1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng cơ chế khoán chi hành chính theo đặc thù về tổ chức và hoạt dộng của Kiểm toán Nhà nước

146 405 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí quản lý hành chính áp dụng với cơ quan hành chính nhà nước và chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức

Trang 1

Kiểm toán nhà nước

đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2005

“cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng cơ chế khoán chi hành chính theo đặc thù về tổ chức

và hoạt động của kiểm toán nhà nước”

7563

25/11/2009

Hà Nội, năm 2008

Trang 2

Kiểm toán nhà nước

đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2005

“cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng cơ chế khoán chi hành chính theo đặc thù về tổ chức

và hoạt động của kiểm toán nhà nước”

Chủ nhiệm đề tài: Ths Nguyễn Hồng Long Phó chủ nhiệm: CN Đoàn Xuân Thủy Thư ký: Ths Lê Hiền Linh Thành viên:

Ths Nguyễn Hữu Phúc Ths Vũ Thanh Hải

Hà Nội, năm 2008

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASOSAI Tổ chức các cơ quan Kiểm toán tối cao Châu Á

CBCNV Cán bộ công nhân viên

INTOSAI Tổ chức các cơ quan Kiểm toán tối cao Châu Á

Trang 4

Mục lục

Trang

Chương I Những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ tự chủ tài chính

và sự cần thiết áp dụng đối với KTNN Việt Nam

1.1.5 Nguyên tắc thực hiện chế độ tự chủ tài chính 8

1.1.6 Nội dung chế độ tự chủ tài chính theo quy định hiện hành 9 1.1.6.1 Nội dung chính chế độ tự chủ tài chính của các cơ quan nhà nước 9 1.1.6.2 Nội dung chế độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo

một phần chi phí hoạt động

13

1.1.6.3 Nội dung chế độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm

bảo toàn bộ chi phí hoạt động

1.2 Đặc điểm hoạt động của KTNN và sự cần thiết phải áp dụng chế độ tự

chủ tài chính đối với KTNN

20

Trang 5

1.2.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy của KTNN 22

1.2.2 Sự cần thiết phải áp dụng cơ chế tự chủ tài chính đối với KTNN 28

1.2.2.1 ý nghĩa và sự cần thiết phải thực hiện chế độ tự chủ tài chính 28

1.2.2.2 Sự cần thiết phải áp dụng chế độ tự chủ tài chính đối với KTNN 30

Chương II Thực trạng quản lý tài chính của kiểm toán nhà nước

và kinh nghiệm áp dụng chế độ tự chủ tài chính

tại một số cơ quan nhà nước

32

2.1 Thực trạng quản lý tài chính của KTNN từ 1994-2005 32

2.1.5 Đánh giá thực trạng quản lý tài chính của KTNN liên quan đến đề

án khoán chi hành chính

41

2.2.1.Tình hình thực hiện khoán chi hành chính trong thời gian qua 44

2.2.1.1 Kết quả đạt được và những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực

hiện khoán chi

44

2.2.1.2 Kinh nghiệm khoán biên chế và kinh phí hành chính ngành Hải quan 49

2.2.2.1 Xác định rõ hệ thống chỉ tiêu và mô hình lập dự toán, phân bổ dự

toán NSNN theo kết quả đầu ra và chất lượng hoạt động của cơ quan

61

2.2.2.2 Xây dựng cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính nhà

nước của KTNN đảm bảo yêu cầu tiết kiệm chi phí và hiệu quả công việc

62

2.2.2.3 Xây dựng và hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ trên cơ sở các quy

định của Nhà nước và phù hợp với điều kiện thực tế của KTNN

62

Chương III

Định hướng và giải pháp áp dụng chế độ tự chủ, tự chịu

trách nhiệm đối với cơ quan KTNN

64

3.1 Định hướng phát triển KTNN và mục tiêu xây dựng chế độ tự chủ 64

Trang 6

3.1.1 Định hướng phát triển của KTNN 64

3.1.2 Mục tiêu xây dựng chế độ tự chủ tài chính của KTNN 70

3.1.3 Nguyên tắc xây dựng chế độ tự chủ của KTNN 71

3.2.1 Biên chế dự kiến của ngành theo cơ chế tự chủ 73

3.2.2.2 Nội dung kinh phí giao thực hiện tự chủ tài chính 74

3.2.4 Về cấp phát, hạch toán, quyết toán kinh phí và chế độ báo cáo 84

3.2.5 Các nội dung chi dự kiến sử dụng từ nguồn kinh phí tiết kiệm 84

3.3 Các điều kiện tiền đề thực hiện khoán chi hành chính đối với KTNN 85

3.4 Lộ trình thực hiện chế độ tự chủ tài chính của KTNN 89

Trang 7

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta đang trong thời kỳ quá độ xây dựng một Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, trong đó luật pháp được coi là nền tảng cho mọi hoạt động

Để thực hiện được mục tiêu này, chương trình Cải cách nền hành chính quốc gia đã được tiến hành từ năm 2000 nhằm giúp cho các cơ quan hành chính Nhà nước, đổi mới hoạt động một cách hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với xu thế chung của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và kinh phí quản lý hành chính áp dụng với cơ quan hành chính nhà nước và chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,

tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập là một phương thức quản lý mới được áp dụng trong chương trình Cải cách hành chính từ năm 2006 Phương thức này hướng tới việc quản lý một cách hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các cơ quan hành chính Nhà nước, các

đơn vị sự nghiệp công lập, nhờ đó có thể ngăn chặn những hành vi lạm dụng, chi tiêu không đúng nguyên tắc

Kiểm toán nhà nước (KTNN) là một cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập Cơ cấu của KTNN về quản lý ngân sách gồm các cơ quan hành chính nhà nước (Văn phòng KTNN, KTNN chuyên ngành và khu vực), các

đơn vị sự nghiệp trực thuộc, do vậy KTNN chính là một đối tượng của chế độ

tự chủ Một trong những nhu cầu cấp thiết hiện nay đối với KTNN là nhanh chóng xây dựng được chế độ tự chủ phù hợp với tổ chức và hoạt động của đơn

vị đúng như tinh thần của Nghị định 130/2005/NĐ-CP ban hành ngày 17/10/2005 và Nghị định 43/2006/NĐ-CP ban hành ngày 25/4/2006 của Chính phủ Nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài

"Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng cơ chế khoán chi hành chính theo đặc thù về tổ chức và hoạt động của KTNN" với mong muốn đây là sẽ là một

biện pháp hữu hiệu giúp KTNN hoạt động một cách tiết kiệm, hiệu quả theo

đúng định hướng phát triển của ngành cũng như tinh thần của Cải cách hành chính Nhà nước

Trang 8

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ tự chủ về tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc;

- Tổng hợp và đánh giá thực trạng quản lý tài chính của KTNN;

- Xây dựng phương án tự chủ kinh phí để áp dụng trong KTNN, các

điều kiện và giải pháp để thực hiện có hiệu quả đề án tự chủ phù hợp với tổ

chức và hoạt động của KTNN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng của đề tài là cơ chế tự chủ kinh phí;

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chế độ tự chủ tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam nói chung và

áp dụng đối với cơ quan KTNN Việt Nam nói riêng, trọng tâm là Văn phòng KTNN (KTNN Trung ương) trong giai đoạn trước năm 2006 và đề xuất phương án tự chủ tài chính áp dụng cho năm tài chính 2006 và năm tài chính

2009

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Phép biện chứng duy vật

- Phương pháp tính toán chung: Phương pháp toán học

- Phương pháp kỹ thuật: Phân tích, tổng hợp, so sánh

- Phương pháp trình bày: Kết hợp giữa phương pháp diễn giải với quy

nạp, giữa lời văn và sơ đồ bảng biểu, giữa lý luận và thực tiễn

5 Kết cấu đề tài

Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm ba chương:

- Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ tự chủ tài chính và

sự cần thiết áp dụng đối với KTNN Việt Nam

- Chương II: Thực trạng quản lý tài chính của KTNN và kinh nghiệm thực hiện chế độ tự chủ tài chính tại một số cơ quan Nhà nước

- Chương III: Định hướng và giải pháp xây dựng chế độ tự chủ tài chính

đối với KTNN Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG I

Những vấn đề lý luận cơ bản về Chế độ tự chủ tài chính

và sự cần thiết áp dụng đối với Kiểm toán nhà nước việt nam

1.1 Những vấn đề chung về chế độ tự chủ tài chính

Hầu hết các nước trên thế giới, dù là nước phát triển hay nước đang phát triển, đều quan tâm đến vấn đề sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài chính nhà nước Tuy nhiên, để xây dựng một cơ chế vận hành tài chính nhà nước phù hợp, linh hoạt và có hiệu quả thì chỉ một số ít các nước tiên tiến có trình

