ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- LÊ THỊ THÙY LINH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BÙN ĐỎ LÀM VẬT LIỆU XỬ LÝ FLORUA TRONG NƯỚC ĂN UỐNG VÀ SINH HOẠT LUẬN VĂN THẠC SĨ KH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
LÊ THỊ THÙY LINH
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BÙN ĐỎ LÀM VẬT LIỆU XỬ LÝ FLORUA
TRONG NƯỚC ĂN UỐNG VÀ SINH HOẠT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
LÊ THỊ THÙY LINH
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BÙN ĐỎ LÀM VẬT LIỆU XỬ LÝ FLORUA
TRONG NƯỚC ĂN UỐNG VÀ SINH HOẠT
Chuyên ngành: Hóa Môi Trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHƯƠNG THẢO
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 2
1.1 Bùn đỏ 2
1.1.1 Giới thiệu về bùn đỏ 2
1.1.2 Thành phần và đặc điểm của bùn đỏ 3
1.1.3 Tình hình nghiên cứu tái sử dụng bùn đỏ 6
1.2 Florua và các phương pháp xử lý florua 10
1.2.1 Nguồn gốc và phân bố florua 10
1.2.2 Tính chất vật lý và hóa học của florua 11
1.2.3 Độc tính của florua 14
1.2.4 Tình hình ô nhiễm florua hiện nay 15
1.2.5 Các phương pháp xử lý florua 18
Chương 2- THỰC NGHIỆM 26
2.1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn 26
2.1.1 Mục tiêu nghiên cứu 26
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 26
2.2 Hóa chất và dụng cụ 26
2.2.1 Hóa chất 26
2.2.2 Dụng cụ và thiết bị 28
2.3 Phương pháp phân tích florua bằng phương pháp SPADNS 28
2.4 Chế tạo các loại vật liệu hấp phụ florua từ bùn đỏ 28
2.4.1 Trung hòa bùn đỏ thô 28
2.4.2 Biến tính bùn đỏ bằng phương pháp nhiệt 29
2.4.3 Biến tính bùn đỏ bằng phương pháp ngâm tẩm magiê clorua 29
Trang 42.4.4 Biến tính bùn đỏ bằng đất hiếm xeri oxit 29
2.5 Các phương pháp đánh giá đặc tính của vật liệu hấp phụ 30
2.5.1 Phương pháp nhiễu xạ tia Rơnghen (XRD) 30
2.5.2 Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) 32
2.5.3 Phương pháp xác định giá trị pH tại điểm đẳng điện 33
2.5.4 Phương pháp đánh giá khả năng hấp phụ florua của vật liệu 35
Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ florua từ bùn đỏ 40
3.1.1 Bùn đỏ trung hòa kiềm (RM) 40
3.1.2 Bùn đỏ biến tính nhiệt (TRM) 42
3.1.3 Bùn đỏ biến tính bởi magiê clorua (Mg-RM) 44
3.1.4 Bùn đỏ biến tính bởi đất hiếm xeri oxit (Ce-RM) 46
3.2 Nghiên cứu khả năng hấp phụ florua của các vật liệu 48
3.2.1 Đường chuẩn xác định nồng độ florua 48
3.2.2 Khả năng hấp phụ florua của vật liệu RM 48
3.2.3 Khảo sát khả năng hấp phụ florua của vật liệu TRM 54
3.2.4 Khảo sát khả năng hấp phụ florua của vật liệu Mg-RM 58
3.2.5 Khảo sát khả năng hấp phụ florua của vật liệu Ce-RM 64
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các anion cạnh tranh đến quá trình hấp phụ florua72 3.3.1 Ảnh hưởng của clorua 72
3.3.2 Ảnh hưởng của bicacbonat 73
