Mục đích của luận án Thông qua việc nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng và thực tiễn hợp tác giáo dục - đào tạo giữa Việt Nam với các nước ASEAN trong 15 năm 1995-2010, luận án kh
Trang 1NGUYỄN THỊ MAI
CHñ TR¦¥NG Vµ Sù CHØ §¹O CñA §¶NG céng s¶n viÖt nam
VÒ HîP T¸C GI¸O Dôc - §µO T¹O VíI C¸C N¦íC ASEAN
Trang 2Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Nguyễn Hữu Cỏt
2 PGS, TS Nguyễn Hoàng Giỏp
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2013
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và
Thư viện Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Nguyễn Thị Mai (2010), Một số kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo xây dựng và
phát triển quan hệ Việt Nam - ASEAN từ năm 1995 đến nay, Kỷ yếu Hội thảo
khoa học: Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị
- Hành chính, Hà Nội
2 Nguyễn Thị Mai (2010), Hợp tác Việt Nam - ASEAN (1995 - 2010), Tạp chí
Lịch sử Đảng, số 4.
3 Nguyễn Thị Mai (2012), Chủ trương của Đảng về quan hệ hợp tác Việt Nam
-ASEAN thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình giải phóng dân
tộc và xây dựng đất nước, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội
4 Nguyễn Thị Mai (2013), Quan điểm của Đảng, Nhà nước về hợp tác giáo dục Việt
Nam – ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3.
5 Nguyễn Thị Mai (2013), Hợp tác về giáo dục – đào tạo giữa Việt Nam với các nước
Đông Nam Á từ năm 1992 đến nay, Tạp chí Thông tin đối ngoại, số 3.
6. Nguyễn Thị Mai (2013), Cộng đồng Văn hoá - Xã hội ASEAN và sự tham gia của
Việt Nam, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 3.
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, trong khi các Hiệp định hợp tác văn hóa
và khoa học kỹ thuật giai đoạn 1986-1990 giữa Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩasắp kết thúc thì chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô lâm vào khủng hoảng Kể từ đây,
quan hệ quốc tế chuyển sang một giai đoạn mới với những thách thức gay gắt, đòi hỏi
Việt Nam phải kịp thời đề ra đối sách mới phù hợp với tình hình thực tế
Trong hoàn cảnh đất nước đang gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có nhiềuchuyển biến sâu sắc, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đưa Việt Nam gia nhập
ASEAN, trong đó, xác định hợp tác về giáo dục và đào tạo với các nước ASEAN là một
trong những ưu tiên Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, B ộ Giáo dục và Đàotạo tích cực triển khai kế hoạch gia nhập Tổ chức Các Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á(SEAMEO) Ngày 10-2-1992, tại phiên họp lần thứ 27 của Hội đồng các Bộ trưởng
Giáo dục các nước Đông Nam Á, tổ chức tại Brunây, Bộ Giáo dục và Đào tạo nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN (7-1995), Bộ Giáo dục
và Đào tạo Việt Nam trở thành thành viên của Tiểu ban Giáo dục của ASEAN (ASCOE)
đã tích cực phối hợp với các nước trong khu vực tiến hành nhiều hoạt động thiết thực, có
hiệu quả
Trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục và
đào tạo có vị trí đặc biệt quan trọng, là quốc sách hàng đầu Đảng, Chính phủ đưa ra
nhiều chủ trương và chỉ đạo sát sao để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo Mộttrong những chủ trương, biện pháp đó là tăng cường hợp tác giáo dục và đào tạo với
nước ngoài, trước hết là với các nước trong khu vực Đến năm 2010, Việt Nam có quan
hệ hợp tác giáo dục với hơn 80 nước và vùng lãnh thổ, 36 tổ chức quốc tế và 70 tổ chứcphi chính phủ Qua đó, hợp tác giáo dục và đào tạo góp phần đẩy mạnh công tác ngoạigiao của Việt Nam
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN 9 (tháng 10-2003), các nhà lãnh đạo ASEAN kýTuyên bố hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Bali II), nêu những định hướng chiến lược lớncủa ASEAN với mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN liên kết mạnh, tự cường vào
năm 2020 với 3 trụ cột: Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế, Cộng đồngVăn hóa - Xã hội Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 12 (1-2007) quyết định rút ngắn
thời gian hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Để góp phần xây dựng Cộng
đồng ASEAN, đặc biệt là Cộng đồng Văn hóa - Xã hội, bên cạnh các lĩnh vực hợp tác vềchính trị, an ninh, kinh tế, cần tăng cường và nâng cao chất lượng hợp tác giáo dục vàđào tạo
Là nước đề xuất xây dựng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN, một trongnhững yếu tố cấu thành của cộng đồng này là giáo dục Bởi vậy, hợp tác giáo dục và đào