độ phát triển cao thực hiện được Đa phần các nước nghèo đều gặp khó khăn trong việc kiểm soát thu chi ngân sách và quản lý tài sản của nhà nước, dẫn

đến tình trạng tham ô, tham nhũng, lạm dụng của công diễn ra với quy mô lớn Vì vậy việc nghiên cứu để áp dụng chế độ tự chủ là một trong những vấn

đề cấp thiết đối với nhiều quốc gia

1.1.1 Khái niệm chế độ tự chủ

Chế độ tự chủ là một cụm từ rất mới trong vốn từ vựng Việt Nam vì nó

là sản phẩm mới được hình thành và đưa vào ứng dụng trong giai đoạn cải cách sâu rộng nền hành chính quốc gia hiện nay Bản thân cụm từ này đã nói lên những nội dung cơ bản của nó

Chế độ tự chủ là phương thức quản lý, trong đó nhà nước giao cho các cơ quan nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập quyền chủ động, tự quyết trong sử dụng biên chế và các nguồn kinh phí giao tự chủ một cách tiết kiệm, hiệu quả trên cơ sở hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc mục tiêu đã đề ra Cơ quan, đơn vị nhận tự chủ có thể sử dụng phần kinh phí tiết kiệm được giao vào các mục đích đã được quy định trong quy chế chi tiêu nội

bộ do đơn vị tự xây dựng trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ và phù hợp với các quy định của Nhà nước

Như vậy, chế độ tự chủ áp dụng đối với các cơ quan nhà nước và các

đơn vị sự nghiệp công lập cho phép các đơn vị này thực hiện tự chủ trong một

số lĩnh vực như tự chủ về sử dụng biên chế, về thực hiện nhiệm vụ trong đó,

tự chủ về tài chính (tạm gọi là chế độ tự chủ tài chính) được coi là một nội

Trang 10

dung quan trọng và then chốt của chế độ tự chủ Chế độ tự chủ tài chính là cách thức vận dụng chế độ tự chủ tài chính tại cơ quan Kiểm toán nhà nước cũng chính là đối tượng và phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài này

Thực chất, chế độ tự chủ tài chính là một công cụ đổi mới phương thức quản lý, cấp phát và thanh quyết toán kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập Thay vì phải quản lý toàn bộ hoạt động chi tiêu của các cơ quan, đơn vị này như trước đây, với chế

độ tự chủ tài chính, nhà nước chỉ cần tập trung quản lý một phần chi tiêu của

đơn vị, đồng thời chú trọng nhiều hơn đến đầu ra (tức là hiệu quả) hoạt động của họ Đây cũng là phương thức quản lý tài chính được nhiều nước trên thế giới áp dụng hiện nay trong lĩnh vực công

1.1.2 Đối tượng thực hiện chế độ tự chủ tài chính

Đối tượng thực hiện chế độ tự chủ tài chính là các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập

Các cơ quan nhà nước thực hiện chế độ tự chủ là các cơ quan hành chính trực tiếp sử dụng kinh phí quản lý do ngân sách nhà nước cấp, có tài khoản và còn dấu riêng, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao biên chế

và kinh phí quản lý hành chính Các cơ quan này có thể bao gồm các cơ quan thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Toà án nhân dân và Viện kiểm soát nhân dân các cấp; Văn phòng Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương và các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc trung ương

Các đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ tự chủ là các đơn vị sự nghiệp công lập, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy theo Luật Kế toán) hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề;

sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội; sự nghiệp văn hoá - thông tin, sự nghiệp thể dục - thể thao

Các đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại như sau:

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ (100%) chi phí

Trang 11

hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt

động);

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần (từ trên 10% đến dưới 100%) chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm đảm một phần chi phí hoạt

động);

- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, tự

đảm bảo dưới 10% kinh phí hoạt động thường xuyên hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động)

Kiểm toán nhà nước là một cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập, vì vậy, cũng là đối tượng tự chủ, trong cơ cấu tổ chức của Kiểm toán nhà nước, ngoài các đơn vị hành chính làm nhiệm vụ chuyên môn còn có các đơn

vị sự nghiệp thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ cho hoạt động chung của Kiểm toán nhà nước, đó là các đối tượng tự chủ Các đơn vị sự nghiệp này là đối tượng thực hiện chế độ tự chủ toàn bộ hoặc tự chủ một phần kinh phí hoạt

động

1.1.3 Phân loại chế độ tự chủ tài chính

Phân loại chế độ tự chủ tài chính nhằm mục đích tạo điều kiện cho các cơ quan hành chính xác định được phương hướng và xây dựng mô hình thực hiện tự chủ tài chính phù hợp; đồng thời là căn cứ để các cơ quan chức năng

đánh giá chất lượng hay tiến độ thực hiện chế độ tự chủ tài chính của các cơ quan, đơn vị Có thể phân loại chế độ tự chủ tài chính theo các tiêu thức sau:

- Phân loại theo phạm vi giao tự chủ tài chính: Theo cách phân loại này

có thể chia chế độ tự chủ tài chính thành 2 loại là chế độ tự chủ tài chính toàn

bộ và chế độ tự chủ tài chính một phần

+ Chế độ tự chủ tài chính toàn bộ là phương thức Nhà nước giao cho cơ quan, đơn vị thực hiện tự chủ đối với toàn bộ nội dung kinh phí quản lý hành chính và các nguồn kinh phí khác (nếu có)

+ Chế độ tự chủ tài chính một phần là phương thức Nhà nước giao cho cơ quan, đơn vị thực hiện tự chủ một phần kinh phí quản lý hành chính và các

Trang 12

nguồn kinh phí khác (nếu có)

Trên thực tế, Nhà nước thường chỉ áp dụng chế độ tự chủ tài chính một phần cho các cơ quan hành chính thực hiện tự chủ vì có một số khoản chi tiêu cơ quan hành chính không tự đảm bảo được chẳng hạn các khoản mua sắm tài sản cố định Riêng đối với các đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động, Nhà nước có thể áp dụng chế độ tự chủ tài chính toàn bộ vì các đơn vị này không phụ thuộc vào nguồn tài chính do Nhà nước cấp nữa

- Phân loại theo thời gian thực hiện chế độ tự chủ tài chính: Theo cách

phân loại này, có thể chia thành 2 loại là chế độ tự chủ tài chính ngắn hạn và chế độ tự chủ tài chính dài hạn

+ Chế độ tự chủ tài chính ngắn hạn là phương thức Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị thực hiện tự chủ trong thời gian ngắn, thường là một năm

+ Chế độ tự chủ tài chính dài hạn là phương thức Nhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị thực hiện tự chủ trong khoảng thời gian dài hơn một năm

Chế độ tự chủ hiện nay còn rất mới và mặc dù đã được áp dụng rộng rãi vẫn cần có những sửa đổi, hoàn thiện dần Thời gian giao tự chủ về tài chính ngắn hạn tuỳ thuộc vào nhiệm vụ, khối lượng công việc được giao và khả năng của ngân sách Nhà nước

Ngoài ra có thể phân loại theo đối tượng thực hiện tự chủ tài chính, theo

đó, có 2 loại chế độ tự chủ tài chính:

- Chế độ tự chủ tài chính cho các cơ quan hành chính nhà nước;

- Chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.4 Mục tiêu của chế độ tự chủ tài chính

Chế độ tự chủ nói chung và Chế độ tự chủ tài chính nói riêng áp dụng cho các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập phải đảm bảo được các mục tiêu sau:

Thứ nhất , tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng kinh phí được giao tự chủ một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao

Những đơn vị áp dụng chế độ tự chủ sẽ có quyền chủ động trong quản

lý và sử dụng các nguồn kinh phí quản lý hành chính và kinh phí khác được

Trang 13

giao tự chủ Các cơ quan chức năng liên quan sẽ giảm thiểu được chi phí theo dõi các yếu tố đầu vào của các đơn vị nhận tự chủ, từ đó có thể tập trung cho các yếu tố đầu ra của các đơn vị này Đây cũng là một xu hướng thịnh hành ở các nước phát triển ví dụ như Anh, Đức, Pháp

