Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưngchưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ýhoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ 16
Trang 2BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG
Trang 4M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
Chương 1: Khái quát chung về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là người chưa thành niên 9
1.1 Khái niệm 9
1.1.1 Khái niệm bị cáo 9
1.1.2 Khái niệm bị cáo là người chưa thành niên: 10
1.1.3 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 11
1.1.4 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là người chưa thành niên 12
1.2 Những quy định về xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên 13
1.2.1 Phạm vi áp dụng thủ tục xét xử 13
1.2.2 Những đối tượng cần chứng minh trong vụ án mà bị cáo là người chưathành niên 13 1.2.3 Áp dụng các biện pháp ngăn chặn để đảm bảo cho hoạt động xét xử 15
1.2.4 Về việc giám sát bị cáo là người chưa thành niên 16
1.3 Những quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa đối với bị cáo là người chưa thành niên 17 1.3.1 Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục 17
1.3.2 Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm 17
1.3.3 Những người tham gia phiên tòa sơ thẩm 19
1.4 Trình tự xét xử tại phiên tòa sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên 25
1.4.1 Bắt đầu phiên tòa 26
1.4.2 Xét hỏi tại phiên tòa 26
1.4.3 Tranh luận tại phiên tòa 27
1.4.4 Nghị án và tuyên án 27
Chương 2 Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là người chưa thành niên 28
2.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên 28
2.1.1 Từ phía gia đình 28
2.1.2 Từ phía nhà trường 29
2.1.3 Từ phía xã hội 29
2.1.4 Từ chính bản thân người chưa thành niên 30
2.2 Thực trạng 30
2.1.1 Tích cực 30
2.1.2 Hạn chế 31
2.1.2.1 Về thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm 32
Chương 3 Các giải pháp nâng cao chất lượng xxst vahs mà bị cáo là người chưa thành niên 38
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về XXST 38
3.1.1 Về các nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS 38
Trang 53.1.2 Về thẩm quyền XXST và giới hạn xét xử 38
3.1.3 Về phiên tòa hình sự sơ thẩm 39
3.2 Nâng cao chất lượng XXST vụ án Hình sự 40
3.2.1 Các giải pháp về con người và văn hóa 40
3.2.2 Các giải pháp về kinh tế 41
3.2.3 Các giải pháp về xã hội 41
3.3 Giảm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo là người chưa thành niên 42
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Trẻ em là tương lai của đất nước Họ là lớp người sẽ kế tục sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc Do đó, trẻ em cần được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục thành nhữngcon người có ích cho xã hội Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang đứng trước một thực tếrất đáng lo ngại, đó là sự phát triển của nền kinh tế thị trường với những mặt trái của nó
đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, tình trạng trẻ em phạm tội ngày càng giatăng và trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội Sự phạm tội của người chưa thànhniên không chỉ gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà còn hủy hoại cuộc đời của chínhcác em Chính vì vậy, vấn đề người chưa thành niên phạm tội là vấn đề đáng lo ngại vàcần sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội hiện nay, trong đó có các cơ quan và cá nhân
có thẩm quyền để có thể đạt được mục đích cuối cùng là bảo về Nhà nước, bảo vệ xãhội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và toàn xã hội
Vậy nên phòng ngừa, ngăn chặn người chưa thành niên vi phạm pháp luật nóichung, vi phạm pháp luật hình sự nói riêng là một vấn đề vừa mang tính nhân văn, vừamang tính pháp lý Điều 36 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hộinước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15- 6- 2004 quy định: “Việc
xử lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ trẻ em nhậnthấy sai lầm, sửa chữa sai lầm và tiến bộ”
Ngày 23 tháng 12 năm 1999, Chính phủ nước ta đã phê duyệt Chương trình quốcgia phòng chống tội phạm gồm 4 đề án Trong đó đề án 4 nêu rõ: “Đấu tranh phòngchống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên” được cácngành, các cấp và các địa phương trong cả nước tổ chức thực hiện và đã đạt đượcnhững nhất định Tuy nhiên, ở một số địa phương, tình trạng người chưa thành niên viphạm pháp luật hình sự vẫn còn diễn ra phức tạp
Vấn đề người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội cũng đã và đangđược tất cả các nhà nước trên thế giới quan tâm, lo lắng Liên hợp quốc đã ban hànhmột số Công ước, Quy tắc liên quan như: Công ước về quyền trẻ em được Đại HộiĐồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1989; Quy tắc Bắc Kinh 1985(Quy tắc tối thiểucủa Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên); Hướngdẫn Riyadh 1990(Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp của ngườichưa thành niên); Quy chế tối thiểu của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thànhniên bị tước quyền tự do 1990; các cơ quan của tổ chức khác ở Việt Nam cũng như trên
Trang 7thế giới cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo có tính chất toàn cầu và khu vực để bàn vềvấn đề này.