3.3.3 Ảnh hưởng của phốtphát 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Sự có mặt của florua trong nước uống có thể có lợi hoặc có hại cho sức khỏe phụ thuộc vào nồng độ của nó Trong nước uống nồng độ F- chấp nhận được khoảng 0,5-1,5 mg/L Giá trị nồng độ 1,5 mg/L đã được đề xuất bởi WHO, nhưng không phải là một giá trị cố định, nó được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện của từng quốc gia như điều kiện khí hậu, thể tích đầu vào nước, và đầu vào của F- từ các nguồn khác
Môi trường ô nhiễm florua do hai nguồn chính là tự nhiên và con người gây
ra Florua phát thải vào môi trường tự nhiên qua việc khai thác khoáng sản, khí thải
từ núi lửa Các nguồn thải nghiêm trọng qua khí thải, nước thải và chất thải từ nhiều hoạt động công nghiệp khác nhau, bao gồm sản xuất thép, sản xuất nhôm, đồng và niken, sản xuất thủy tinh, gạch, gốm sứ, keo dán và chất kết dính và trong quá trình sản xuất và sử dụng phân bón photphat
Nhiều phương pháp đã được phát triển để loại bỏ hàm lượng florua dư thừa
từ nước, ví dụ phương pháp hấp phụ, trao đổi ion, kết tủa, điện thẩm tách, thẩm thấu ngược, và lọc nano Trong số những phương pháp này, hấp phụ là một trong những
kỹ thuật quan trọng được sử dụng để loại bỏ florua từ nước vì dễ vận hành và chi phí thấp, đặc biệt là đối với các hộ gia đình cá nhân và hệ cộng đồng nhỏ Các chất hấp phụ khác nhau đã được sử dụng để loại florua bao gồm nhôm hoạt tính, than hoạt tính, than xương, tổng hợp ion trao đổi, vật liệu tổng hợp, và hỗn hợp oxit đất hiếm,… Trong những năm gần đây, người ta đã đặc biệt chú ý đến việc nghiên cứu các loại vật liệu khác nhau từ các khoáng chất tự nhiên như kaolinite, bentonite, lignite, montmorillonite, laterite, and bùn đỏ Bùn đỏ (chất thải từ bauxit của quá trình sản xuất nhôm) thải ra như một sản phẩm phụ không mong muốn trong quá trình
Chính vì vậy, với mong muốn chế tạo được những vật liệu hấp phụ florua
trên cơ sở bùn đỏ có hiệu quả xử lý cao Chúng tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu
sử dụng bùn đỏ làm vật liệu xử lý florua trong nước ăn uống và sinh hoạt”
Trang 6CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về bùn đỏ
“Bùn đỏ” là chất thải của quá trình sản xuất nhôm từ quặng bauxit theo công nghệ Bayer (thủy luyện).Trung bình cứ sản xuất một tấn Al2O3 thì thải ra 1-1,5 tấn bùn đỏ tùy thuộc chất lượng quặng bauxit đầu vào Với hàm lượng oxit sắt chiếm đến 60% và độ kiềm cao (pH>13) được xả ra môi trường, nó đang trở thành mối đe dọa rất lớn đến cuộc sống con người và môi trường sinh thái
Quặng bauxit bao gồm các thành phần chính như Al2O3 + SiO2 + TiO2 +
Fe2O3…Thành phần và hàm lượng các oxit trong bùn đỏ phụ thuộc vào thành phần quặng bauxit và công nghệ sản xuất nhôm khác nhau
Khi không được thu gom, cách ly với môi trường, nước này có thể thấm vào đất ảnh hưởng đến cây trồng, xâm nhập vào mạch nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước Nước thải từ bùn tiếp xúc với da gây tác hại như ăn da, làm mất đi lớp nhờn làm da khô ráp, sần sùi, chai cứng, nứt nẻ, đau rát, có thể sưng tấy và loét mủ ở vết