Thứ hai, Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng các nguồn

“tiết kiệm, chống lãng phí” ở nhiều nơi, nhiều lúc vẫn chỉ là cụm từ mang tính hình thức, khẩu hiệu Để khắc phục tình trạng trên, chế độ tự chủ hướng tới việc các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập tự xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý và sử dụng tài sản công cho đơn vị mình dựa trên cơ sở những định mức chi tiêu do Nhà nước ban hành và thực hiện chi tiêu trong phạm vi nguồn kinh phí được tự chủ Các cơ quan, đơn vị phải tự cân đối giữa nguồn kinh phí được giao tự chủ hàng năm với nhiệm vụ được giao trong năm đó để chủ động chi tiêu cho phù hợp và có hiệu quả Đồng thời, chế độ tự chủ cũng tạo điều kiện cho tất cả người lao động tham gia giám sát quá trình sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả trên cơ sở so sánh với Quy chế chi tiêu nội bộ đã được duyệt

Thứ ba, nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí hành chính trong cơ quan, đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức

Như đã nói ở trên, các đơn vị thực hiện chế độ tự chủ sẽ có điều kiện để cơ cấu lại bộ máy làm việc đồng thời thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu Tất cả những yếu tố này chính là tiền đề để các đơn vị nâng cao hiệu suất lao động và hiệu quả sử dụng kinh phí hành chính

Hiệu suất lao động cao hơn thể hiện ở bộ máy làm việc gọn nhẹ hơn nhưng vẫn hoàn thành tốt công việc được giao so với bộ máy cồng kềnh trước khi khoán Đồng thời, có chế độ tự chủ, các đơn vị phải cân nhắc khâu tuyển

Trang 14

chọn nhân lực phù hợp sao cho có thể tận dụng được tối đa hiệu suất làm việc của họ

Hiệu quả sử dụng kinh phí hành chính thể hiện ở việc tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra Một phần kinh phí tiết kiệm được sử dụng để cải thiện đời sống của người lao động và đó cũng chính

là đòn bẩy kinh tế để nâng cao hiệu suất lao động

Thứ tư, thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật

Hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp hiện nay đều tuân theo chế độ một thủ trưởng Chính vì vậy, thủ trưởng đơn vị có vai trò rất lớn trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế quản lý và sử dụng tài sản công tại đơn vị Thủ trưởng cũng là người quyết

định trong việc sử dụng và phân bổ nguồn lao động của đơn vị để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ được Nhà nước giao cho Vì vậy, kết quả của việc thực hiện chế độ tự chủ phải gắn bó chặt chẽ với trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị

để đảm bảo tính khách quan, dân chủ và nâng cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức của đơn vị cũng phải nỗ lực hết mình hoàn thành nhiệm vụ được giao để cơ chế tự chủ có thể phát huy được hiệu quả cao nhất

1.1.5 Nguyên tắc thực hiện chế độ tự chủ tài chính

Các cơ quan, đơn vị thực hiện chế độ tự chủ nói chung, chế độ tự chủ tài chính nói riêng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tự chủ phải gắn với hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách tốt nhất, tránh tình trạng chủ động sử dụng kinh phí nhưng không hoàn thành mục tiêu đặt ra đối với một tổ chức hoặc chất lượng dịch vụ cung cấp cho xã hội thấp hơn trước khi thực hiện chế

độ tự chủ tài chính Nói cách khác, việc áp dụng chế độ tự chủ tài chính luôn gắn với đảm bảo tính kinh tế, tính hiệu quả của công việc

- Không tăng biên chế trừ trường hợp cơ quan thực hiện tự chủ sát nhập, chia tách hoặc điều chỉnh nhiệm vụ theo quyết định của cơ quan có thẩm

Trang 15

quyền quản lý biên chế Không tăng kinh phí quản lý hành chính trừ trường hợp có điều chỉnh biên chế hành chính, điều chỉnh nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền hoặc Nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, định mức phân bổ dự toán NSNN, điều chỉnh tỷ lệ phân bổ NSNN trong lĩnh vực quản lý hành chính

- Thực hiện công khai, dân chủ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán

bộ, công chức Nguyên tắc này đảm bảo sự minh bạch trong quản lý, tạo điều kiện thực hiện cơ chế giám sát của người lao động đối với việc thực thi trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị, đồng thời khuyến khích người lao động ở mọi cấp phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, gắn quyền lợi với chất lượng công việc thực hiện

1.1.6 Nội dung chế độ tự chủ tài chính

1.1.6.1 Nội dung chế độ tự chủ tài chính của các cơ quan nhà nước

a Nguồn kinh phí

- Kinh phí NSNN cấp: mức kinh phí NSNN cấp thực hiện chế độ tự chủ

được xác định trên cơ sở chỉ tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền giao, kể cả biên chế dự bị (nếu có), định mức phân bổ dự toán chi NSNN tính trên biên chế, các khoản chi hoạt động nghiệp vụ đặc thù theo chế độ quy định và tình hình thực hiện dự toán năm trước

- Các khoản phí, lệ phí để lại theo chế độ quy định: trường hợp cơ quan

thực hiện chế độ tự chủ được cấp có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí, cơ quan này được trích để lại bảo đảm hoạt động phục vụ thu căn cứ vào các văn bản

do cơ quan có thẩm quyền quy định (trừ số phí, lệ phí được để lại để mua sắm tài sản cố định và các quy định khác nếu có)

- Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

Kinh phí quản lý hành chính được giao thực hiện chế độ tự chủ có thể

được điều chỉnh nếu có cấp có thẩm quyền điều chỉnh nhiệm vụ của đơn vị,

điều chỉnh biên chế hành chính của đơn vị hoặc có những thay đổi về định mức phân bổ dự toán NSNN và tỷ lệ phân bổ NSNN cho lĩnh vực quản lý hành chính Khi phát sinh những thay đổi mức kinh phí NSNN giao để thực hiện tự chủ, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có văn bản đề nghị bổ sung, điều chỉnh

Trang 16

dự toán kinh phí, giải trình chi tiết các yếu tố làm tăng, giảm dự toán kinh phí gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp Cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp (trường hợp không phải là đơn vị dự toán cấp I) xem xét, tổng hợp dự toán của các đơn vị cấp dưới trực thuộc gửi đơn vị dự toán cấp I Sau đó, đơn vị dự toán cấp I xem xét, tổng hợp và lập dự toán chi NSNN thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp đề trình cấp có thẩm quyền quyết định

b Nội dung kinh phí giao thực hiện chế độ tự chủ

- Các khoản chi thanh toán cho cá nhân: Tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định;

- Chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi phí thuê mướn, chi vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc;

- Chi hội nghị, công tác phí trong nước, chi các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam;

- Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn;

- Các khoản chi đặc thù của ngành, chi may sắm trang phục (theo quy

định của cơ quan có thẩm quyền);

- Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện, vật tư, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định (ngoài kinh phí mua sắm và sửa chữa lớn tài sản

cố định);

- Các khoản chi có tính chất thường xuyên khác;

- Các khoản chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định Như vậy, các nội dung được giao kinh phí nhưng không thực hiện chế

độ tự chủ gồm:

- Chi sửa chữa lớn, mua sắm tài sản cố định (kinh phí mua hoặc sửa chữa TSCĐ lớn mà kinh phí thường xuyên không đáp ứng được; kinh phí thực hiện đề án cấp trang thiết bị và phương tiện làm việc được cấp có thẩm quyền phê duyệt - nếu có);

- Chi niên liễm cho các tổ chức quốc tế, vốn đối ứng theo các dự án theo hiệp định (nếu có);

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

Trang 17

- Kinh phí thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia;

- Kinh phí thực hiện tinh giản biên chế;

- Kinh phí đào tạo cán bộ, công chức;

- Kinh phí nghiên cứu khoa học; vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo dự án

được duyệt

c Sử dụng kinh phí được giao để thực hiện chế độ tự chủ

Trong phạm vi kinh phí được giao, thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ

tự chủ có quyền hạn và trách nhiệm:

- Chủ động bố trí, sử dụng kinh phí theo các nội dung, yêu cầu công việc được giao cho phù hợp để hoàn thành nhiệm vụ, bảo đảm tiết kiệm và có hiệu quả;

- Được quyết định mức chi cho từng nội dung công việc phù hợp với

đặc thù của cơ quan nhưng không được vượt quá chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (trong trường hợp quy định khung mức chi thì không được vượt quá mức chi cụ thể do Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan thuộc Trung ương hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định);

- Được quyết định sử dụng toàn bộ kinh phí tiết kiệm được theo quy

d Sử dụng kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được

- Kết thúc năm ngân sách, sau khi đã hoàn thành các nhiệm vụ công việc được giao, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực tế thấp hơn dự toán kinh phí quản lý hành chính được giao thực hiện chế độ tự chủ thì phần chênh lệch này được xác định là kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được