Ở nước ta, công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và phạm tội củangười chưa thành niên thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, tổ chức
và toàn thể nhân dân Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiềuchủ trương, chính sách và pháp luật nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em vàngười chưa thành niên Chính phủ, các Bộ, ban, ngành và chính quyền các cấp đã đề ranhiều chương trình, kế hoạch cũng như áp dụng nhiều biện pháp để tăng cường bảo vệ
an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật nói chungtrong đó có vi phạm pháp luật của người chưa thành niên nói riêng Tuy nhiên, tìnhhình người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội ở nước ta hiện nay vẫn có xuhướng gia tăng và diễn biến phức tạp Đặc biệt có một bộ phận thanh thiếu niên đã thamgia vào các băng nhóm tội phạm có tổ chức, phạm tội có sử dụng bạo lực với tính chấtcôn đồ hung hãn; thực hiện các hành vi giết người, cướp của, chống người thi hànhcông vụ, bảo kê, đâm thuê, chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng
Và trong những năm sắp tới, công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước sẽ đặt
ra yêu cầu mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế, văn hóa - xã hội với các nước láng giềng,các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Bên cạnh những mặt tích cực của nó,như thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa - xã hội theo nguyên tắc cácbên cùng có lợi, còn có mặt tiêu cực là không chỉ làm gia tăng về số lượng tội phạm màtính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng ngày càng nghiêm trọng hơn, đặc biệt một
số loại tội phạm có tính chất xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao cũng xuất hiện vàphát triển Đây cũng là một trong những yếu tố sẽ có tác động mạnh đến t ình hình viphạm pháp luật của người chưa thành niên Vì vậy, dự báo trong thời gian tới, số lượngcác vụ vi phạm pháp luật và số người vi phạm vẫn tiếp tục gia tăng; tính chất của hành
vi vi phạm ngày càng nghiêm trọng và diễn biến phức tạp; các tội phạm hoạt động theobăng nhóm, có tổ chức, có cơ cấu chặt chẽ ở độ tuổi này vẫn tiếp tục gia tăng Hành vi
vi phạm pháp luật, đặc biệt là các hành vi phạm tội vẫn chủ yếu tập trung vào các nhómtội như: xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm
an toàn công cộng và trật tự công cộng; các tội phạm về ma túy Trong tương lai gần,người chưa thành niên có thể tham gia vào các đường dây tội phạm xuyên quốc gia nhưtội phạm về ma túy, tội phạm công nghệ cao, tội mua bán phụ nữ với tính chất và hậu
Trang 8quả đặc biệt nghiêm trọng Chính vì lẽ đó, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân thì mới cóhướng giải quyết phù hợp.
Trang 9Chương 1: Khái quát chung về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là
người chưa thành niên
1.1 Khái niệm
Trong lịch sử Việt Nam, việc Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng ra đời, đãchấm dứt tình trạng sinh hoạt trì trệ, nguyên thủy, mở ra một kỷ nguyên mới, để lại dấu ấnrất rõ vào các mặt sinh hoạt của dân tộc Việt Nam Cùng với sự dựng nước và giữ nướccủa dân tộc ta là sự phát triển của cả một hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật tốtụng hình sự Pháp luật tố tụng hình sự được hình thành từ thời Hùng Vương nhưng rất
mờ nhạt Bước sang các giai đoạn của các triều đại như Ngô, Đinh, Lý, Trần cũngkhông đề cập đến khái niệm bị cáo cũng như thuật ngữ bị cáo trong pháp luật tố tụnghình sự của mình Thuật ngữ “bị cáo” đầu tiên xuất hiện trong pháp luật tố tụng thời Lê
Sơ: lời khai của người làm chứng, bị can, bị cáo và biện pháp thu thập chứng cứ là lấy
lời khai người làm chứng, hỏi cung bị can, đối chất ,nhưng vẫn chưa có một khái
niệm, định nghĩa nào về thuật ngữ bị cáo Trải qua quá trình phát triển lâu dài, cho đến
sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miền Bắc hoàn toànđược giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị.Pháp luật