rách xước trên da
Chất kiềm trong bùn đỏ có thể tiêu diệt một phần thảm thực vật, làm hư hại đất canh tác Đặc biệt khi chảy xuống sông, bùn đỏ sẽ làm chết rất nhiều sinh vật như cá, tôm do nó có độ pH cao và có thể hấp phụ các kim loại nặng và các anion,
Ở Việt Nam, theo tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam, quy hoạch phát triển bauxit ở Tây Nguyên đến năm 2015, mỗi năm sản xuất khoảng 7 triệu tấn, tương đương với việc cho ra 10 triệu tấn bùn đỏ Cứ như thế sau 50 năm sẽ có 1,15 tỉ tấn bùn đỏ tồn đọng trên vùng đất Tây Nguyên
Như vậy ở các nước trên thế giới và cả ở Việt Nam, công nghiệp sản xuất nhôm vẫn đã và đang phát triển, lượng bùn đỏ thải không ngừng làm cho các nhà khoa học cần phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa trong việc xử lý bùn đỏ, mục đích lớn hơn là tái sử dụng nó trở thành vật liệu thân thiện với môi trường
Trang 71.2 Florua
1.2.1 Nguồn gốc và phân bố florua
Trong tự nhiên flo gặp chủ yếu ở dạng ion florua hoá trị một, là thành phần của các khoáng như floapatit [(Ca10F2)PO4)6], crriolit (Na3AlF6) và flospar (CaF2)
Nó là một thành phần chung của đất, trung bình 200 mg/Lkg trên toàn thế giới Florua cũng có ở trong nước tự nhiên, trung bình khoảng 0,2 mg/L (Châu Âu và Bắc Mỹ), trong nước biển nồng độ florua vào khoảng 1,2 mg/L Tính chung flo là nguyên tố có độ giàu thứ 13 trên trái đất, chiếm 0,03% vỏ trái đất
Flo được thải vào môi trường từ nhiều nguồn khác nhau Khí florua (phần lớn
là HF) được phát ra qua hoạt động của núi lửa và bởi một số ngành công nghiệp khác nhau Flo ở dạng khí và dạng hạt là sản phẩm phụ của sự đốt than (than chứa
10 480 mg/L kg flo, trung bình 80 mg/kg) và được giải phóng ra trong quá trình sản xuất thép và luyện các kim loại không chứa sắt Sản xuất nhôm bao gồm việc sử dụng criolit, flospar và nhôm florua thường là nguồn florua môi trường quan trọng Các khoáng có chứa florua thường cũng là vật liệu thô cho thuỷ tinh, gốm sứ, xi măng phân bón Chẳng hạn, sự sản xuất phân photphat bằng sự axit hoá quặng apatit với H2SO4 giải phóng ra hiđro florua theo phương trình sau đây là một ví dụ minh hoạ:
Ngoài ra, sự phong hóa các đá và khoáng vật chứa flo đã giải phóng flo vào nước ngầm, nước sông, nước suối, làm tăng dần hàm lượng florua trong nước Ở những vùng có khoáng hóa florit thì hàm lượng flo trong nước có thể cao hơn Nước ngầm khi vận động có thể mang theo sự ô nhiễm flo đi xa nguồn với khoảng cách khá lớn [5, 8, 24] Trên thực tế có nhiều khu vực có các nguồn nước
tự nhiên nhiễm flo khá cao như ở một số vùng của Ấn Độ, Trung Quốc, Băngladet Ở Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định và nhiều nơi nước ta có những khu vực mà hầu hết các nguồn nước chứa hàm lượng flo từ 3 - 4mg/L, thậm chí có những giếng lên tới 9mg/L Trong khi tiêu chuẩn đối với nước sinh hoạt, nước mặt
là nồng độ flo = 1mg/L (TCVN, 1995) [5,8, 26, 45]
Trang 81.2.2 Độc tính của florua
Florua có các ảnh hưởng bệnh lí học lên cả thực vật và động vật [5]
Thực vật: là chất gây nguồn bệnh, florua gây ra sự phá huỷ một diện rộng
mùa màng Nó chủ yếu được tập trung bởi thực vật ở dạng khí (HF) qua khí khổng của lá, hoà tan vào pha nước của các lỗ cận khí khổng và được vận chuyển ở dạng ion theo dòng thoát hơi nước đến các đỉnh lá và các mép lá Một số đi vào các tế bào lá và tích tụ ở bên trong các bào quan của tế bào Các ảnh hưởng của florua đến thực vật rất phức tạp vì liên quan với rất nhiều phản ứng sinh hoá Các triệu trứng thương tổn chung là sự gây vàng đỉnh và mép lá và gây cháy lá Nó cũng làm giảm
sự sinh trưởng phát triển của thực vật và sự nẩy mầm của hạt Một trong số biểu hiện sớm ảnh hưởng phá huỷ trong thực vật của florua là sự mất clorophin, điều này liên quan đến sự phá huỷ các lục lạp, ức chế sự quang tổng hợp Florua cũng có ảnh hưởng trực tiếp tới các enzim liên quan đến sự glico phân, hô hấp và trao đổi chất của lipit và tổng hợp protein (photphoglucomutaza, piruvat kinaza, sucxinic đehiđrogenaza, pirophotphataza, và ATPaza ti thể) Tất cả những ảnh hưởng đó đã dẫn đến sự thất thu mùa màng
Động vật: Mặc dù florua chỉ có độc tính cấp vừa phải đối với động vật và
không được xem là mối đe doạ đối với động vật hoang dã, nó có thể đóng vai trò đe doạ quan trọng đối với người và gia súc dưới những điều kiện nào đó Các florua như đã được chỉ ra đối với nguyên nhân gây phá huỷ nhiễm sắc thể và sự đột biến trong các tế bào động và thực vật, dẫn đến ảnh hưởng gây ra ung thư mạnh, mặc dù vậy, các vấn đề nghiêm trọng nhất liên quan với sự nhiễm florua còn đương được tranh cãi, những nói chung là ảnh hưởng rối loạn bộ xương
Các triệu chứng ảnh hưởng thấy rõ là: sự vôi hoá khác thường của xương và răng, bộ dạng cứng nhắc, thân mảnh, lông xù, giảm cho sữa, giảm cân
Con người: Do lượng florua quá mức, men răng mất đi độ bóng của răng
Florua chủ yếu được tích lũy ở khớp cổ, đầu gối, xương chậu và xương vai, gây khó khăn khi di chuyển hoặc đi bộ Các triệu chứng của xương nhiễm flo tương tự như cột sống dính khớp hoặc viêm khớp, xương sống bị dính lại với nhau và cuối cùng
Trang 9nạn nhân có thể bị tê liệt Nó thậm chí có thể dẫn đến ung thư và cuối cùng là cột sống lớn, khớp lớn, cơ bắp và hệ thần kinh bị tổn hại Bên cạnh đó, tiêu thụ quá nhiều florua có thể dẫn đến hàng loạt các tác hại như: thoái hóa sợi cơ, nồng độ hemoglobin thấp, dị dạng hồng cầu, nhức đầu, phát ban da, thần kinh căng thẳng, trầm cảm, các vấn đề về tiêu hóa và đường tiết niệu, ngứa ran ở ngón tay và ngón chân, giảm khả năng miễn dịch, xảy thai, phá hủy các enzim…
Bằng chứng về ung thư ở các cộng đồng nhiễm florua ở mức cao có sự tranh cãi Một số vượt quá mức bình thường bị ung thư đường hô hấp ở các mỏ flospar đã được công bố ở Canađa và một số nơi (Colorado)
Trang 10CHƯƠNG 2-THỰC NGHIỆM 2.1 Chế tạo các loại vật liệu hấp phụ florua từ bùn đỏ
Mẫu bùn đỏ nguyên khai được lấy từ Dak Nông, Việt Nam có độ kiềm cao
pH > 12 Trước hết cần trung hòa vật liệu về giá trị pH=7
2.1.1 Trung hòa bùn đỏ thô
Dùng dung dịch HCl 0,1M để trung hòa bùn đỏ thô về pH=7 Sau đó rửa sạch Cl- bằng nước cất (thử bằng dung dịch AgNO3) Sấy khô, để nguội rồi nghiền mịn cỡ hạt 0,1-0,5mm Để vật liệu trong lọ sạch kín để sử dụng cho các thí nghiệm
Kí hiệu vật liệu là RM
2.1.2 Biến tính bùn đỏ bằng phương pháp nhiệt
Lấy bùn đỏ thô đã trung hòa (RM) ở trên đem nghiền mịn, cân xác định khối lượng để vào chén nung Đem nung ở nhiệt độ 600oC trong 4 giờ, để nguội, nghiền mịn cỡ hạt 0,1-0,5 mm, để nguội cất trong lọ kín khô sạch để sử dụng cho các thí
nghiệm Kí hiệu vật liệu là TRM
2.1.3 Biến tính bùn đỏ bằng phương pháp ngâm tẩm magiê clorua
Quy trình chế tạo vật liệu Ce-RM từ RM bằng đất hiếm xeri oxit:
- Cân 10,0 g vật liệu RM cho vào cốc thủy tinh 500ml, thêm 90ml dung dịch
Ce3+ 10g/L, thêm 50ml H2O2, khuấy đều Dùng dung dịch NH3 2M nhỏ giọt xuống đến khi Ce3+ chuyển hết về dạng hidroxit (màu nâu đỏ) và thử bằng giấy chỉ thị thấy
pH ~ 7 thì dừng lại Tiếp tục khuấy đều thêm 10 phút nữa
- Ủ kết tủa ở nhiệt độ 60-70oC trong 6 giờ
- Lọc kết tủa bằng phễu lọc với giấy lọc băng xanh Rửa kết tủa nhiều lần bằng nước cất đến khi dịch lọc không còn ion SO42- (thử bằng dung dịch Ba2+)
- Sấy khô hỗn hợp ở 70oC, nghiền nhỏ tới kích thước hạt 0,1-0,5 mm
- Để nguội cất trong lọ kín sạch để sử dụng cho các thí nghiệm
Kí hiệu vật liệu là Ce-RM
Trang 11Chương 3 – KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Nghiên cứu cấu trúc và bề mặt vật liệu hấp phụ florua từ bùn đỏ
3.1.1 Bùn đỏ trung hòa kiềm (RM)
Bùn đỏ sau khi trung hòa kiềm được tiến hành nghiên cứu cấu trúc, bề mặt
và xác định pH tại điểm đẳng điện với các kết quả thu được lần lượt như sau:
qua kính hiển vi điện tử quét
Giản đồ XRD của RM cho thấy sự có mặt của gibbsite Al(OH)3 và goethite FeO(OH) ở các đỉnh của góc nhiễu xạ 2θ bằng 18,4o; 20,3o; 20,5o và 17,8o; 21,3o; 26,3o; 33,2o; 34,6o; 36,6o; 41,1o; 53,2o; 58,9o
Kết quả hình ảnh bề mặt vật liệu RM qua kính hiển vi điện tử trên hình 3.2 cho thấy vật liệu bùn đỏ RM sau khi được trung hòa bằng axit chỉ còn lại các khối kết tụ gồm Al(OH)3 và FeO(OH) co cụm xen lẫn vào nhau, bề mặt xuất hiện các lỗ xốp có cấu trúc bất thường, có các hạt kích thước rất nhỏ ~10-100nm tương đối đồng đều
Facul ty of C hemistr y, HUS, VN U, D8 ADVANC E-Bruker - M au RM truoc HP
01 -0 81-04 64 (C) - Go ethite, s yn - Fe O(OH) - Y: 90.91 % - d x by : 1 - W L : 1 540 6 - Orthorhombic - a 4.60 48 0 - b 9 9 5950 - c 3.02 300 - al pha 9 0.000 - beta 90.000 - gamm a 90.0 00 - Prim itive - Pbn m (62) - 4
01 -0 76-17 82 (C) - Gi bb site - Al(OH)3 - Y: 8 7.41 % - d x by : 1 - W L: 1.5 406 - Monoc linic - a 8 64100 - b 5.07040 - c 9.71900 - a lpha 9 0.00 0 - b eta 85 4 30 - ga mm a 90 000 - Prim itiv e - P21/n (14) - 8 - 4 24 468