Khoản kinh phí đã được giao nhưng chưa hoàn thành công việc trong năm phải được chuyển sang năm sau để hoàn thành công việc đó, không được xác định là kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được

Trang 18

- Kinh phí tiết kiệm được sử dụng cho các nội dung sau:

+ Bổ sung thu nhập cho cán bộ, công chức theo hệ số tăng thêm quỹ tiền lương;

+ Chi khen thưởng cho tập thể và cá nhân có thành tích;

+ Chi cho các hoạt động phúc lợi trong cơ quan;

+ Chi trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức;

+ Chi thêm cho người lao động khi thực hiện tinh giảm biên chế;

+ Trường hợp xét thấy khả năng kinh phí tiết kiệm không ổn định, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có thể trích một phần số tiết kiệm được để lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập

Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ quyết định việc sử dụng kinh phí tiết kiệm theo các nội dung nêu trên sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn và được công khai trong toàn cơ quan

- Cuối năm kinh phí tiết kiệm chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng

e Chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức

Trong phạm vi nguồn kinh phí tiết kiệm được, cơ quan thực hiện chế độ

tự chủ được áp dụng hệ số tăng thêm quỹ lương để trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ công chức Việc trả thu nhập tăng thêm cho từng người lao động đảm bảo theo nguyên tắc gắn với chất lượng và hiệu quả công việc; người nào, bộ phận nào có thành tích đóng góp để tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì

được trả thu nhập tăng thêm cao hơn Mức chi trả cụ thể do Thủ trưởng cơ quan quyết định sau khi thống nhất ý kiến với tổ chức công đoàn cơ quan

Để động viên cán bộ công chức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; căn cứ tình hình thực hiện của quý trước, nếu xét thấy cơ quan có khả năng tiết kiệm được kinh phí, thủ trưởng cơ quan căn

cứ vào số kinh phí có thể tiết kiệm được để quyết định tạm chi trước thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức trong cơ quan theo quý

1.1.6.2 Nội dung chế độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động

Trang 19

Nội dung chế độ tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động như sau:

a Nguồn tài chính

- Kinh phí do NSNN cấp gồm:

+ Kinh phí đảm bảo một hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ, được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán

được cấp có thẩm quyền giao;

+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;

+ Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức; + Kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;

+ Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền

đặt hàng;

+ Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; + Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);

+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản; kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;

+ Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp

có thẩm quyền phê duyệt

+ Kinh phí khác (nếu có)

- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:

+ Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

+ Thu từ hoạt động dịch vụ;

+ Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);

+ Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng; + Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng cho theo quy định của pháp luật

- Nguồn khác gồm:

Trang 20

+ Nguồn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị;

+ Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

b Tự chủ về các khoản thu, mức thu

Đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quy định Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy

định khung mức thu, đơn vị căn cứ vào nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định

Đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ được cơ quan nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá thì mức thu được xác định trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận

Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ

c Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính

Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên (gồm chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ

được cấp có thẩm quyền giao; chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch

vụ thu phí, lệ phí; chi cho các hoạt động dịch vụ, kể cả chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trích khấu hao tài sản cố dịnh, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật), thủ trưởng đơn vị được quyết định một số

mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ

quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Trang 21

Căn cứ tính chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc

Quyết định đầu tư, xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn thực hiện theo quy định của pháp luật

Tiền lương, tiền công của người lao động được thực hiện theo lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định Đối với những hoạt động dịch vụ hạch toán chi phí riêng, thì chi phí tiền lương, tiền công của người lao động được áp dụng theo chế độ tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước

Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước; tuỳ theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị Trong đó, đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng không tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do Nhà nước quy định sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị trả thu nhập theo quy chế chi tiêu nội bộ của

đơn vị

d Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm

Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động được:

- Trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập

Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả

Trang 22

thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn

định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

Đơn vị sự nghiệp không trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ từ một số nguồn kinh phí do NSNN cấp gồm: kinh phí thực hiện chương trình

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức; kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế; vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt

động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi

dự toán được giao hàng năm; vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các kinh phí khác

Việc sử dụng các Quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định dựa trên quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và mục đích sử dụng các quỹ, theo đó: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp; Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để đảm bảo thu nhập cho người lao

động; Quỹ khen thưởng dùng để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể và cá nhân trong, ngoài đơn vị; Quỹ phúc lợi dùng để xây dựng xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi của người lao động trong đơn vị

1.1.6.3 Nội dung chế độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động

a Nguồn tài chính

Nguồn tài chính của ĐVSN do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt

động tương tự như của đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần một phần chi phí hoạt động Tuy nhiên, tại các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp này không có các khoản mục: kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng; Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết; Nguồn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức

Trang 23

trong đơn vị; Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

b Tự chủ về các khoản thu, mức thu

Tương tự như đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động

c Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính

Các nội dung về tự chủ sử dụng nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động tương tự như đối với đơn vị sự nghiệp được đảm bảo một phần chi phí hoạt động, tuy nhiên cũng có khác biệt

về mức chi, cụ thể:

- Đối với các khoản chi thường xuyên, thủ trưởng đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động được quyết định một số mức chi

quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ

quan nhà nước có thẩm quyền quy định

- Căn cứ kết quả tài chính, số kinh phí tiết kiệm được, đơn vị xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định

d Sử dụng kinh phí tiết kiệm được từ khoản chênh lệch thu lớn hơn chi Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản

nộp khác theo quy định, phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của hoạt động dịch vụ (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự sau:

- Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

- Chi khen thưởng cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng

cụ thể do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị;

- Chi phúc lợi, trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trưởng hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động trong biên chế thực hiện tinh giảm biên chế Mức chi do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

- Chi tăng cường cơ sở vật chất của đơn vị

Trang 24

- Trích lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để đảm bảo thu nhập cho người lao động nếu xét thấy khả năng tiết kiệm kinh phí không ổn định

Đơn vị sự nghiệp không trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ từ một số nguồn kinh phí do NSNN cấp gồm: kinh phí thực hiện chương trình

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức; kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế; vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt

động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi

dự toán được giao hàng năm; vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các kinh phí khác

1.1.7 Xây dựng và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý và sử dụng tài sản công

Để chủ động sử dụng kinh phí tự chủ được giao, quản lý sử dụng tài sản công đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ

có trách nhiệm xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ và Quy chế quản lý sử dụng tài sản công làm căn cứ cho cán bộ, công chức trong cơ quan thực hiện và Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi

Quy chế chi tiêu nội bộ và Quy chế quản lý, sử dụng tài sản công do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ ban hành sau khi có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn cơ quan và phải được công khai trong toàn cơ quan, phải gửi đến Kho bạc nhà nước, nơi cơ quan mở tài khoản giao dịch, để kiểm soát chi theo quy định, cơ quan quản lý cấp trên (đối với đơn vị thực hiện chế

độ tự chủ là đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc) hoặc cơ quan tài chính cùng cấp (đối với cơ quan thực hiện chế độ tự chủ không có đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc) để cùng theo dõi, giám sát

Việc xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế quản lý sử dụng tài sản công cần tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sau:

- Cử cán bộ đi công tác trong nước, chế độ thanh toán tiền công tác phí, tiền thuê chỗ nghỉ, khoản thanh toán công tác phí cho những trường hợp thường xuyên phải đi công tác;

Trang 25

- Quản lý, phân bổ kinh phí, sử dụng văn phòng phẩm;

- Quản lý, sử dụng và phân bổ kinh phí thanh toán tiền cước sử dụng

điện thoại công vụ tại cơ quan cho từng đầu máy điện thoại hoặc từng đơn vị trong cơ quan; Tiêu chuẩn, định mức sử dụng, thanh toán cước phí điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động đối với các cán bộ lãnh đạo trong cơ quan

- Quản lý, sử dụng và phân bổ kinh phí sử dụng ô tô, xăng dầu theo từng cục, vụ, phòng, ban;

- Quản lý và sử dụng máy điều hoà nhiệt độ, sử dụng điện thắp sáng; Khi xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế quản lý sử dụng tài sản công, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ cần căn cứ vào chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, tình hình thực hiện của đơn vị trong thời gian qua, khả năng nguồn kinh phí được giao

- Chỉ tiêu biên chế được cơ quan quản lý có thẩm quyền giao

+ ở Trung ương là Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc tổ chức được uỷ quyền;

+ ở địa phương là Uỷ ban nhân dân Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương hoặc Ban Tổ chức chính quyền được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương uỷ quyền