tố tụng hình sự miền Bắc được hình thành Đây là lần đầu có một định nghĩa pháp lý vềthuật ngữ “bị cáo”
Trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo Thông tư
số 16-TATC ngày 27/9/1974 của Ṭa án nhân dân tối cao, đã đưa ra định nghĩa pháp lýcủa khái niệm bị cáo: theo đó "Bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự trướcTòa án nhân dân Trong giai đoạn xét xử, Tòa án nhân dân chỉ được đưa một người raxét xử với tư cách là bị cáo, nếu Viện Kiểm sát nhân dân đã truy tố người đó trước Tòa
án nhân dân; nếu Viện Kiểm sát không truy tố thì Tòa án nhân dân không được xét xửmột người với tư cách là bị cáo, trừ những người mà Tòa án nhân dân xét xử về nhữngviệc hình sự nhỏ"
Sau khi đất nước Việt Nam thống nhất cho đến nay đã có nhiều bộ luật tố tụnghình sự, nghị quyết, thông tư được ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiện nay, chúng ta đang
sử dụng Bộ luật tố tụng Hình sự 2003 (BLTTHS) Điều 50 BLTTHS có nêu khái niệm:
“ Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” Theo nguyên tắc suy đoán vôtội thì bị cáo chưa bị coi là có tội Một người chỉ bị coi là có tội khi họ bị Tòa án kết tội
Trang 10bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật Bị cáo là người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử.Thời điểm bị can trở thành bị cáo là thời điểm thẩm phán được phân công chủ tọa phiêntòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
1.1.2 Khái niệm bị cáo là người chưa thành niên:
Theo quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 thì “Trẻ
em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó cóquy định tuổi thành niên sớm hơn” Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tốithiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thànhniên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.12.1992cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm “người chưathành niên là người dưới 18 tuổi” như là một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em.Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm người chưathành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, việc quy định độ tuổi cho người chưa thànhniên, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định khôngthống nhất về vấn đề này
Tùy theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật mà các nhà làm luật ViệtNam đã đưa ra khái niệm về người chưa thành niên Theo quy định tại Bộ luật dân sự(BLDS) năm 2005 tại Điều 18: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên.Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” và Bộ luật lao động Việt Namcũng quy định: “Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” Như vậy, cóthể thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.Điều nàycũng phù hợp với Công ước Quốc tế về quyền trẻ em
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ người chưa thành niên được dùng để chỉngười chưa đủ 18 tuổi Xét từ góc độ tâm lý thì người chưa thành niên là người ở vàothời kỳ chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi người lớn Ở lứa tuổi này, người chưathành niên chưa phát triển đầy đủ và toàn diện về thể lực, trí lực và tinh thần Do đặcđiểm cơ thể, tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện nên ở độ tuổi này, khả năng kiềmchế chưa cao, khó làm chủ được bản than, hành động thường bộc phát, đễ bị kích động,lôi kéo Hơn nữa do thiếu kinh nghiệm sống, hạn chế về hiểu biết xã hội và hiểu biết vềpháp luật nên người chưa thành niên chưa thể lựa chọn cách ứng xử đúng đắn, dễ mắcsai lầm, thậm chí còn phạm tội Xuất phát từ những đặc điểm trên mà Bộ luật hình sựViệt Nam quy định tại Điều 12: “người chưa thành niên là những người chưa đủ 18
Trang 11tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phảichịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổithì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưngchưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ýhoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu tráchnhiệm hình sự về mọi tội phạm”.
Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định bị cáo là người đã bị Tòa ánquyết định đưa ra xét xử, như vậy, căn cứ vào quy định này và quy định tại Điều 12 của
Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên, thì có thể hiểu bị cáo là
người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Từ phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về bị cáo là người chưa thànhniên như sau:
Bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Việc xác định tuổi của bị can, bị cáo là người chưa thành niên do cơ quan tiếnhành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật Trường hợp đã áp dụng các biệnpháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh của bịcan, bị cáo thì tuổi của họ được xác định căn cứ vào Điều 6 TTLT số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH về hướng dẫn thi hành một số quy định của
Bộ Luật Tố tụng Hình sựđối với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên
Việc xác định tuổi của bị cáo là người chưa thành niên rất quan trọng và đây làcăn cứ ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với bị cáo nhằm đảm bảo quyền vàlợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên Việc xác định tuổi của bị cáo còn giúp Cơquan tiến hành tố tụng xác định được việc xét xử và áp dụng hình phạt đối với ngườichưa thành niên
1.1.3 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trong tố tụng hình sự, hoạt động xét xử nói chung được coi là đặc biệt quantrọng và là giai đoạn trung tâm của qua trình giải quyết vụ án hình sự Các giai đoạntrước đó từ khởi tố, điều tra, truy tố chỉ là các giai đoạn xác định và tìm kiếm thông tin,chứng minh sự việc đã xảy ra một cách toàn diện, nhưng vẫn chưa phải là quá trình
Trang 12định tội Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định chỉ có Tòa án
là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử Để xác định một người có tội và phải chịuhình phạt thì điều đòi hỏi bắt buộc là họ phải được đưa ra xét xử công khai trước phiêntòa, tại đó, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụngmới có điều kiện đưa ra quan điểm, lập luận để bảo vệ mình Vì vậy giai đoạn xét xử vụ
án hình sự là giai đoạn tập trung cao nhất quyền bào chữa đảm bảo thực hiện bằngphương pháo tranh tụng Nhằm đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội việc xét xử vụ ánhình sự có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong đó xét xử sơ thẩm là thủ tục xét
xử đầu tiên và bắt buộc đối với vụ án hình sự
Qua đó có thể nhận thấy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá
trình tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền sua khi xem xét hồ sơ vụ án lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp vói tính chất của
vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố.
1.1.4 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là người chưa thành niên.
Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn luôn coi trẻ em là đốitượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hàng ngày mà ngay cả khiquyền trẻ em bị xâm phạm cần được bảo vệ hoặc khi đối tượng này vi phạm pháp luật.Luật hình sự bảo vệ người chưa thành niên bị coi là người phạm tội và cũng quy địnhmột chế tài riêng để xử lý, thủ tục tố tụng cũng phải phù hợp với lứa tuổi chưa thànhniên nhằm thể hiện tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nướcViệt Nam Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có một chương riêng (ChươngXXXII) quy định về thủ tục tố tụng đối với vụ án mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làngười chưa thành niên Tuy nhiên, trong Điều 301 quy định về phạm vi áp dụng “Thủ tụcđối với người chưa thành niên”, nhà làm luật Việt Nam không hề ghi nhận khái niệmpháp lý “thủ tục đối với người chưa thành niên” là gì? Qua nghiên cứu các quy định vềthủ tục đối với người chưa thành niên trong chương này, chúng ta có thể hiểu: Các quyđịnh về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên có những đặc trưng so với thủ tục
tố tụng áp dụng đối với người thành niên Những đặc trưng này thể hiện ở các quy định
về tiêu chuẩn của người tiến hành tố tụng, về đối tượng phải chứng minh, về việc ápdụng biện pháp ngăn chặn, về việc bào chữa, việc tham gia của gia đình, nhà trường và
Trang 13tổ chức xã hội vào tố tụng cũng như công tác xét xử và thi hành án Bộ luật tố tụng hình
sự cũng quy định các quyền tố tụng và bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ ánđược khách quan, toàn diện, đúng pháp luật đối với đối tượng này
Như vậy, có thể hiểu thủ tục xét xử vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là tổng hợp các quy định về thủ tục đặc biệt
mang tính chất nhân đạo đối với bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm xét xử vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong hoạt động xét xử.
1.2 Những quy định về xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên
1.2.1 Phạm vi áp dụng thủ tục xét xử.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì quan hệ pháp luật tố tụng hình
sự phát sinh từ khi một người bị bắt, bị tạm giữ về hình sự Đối với người thực hiệnhành vi phạm tội bị bắt, bị tạm giữ, bị khởi tố, truy tố và xét xử là người chưa thànhniên thì xuất phát từ nhận thức người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ
về thể chất và tinh thần, khả năng nhận thức về hành vi còn hạn chế, dễ bị tác động bởinhững điều kiện ngoại cảnh, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 đã dành mộtchương (chương XXXII) quy định về thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên
Phạm vi áp dụng của Chương này được thể hiện tại Điều 301 Bộ luật tố tụnghình sự như sau: “Thủ tục tố tụng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
là người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theonhững quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này”
Như vậy, có thể hiểu phạm vi áp dụng thủ tục xét xử đối với bị cáo là ngườichưa thành niên bao gồm các quy định tại Chương XXXII Bộ luật tố tụng hình sự (từĐiều 302 đến Điều 310) và tất cả những quy định khác của Bộ luật tố tụng hình sự nếukhông trái với những quy định của chương này Việc quy định phạm vi áp dụng nhưvậy để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo là người chưa thành niên
chưathành niên.
