ngày đăng: 17/08/2014, 11:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Phạm Văn Lầm (1999). “Một số kết quả nghiên cứu thành phần, vai trò của tập đoàn thiên địch trên một số cây trồng (1996 – 1999)”. Báo cáo khoa học, tập 3, Viện BVTV, 1999. Tr: 1 – 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu thành phần, vai trò của tập đoàn thiên địch trên một số cây trồng (1996 – 1999)”. "Báo cáo khoa học
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Năm: 1999
15. Nguyễn Thị Nhung và Cộng tác viên (1996). “Kết quả nghiên cứu sử dụng thuốc để trừ sâu đục quả trên đậu ăn quả (đậu trạch, đậu đũa)”. Tạp chí BVTV số 1, 1996. Tr: 24 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu sử dụng thuốc để trừ sâu đục quả trên đậu ăn quả (đậu trạch, đậu đũa)
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung, Cộng tác viên
Nhà XB: Tạp chí BVTV
Năm: 1996
16. Nguyễn Thị Nhung (2001). “Nghiên cứu sâu hại nhóm cây đậu ăn quả (đậu trạch, đậu đũa, đậu bở, đậu côve) và biện pháp phòng trừ chúng ở các vùmg chuyên rau ngoại thành Hà Nội và phụ cận”. Luận án tiến sỹ Nông nghiệp. Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sâu hại nhóm cây đậu ăn quả (đậu trạch, đậu đũa, đậu bở, đậu côve) và biện pháp phòng trừ chúng ở các vùmg chuyên rau ngoại thành Hà Nội và phụ cận
Tác giả: Nguyễn Thị Nhung
Nhà XB: Luận án tiến sỹ Nông nghiệp
Năm: 2001
20. Trần Khắc Thi – Trần Ngọc Hùng (2002). Kỹ thuật trồng rau sạch – Rau an toàn. NXB Nông nghiệp, trang 53 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng rau sạch – Rau an toàn
Tác giả: Trần Khắc Thi, Trần Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
22. Nguyễn Duy Trang (1996, 2000). “ Nghiên cứu xây dung quy trình phòng trừ dịch hại trong sản xuất”. Báo cáo tại Hội thảo khoa học về chất lượng rau quả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dung quy trình phòng trừ dịch hại trong sản xuất”
24. Viện Bảo vệ thực vật (1997). “Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng”. Phương pháp nghiên cứu BVTV tập I.NXB Nông nghiệp, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng”. "Phương pháp nghiên cứu BVTV
Tác giả: Viện Bảo vệ thực vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
26. Amatobi C.I. (1995). “ Insecticide application for economic production of cowpea grain in the Northern Sudan Savana of Nigieria”.International Journal of tropical pest Management. Nigieria, 1995. Pps:14 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Insecticide application for economic production of cowpea grain in the Northern Sudan Savana of Nigieria
Tác giả: Amatobi C.I
Nhà XB: International Journal of Tropical Pest Management
Năm: 1995
27. Aphirat Arunin (1978). “Pest of Soybean and their control in Thailand”. In S.R. Singh et all, 1978. “ Pest of grain legumes: Ecology and Control”.Academic Press London – New York – San Fransisco, 1978. Pps: 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pest of grain legumes: Ecology and Control
Tác giả: Aphirat Arunin, S.R. Singh
Nhà XB: Academic Press
Năm: 1978
28. Atachi P. Ahouendo B.C. (1989). “ Comparison of some paramestes characterizing the population dynamic of Megalurothrips sjostedti (Trylion) and Maruca testulalis (Geyer) on the same host plant, the cowpea”. Insect sciense and its Application, 1989. Pps: 187 - 197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of some paramestes characterizing the population dynamic of Megalurothrips sjostedti (Trylion) and Maruca testulalis (Geyer) on the same host plant, the cowpea
Tác giả: Atachi P., Ahouendo B.C
Nhà XB: Insect science and its Application
Năm: 1989
29. Bal A.B. (1991). “ Action threshold for flower thrips on cowpea (Vigina unguiculata (L)Walp) in Senegal”. Tropical pest management. Nigieria, 1991. Pps: 363 - 367 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Action threshold for flower thrips on cowpea (Vigina unguiculata (L)Walp) in Senegal
Tác giả: Bal A.B
Nhà XB: Tropical pest management
Năm: 1991
30. Bohec J.Le. (1982). “String and kidney beans, cultivation for processing”. Review of applied Entomology, 1982. Pps: 420 Sách, tạp chí
Tiêu đề: String and kidney beans, cultivation for processing
Tác giả: Bohec J.Le
Nhà XB: Review of applied Entomology
Năm: 1982
31. Campel W.V. and Reed W. (1986). “Food Legume Improvement for Asian Farming Systems”. Limits Imposed by Biological Factors: Pest Sách, tạp chí
Tiêu đề: Food Legume Improvement for Asian Farming Systems
Tác giả: Campel W.V., Reed W
Năm: 1986
32. Chang, TC, Chen, CC (1989). “Observatin of three Lepidoptera pests attacking leguminous vegetable in Taiwan”. Bulletin of Taichung district Agricultural improvement station, 1989. Pps: 21 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Observatin of three Lepidoptera pests attacking leguminous vegetable in Taiwan”. "Bulletin of Taichung district Agricultural improvement station
Tác giả: Chang, TC, Chen, CC
Năm: 1989
33. Chhabra, KS, Kooner, BS, Saxena, AK, Shama, AK (1981). “ Effect of biochemical components on the incidence of insect pests complex and yellow mosaic virus in mungbean”. Crop improvement, 1982. Pps: 56 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of biochemical components on the incidence of insect pests complex and yellow mosaic virus in mungbean
Tác giả: KS Chhabra, BS Kooner, AK Saxena, AK Shama
Nhà XB: Crop improvement
Năm: 1981
34. Chhabra, KS, Kooner, BS, Saxena, AK, Shama, AK (1984). “Ifluence of biochemical components on the incidence of insect pests complex and yellow mosaic virus in blackgram”. Indian Journal of Etomology, 1984. Pps: 148 – 156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ifluence of biochemical components on the incidence of insect pests complex and yellow mosaic virus in blackgram
Tác giả: Chhabra, KS, Kooner, BS, Saxena, AK, Shama, AK
Nhà XB: Indian Journal of Etomology
Năm: 1984
35. Ezuch, MI, Taylor, AT (1984). “Effect of time intercropping with maize on cowpea susceptibility to three major pests”. Tropical Agiriculture, 1984. Pps: 82 – 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of time intercropping with maize on cowpea susceptibility to three major pests”. "Tropical Agiriculture
Tác giả: Ezuch, MI, Taylor, AT
Năm: 1984
36. Jackai, LEN and Signh, SR (1986). “New folia insecticides for the control of cowpea pests”. Pests and Diseases. Volume 2. Proceeding of conference held at Brington Metropol, England. Noverber. British crop protection council, 2986. Pps: 761 – 768 Sách, tạp chí
Tiêu đề: New folia insecticides for the control of cowpea pests
Tác giả: LEN Jackai, SR Signh
Nhà XB: British Crop Protection Council
Năm: 1986
37. Jackai, LEN, Ohgiake, RS (1989). “Pod wall triconmes and resistance of two wild cowpea, Vigna vexillata, accessions to Maruca testulalis Geyer (Lepidoptera: Pyralidae) and Clavigralla tomentosicolis stal (Hemiptera:Coreidae)”. Bulletin of Entomological Research, 1989. Pps: 595 – 605 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pod wall triconmes and resistance of two wild cowpea, Vigna vexillata, accessions to Maruca testulalis Geyer (Lepidoptera: Pyralidae) and Clavigralla tomentosicolis stal (Hemiptera:Coreidae)
Tác giả: LEN Jackai, RS Ohgiake
Nhà XB: Bulletin of Entomological Research
Năm: 1989
38. Jackai, LEN, Ohgiake, RS, Rauston, JB (1990). “Mating and oviposition behaviour in the legume pod borer Maruca testulalis”. Entomologia experimenttalis et Appicata, 1990. Pps: 179 – 196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mating and oviposition behaviour in the legume pod borer "Maruca testulalis"”. "Entomologia experimenttalis et Appicata
Tác giả: Jackai, LEN, Ohgiake, RS, Rauston, JB
Năm: 1990
39. Jackai, LEN, Singh, SR (1991). “Reserch on the legume pod borer Maruca testulalis”. IITA Reseach. Vol 1. No 2, 1191. Ibadan Nigieria Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reserch on the legume pod borer "Maruca testulalis”. IITA Reseach
Tác giả: Jackai, LEN, Singh, SR
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thành phần sâu hại đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 1 Thành phần sâu hại đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội (Trang 27)
Bảng 2: Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi và nhện lớn bắt mồi   ăn thịt sâu hại đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 2 Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi và nhện lớn bắt mồi ăn thịt sâu hại đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội (Trang 33)
Bảng 3: Tỷ lệ các loài côn trùng bắt mồi trên đậu đũa   trong vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 3 Tỷ lệ các loài côn trùng bắt mồi trên đậu đũa trong vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội (Trang 35)
Bảng 4: Kích thước các pha phát dục của sâu đục quả Maruca  testulalis Geyer. - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 4 Kích thước các pha phát dục của sâu đục quả Maruca testulalis Geyer (Trang 39)
Bảng 5: Thời gian các phát dục của sâu đục quả Maruca testulalis Geyer. - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 5 Thời gian các phát dục của sâu đục quả Maruca testulalis Geyer (Trang 42)
Bảng 6: Vị trí hoá nhộng của sâu đục quả Maruca testulalis Geyer - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 6 Vị trí hoá nhộng của sâu đục quả Maruca testulalis Geyer (Trang 44)
Bảng 8: Diễn biến mật độ của sâu đục quả Maruca testulalis Geyer trên đậu  đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 8 Diễn biến mật độ của sâu đục quả Maruca testulalis Geyer trên đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội (Trang 48)
H1: Đồ thị biểu thị diễn biến mật độ của sâu đục quả trên đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
1 Đồ thị biểu thị diễn biến mật độ của sâu đục quả trên đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội (Trang 49)
Bảng 9. Diễn biến mật độ ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanch trên đậu đũa  vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 9. Diễn biến mật độ ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanch trên đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội (Trang 51)
H2: Đồ thị biểu thể hiện diễn biến mật độ ruồi đục lá Liriomyza stavila Blach. - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
2 Đồ thị biểu thể hiện diễn biến mật độ ruồi đục lá Liriomyza stavila Blach (Trang 52)
Bảng 11: Hiệu lực của một số loại thuốc hoá học trừ giòi đục lá trên  đậu đũa tại Gai Lâm – Hà Nội vụ hè thu 2007 - Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội”
Bảng 11 Hiệu lực của một số loại thuốc hoá học trừ giòi đục lá trên đậu đũa tại Gai Lâm – Hà Nội vụ hè thu 2007 (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w