- Tổng quỹ lương xác định trên cơ sở số biên chế được cơ quan có thẩm quyền giao khoán, hệ số tiền lương theo chức vụ bầu cử, hệ số tiền lương theo ngạch, bậc lương, phụ cấp (nếu có) của cán bộ, công chức liên quan đến chính sách tiền lương hiện hành của Nhà nước

Trang 26

- Hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ sử dụng kinh phí thường xuyên của ngân sách nhà nước theo quy định và tình hình sử dụng kinh phí của cơ quan trong 03 năm liền kề trước khi thực hiện khoán

Trên cơ sở dự toán năm được duyệt, hàng quý các cơ quan lập dự toán quý gửi Kho bạc nhà nước làm cứ cho việc quản lý và cấp phát

Đối với các khoản không thực hiện khoán chi, cơ quan lập dự toán theo quý, năm dựa trên quy định hiện hành Trường hợp có sự thay đổi mức khoán, cơ quan lập dự toán giải trình chi tiết các yếu tố tăng, giảm chi đối với các nội dung chi đã được khoán, gửi cơ quan có thẩm quyền để xem xét điều chỉnh

1.2 Sự cần thiết phải áp dụng chế độ tự chủ tài chính đối với KTNN

Việc thực hiện chế độ tự chủ nói chung và chế độ tự chủ tài chính nói riêng áp dụng cho các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập phải

đảm bảo được các mục tiêu sau: 1) tạo điều kiện cho các cơ quan chủ động trong việc sử dụng kinh phí được giao tự chủ một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; 2) Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng các nguồn kinh phí; 3) nâng cao hiệu suất lao động, hiệu quả sử dụng kinh phí hành chính trong cơ quan, đơn vị, tăng thu nhập cho cán

bộ, công chức; 4) thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật

Chế độ tự chủ có ý nghĩa quan trọng trên nhiều mặt:

Về biên chế, tổ chức bộ máy và hiệu quả công việc của cơ quan: Với

chế độ tự chủ tài chính, các đơn vị thực hiện sẽ tích cực sắp xếp lại biên chế,

tổ chức và phân công lao động trong cơ quan hợp lý hơn, xoá bỏ tâm lý muốn tăng biên chế khi chưa thực sự cần thiết từ đó sẽ làm cho biên chế của cơ quan, đơn vị được gọn nhẹ, nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc của đơn

Trang 27

nhập cho cán bộ công chức, đồng thời giải quyết chế độ, trợ cấp thêm cho những người dôi dư do quá trình sắp xếp lại lao động Thu nhập của từng cán bộ được nâng cao, tổ chức lao động hợp lý sẽ tạo điều kiện để mỗi cán bộ phát huy được hết khả năng của mình, chất lượng cán bộ cũng vì thế được nâng cao và đảm bảo hiệu quả công tác của mỗi cán bộ công chức

Về việc thực hành tiết kiệm, chống l∙ng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí ngân sách: Với việc cho phép các đơn vị có quyền quyết định

việc sử dụng phần kinh phí tiết kiệm trong sử dung kinh phí, việc sử dụng kinh phí cũng sẽ phù hợp hơn với thực tế của mỗi đơn vị, kinh phí ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn

ý nghĩa chung về kinh tế - x∙ hội: sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm lao

động xã hội, tiết kiệm vốn, tài sản chung

Dựa vào những ý nghĩa như trên, có thể khẳng định được rằng việc thực hiện chế độ tự chủ tài chính không chỉ có ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, tiết kiệm kinh phí ngân sách của các cơ quan hành chính mà đối với toàn xã hội

Sự cần thiết của việc thực hiện chế độ tự chủ tài chính xuất phát từ một

số cơ sở khoa học và thực tiễn sau:

Thứ nhất, Một trong những biện pháp quan trọng góp phần thực hiện có

hiệu quả công việc cải cách hành chính là phải đưa ra giới hạn ngân sách hàng năm của các cơ quan Nhà nước Điều này đòi hỏi các cơ quan, đơn vị phải tự hạn chế việc chi tiêu của mình trên nguyên tắc hạn chế việc tuyển thêm người Hoạt động kiểm soát sử dụng kinh phí ngân sách tập trung vào quá trình dự toán ngân sách Khi ngân sách đã được thông qua, cách thức chi tiêu là do mỗi

đơn vị tự quyết định để đạt được mục định Các cơ quan sẽ phải tự tổ chức, phân công lại các vị trí công tác để đảm bảo cho việc sử dụng tiết kiệm và quản lý cán bộ có chất lượng cao nhất

Thứ hai, để thực hiện việc cải cách tiền lương, tăng thu nhập đối với

khu vực hành chính sự nghiệp trong điều kiện ngân sách nhà nước không phải cấp phát thêm thì thực hiện tự chủ tài chính sẽ có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy các cơ quan đổi mới, rà soát lại để có sự phân định rõ nhiệm vụ chức năng của

Trang 28

từng bộ phận, sắp xếp lại biên chế và điều hành quản lý Chỉ có trên cơ sở tổ chức lại lao động hợp lý, quản lý chi tiêu chặt chẽ thì đơn vị mới có điều kiện

để tăng thu nhập cho cán bộ trong đơn vị

Thứ ba, thực hiện chế độ tự chủ tài chính là biện pháp hữu hiệu để hạn

chế việc xin tăng biên chế hàng năm, mở rộng quyền tự chủ, quyền tự quản của đơn vị trong việc điều hành chi tiêu tài chính, nâng cao ý thức tiết kiệm và tinh thần đấu tranh chống lãng phí của các cán bộ trong đơn vị hành chính sự nghiệp

Thứ tư, tạo điều kiện cho cơ quan, đơn vị có thể thực hiện khuyến khích

vật chất xứng đáng đối với những người làm việc có năng lực, có hiệu quả, tạo

ra phong trào thi đua thực sự trong đơn vị, thu hút người tài, góp phần hạn chế tình trạng chảy máu chất xám Hợp pháp hoá được các khoản thu nhập chính

đáng của cán bộ, hạn chế hiện tượng tiêu cực trong quản lý và lãng phí trong chi tiêu tài chính Nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người và của tập thể cán bộ, công chức trong việc thực hiện tốt công việc được giao

Thứ năm, chế độ tự chủ tài chính là một trong những biện pháp quan

trọng thúc đẩy các cơ quan phải thường xuyên xem xét lại về tổ chức, về chức năng nhiệm vụ của từng người, từng bộ phận cũng như tự điều cỉnh các định mức chi tiêu của đơn vị mình sao cho hợp lý, phù hợp với khả năng tài chính hiện có

Với ý nghĩa và sự cần thiết như trên, chế độ tự chủ tài chính thực sự là một trong các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt

động, tiết kiệm kinh phí ngân sách của các cơ quan hành chính cũng như toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay

Sau khi hiểu rõ được ý nghĩa và sự cần thiết của việc thực hiện chế độ tự chủ tài chính, có thể khẳng định việc áp dụng chế độ tự chủ tài chính đối với KTNN trong giai đoạn hiện nay là thực sự cần thiết, thể hiện cụ thể trên 3 lý

do sau:

Thứ nhất, KTNN là một trong các đối tượng điều chỉnh của Nghị định

130/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ Do đó, việc

Trang 29

các đơn vị hành chính và sự nghiệp thuộc cơ quan KTNN phải thực hiện theo

đúng các Nghị định này là điều cần thiết bắt buộc

Thứ hai, để đáp ứng yêu cầu quản lý và hoạt động KTNN trong điều

kiện quy mô và phạm vi kiểm toán mở rộng; hoạt động kiểm toán được chuyên môn hoá cao hơn (số lượng kiểm toán viên tăng, số cuộc kiểm toán tăng lên, phạm vi kiểm toán mở rộng, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt

động kiểm toán theo hướng chuyên môn hoá ) đòi hỏi tổ chức bộ máy quản

lý cũng được chuyên môn hoá và tổ chức hợp lý hơn, số lượng các cơ quan giúp việc Tổng KTNN cũng sẽ tăng lên Cùng với sự thay đổi cơ cấu các cơ quan giúp việc Tổng KTNN, cơ cấu của mỗi cơ quan cũng có sự thay đổi nhất

định theo hướng chuyên môn hoá hẹp hơn; đồng thời, số lượng công chức KTNN cũng sẽ tăng lên phù hợp với khối lượng công việc ngày càng tăng của KTNN; dự kiến đến năm 2005 có 750 - 800 KTV, đến năm 2010 có khoảng 1.500 KTV