Khi tiến hành xét xử vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên thì Tòa án cầnphải chứng minh được tất cả những tình tiết thuộc đối tượng chứng minh quy định tại
Trang 14Điều 63 BLTTHS, ngoài việc chứng minh theo thủ tục chung để giải quyết đúng đắn vụ
án hình sự, đảm bảo tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội là người chưathành niên, cũng như áp dụng đúng đắn chính sách hình sự của Nhà nước nhằm giáodục người phạm tội trở thành người lương thiện thì theo quy định tại khoản 2 Điều 302của BLTTHS Tòa án cần phải xác định rõ các vấn đề sau đây:
1.2.1.1 Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức
về hành vi phạm tội của người chưa thành niên
Việc xác định tuổi của bị cáo là người chưa thành niên đặc biệt quan trọng vàđây là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội cũng như việc xácđịnh trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tộigiúp cho người tiến hành tố tụng có thể đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội
do hành vi phạm tội của người chưa thành niên gây ra để có thể áp dụng biện pháp tưpháp hay hình phạt thích hợp, bảo đảm chế độ thi hành án theo quy định của pháp luật
1.2.1.2 Điều kiện sinh sống và giáo dục
Hành vi phạm tội của người chưa thành niên thường bắt nguồn từ điều kiện sống
và giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã hội Cho nên, làm rõ yếu tố này cũng xácđịnh khả năng cải tạo và giáo dục người chưa thành niên phạm tội, đồng thời cũng cóthể giúp cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để có thể đưa ra các biệnpháp phòng ngừa thích hợp đối với người phạm tội nói chung và người chưa thành niênphạm tội nói riêng
1.2.1.3 Khoa học đã chứng minh con người chịu sự ảnh hưởng tác động qua lại của môi trường xung quanh
Hành vi phạm tội không phải ngẫu nhiên hình thành, nó phát sinh không phải từchính môi trường, chính bản thân người đó mà là do sự tác động qua lại giữa môitrường và cá nhân con người đó Đối với người chưa thành niên ảnh hưởng của môitrường xung quanh càng thể hiện rõ hơn, đó là: điều kiện sinh sống của gia đình, thái
độ, cách ứng xử của cha mẹ, những người thân trong gia đình; điều kiện học tập và sinhhoạt của họ ở nhà trường, đoàn thể, nơi cư trú
1.2.1.4 Có hay không có người đã thành niên xúi giục:
Trang 15Việc xác định có hay không có người thành niên xúi giục cũng như nguyên nhân
và điều kiện phạm tội là những vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc đánh giá tínhchất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà người chưa thành niên đă thựchiện, từ đó đề ra những biện pháp hữu hiệu ngăn chặn tái phạm
1.2.1.5 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội
Việc người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng đang tồn tại trong xãhội.Hiện tượng này không phải ngẫu nhiên xuất hiện mà bao giờ cũng có nguyên nhân
và điều kiện dẫn đến nó.Chúng ta muốn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tộiphạm do người chưa thành niên thực hiện và đề ra được những biện pháp khắc phục vàngăn ngừa có hiệu quả thì phải tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện dẫn họ đến việcphạm tội
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị cáo là ngườichưa thành niên sẽ gây khó khăn cho việc xét xử Tòa án có quyền áp dụng một trongnhững biện pháp ngăn chặn quy định tại chương VI Bộ luật tố tụng hình sự Tuy nhiên
để phù hợp với đặc độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên, cũng nhưđảm bảo chính sách hình sự là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triểnlành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội, và trên cơ sở Điều 12 của Bộ luậthình sự về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 303 BLTTHS quy định chi tiết và cụthể hơn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối vớingười chưa thành niên Do đó, khi tiến hành các hoạt động trên, cơ quan Tiến hành tốtụng cần lưu ý:
Đối với người từ đủ 14 đến chưa đủ 16 tuổi: Việc bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ cóthể được tiến hành khi có đủ căn cứ tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 BLTTHS nhưng chỉtrong trường hợp họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêmtrọng
Đối với người từ đủ 16 đến chưa đủ 18 tuổi: Việc bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ cóthể được tiến hành khi có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 BLTTHS,nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nfhieem trọnghoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Trang 16Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báocho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ,tạm giam.