tạo giữa các nước ASEAN là một vấn đề quan trọng, vừa là nhiệm vụ , vừa là tráchnhiệm của Việt Nam Với tinh thần đó, Đảng và Chính phủ đã đưa ra chủ trương vànhiều biện pháp để góp phần sớm hoàn thành nhiệm vụ này Đến năm 2010, Việt Nam
gia nhập ASEAN được 15 năm, để tiếp tục nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác giáo
Trang 5dục và đào tạo với các nước ASEAN, góp phần xây dựng thành công Cộng đồng Văn
hóa - Xã hội ASEAN vào năm 2015, việc tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế
và đúc kết kinh nghiệm về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về hợp tác giáo dục vàđào tạo với các nước ASEAN là việc làm cần thiết
Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Chủ trương và
sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về hợp tác giáo dục - đào tạo với các nước ASEAN từ năm 1995 đến năm 2010” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích của luận án
Thông qua việc nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng và thực tiễn hợp tác
giáo dục - đào tạo giữa Việt Nam với các nước ASEAN trong 15 năm (1995-2010), luận
án khẳng định tính chủ động, đúng đắn của Đảng trong việc lấy hợp tác giáo dục đào tạo
là một trong những lĩnh vực hợp tác cơ bản để tăng cường hợp tác toàn diện với cácnước ASEAN; khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và bước đầu đúc kết
một số kinh nghiệm chủ yếu
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Nêu rõ bối cảnh lịch sử, những nhân tố trong nước và quốc tế tác động đến quan hệ
hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam với các nước ASEAN; làm rõ các quan điểm
của Đảng và quá trình chỉ đạo thực hiện hợp tác về giáo dục và đào tạo với các nướcASEAN từ năm 1995 đến năm 2010; phân tích những thành tựu và hạn chế trong quá trình
Đảng lãnh đạo hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam với các nước ASEAN; bướcđầu nêu một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng chỉ đạo hợp tác về giáo dục và đào tạogiữa Việt Nam với các nước ASEAN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Về đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng, quá trình triển khai thựchiện hợp tác về giáo dục và đào tạo với các nước ASEAN trên hai phương diện đa
phương và song phương
3.2 Về phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ năm 1995 đến năm 2010
- Nội dung nghiên cứu: Hợp tác về giáo dục và đào tạo là lĩnh vực rộng lớn nên
luận án chỉ tập trung làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vềhợp tác giáo dục với các nước ASEAN
- Phạm vi nghiên cứu: Hợp tác giáo dục và đào tạo với các nước ASEAN trên hai
phương diện đa phương và song phương (trừ Brunây)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luậnvà thực tiễn: Cơ sở lý luận của luận án dựa trên lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế, về giáo dục và đào tạo; các
quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước cũng như các chủ trương, chính sách về hợp tác
Việt Nam - ASEAN nói chung, hợp tác giáo dục và đào tạo nói riêng Về mặt thực tiễn,
Trang 6luận án dựa trên thực tiễn quá trình hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam với
các nước ASEAN từ năm 1995 đến năm 2010
4.2 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là
phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic Ngoài ra, luận án còn sử dụngphương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn nhằm làm sáng tỏnhững vấn đề đặt ra trong luận án
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
5.1 Về tư liệu
Luận án sưu tầm và hệ thống hóa tư liệu về các chủ trương, sự chỉ đạo và kết quả
tổ chức thực hiện về hợp tác giáo dục và đào tạo với các nước ASEAN từ năm 1995 đến
6 Ý nghĩa của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn quan hệ hợp tác Việt Nam
- ASEAN, khẳng định chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về hợp tác với
các nước ASEAN trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế là hoàn toàn đúng đắn, góp phần nângcao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng trong thời kỳ mới Luận án cung cấpthêm những luận cứ khoa học và gợi mở một số suy nghĩ có thể vận dụng vào thực tiễnhợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam với ASEAN hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục, nội dung luận án được chia thành 3 chương, 8 tiết
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Luận án đã tổng quan kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quantrực tiếp đến đề tài trên các vấn đề như:
- Các công trình khoa học nghiên cứu về hợp tác giữa Việt Nam với ASEAN:
Cuốn sách Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN của tác giả Đinh Xuân Lý, do
nhà xuất bản Đại học Quốc gia phát hành năm 2000; Đề tài nghiên cứu cấp bộ năm 2001
của Vụ ASEAN (Bộ Ngoại giao): 5 năm Việt Nam tham gia ASEAN: những thành tựu,
thách thức và triển vọng ; Đề tài khoa học trọng điểm Hội nhập Việt Nam - ASEAN: Tiến
Trang 7trình, hiện trạng và những vấn đề đặt ra của Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiệm thu năm
2002; cuốn sách Việt Nam - ASEAN quan hệ đa phương và song phương của tác giả Vũ
Dương Ninh do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành; Tác giả Nguyễn Thu Mỹ có
bài Việt Nam với sự phát triển của ASEAN: 10 năm nhìn lại đăng trên tạp chí Cộng sản
số 14/7-2005; Bài viết Việt Nam - ASEAN 10 năm nhìn lại của tác giả Lê Công Phụng đăng trên tạp chí Thông tin đối ngoại số 8/2005; Luận án tiến sĩ lịch sử Quan hệ Thái Lan - Việt Nam (1976-2004) của Thananan Boonwanna, hoàn thành năm 2008; Cuốn
sách Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI của PGS.TS Phạm Đức Thành (chủ biên), do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2006; cuốn sách Vai trò
của Việt Nam trong ASEAN của Trung tâm Dữ kiện - Tư liệu Thông tấn xã Việt Nam, do Nhà xuất bản Thông tấn phát hành năm 2007; cuốn sách Hợp tác liên kết ASEAN hiện nay và sự tham gia của Việt Nam của nhóm tác giả Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Hữu
Cát, Nguyễn Thị Quế, do Nhà xuất bản Lý luận Chính trị phát h ành năm 2008; cuốn
sách Lịch sử quan hệ Việt Nam - Xingapo (1965-2005) của Phạm Thị Ngọc Thu, do Nhà
xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2009; Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Quan hệ quốc tế của Chhouet Sopheak (Campuchia) với đề tài Hợp tác
Campuchia - Việt Nam từ năm 1993 đến nay, hoàn thành tháng 7-2009; Đề tài cấp bộ năm 2010, Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 đến nay: Thành tựu, vấn đề đặt ra
và triển vọng do Viện Quan hệ quốc tế (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh) thực hiện; cuốn sách Việt Nam trong tiến trình hội nhập ASEAN của Nguyễn
Văn Thiện và Nguyễn Công Hải do nhà xuất bản Quân đội Nhân dân xuất bản năm
2011; cuốn sách Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào, Lào Việt Nam (1930
-2007) do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2011.
- Các công trình nghiên cứu về hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam với các nước ASEAN:
+ Sách tham khảo: Cuốn sách Hướng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo dục và
đào tạo của Vụ Quan hệ Quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo) do Nhà xuất bản Giáo dụcphát hành năm 1996; năm 2002, Vụ Quan hệ Quốc tế - Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa
chữa, bổ sung cuốn Hướng dẫn về quan hệ quốc tế trong giáo dục và đào tạo được
Nhà xuất bản Giáo dục phát hành;
+ Các bài hội thảo: bài viết Quan hệ hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và các
nước Đông Nam Á trong giai đoạn hiện nay của PSG,PTS Nghiêm Đình Vỳ và
PGS,PTS Trịnh Tùng trong kỷ yếu h ội thảo quốc tế ASEAN hôm nay và ngày mai(tháng 9-1997); Hội thảo Xây dựng ASEAN thành cộng đồng các quốc g ia phát triển
bền vững, đồng đều và hợp tác có các bài viết: Tăng cường hợp tác song phương và
đa phương trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cho ASEAN của PGS,PTS Nguyễn
Thọ Vượng; Hiện trạng và triển vọng phát triển nguồn nhân lực của các nước
ASEAN của PTS Trương Thị Thúy Hằng; Các bài tham luận viết về hợp tác giáo dục
Trang 8và đào tạo giữa Việt Nam với các nước ASEAN tại hội thảo Hội nhập Việt Nam
ASEAN trước thềm thế kỷ XXI : “Nhìn lại 5 năm hợp tác giáo dục Việt Nam ASEAN” của tác giả Trần Văn Nhung và Nguyễn Văn Khôi; bài tham luận Hợp tác giáo dục và đào tạo trong khối ASEAN (chủ yếu là giáo dục và đào tạo đại học) của
-PGS,TS Mai Ngọc Chừ; Hội thảo Liên kết ASEAN (lần 2) do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á có bài tham luận Các chính sách đặc trưng phát triển giáo dục và nguồn
nhân lực của các nước ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI của nhóm tác giả TS Phan Văn Kha, Ths Vương Thanh Hương, Lê Hồng Quang; Hội thảo khoa học Việt Nam trong ASEAN nhìn lại và hướng tới có bài tham luận Một vài suy nghĩ về giáo dục Việt Nam và chiến lược hội nhập khu vực trong thế kỷ XXI từ kinh nghiệm của một số quốc gia Đông Nam Á của Ths Phan Thị Hồng Xuân Hội thảo Việt Nam - ASEAN: 10 năm hội nhập và phát triển có bài viết Hợp tác giáo dục với ASEAN - thị trường đầy tiềm năng và triển vọng của tác giả Lê Thị Ngọc Dung.
+ Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của Nguyễn Thị Huyền Nga, hoàn thành
năm 2008 tại trường Đại học Vinh về Tình hình giáo dục nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (1986-2007) và vai trò của Việt Nam; Luận án tiến sĩ lịch sử Hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào về đào tạo cán bộ trong hệ thống chính trị từ 1986 đến 2006 của Dương Thị Huệ, hoàn thành năm
2011; Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế Quan hệ hợp tác Lào - Việt
Nam trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ năm 1975 đến năm 2010 của tác giả
Xayasane Bounsavang (Lào), hoàn thành năm 2011
- Các công trình nghiên cứu khoa học có đề cập đến chủ trương về giáo dục và
đào tạo của Đảng, Nhà nước:
Cuốn sách Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - chủ trương, thực hiện,
đánh giá của Ban Khoa giáo Trung ương được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2002; cuốn sách Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế k ỷ XXI, của tác
giả Phạm Minh Hạc, do nha xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2002; bài Phát
triển giáo dục và đào tạo phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đăng Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển trên Tạp chí Cộng sản số 22 (11
-2005); đề tài cấp bộ năm 2009 Quan hệ với các nước láng giềng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam từ 1991 đến nay do Viện Quan hệ quốc tế (Học viện Chính trị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) thực hiện; Luận án tiến sĩ lịch sử Chính sách đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam với khu vực Đông Nam Á từ 1995 đến 2006 của
Nguyễn Thị Hoàn, hoàn thành tháng 2-2011; Luận án tiến sĩ lịch sử Hợp tác giữa
Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào về đào tạo cán bộ trong
hệ thống chính trị từ 1986 đến 2006 của Dương Thị Huệ, hoàn thành năm 2 011.
Trang 9- Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về sự hợp tác giữa ViệtNam với các nước ASEAN nói chung và một số lĩnh vực hợp tác cụ thể Tuy nhiên,cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về
chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và
ASEAN từ năm 1995 đến năm 2010
Trang 10Chương 1 QUAN ĐIỂM VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG
VỀ HỢP TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỚI CÁC NƯỚC ASEAN
(1995 - 2001)
1.1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC HỢP TÁC GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ASEAN
1.1.1 Những yếu tố của khu vực và thế giới
Những năm cuối thế kỷ XX, khoa học kỹ thuật và công nghệ trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp Tập trung và chăm lo phát triển giáo dục , coi đây là quốcsách hàng đầu, tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế là biện pháp quan trọng chốngnguy cơ tụt hậu về văn hóa, khoa học Đối với những nước đang phát triển như ViệtNam, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là một nhân tố quyết định đối với sự
phát triển và tiến bộ xã hội
Toàn cầu hóa trở thành một xu thế khách quan, thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp
tác để phát triển Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ để lại cho một số nước A SEAN
những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hợp tác về giáo dục
và đào tạo giữa Việt Nam với các nước ASEAN
Hoàn thành ý tưởng ASEAN - 10, cùng phấn đấu cho hoà bình, ổn định ở khuvực, giữ vững bản sắc dân tộc và sự đoàn kết nhất t rí, tinh thần tự cường khu vực, mở
ra thời kỳ mới cho hợp tác giữa các nước trong Hiệp hội
1.1.2 ASEAN tăng cường hợp tác giáo dục
Ở Đông Nam Á có hai tổ chức hợp tác giáo dục cùng hoạt động là: Tổ chức
các Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (SEAMEO) và Tiểu ban Giáo dục ASE AN(ASCOE)