Những vấn đề có tính nguyên tắc chung về cơ chế quản lý hệ thống KTNN về cơ bản là không thay đổi Tuy nhiên, với những thay đổi nhất định trong cơ cấu tổ chức: phân công lao động theo chiều sâu (chuyên môn hoá hẹp hơn), số lượng, quy mô hệ thống tổ chức và hoạt động… Dẫn đến, cần phải

điều chỉnh nhất định về cơ chế quản lý KTNN

Chính sự phát triển của KTNN nói chung và những thay đổi kể trên nói riêng đã đặt ra yêu cầu đối với KTNN là phải tiến hành đổi mới cơ chế quản lý biên chế và kinh phí; sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn để nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả hoạt động; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Thực hiện chế độ tự chủ tài chính là một trong những biện pháp để KTNN có thể đạt được các yêu cầu trên

Thứ ba, với chức năng, nhiệm vụ của mình, hoạt động của KTNN

không chỉ đóng vai trò tích cực giúp Quốc hội trong việc phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạt động hành chính và thúc đẩy quá trình cải cách hành chính Nhà nước Do vậy, KTNN cần phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc chế độ tự chủ tài chính vừa để đáp ứng được nhu cầu phát triển của

Trang 30

mình vừa trở thành một trong các điển hình của Việt Nam trong việc thực hiện cơ chế này

Như vậy, có thể nói, áp dụng chế độ tự chủ vừa là yêu cầu khách quan vừa là sự cần thiết đối với KTNN Để thực hiện mục tiêu, phương hướng phát triển; tham gia công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao quy mô và chất lượng hoạt động của mình, một trong các giải pháp đối với KTNN trong giai đoạn hiện nay là áp dụng chế độ tự chủ

Trang 31

chương II Thực trạng quản lý tài chính của kiểm toán nhà nước và kinh nghiệm áp dụng chế độ tự chủ tài chính

tại một số cơ quan nhà nước

2.1 Tổ chức bộ máy của KTNN và tính đặc thù của hoạt động KTNN ảnh hưởng đến việc tự chủ tài chính của KTNN

2.1.1 Khái quát về tổ chức bộ máy của KTNN

KTNN ra đời trên cơ sở Nghị định số 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ là nhằm thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính công trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi Sự hình thành và phát triển của KTNN là một tất yếu khách quan góp phần đảm bảo phân bổ, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản công một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, ngăn ngừa các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí NSNN và tài sản công

Theo Nghị định số 70/CP, KTNN có chức năng giúp Chính phủ thực hiện kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp KTNN có nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch hàng năm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đó Định kỳ báo cáo thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm toán lên Thủ tướng Chính phủ KTNN có con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do NSNN cấp KTNN được tổ chức và quản lý tập trung thống nhất

Sau khi được thành lập, theo Quyết định số 61/TTg ngày 24/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của KTNN và Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/8/2003 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của KTNN thay thế cho Nghị định số 70/CP Theo Nghị

định 93/2003/NĐ-CP, Vị trí và chức năng của KTNN đã được thể hiện rõ ràng

hơn: “KTNN là Cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách nhà

Trang 32

nước các cấp, báo cáo tổng quyết toán ngân sách nhà nước; báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính của các cơ quan, đơn vị tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong việc quản lý,

sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công theo kế hoạch kiểm toán hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các nhiệm vụ kiểm toán đột xuất

do Thủ tướng Chính phủ giao hoặc do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền yêu cầu…” Với sự ra đời của Nghị định 93/2003/NĐ-CP, KTNN đã xây dựng

được một hệ thống tổ chức bộ máy tương đối hoàn chỉnh từ Trung ương đến các khu vực và từng bước được củng cố hoàn thiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Từ chỗ ban đầu chỉ có 4 kiểm toán chuyên ngành và Văn phòng KTNN, đến nay, KTNN đã có 25 đơn vị thuộc và trực thuộc bao gồm 7 KTNN chuyên ngành, 9 KTNN khu vực, 3 đơn vị sự nghiệp và 6 đơn vị tham mưu thuộc bộ máy điều hành

Việc hình thành và phát triển hệ thống tổ chức của KTNN không chỉ

đơn thuần là sự tăng lên về số lượng các đầu mối các đơn vị mà còn phản ánh

sự lớn mạnh trưởng thành của KTNN để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi khách quan trong công cuộc đổi mới của đất nước

Mặc dù có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định sự ra đời và phát triển của KTNN nhưng những quy định trong các văn bản dưới luật trên đã hạn chế về địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động của KTNN và đặt ra yêu cầu cấp bách phải ban hành một Đạo luật về KTNN Ngày 20/5/2005, Quốc Hội

đã thông qua Luật KTNN Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay quy định về tổ chức và hoạt động của KTNN, tạo cơ sở cho một giai đoạn phát triển mới của KTNN

Như vậy, tổ chức và hoạt động của KTNN được xác lập bằng văn bản

có giá trị pháp lý cao hơn; đồng thời, vị trí và tính độc lập của KTNN cũng

được xác định cao hơn trước khi có Luật KTNN, tạo cơ sở cho sự phát triển và phát huy vai trò của KTNN trong giai đoạn mới; nhưng về nguyên tắc và phương thức tổ chức bộ máy của KTNN sau khi có Luật vẫn được tiếp tục thực hiện theo mô hình đã được xác định trong Nghị định 70/CP và Nghị định

Trang 33

93/2003/NĐ-CP Đây là mô hình tổ chức bộ máy KTNN đã được trải nghiệm

và phát huy tác dụng trong hơn 10 năm qua kể từ khi KTNN được thành lập

KTNN được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất, cơ cấu tổ chức gồm có:

a Lãnh đạo KTNN

- Tổng KTNN

Tổng KTNN là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, chịu trách nhiệm

về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước trước pháp luật, trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ Tổng KTNN do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội sau khi trao đổi thống nhất với Thủ tướng Chính phủ; tiêu chuẩn Tổng Kiểm toán Nhà nước do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định Nhiệm kỳ của Tổng KTNN là bảy năm, có thể được bầu lại nhưng không quá hai nhiệm kỳ Lương

và các chế độ khác của Tổng KTNN như lương và các chế độ khác của Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ

sở chính sách, chế độ tiền lương của Nhà nước

- Phó Tổng KTNN

Phó Tổng KTNN là người giúp việc cho Tổng KTNN, được Tổng KTNN phân công chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Tổng KTNN về nhiệm vụ được phân công Khi Tổng KTNN vắng mặt, một Phó Tổng KTNN được Tổng KTNN uỷ nhiệm lãnh đạo công tác của KTNN

Phó Tổng KTNN do Tổng KTNN đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Nhiệm kỳ của Phó Tổng KTNN là bảy năm Lương và các chế độ khác của Phó Tổng KTNN như lương và các chế độ khác của Phó Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định trên cơ sở chính sách, chế độ tiền lương của Nhà nước

c Các đơn vị tham mưu của KTNN bao gồm: Văn phòng KTNN, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Pháp chế, Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán, Vụ Tổng hợp, Vụ Quan hệ quốc tế

- Văn phòng KTNN có chức năng tham mưu cho Tổng KTNN trong

việc chỉ đạo, điều hành các mặt công tác của KTNN; tổ chức thực hiện công

Trang 34

tác tổng hợp, hành chính, quản trị, hợp tác quốc tế, tài chính - kế toán, thi đua

và thông tin tuyên truyền Văn phòng KTNN có con dấu riêng để giao dịch,

được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật

- Vụ Tổ chức cán bộ là đơn vị thuộc KTNN có chức năng giúp Tổng

KTNN quản lý về lĩnh vực tổ chức bộ máy của KTNN; quản lý cán bộ, công chức, quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Trong công tác biên chế và tiền lương, Vụ Tổ chức cán bộ có nhiệm vụ và quyền hạn: Giúp Tổng KTNN thống nhất quản lý biên chế cán bộ, công chức của các đơn vị thuộc và trực thuộc KTNN; Lập kế hoạch hàng năm về biên chế cán bộ, công chức và quỹ lương do ngân sách nhà nước cấp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; Tổ chức thực hiện và hướng dẫn các đơn vị thuộc và trực thuộc thực hiện các qui định của Nhà nước về quản lý biên chế, tiền lương Trình Tổng KTNN quyết định việc xếp ngạch, chuyển ngạch, nâng ngạch, nâng bậc lương

và phụ cấp lương theo qui định của Nhà nước; Tổ chức thực hiện công tác báo cáo thống kê về biên chế, tiền lương theo qui định của Nhà nước

