1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài từ những lý thuyết ứng dụng vào quản trị các doanh nghiệp như thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập

32 881 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ những lý thuyết ứng dụng vào quản trị các doanh nghiệp như thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập
Tác giả Nguyễn Ngọc Hoàng Nhi
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Khắc Hoàn
Trường học Đại học Huế
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Chuyên đề tổng hợp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 288,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế và hội nhập kinh tế thế giới đời hỏi mỗi quốc gia, mỗi dântộc phải có sự cạnh tranh,Việt Nam của chúng ta cũng vậy.là moojy nước đang phát triển, việc

Trang 1

Đại học Huế Trường đại học kinh tế Khoa quản trị kinh doanh

ĐỀ TÀI: Từ những lý thuyết ứng dụng vào quản trị các doanh nghiệp như thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh

Trang 2

Mục Lục

Chương I: Cơ sở lý thuyết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trước thách thức hội nhập 1

I Lý thuyết về cạnh tranh: 1

II Văn hóa doanh nghiệp- một tiêu chí quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh…81

Chương II: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt Nam vinamilk 12

I Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần sữa

I Về phía Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk……… 25

II Kiến nghị với Chính phủ Việt Nam……… 29

Trang 3

Lời mở đầu:

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang bao trùm cả thế giới, khi toàn cầu hóa về nền kinh tế đangtrở thành một xu hướng khách quan thì yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế càng trở nên cấp bách.Toàn cầu hóa đòi hỏi mỗi nước phải liên kết với các quốc gia khác để cùng phát triển.vàviệt nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của thế giới

Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế và hội nhập kinh tế thế giới đời hỏi mỗi quốc gia, mỗi dântộc phải có sự cạnh tranh,Việt Nam của chúng ta cũng vậy.là moojy nước đang phát triển, việc tham gia vào quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thế giới đã và đang đặt ra cho chúng ta nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức.Sức cạnh tranh là một yếu tố cần thiết, cấp bách và không thể thiếu đối với bất kì quốc gia, hay bất kì dân tộc nào, điều này đòi hỏi các nước phảixóa bỏ rào cản và chấp nhận tự do buôn bán, vi thế mỗi nước phải mở cửa thị trường trong nước, điều đó cung đồng nghĩa với việc nâng cao sức cạnh tranh của nước đó phù hợp với sự phát triển của thế giới.buộc các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sức đứng vững trên thị trường

Trang 4

Chương I: Cơ sở lý thuyết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trước thách thức hội nhập

I Lý thuyết về cạnh tranh:

1 Cạnh tranh (Competition)

- Cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ

về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh (Michael Porter, 1996)

2 Năng lực cạnh tranh

- Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ

- Một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trongdoanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh (Lê Công Hoa, 2006) Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác Vần đề cơ bản là, doanh

nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang

có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin… Như vậy có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại

không còn khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế

3 Lợi thế cạnh tranh (Competitive Advantage)

Trang 5

- Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dùng để tạo ra nó Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao hơn (Michael Porter, 1985, trang 3)

- Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà các đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc

mà các đối thủ khác không thể làm được Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp Do vậy mà các doanh nghiệp đều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị xói mòn bới những hành động bắt chước của đối thủ

4 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh:

- Thị phần của doanh nghiệp: Đây là một chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

• Thị phần của doanh nghiệp

+ Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường Đó là tỷ lệ % giữa giá trị sản phẩm

của doanh nghiệp bán ra so với giátrị của toàn ngành

+ Thị phần của doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục vụ Đó chính là tỷ lệ phần trăm

giữa doanh số của doanh nghiệp với doanh số của toàn phân khúc

+ Thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của doanh nghiệp với đối thủ cạnh

tranh mạnh nhất, chỉ tiêu này cho biết vị thế sản phẩm của doanh nghiệp trong cạnh tranh trênthị trường như thế nào?

+ Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà doanh nghiệp biết mình đang đứng ở vị trí

nào, và cần vạch ra chiến lược hành động như thế nào Chỉ tiêu này nói lên mức độ lớn của thịtrường và vai trò vị trí của doanh nghiệp Nói lên mức độ hoạt động có hiệu quả hay không hay không hiệu quả thông qua sự biến động của chỉ tiêu này Khi tiềm lực của thị trường đanglên mà phần thị trường của doanh nghiệp không thay đổi tức là thị trương đã ngoài vòng kiểmsoát của doanh nghiệp hay một phần của thị trường đã rơi vào đối thủ cạnh tranh cho nên doanh nghiệp cần phải xem xét lại chiến lược kinhdoanh của mình để mở rộng thị trường của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩm trên thị trường hiện tại, có giải pháp thích hợp lôi kéo các đối tượng tiêu dùng tương đối, đối tượng không thường xuyên, lôi kéo khách hàng từ thị trường của đối thủ cạnh tranh với mình…

Trang 6

ATC : chi phíđơn vị sản phẩm

Q : khối lượng đơn vị bán ra

(P - ATC) : lợi nhuậnđơn vị sản phẩm

+ Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển Để cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho thị trường các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh,

họ mong muốn cho chi phí đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi các chi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, cũng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị trường để nâng cao khả năng của doanh nghiệp

• Tỷ suất lợi nhuận

+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cho biến mức sinh lời của đồng vốn dùng trong kinh doanh Tỷ

lệ này cần bù đắp chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn

+ Thông thường đồng vốnđược coi là sư dụng có hiệu quả nếu tỷ lệ nói trên cao hơn mức sinh lời khi đầu tư vào các cơ hội khác hay ít nhất phải cao hơn mức lãi suất tín dụng ngân hàng.+ Tỷ suất doanh thu trên vốn cho biết mức doanh thu tạo ra trên một đông vốn, ngoài ra nó còn cho biết mức độ quay vòng của vốn Tỷ suất này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành và chu kỳ sản xuất kinh doanh

+ Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phán ánh tiềm năng của doanh

nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản kinh doanh của doanh nghiệp ấy Đâychính là: Chênh lệch (giá bán - giá thành)/giá bán Nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là rất gay gắt Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao thì chứng tỏ doanh nghiệp đang kinh doanh rất thuận lợi và có hiệu quả

Trang 7

+ Ngoài ra, xét về quyền lợi của nhà đầu tư người ta có thể dùng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu để đánh giá khả năng sinh lời trên một đồng vốn của người góp vốn vào doanh nghiệp.

• Tỷ lệ chi phíMarketing/Tổng doanh thu.

+ Đây là một chỉ tiêu đang được sử dụng nhiều để đánh giá năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp

+ Thông qua chỉ tiêu này mà doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động của mình Khi xem xét đến tỷ lệ này ta thấy: Nếu chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệp đãđầu tư quá nhiều vào chi phí cho công tác marketing mà hiệu quả thu được thì chưa cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét lại cơ cấu chỉ tiêu Có thể thay vì quảng cáo rầm rộ doanh nghiệp có thể đầu tư chiều sâu để tăng lợi ích lâu dài như đầu tư cho chi phí nghiên cứu và phát triển

5 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:

• Môi trường vĩ mô

- Các nhân tố thuộc về mặt kinh tế: Các nhân tố này tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theo các hướng

+ Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào nắm bắt được điều này và có khả năngđáp ứng được nhu cầu khách hàng (số lượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã…) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công và có khả năng cạnh tranh cao

+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm, và như vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước Ngược lại,khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và trên thị trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của các doanh nghiệpgiảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh

Trang 8

+ Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnhtranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp thiếu vốn phải vay ngân hàng Khi lãi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của các doanh nghiệp tăng lên do phải trả lãi suất tiền vay lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là khi đối thủ cạnhtranh có tiềm lực lớn về vốn.

- Các nhân tố về chính trị, pháp luật:

+ Một thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh

có hiệu quả Chẳng hạn, các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện cạnh tranh,đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần và trên mọi lĩnh vực Hay chính sách của Chính phủ về xuất nhập khẩu, về thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước

+ Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp cho các cơ sở sản xuất trong nước tạo ra được những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị toàn bộ

cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nước ta.Đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

• Môi trường ngành.

Theo Michael Poter, môi trường ngành được hình thành bởi các nhân tố chủ yếu mà ông gọi là năm năng lực cạnh tranh trên thị trường ngành Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải tính

Trang 9

toán cân nhắc tới trước khi có những quyêt định lựa chọn phương thức, nhiệm vụ phát triển củamình Năm lực lượng đó là:

- Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành:

+ Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong những yếu

tố phản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lược lượng tác động trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp Trong một ngành bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, nhưng thường trong đó chỉ có một

số đóng vai trò chủ chốt như những đối thủ cạnh tranh chính có khả năng chi phối, khống chế thị trường Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh chính này để xây dựng cho mình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung của ngành

- Sự đe doạ của cácđối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường Những doanh nghiệp mới tham gia thị trường trực tiếp làm tăng tính chất quy mô cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng lực sản xuất và khối lượng sản xuất trong ngành Trong quá trình vận động của lực lượng thị trường, trong từng giai đoạn, thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rút ra khỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn các doanh nghiệp

thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩmnhằm làm cho sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội hơn trên thị trường, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ

+ Sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường ngành phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và mức độ hấp dẫn củathị trường đó

Trang 10

• Nguồn cung cấp doanh nghiệp chỉ cần có một hoặc vài công ty độc quyền cung cấp.

• Nếu các nhà cung cấp có khả năng về các nguồn lực để khép kín sản xuất,

có hệ thống mạng lưới phân phối hoặc mạng lưới bán lẽ thì họ sẽ có thế lựcđáng kể đối với doanh nghiệp là khách hàng

- Sức ép của khách hàng:

+ Sức mạnh khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuất phải giảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng ít sản phẩm hơn hoặc đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn Nếu khách hàng mua với khối lượng lớn, tính tập trung của khách hàng cao hơn so với các doanh nghiệp trong ngành

- Sự xuất hiện của những sản phẩm thay thế:

+ Những sản phẩm thay thế cũng là một trong những lực lượng tạo nên sức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành Mức độ sẵn có của những sản phẩm thay thế cho biết giới hạn trên của giá cả sản phẩm trong ngành Khi giá của sản phẩm tăng quá cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụng những sản phẩm thay thế Hoặc do mùa vụ, thời tiết mà khách hàng cũng chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế Sự sẵn có của những sản phẩm thay thế trên thị trường là một mối đe doạ trực tiếp đến khả phát triển, khả năng cạnh tranh và mức lợi nhuận của các doanh nghiệp

• Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.

- Nguồn nhân lực:

Đây là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh bao gồm:

+ Ban Giám đốc Doanh nghiệp

+ Cán bộ quản lý ở cấp Doanh nghiệp

+ Cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân

* Ban Giám đốc DN Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những người vạch ra chiến lược trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh của doanh nghiệp Những công ty cổ phần, những công ty lớn ngoài Ban Giám đốc còn có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở hữu doanh nghiệp

- Các thành viên Ban Giám đốc ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khả năng đánh giá, năng động, có mối

Trang 11

quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không những lợi ích trước mắt, như tăng doanh thu lợi nhuận, mà còn cả lợi ích - uy tín lâu dài của doanh nghiệp và đây mới

là yếu tố quan trọng tác độngđến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

*Đội ngũ cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân

- Nguồn cán bộ của một doanh nghiệp phải đồng bộ Sự đồng bộ này không chỉ xuất phát từ thực tế là đội ngũ lao động của doanh nghiệp mà còn xuất phát từ yêu cầu kết hợp nguồn nhân lực với các nguồn lực về tổ chức và vật chất

- Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say làm việc của họ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì khi tay nghề cao, lại cộng thêm lòng hăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu Đây là tiền đề

để các doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh

- Nguồn lực vật chất và tài chính:

* Máy móc thiết bị và công nghệ:

- Tình trạng trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới sản phẩm Ngoài ra, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm Một doanh nghiệp có trang thiết bị máy móc hiện đại thì sản phẩm của họ nhất định có chất lượng cao Ngược lại không có một doanh nghiệp nào có thể nói là có khả năng cạnh tranh cao khi trong tay họ là cả hệ thống máy móc cũ kỹ với công nghệ lạc hậu

* Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp

- Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xét, tính toán trên tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đâu tư mua sắm trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, để duy trì và nâng cao sức cạnh tranh, cung cấp tín dụng thương mại, khuyến khích việc tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và cũng cố của mình trên thương trường

II Văn hóa doanh nghiệp- một tiêu chí quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh

- Bên cạnh những cơ sở lý thuyết cơ bản về cạnh tranh,thì một tiêu chí cũng đóng góp quan trọng

để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong thời kì hội nhập đó là văn hóa doanh nghiệp

Trang 12

1. T ổng quan về VHDN

VHDN là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát

triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên củadoanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp

- Văn hóa doanh nghiệp, bắt nguồn từ những giá trị

+ Cốt lõi của VHDN là tinh thần doanh nghiệp và quan điểm giá trị của doanh nghiệp Trong cuốn sách Văn mình làm giàu và nguồn gốc của cải của TS Vương QuânHoàng, chúng ta đã được đề cập tới khái niệm giá trị Giải thích một cách đơn giản, giá trị là một cái gì đó mà người ta cảm thấy quan trọng, có ích Cụm từ “Quan trọng” và

“Có ích lợi” là rất đáng lưu tâm trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp Bởi lẽ lãnh đạo công ty sẽ rất khó xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nếu không truyền đạt được những ích lợi mà văn hóa doanh nghiệp đem lại Nhân viên cần được giáo dục nhận thức rằng việc đeo thẻ nhân viên, mặc đồng phục là thể hiện sự tự hào là thành viên của công ty,

và có ích cho công việc của họ chứ không phải họ mang những thứ đó để làm quảng cáo

+ Rất nhiều lãnh đạo đã mắc lỗi khi áp đặt văn hóa mà không khơi gợi nhận thứccủa nhân viên mình với các giá trị văn hóa Nếu không giảng giải được cặn kẽ hệ thống các giá trị văn hóa của doanh nghiệp có ích lợi gì với nội bộ tổ chức, tất yếu moi hình thức triển khai chỉ là phong trào Một câu hỏi được đặt ra rằng, vậy những giá trị nào là hợp lý và giá trị nào là không hợp lý Điều này tùy thuộc rất nhiều vào từng tổ chức riêng biệt, nhưng tựu chung lại, có một số giá trị được đề cao trong nội bộ tổ chức ở Việt Nam đó là:

+ Sự thành thực (thể hiện là nói thật, không gian dối, cam kết thực hiện những gìmình hứa hẹn và đảm bảo đúng những gì mình sẽ thực hiện)

+ Sự tự giác (thể hiện ở mức độ sẵn sang với công việc, không ngại khó khăn, làm việc hết mình vì lợi ích của tổ chức)

+ Sự khôn khéo (biết nói những gì cần nói, hỏi những điều cần hỏi, tranh luận những điều đáng tranh luận và sắp xếp những gì hợp lý nhất)

+ Ngoài ra còn một số giá trị khác được đề cập tới như sự tự tin, sáng tạo Nhữnggiá trị này sẽ là nền tảng định hướng cho văn hóa của doanh nghiệp

Trang 13

- Văn hóa có cả biểu hiện hữu hình và vô hình.

+ Một số biểu hiện rất dễ quan sát, đó là lớp bề mặt của văn hóa, còn phần lõi có ảnh hưởng sâu và mạnh hơn rất nhiều thì vô hình

- Lớp bề mặt của VHDN: Biểu hiện hữu hình

+ Cân bằng công việc cuộc sống

+ Mô tả công việc

+ Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau Cấp dễ thấy nhất thể hiện ngay trong công việc hàng ngày nhưng cách báo cáo công việc, giữ gìn tài sản chung, ngôn ngữ khi giao tiếp với đồng nghiệp, đối tác, khách hàng, các thủ tục hành chính… Cấp thứ hai là các giá trị tinh thần xác định việc phải làm, hành động của mình đúng hay sai,

Trang 14

có mang lại lợi ích hay thiệt hại chung hay không Đây là điều Lãnh đạo doanh nghiệp mong muốn nhận được ở nhân viên và phải xây dựng dần từng bước Cấp thứ ba là nền tảng cho cáchành động chính là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm được coi là đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân trong doanh nghiệp Các ngầm định nền tảng này là nền tảng chocác giá trị và hành động của mỗi thành viên Văn hóa kinh doanh trong một tổ chức đã tiến đến mức độ cao nhất, trở thành một thứ Đạo, mà từ thế hệ này tới thế hệ khác tôn sùng và làmtheo.

2. Tác dụng của văn hóa doanh nghiệp

- VHDN quyết định sự trường tồn của doanh nghiệp Nó giúp doanh nghiệp trường tồn vượt xa cuộc đời của những người sáng lập Nhiều người cho rằng VHDN là một tài sản của doanh nghiệp Tác dụng của VHDN thể hiện:

• Điều phối và kiểm soát

+ VHDN giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm

+ VHDN còn tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các nhân viên và một môi trường làm việc thoải mái, lành mạnh

+ VHDN phù hợp giúp nhân viên có cảm giác mình làm công việc có ý nghĩa hãnh diện vì là một thành viên của doanh nghiệp Điều này càng có ý nghĩa khi tình trạng “chảy máu chất xám” đang phổ biến

+ Lương và thu nhập chỉ là một phần của động lực làm việc Khi thu nhập đạt đến một mức nào đó, người ta sẵn sàng đánh đổi chọn mức thu nhập thấp hơn để được làm việc ở một môi trường hoà đồng, thoải mái, được đồng nghiệp tôn trọng

Điều phối và kiểm soát

+ VHDN điều phối và kiểm soát hành vi các nhân bằng các câu chuyện, truyền thuyết; các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc… Khi phải ra một quyết định phức tạp, văn hoá doanh nghiệp giúp ta thu hẹp phạm vi các lựa chọn phải xem xét

Giảm xung đột

+ VHDN là keo gắn kết các thành viên của doanh nghiệp Nó giúp các thành viên thống nhất về cách hiểu vấn đề, đánh giá, lựa chọn và định hướng hành động Khi

Trang 15

ta phải đối mặt với xu hướng xung đột lẫn nhau thì văn hoá chính là yếu tố giúp mọi người hoà nhập và thống nhất.

- Lợi thế cạnh tranh

+ Tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát, tạo động lực… làm tăng hiệu quả hoạt động và tạo sự khác biệt trên thị trường Hiệu quả và sự khác biệt sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt trên thị trường

Chương II: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Việt Nam vinamilk

I Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần sữa vinamilk

- Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam một công ty

chuyên kinh doanh sản phẩm từ sữa và thiết bị máy móc liên quan

tại Việt Nam

- Công ty được hình thành từ năm 1976, và đã nhanh chóng lớn mạnh và trở thành doanh nghiệ

p hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, hiện công ty đã chiếm lĩnh 75% thị phần sữa tại Việt Nam Ngoài việc phân phối mạnh trong nước với mạng lưới 183 nhà phân phối và gầ

n 94.000 điểm bán hàng có tại 64/64 tỉnh thành của đất nước, sản phẩm Vinamilk còn được xuất khẩu sang nhiều nước Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Đức, khu vực Trung Đông, Đôn

g Nam á…

II Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần sữa Vinamik

 Phân tích năng lực cạnh tranh nội tại của Vinamilk

 Quy mô

- Vinamilk hiện nay là công ty có quy mô lớn nhất trong ngành sản xuất chế biến sữa Vinamilk hiện có tới 8 nhà máy sản xuất sữa và các sản phẩm sữa ở từ Bắc đến Nam,

3 chi nhánh (Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ), 1 Xí nghiệp kho vận, Văn phòng Công ty

và hiện liên doanh với tập đoàn thực phẩm nổi tiếng Campina Bên cạnh đó, Công ty đang đầu tư xây dựng nhà máy bia và nhà máy cà phê

- Vốn điều lệ của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam hiện nay là 1.590 tỷ đồng

Trang 16

- Rõ ràng đối với một công ty thực phẩm của Việt Nam như Vinamilk việc có một qui

mô vốn khá lớn sẽ giúp cho công ty sẽ chủ động hơn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

 Sản phẩm

- Vinamilk hiện có trên 200 mặt hàng sữa và các sản phẩm từ sữa gồm: Sữa đặc, sữa đậu nành, sữa bột cho trẻ em và người lớn, kem, bột dinh dưỡng, phô mai, sữa tươi, nước ép trái cây, sữa chua uống, bánh biscuit, sữa chua ăn, nước tinh khiết, cà phê,…

Rõ ràng sự đa dạng và phong phú của các chủng loại sản phẩm đã giúp cho Vinamilk

có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng tại Việt Nam

- Hệ thống sản phẩm của Vinamilk rất phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu của tất

cả các đối tượng khách hàng từ trẻ sơ sinh, trẻ em, thanh thiếu niên, người lớn, người

có nhu cầu đặc biệt

- Với đời sống của người Việt Nam ngày càng được nâng cao thì nhu cầu sử dụng thực phẩm của người tiêu dùng cũng nâng lên một bước Người tiêu dùng đòi hỏi cao hơn

về sản phẩm họ mua và nhu cầu của họ ngày càng phong phú Người tiêu dùng giờ đây không chỉ cần sản phẩm tốt, giàu chất dinh dưỡng là đủ mà sản phẩm đó còn phải đáp ứng được nhiều nhu cầu khác như sản phẩm không có cholesterol cho người cao huyết áp, người bị bệnh tim mạch Đối với những người bị loãng xương và người già thì sản phẩm cần phải giàu canxi Người có thu nhập thấp thì cần sản phẩm giá rẻ,bình dân Trẻ em thì thích sản phẩm có bao bì lạ, vui mắt, có hình tượng các em thích.Bạn gái trẻ thì thích sản phẩm làm đẹp da, vóc dáng xinh xắn…Nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng, Vinamilk đã, đang không ngừng cải tiến sản phẩm và nghiên cứu sản xuất ra nhiều sản phẩm mới Từ chỗ công ty chỉ có 1 mặt hàng duy nhất là sữa đặc có đường khi mới thành lập vào năm 1976 Trải qua 30 năm hoạt động, cùng với những thăng trầm của nền kinh tế đất nước và sự gia nhập vào thị trường ngày càng nhiều các hãng cạnh tranh, hiện nay Vinamilk đã có trên 100 nhãn hiệu bao gồm sữa đặc, sữa tươi, sữa chua, sữa bột và bột dinh dưỡng, kem, nước ép trái cây, sữa đậu nành, nước suối, cà phê, bánh, phô mai…

- Trong những năm tới hướng phát triển của Vinamilk nhằm mục tiêu: Người Việt Nam sẽ được sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam do chính doanh

Ngày đăng: 17/08/2014, 10:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w