SEAMEO được điều hành bởi Hội đồng Bộ trưởng Giáo dụ c các nước Đông
Nam Á (SEAMEC) SEAMEO có một Ban Thư ký viết tắt là SEAMES, là cơ quan
giúp việc cho Hội đồng, có trụ sở đặt tại Băng Cốc (Thái Lan) Giám đốc SEAMES
là một quan chức được Hội đồng lựa chọn và là công dân của một trong các nước
thành viên Giám đốc SEAMES làm việc theo một nhiệm kỳ 3 năm
Ngoài ra, Mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN) đặt dưới sự giám sátcủa tổ chức ASEAN, bao gồm các trường đại học hàng đầu ở các nư ớc thành viênASEAN AUN có nhiệm vụ tăng cường hợp tác thông qua trao đổi sinh viên, các nhàlãnh đạo khoa học cũng như nguồn nhân lực giữa các nước tham gia
Trang 11Trong ASEAN, Tiểu ban giáo dục (ASCOE) được cơ cấu trong Ủy ban phát
triển xã hội của ASEAN (COSD) ASCOE phụ trách các hoạt động hợp tác và giáo
dục và đào tạo, dưới ASCOE là nhóm các chuyên gia giáo dục ASEAN
Một số tuyên bố, văn kiện của ASEAN đã đề cập một cách khá cụ thể hợp tác
ASEAN trong giáo dục, đặc biệt là hợp tác để nâng cao nguồn nhân lực như Tuyên bố
Hà Nội (1998), Chương trình hành động Hà Nội (1998)
1.1.3 Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Ở trong nước , công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thành tựu to lớn Bên cạnh
thuận lợi đó, Việt Nam còn phải đối phó với nhiề u thách thức thì việc đẩy mạnh hợptác với các nước trong khu vực và trên thế giới về giáo dục và đào tạo có ý nghĩa vôcùng quan trọng
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hợp tác giáo
dục và đào tạo giữa Việt Nam với các nước này giảm mạnh Việc học tập, trao đổikinh nghiệm về giáo dục giữa các nước trên thế giới và khu vực là xu thế chung củaviệc toàn cầu hóa trong phát triển giáo dục Do đó, mở rộng và tăng cường hợp tácvới các nước trong khu vực là yêu cầu khách quan đối với Việt Nam
1.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HỢP TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỚI CÁC NƯỚC ASEAN TRONG NHỮNG NĂM 1995 - 2001
1.2.1 Chủ trương của Đảng đưa Việt Nam gia nhập ASEAN (1986-1995)
Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn biến hết sức n hanhchóng và phức tạp làm thay đổi căn bản cục diện thế giới Ở trong nước, từ những
năm 70, nhất là giữa những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam lâm vào khủng hoảng
kinh tế - xã hội gay gắt Trước những khó khăn, thách thức to lớn mà tình hình thếgiới và trong nước đặt ra, Đảng đề ra chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại với các
nước ASEAN, chủ động đưa Việt Nam gia nhập ASEA N Chủ trương đó được thể
hiện qua các văn kiện của Đảng: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lầnthứ VI (12-1986); Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (5-1988); Nghị quyết Hội nghị Trung
ương lần thứ sáu và tám (khoá VI); Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng; Hội
nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, tháng 6-1992
Thực hiện chủ trương của Đảng, tháng 9/1994, Thủ tướ ng Võ Văn Kiệt kýquyết định thành lập Vụ ASEAN (Bộ Ngoại giao) để phối hợp hoạt động giữa ViệtNam với ASEAN Ngày 28-7-1995 tại Brunây, lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN
được tổ chức
1.2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về hợp tác giáo dục và đào tạo với các nước ASEAN (1996 - 2001)
Trang 12Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đề ra phương hướngđối ngoại cụ thể trong quan hệ với ASEAN cũng như xác định cùng với khoa học vàcông nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội VIII, tháng 12-1996, Hội nghị lần thứ hai Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII ra Nghị quyết số 02, nghị quyết chuyên đề Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2020.
Tháng 6 năm 1999, Bộ giáo dục và Đào tạo xây dựng và trình Thủ tướng
Chính phủ Đề án mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác quan hệ quốc tế trong giáo
dục và đào tạo cho đến năm 2010 Đề án nêu rõ một số biện pháp chính nhằm tăng
cường hợp tác giáo dục và đào tạo với các nước trong khu vực và trên thế giới
1.3 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỢP TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VỚI CÁC NƯỚC ASEAN
1.3.1 Hợp tác đa phương Việt Nam - ASEAN
Trước những chuyển biến của tình hình thế giới và nhu cầu hợp tác giáo dục
với các nước ASEAN của Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam coi việc mởrộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á là một ưu tiên Tháng2-1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức gia nhập tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các
nước Đông Nam Á (SEAMEO) Ngày 28-3-1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết
định Về việc thành lập Ban điều hành các hoạt động hợp tác với SEAMEO
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN (tháng 7-1995),
Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam trở thành thành viên của Tiểu ban Giáo dục củaASEAN Việt Nam thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ, cam kết và trách nhiệm của một
nước thành viên, tích cực, chủ động đưa ra những sáng kiến nhằm thúc đẩy sự hợp
tác khu vực trên cơ sở các nguyên tắc đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội
Chính phủ Campuchia xác định Việt Nam là một địa chỉ đào tạo tin cậy cho
lưu học sinh Campuchia Theo yêu cầu của phía bạn, số lượng lưu học sinh đi học tại
Việt Nam có chiều hướng tăng dần hàng năm
Năm 1994, hai nhà nước Việt Nam và Campuchia đã ký kết Hiệp định v ề đào
tạo cán bộ Campuchia tại Việt Nam Hai chính phủ cũng đã thỏa thuận Hiệp định này
sẽ được bổ sung hàng năm cho phù hợp với tình hình mới của mỗi nước; n gày
Trang 1315-6-1999, Hiệp định về đào tạo cán bộ Campuchia tại Việt Nam được ký kết, đây là cơ sởquan trọng để quyết định chỉ tiêu đào tạo lưu học sinh Campuchia theo hệ chính quydài hạn tại Việt Nam.
Thực hiện các hiệp định, bình quân mỗi năm Việt Nam tiếp nhận khoảng hơn
100 lưu học sinh Campuchia sang học tập tại Việt Nam Điều kiện ăn, ở của lưu họcsinh Campuchia ngày càng tốt hơn
* Hợp tác với Lào
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực được hai Đảng, hai Nhà nước xác định là lĩnhvực hợp tác chiến lược và là một biểu hiện của mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước,được ưu tiên hàng đầu Hợp tác giáo dục và đào tạo cũng là lĩnh vực được đánh giá
thành công nhất
Để phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ năm
1992, Bộ Giáo dục và Đào tạo hai nước chủ trương không tiếp nhận đào tạo tại Việt
Nam lưu học sinh Lào ở bậc phổ thông và bậc t rung học chuyên nghiệp, chỉ đào tạolưu học sinh Lào ở bậc đại học, sau đại học, chú ý cho các ngành mũi nhọn về kinh
tế, khoa học kỹ thuật Với chủ trương này, Việt Nam dành cho Lào một nguồn kinh
phí không nhỏ và sự hỗ trợ toàn diện trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Từ năm 1997, do tình hình kinh tế, - xã hội của cả hai nước gặp nhiều khó khăn,mặt khác, Lào trở thành thành viên thứ tám của ASEAN Vì v ậy, số lượng lưu học sinh
Lào được gửi đi các nước như: Thái Lan, Xingapo, Philippin và một số nước khác tănglên đáng kể Do đó, số lượng lưu học sinh Lào sang Việt Nam học tập và nghiên cứu
giảm đi Tuy nhiên, trên cơ sở kết quả các hoạt động hợp tác toàn diện giữa hai nước
và tình hữu nghị đặc biệt, Chính phủ Lào nhận định Việt Nam là địa chỉ đào tạo tin cậynhất và tiếp tục đề nghị Chính phủ Việt Nam giúp đỡ Do đó, số lượng học sinh, sinhviên Lào dự thi và có nguyện vọng học tập ở Việt Nam tăng dần và số lượng lưu học
sinh sang học tại Việt Nam ngày một tăng nhanh
* Hợp tác với Mianma
Quan hệ Việt Nam - Mianma trên mọi phương diện luôn ổn định Trong hoàncảnh gặp nhiều khó khăn, Mianma nhận thấy Việt Nam là một người bạn tin cậy Tháng5-1995, đoàn đại biểu Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam lần đầu tiên thăm Mianma và
ký kết “Bản ghi nhớ” với Bộ Giáo dục Mianma, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự pháttriển hợp tác giáo dục giữa hai nước Tuy vậy, hợp tác giáo dục Việt Nam - Mianma cònhạn chế do hai nước có nhiều khó khăn về kinh tế