- Vụ Tổng hợp là đơn vị trực thuộc Kiểm toán Nhà nước có chức năng

tham mưu giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước xây dựng kế hoạch kiểm toán, quản

lý việc thực hiện kế hoạch kiểm toán; thẩm định báo cáo kiểm toán; tổng hợp

và lập báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước, báo cáo kiểm toán năm; tổ chức công bố công khai báo cáo kiểm toán; chuẩn bị ý kiến của Kiểm toán Nhà nước về dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương; là đầu mối quan hệ công tác giữa Kiểm toán Nhà nước với Quốc hội và Chính phủ trong hoạt động kiểm toán

- Vụ Pháp chế là đơn vị thuộc KTNN có chức năng tham mưu giúp

Tổng KTNN về công tác quản lý bằng pháp luật trong tổ chức và hoạt động của KTNN; tổ chức thực hiện công tác xây dựng pháp luật, thẩm định, rà soát,

hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về KTNN

- Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán là đơn vị trực thuộc

Kiểm toán Nhà nước có chức năng tham mưu giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước

về công tác xây dựng, ban hành, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các

Trang 35

văn bản về chuẩn mực, quy trình và phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán nhà nước; công tác xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo

về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán nội bộ; tổ chức kiểm soát chất lượng kiểm toán

- Vụ Quan hệ Quốc tế là đơn vị trực thuộc Kiểm toán Nhà nước có chức

năng tham mưu giúp Tổng Kiểm toán Nhà nước quản lý và thực hiện các hoạt

động hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế về lĩnh vực kiểm toán nhà nước; tổ chức thực hiện công tác đối ngoại của Kiểm toán Nhà nước; quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án hợp tác quốc tế của Kiểm toán Nhà nước

d Các đơn vị KTNN chuyên ngành

Các đơn vị KTNN chuyên ngành bao gồm: KTNN CNI (Kiểm toán chương trình đặc biệt), KTNN CN II (Kiểm toán Nhà nước NSNN 1), KTNN CNIII (Kiểm toán NSNN 2), KTNN CN IV (Kiểm toán Đầu tư - dự án 1), KTNN CN V (Kiểm toán Đầu tư - dự án 2), KTNN CN VI (Kiểm toán DNNN), KTNN CN VII (Kiểm toán các tổ chức Tài chính - Ngân hàng)

- KTNN CN I - Kiểm toán Chương trình đặc biệt là đơn vị kiểm toán

nhà nước chuyên ngành thuộc KTNN có chức năng giúp Tổng KTNN kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước, báo cáo tài chính của các cơ quan, đơn vị, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực: quốc phòng, an ninh; báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước của các cơ quan Đảng và các doanh nghiệp của Đảng có sử dụng ngân sách nhà nước; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công của các đối tượng kiểm toán

- KTNN CNII - Kiểm toán NSNN 1 có chức năng giúp Tổng KTNN

kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của Báo cáo quyết toán NSNN, báo cáo quyết toán Ngân sách của Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính và cơ quan thuộc Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Thương mại, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Bưu chính viễn thông, Bộ Ngoại giao, Bảo

Trang 36

hiểm xã hội và các quỹ tài chínEh tập trung của Nhà nước; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng NSNN và tài sản công của các đối tượng kiểm toán

- KTNN CNIII - Kiểm toán NSNN 2 có chức năng giúp Tổng KTNN

kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (trừ các cơ quan

do Kiểm toán Ngân sách nhà nước I đảm nhận) và các tổ chức chính trị xã hội

- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước ở trung ương; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công của các đối tượng kiểm toán

- KTNN CN IV - Kiểm toán Đầu tư - Dự án 1 có chức năng giúp Tổng

KTNN kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo tài chính năm và báo cáo quyết toán vốn đầu tư của các công trình, dự án đầu tư do các

bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực: giao thông - vận tải, công nghiệp, bưu chính - viễn thông, thương mại, du lịch là chủ đầu tư hoặc các đơn vị do các cơ quan nhà nước kể trên quản lý là chủ đầu tư; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong quản lý, sử dụng vốn của Nhà nước và tài sản công của các đối tượng kiểm toán; chủ trì thực hiện kiểm toán các chương trình mục tiêu quốc gia và các

khoản vay nợ, viện trợ Chính phủ thuộc phạm vi kiểm toán

- KTNN CN V - Kiểm toán Đầu tư - Dự án 2 có chức năng giúp Tổng

KTNN kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo tài chính

năm và báo cáo quyết toán vốn đầu tư của các công trình, dự án đầu tư xây

dựng cơ bản do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, thông tin, tuyên truyền, y tế, giáo dục, văn hoá - xã hội, thể dục - thể thao, khoa học - công nghệ, tài nguyên - môi trường là chủ đầu tư hoặc các

đơn vị do các cơ quan nhà nước kể trên quản lý là chủ đầu tư; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong quản lý, sử dụng vốn của Nhà nước và tài sản công của các đối tượng kiểm toán; chủ trì thực hiện kiểm toán các chương

Trang 37

trình mục tiêu quốc gia và các khoản vay nợ, viện trợ Chính phủ thuộc phạm

vi kiểm toán

- KTNN CN VI - Kiểm toán DNNN có chức năng giúp Tổng KTNN

kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ thành lập và các doanh nghiệp nhà nước do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương là đại diện chủ sở hữu vốn tại doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực tài chính - ngân

hàng, bảo hiểm, kế toán - kiểm toán); kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính

kinh tế trong quản lý, sử dụng vốn của Nhà nước và tài sản công của các đối

tượng kiểm toán

- KTNN CN VII - Kiểm toán Các tổ chức tài chính - ngân hàng có chức

năng giúp Tổng KTNN kiểm toán, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách, báo cáo tài chính của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm quốc doanh; các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tư vấn tài chính - kế toán - kiểm toán; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, vốn của Nhà nước và tài sản công của các đối tượng

thuộc phạm vi kiểm toán

e Các đơn vị KTNN khu vực

Tính đến thời điểm 31/12/2006, KTNN có 05 KTNN khu vực gồm có: KTNN Khu vực I (Hà Nội), KTNN Khu vực II (Vinh - Nghệ An), KTNN Khu vực III (Đà Nẵng), KTNN Khu vực IV (T.p HCM), KTNN Khu vực V (Cần Thơ) Năm 2007, KTNN đã được thành lập thêm 04 KTNN khu vực nâng tổng

số khu vực hiện nay của KTNN lên 09 đơn vị

Các đơn vị KTNN Khu vực là đơn vị trực thuộc KTNN có chức năng giúp Tổng KTNN tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên địa bàn khu vực theo sự phân công của

Tổng KTNN, cụ thể là: Kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách các cấp tỉnh, huyện, xã trên địa bàn khu vực; Kiểm toán báo cáo quyết toán, báo cáo tài

chính của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng ngân sách do các địa

Trang 38

phương trên địa bàn khu vực quản lý; Kiểm toán báo cáo tài chính năm và báo cáo quyết toán vốn đầu tư của các công trình, dự án đầu tư do Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn khu vực làm chủ đầu tư hoặc các đơn vị do Uỷ ban nhân dân các cấp trên địa bàn khu vực quản lý làm chủ đầu; Kiểm toán báo cáo tài chính của các Doanh nghiệp nhà nước do Uỷ ban nhân dân các cấp hoặc các đơn vị do Uỷ ban nhân dân các cấp quản lý trên địa bàn khu vực là

đại diện chủ sở hữu vốn tại doanh nghiệp; Kiểm toán tính tuân thủ pháp luật,

tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản công đối với các

cơ quan, đơn vị, tổ chức trên địa bàn khu vực do địa phương quản lý; Kiểm

toán một số đối tượng khác do trung ương quản lý đóng trên địa bàn theo sự

uỷ nhiệm của Tổng KTNN

Các đơn vị KTNN khu vực là các đơn vị có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; kinh phí hoạt động do ngân sách nhà nước cấp trong ngân sách chung của KTNN

f Các đơn vị sự nghiệp của KTNN

Các đơn vị sự nghiệp của KTNN gồm có: Trung tâm tin học, Trung tâm Khoa học & Bồi dưỡng cán bộ KTNN, Tạp chí kiểm toán

- Trung tâm Tin học là đơn vị trực thuộc KTNN, có chức năng giúp

Tổng KTNN quản lý thống nhất các hoạt động công nghệ thông tin của KTNN; tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của KTNN; thực hiện một số dịch vụ công về công nghệ thông tin thuộc lĩnh vực kiểm toán nhà nước theo quy định của Tổng KTNN Trung tâm Tin học là đơn vị hoạt động sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng,

được mở tài khoản tại các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước Trung tâm Tin học được KTNN cấp kinh phí hoạt động hàng năm theo quy định của Luật NSNN và có các nguồn khác theo quy định hiện hành của Nhà nước

- Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ (gọi tắt là Trung tâm Khoa

học) là đơn vị trực thuộc KTNN có chức năng giúp Tổng KTNN quản lý và tổ chức công tác nghiên cứu khoa học trong toàn ngành; tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ là

đơn vị hoạt động sự nghiệp, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản

Trang 39

riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước Hiện nay, Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự

đảm bảo một phần (50%) chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp

- Tạp chí Kiểm toán là cơ quan báo chí trực thuộc KTNN có chức năng

tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về những lĩnh vực liên quan đến KTNN; là diễn

đàn khoa học, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, lý luận, nghiệp vụ chuyên môn

và các hoạt động khác có liên quan đến KTNN phục vụ nhiệm vụ chính trị của KTNN Tạp chí Kiểm toán là đơn vị hoạt động sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước Tạp chí Kiểm toán được KTNN cấp kinh phí hoạt động hàng năm theo quy định của Luật NSNN, Luật Báo chí và có các nguồn khác theo quy định hiện hành của Nhà nước Hiện nay, Tạp chí Kiểm toán là đơn vị

có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ (100%) chi phí hoạt động thường xuyên

Để đáp ứng nguồn nhân lực cho các hoạt động của KTNN và phù hợp với cơ cấu tổ chức như trên, số lượng cán bộ công chức, viên chức của KTNN

đã tăng dần qua các năm (năm 1994: 60 người, 1995: 180 người, 1997: 400 người, 1998-2000: 460 người; năm 2005: 639 người, năm 2008: khoảng 1.300 người) Cùng với việc gia tăng số lượng cán bộ công chức, nguồn kinh phí NSNN dành cho hoạt động của KTNN cũng ngày một tăng lên

Hoạt động KTNN là hoạt động đặc thù, yêu cầu phải bảo đảm nguồn tài chính độc lập để thực hiện nhiệm vụ được giao, tránh tối đa sự phiền hà đối với đơn vị được kiểm toán Luật KTNN cũng dành một chương riêng cho việc quy định bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất cho KTNN Thực tế cho thấy chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số kinh phí hoạt động của KTNN là khoản công tác phí cho các đoàn kiểm toán, trang thiết bị phucụ vụ chuyên môn, đầu tư cơ sở vật chất, trụ sở cho KTNN khu vực và KTNN trung ương

2.1.2 Đặc thù của hoạt động KTNN ảnh hưởng đến phương án tự chủ tài chính của KTNN

Trang 40

Với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao theo quy định của Luật KTNN, có thể khái quát một số điểm cơ bản ảnh hưởng đến thực hiện phương án

tự chủ tài chính của KTNN như sau:

Thứ nhất, KTNN là cơ quan kiểm tra tài chính từ bên ngoài, độc lập với công

tác quản lý điều hành kinh tế - tài chính Sự ra đời và phát triển của KTNN theo yêu cầu của cải cách hành chính và trách nhiệm giải trình của Chính phủ đối với lĩnh vực tài chính công Luật KTNN đã dành một chương riêng quy định về đảm bảo kinh phí cho hoạt động KTNN nhằm đảm bảo tính độc lập về tài chính đối với cơ quan KTNN, đây là cơ sở pháp lý để đảm bảo cung cấp kinh phí và điều kiện cơ sở vật chất

đáp ứng hoạt động KTNN, trong đó có việc vận dụng chế độ tự chủ tài chính và áp dụng những cơ chế bổ sung kinh phí khi thực hiện những nhiệm vụ kiểm toán nằm ngoài kế hoạch kiểm toán hàng năm theo yêu cầu của các cơ quan chức năng;

Thứ hai, Cơ cấu tổ chức bộ máy của KTNN chưa ổn định và còn phát triển

mạnh để đáp ứng chức năng, nhiệm vụ được giao Đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước ở tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan với phạm vi rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Địa bàn hoạt động của KTNN theo khu vực do vậy cần phải bố trí kinh phí ngoài chế độ tự chủ để đảm bảo cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, trụ sở làm việc cho KTNN

Thứ ba, Hoạt động KTNN mang tính chuyên môn, chuyên nghiệp rất

cao, phải tuân theo chuẩn mực, quy trình, quy chế một cách chặt chẽ; Đội ngũ kiểm toán viên phải có kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng tương xứng, đòi hỏi phải có quá trình tuyển dụng, đào tạo, huấn luyện rất công phu; Đòi hỏi phải

được trang bị sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, đồng bộ (hệ thống dữ liệu, công nghệ thông tin, các phương tiện đặc chủng trong lĩnh vực đầu tư -

dự án ) Những vấn đề này có tác động lớn trong việc xây dựng phương án tự chủ tài chính của KTNN trên cả giác độ các khoản khoán chi và các khoản không khoán, đồng thời xác định số biên chế được giao cho từng thời kỳ phù hợp với bản chất, chức năng, nhiệm vụ của KTNN

Thứ tư, Chủ thể hoạt động kiểm toán - các KTV vừa là công chức nhà

nước, vừa có quy định đặc thù về tiêu chuẩn, trách nhiệm, quyền hạn, có

Ngày đăng: 17/08/2014, 00:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ (2006), Thông t− số 71/2006/TTLT-BTC-BNV ngày 09/8/2006 ban hành chế độ tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp tự bảođảm một phần chi phí hoạt động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t− số 71/2006/TTLT-BTC-BNV ngày 09/8/2006 ban hành chế độ tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp tự bảo
Tác giả: Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ
Năm: 2006
6. Chính Phủ (2003), Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/8/2003 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kiểm toán Nhà n−íc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 13/8/2003 về việc quy
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2003
7. Chính phủ (2005), Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chínhđối với các cơ quan nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
8. Chính phủ (2006), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định chế độ tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định chế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
9. Dự án GTZ/KTNN (2005), Những nội dung cơ bản của Luật Kiểm toán nhà n−íc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án GTZ/KTNN (2005)
Tác giả: Dự án GTZ/KTNN
Năm: 2005
12. Kiểm toán Nhà n−ớc (2008), Chiến l−ợc phát triển Kiểm toán Nhà n−ớc giai đoạn 2008-2015 và tầm nhìn 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến l−ợc phát triển Kiểm toán Nhà n−ớc giai
Tác giả: Kiểm toán Nhà n−ớc
Năm: 2008
13. Kiểm toán Nhà n−ớc (2002, 2003, 2004, 2005), Báo cáo quyết toán NSNN 14. Quốc hội (2003) Luật Ngân sách nhà n−ớc, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quyết toán NSNN" 14. Quốc hội (2003) "Luật Ngân sách nhà n−ớc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
19. ủy ban Kinh tế-Ngân sách Quốc hội (7/2004), Dự án VIE/02/008, Tài liệu Hội thảo về cân đối ngân sách.20. Một số tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo về cân đối ngân sách
1. Bộ Tài chính, Bộ Trưởng Bộ Tài chính (1996), Quyết định số 999- TC/QĐ/CĐKT ngày 2/11/1996 về chế độ kế toán của đơn vị hành chính sự nghiệp và các Thông t− sửa đổi, bổ sung Quyết định 999-TC/QĐ/CĐKT của Bộ Tài chính Khác
3. Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ (2006), Thông t− liên tịch số 03/2006/TTLT-BTC- BNV ngày 17/01/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm Khác
4. Chính phủ (2003), Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 Quy định chi tiết và h−ớng dẫn thi hành Luật NSNN Khác
5. Chính phủ (2003), Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/6/2003 Ban hành Quy chế xem xét, quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, phê chuẩn quyết toán NSĐP Khác
10. Kiểm toán Nhà nước (2003), Chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước đến n¨m 2010 Khác
11. Kiểm toán Nhà n−ớc (2004), 10 năm xây dựng và phát triển Kiểm toán Nhà n−ớc Việt Nam Khác
16. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước Khác
17. Trung tâm Khoa học và Bồi d−ỡng cán bộ-Kiểm toán Nhà n−ớc (2004, 2005, 2006), Tạp chí Kiểm toán, Nội san nghiên cứu khoa học kiểm toán Khác
18. Uỷ ban Th−ờng vụ Quốc hội (2005), Nghị quyết số 916/2005/NQ-UBTVQH 11 ngày 15/9/2005 quy định về cơ cấu tổ chức của Kiểm toán Nhà nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w