Và việc thông báo này là bắt buộc và có ý nghĩa giúp cho người chưa thành niên bị bắt,tạm giữ, tạm giam cũng như gia đình và người đại diện hợp pháp của họ chuẩn bị việcbào chữa “Người chưa thành niên phải được giam, giữ ở khu vực riêng; không đượcgiam, giữ người chưa thành niên chung với người thành niên”1
1.2.4 Về việc giám sát bị cáo là người chưa thành niên
Theo quy định tại Điều 304 Bộ luật tố tụng hình sự thì nếu xét thấy việc áp dụngcác biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là không cần thiết, Cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thànhniên cho cha mẹ, người đỡ đầu của họ giám sát Trong trường hợp người chưa thànhniên phạm tội không còn cha mẹ, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc là người lang thang,
cơ nhỡ, không nơi nương tựa thì cơ quan điều tra cần tìm mọi biện pháp để xác định lýlịch cũng như gia đình của họ Trong trường hợp không xác định được thì Cơ quan điềutra đề nghị cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Đoàn Thanh niên, Hội Phụ
nữ ở nơi bắt giữ, nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi có thẩm quyền điều tra cử cán bộ giámsát người chưa thành niên phạm tội2 Việc giám sát này là để bảo đảm sự có mặt của bịcan, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng Những người được giaonhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tưcách, đạo đức và giáo dục người đó Hiện nay, không có văn bản pháp luật nào hướngdẫn về việc cha mẹ, người đỡ đầu có quyền từ chối không thực hiện nghĩa vụ giám sátcủa mình khi được yêu cầu, mặt khác theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em năm 1991, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì cha mẹ, ông bà, cácthành viên lớn tuổi khác trong gia đình và người đỡ đầu có trách nhiệm về việc chămsóc, nuôi dạy người chưa thành niên, cho nên họ phải có nghĩa vụ giám sát, giáo dục,chăm sóc người chưa thành niên Như vậy có nghĩa là trong mọi trường hợp cơ quantiến hành tố tụng yêu cầu thì việc giám sát bị can, bị cáo chưa thành niên phải được cha
mẹ, người đỡ đầu của họ thực hiện Hay nói một cách khác, việc giám sát bị can, bị cáo
1 Khoản 4, Điều 8 TTLT số 01/2011/ TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH-Hướngdẫn thi hành một số quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sựđối với người tham gia tố tụng làngười chưa thành niên
2Khoản 2, Điều 7 TTLT số 01/2011/ TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH
Trang 17chưa thành niên vừa là quyền vừa là nghĩa vụ bắt buộc của cha mẹ, người đỡ đầu củahọ.
1.3 Những quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa đối với bị cáo là người chưa thành niên
Để phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng trình tự và thủ tục theo quy định củapháp luật, đảm bảo tính liên tục, tính hợp pháp và tính khách quan thì phiên tòa sơ thẩmcần phải diễn ra theo thủ tục nhất định
1.3.1 Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục
Đây là những nguyên tắc quan trọng của hoạt động tố tụng được tiến hành tạiphiên tòa Các nguyên tắc này đảm bảo việc xét xử được chính xác, khách quan, đảmbảo cho hội đồng xét xử ra quyết định, bản án dựa trên cơ sở điều tra chính thức và việctranh luận công khai tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự nói chung và tại phiên tòa xét xử
mà bị cáo là người chưa thành niên nói riêng Điều 184 BLTTHS có quy định việc xét
xử phải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói và liên tục như Tòa án phải trực tiếp xácđịnh những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử phải hỏi những người tham gia tố tụng
và việc trả lời bằng lời nói của những người tham gia tố tụng đối với những câu hỏi củahội đồng xét xử để từ đó hội đồng xét xử xác định sự thật vụ án hay việc xét xử phảitiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ
Bản án, quyết định do hội đồng xét xử đưa ra phải căn cứ vào những chứng cứđược xem xét tại phiên tòa3 Chính vì vậy, khi xét xử, Tòa án phải trực tiếp xác địnhnhững tình tiết của vụ án, kiểm tra, xem xét đầy đủ, khách quan mọi chứng cứ, tài liệu
có trong hồ sơ vụ án Vì chỉ có như vậy những tài liệu trong hồ sơ vụ án muốn trở thànhchứng cứ phải được Tòa án kiểm tra, xác minh tại phiên tòa thông qua hoạt động xéthỏi và tranh luận tại phiên tòa Những chứng cứ chưa được xác minh tại phiên tòa thìkhông được dùng làm căn cứ để ra bản án
Tại phiên tòa thì thành phần hội đồng xét xử có vị trí và vai trò vô cùng quantrọng Tùy vào cấp xét xử và tính chất của vụ án mà có số lượng thành phần hội đồngxét xử khác nhau Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán, hai Hội thẩm Trong
3Khoản 1, Điều 184 BLTTHS : “… Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.”