Trang 123.1.2 Bùn đỏ biến tính nhiệt (TRM)
TRM qua kính hiển vi điện tử quét
Từ hình 3.4 cho thấy quá trình biến tính nhiệt đã làm thay đổi cấu trúc vật liệu, dạng gibbsite Al(OH)3 biến mất và goethite FeO(OH) chuyển thành Fe2O3,
chất hấp phụ chuyển từ dạng hidroxit sang dạng oxit
Vật liệu TRM được chế tạo từ vật liệu RM sau khi nung ở nhiệt độ cao
600oC nên chỉ còn lại các thành phần oxit Al2O3 và Fe2O3 có nhiều hạt có kích thước nhỏ hơn từ ~10-100nm, tương tự hình ảnh SEM của vật liệu RM nhưng còn thấy các lỗ rỗng và khoảng trống các khối co cụm rời rã hơn có thể là do quá trình calcite hóa ở nhiệt độ cao, làm vật liệu trở lên xốp hơn so với vật liệu RM
3.1.3 Bùn đỏ biến tính bởi magiê clorua (Mg-RM)
TRM qua kính hiển vi điện tử quét
Fa c ulty o f C he m istry, H U S , VN U , D 8 A D V AN C E-Bru ke r - M au M gR M tru oc H P
0 0 -0 0 1 -1 0 5 3 (D ) - Hem at ite - Fe 2O 3 - Y : 6 4 6 2 % - d x b y: 1 - W L : 1 5 40 6 - R ho m b o H a xe s - a 5 02 8 0 0 - b 5 02 80 0 - c 13 7 3 0 00 - al p h a 9 0 0 0 0 - b e ta 9 0 0 0 0 - ga m m a 1 20 0 0 0 - Pr im i tiv e - R -3 c (1 6 7 ) - 2 -
F ile : L in h K 2 1 m a u M g RM t ru o c HP r aw - Ty p e : L oc ke d Co u p le d - S t ar t: 1 0 0 0 0 ° - E nd : 7 0 00 0 ° - S t e p : 0 0 3 0 ° - S t ep t im e : 1 s - Te m p : 2 5 ° C (R o o m ) - Tim e S ta rte d : 15 s - 2 -T h e ta : 1 0 0 0 0 ° - Th et a : 5 0 00
Trang 13Giản đồ XRD của vật liệu Mg-RM trên hình 3.7 cho thấy sự có mặt của tinh thể lập phương MgO ở các đỉnh của góc nhiễu xạ 2θ bằng 430 và 62,30, sự có mặt của Mg(OH)2 ở các đỉnh 38,20; 51,10; 59,0; 68,50 và Fe2O3 ở các đỉnh 24,20; 33,20; 35,70; 40,90; 49,50; 54,10; 62,50; 640; 700
Từ kết quả thu được có thể khẳng định bùn đỏ thô ban đầu đã được biến tính thành công bằng cách mang thêm các tâm có khả năng tạo phức với ion florua là MgO và Mg(OH)2
Cấu trúc bề mặt vật liệu Mg-RM hoàn toàn khác hai vật liệu RM và TRM Xuất hiện các lỗ xốp có kích thước rất lớn cỡ 100-200nm, cấu trúc lỗ trống mở rộng, các hạt rất mịn MgO, Mg(OH)2 cỡ vài nm, cụm thành khối trên các lỗ trống giống như cánh hoa, các hạt Al2O3 có các kích thước khoảng 10-20nm, phân bố vào các lỗ trống lớn
3.1.4 Bùn đỏ biến tính bởi đất hiếm xeri oxit (Ce-RM)
Hình 3.10 Giản đồ XRD của vật liệu
Ce-RM qua kính hiển vi điện tử quét
Từ hình 3.10, XRD của vật liệu Ce-RM có mặt của Al(OH)3 với đỉnh pic đặc trưng tại các góc nhiễu xạ 2θ bằng 18,20; 20,30; 20,60 và FeO(OH) với đỉnh pic đặc trưng tại các góc nhiễu xạ 2θ bằng 180; 21,50; 26,70; 33,70; 35,10; 37,10; 41,70; 53,80; 59,80; 59,90, CeO2 được đưa vào thành công với đỉnh pic đặc trưng tại các góc nhiễu xạ 2θ bằng 28,60; 33,10; 47,50; 56,30; 590
F a cu lty o f C h e m istr y , H U S , V N U , D 8 A D V A N C E - B ru ke r - M a u C e R M t ruo c H P