Trang 18trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hội đồng xét xử có thể gồmhai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Sự có mặt của Hội đồng xét xử nhằm đáp ứng những nguyên tắc cơ bản củaBLTTHS là thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia4 và nguyên tắc Tòa án xét xửtập thể và quyết định theo đa số5 Đây là sự kết hợp tính chuyên nghiệp của Thẩm phán
và tính đại diện cho quần chúng của Hội thẩm, đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa
án đúng pháp luật đồng thời thể hiện lợi ích chung của xã hội, đảm bảo việc giải quyết
vụ án đúng đắn, khách quan
Đối với phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên thìviệc chọn thành phầm hội đồng xét xử phù hợp, đúng quy định của pháp luật là rất cầnthiết Bởi vì, người chưa thành niên do đặc điểm cơ thể, tâm sinh lý phát triển chưahoàn thiện, thiếu kinh nghiệm sống, hạn chế về hiểu biết xã hội và đặc biệt là hiểu biết
về pháp luật nên dễ mắc phải những sai lầm Chính vì lẽ đó, Khoản 1, Điều 307 quyđịnh : “ Thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc là cán bộĐoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh” Đồng thời, Thẩm phán tiến hành tố tụng đốivới người chưa thành niên phạm tội phải là người có hiểu biết cần thiết về tâm lý học,khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm là ngườichưa thành niên Chỉ có như vậy Hội đồng xét xử mới có thể ra quyết định, bản án vừamang tính nhân đạo, tính nhân văn cũng như thể hiện được tính răn đe và giáo dục ýthức tuân theo pháp luật đối với bị cáo là người chưa thành niên
Hiện nay, chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về phiên tòa xét xử mà bị cáo làngười chưa thành niên Chính vì vậy, tại phiên tòa để đảm bảo tính liên tục của việc xét
xử thì thành phần hội đồng xét xử cũng phải tuân thủ những quy định đối với việc xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự thông thường Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét
xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc Trong quá trình xét xử, nếu cóThẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ ánnếu có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết Thẩm phán.Hội thẩm dự khuyết phải có mặttại phiên tòa từ đầu thì mới được tham gia xét xử Trong trường hợp Hội đồng xét xử cóhai thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thìThảm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ tọa phiên tòa và Thẩm phán dựkhuyết được bỏ sung làm thành viên Hội đồng xét xử Trong trường hợp không có thẩm
4Điều 15 BLTTHS
5Điều 17 BLTTHS : Tòa án xét xử tập thể
Trang 19phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không cóThẩm phán để thay thế theo quy định trên thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu6.
1.3.1.1 Kiểm sát viên
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS Sự tham giacủa Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử là rất cần thiết BLTTHS không có quy định về
sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử mà bị cáo là người chưathành niên Nhưng để đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời Điều
189 BLTTHS quy định Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa.Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hai Kiểm sát viên có thể cùngtham gia phiên tòa xét xử Trong trường hợp có thể có Kiểm sát viên dự khuyết, nếuKiểm sát viên vắng mặt, bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thếthì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và báo cho Viện kiểm sát cùng cấp
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sựbằng quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước tòa Đồng thời kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng hình sự như có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm phápluật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng,
áp dụng những biện pháp do BLTTHS quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật củanhững cơ quan hoặc cá nhân này7
Đối với phiên tòa xét xử sơ thẩm mà bị cáo là người chưa thành niên thì vai tròcủa Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự củaKiểm sát viên là rất quan trọng bởi khi tiến hành xét xử bị cáo là người chưa thành niên
có một số quy định đặc biệt như: “Khi tiến hành xét xử, Tòa án có thể sắp xếp lại vị trícủa những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong phòng xử ánnhằm làm giảm cảm giác căng thẳng, sợ hãi đối với người chưa thành niên phạm tội.Không còng tay hoặc sử dụng các phương tiện cưỡng chế khác trong quá trình xét xửtại Tòa án, trừ trường hợp họ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do cố ýhoặc có việc làm tiêu cực hoặc có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên toà”8
6Điều 186 BLTTHS : Thay thế thành viên Hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt
7Điều 23 BLTTHS : Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
8Khoản 3, Điều 11 Thông tư 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH
Trang 20Bởi vì người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, lànhững đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ tham gia tố tụng trong quá trìnhgiải quyết các vụ án, do đó tùy theo lứa tuổi, mức độ trưởng thành và nhu cầu cá nhân
mà họ cần được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự9
Bị cáo là người chưa thành niên là người đang ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức
về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế, và nhiều khi do tácđộng mạnh của điều kiện bên ngoài mà dẫn tới hành vi phạm tội của họ Chính sáchhình sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp
đỡ họ sửa chữa sai lầm, để phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xãhội.Thủ tục tố tụng cũng phải phù hợp với lứa tuổi chưa thành niên nhằm thể hiện tínhnhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam Chính vì lẽ đó,các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong đó có Tòa án có thể raquyết giao người chưa thành niên phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ giámsát để đảm bảo sự có mặt của người chưa thành niên phạm tội khi có giấy triệu tập của
cơ quan tiến hành tố tụng Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sátchặt chẽ người chưa thành niên và đặc biệt phải theo dõi tư cách, đạo đức, giáo dụcngười đó Đây là điểm khác biệt giữa bị cáo là người chưa thành niên với bị cáo làngười đã thành niên Thông qua sự giám sát, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục đốivới bị cáo là người chưa thành niên người giám sát có thể hiểu được tình trạng nhậnthức, tâm lý của bị cáo góp phần giúp Tòa án đưa ra quyết định, bản án một cách kháchquan, toàn diện và đúng pháp luật đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
bị cáo trong hoạt động xét xử
Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát, Tòa án trong trường hợp áp dụng các biện pháp bắt, tạn giữ, tạm giam cũng cầnphải tuân thủ những quy định tại Điều 303 BLTTHS để đảm bảo quyền và lợi ích hợppháp cho bị cáo là người chưa thành niên như: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới dưới 16
9Điều 1 Thông tư 01/ 2011/ TTLT–VKSTC–TANDTC–BCA-BTP-BLĐTBXH
Trang 21tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82,
86, 88 và 120 BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ýhoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Như vậy, ở độ tuổi này, sự nhận thức và điềukhiển hành vi của người thực hiện hành vi phạm tội cũng chỉ có giới,chưa hoàn chỉnhnên họ chỉ phải chịu TNHS về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặcbiệt nghiêm trọng Quy định này cũng phù hợp với quy định về tuổi chịu trách nhiệmHình sự tại Khoản 2, Điều 12 BLHS Việt Nam10
Bên cạnh đó, những người thực hiện hành vi phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18tuổi có thể bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81,
82, 86, 88 và 120 của BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêmtrọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Ở độtuổi này, sự nhận thức và điều khiển hành vi của con người nói chung và và người cóhành vi phạm tội nói riêng cũng đã tương đối hoàn chỉnh nên họ phải có trách nhiệmhơn đối với việc thực hiện hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra cho
xã hội Vì vậy, khi người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do
cố ý thì cơ quan và các cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể thực hiện bắt,tạm giữ, tạm giam nhằm mục đích giáo dục và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Cơ quan ra lệnh bắt, tạmgiữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợppháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam
Để đảm bảo việc thực hiện và thi hành đúng, thống nhất chương XXXII thủ tục
tố tụng đối với người chưa thành niên TTLT 01/ 2011của BTP-BLĐTBXH có quy định chi tiết và bổ sung về việc áp dụng biện pháp bắt, tạmgiữ, tạm giam đối với người chưa thành niên như sau: Khi áp dụng các biện pháp ngănchặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan tiếnhành tố tụng phải xác định chính xác độ tuổi của họ nhằm áp dụng đúng các quy địnhtại Điều 303 BLTTHS Đối với các trường hợp bị bắt quả tang, bắt khẩn cấp thì sau khibắt, cơ quan tiến hành tố tụng phải khẩn trương xác minh độ tuổi của họ để có quyếtđịnh xử lý phù hợp Trước khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều
VKSTC-TANDTC-BCA-303 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét, cân nhắc áp dụng các biện phápngăn chặn khác quy định tại các Điều 91, 92 và 93 BLTTHS
10Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng