Vì thế, nợ công cần được sử dụng hợp lý, hiệu quả, cần phải được quản lý chặt chẽ, nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra tại bất cứ quốc gia nào vào bất lỳ thời điểm nào Đối vớ
Trang 1Đề tài:
TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM
Họ tên SV: Nguyễn Thị Xuân Quỳnh
Mã số SV: CQ502185 Ngày sinh: 26/11/1990 SĐT: 0988.358.992 Email: rubi_q126@yahoo.com.vn Lớp CN: Ngân hàng C-K50
Trang 2MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU
Trang 3LỜI MỞ ĐẦ
Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đưa đất nước đến mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong quá trình đó, chúng ta cần quan tâm đến những nguồn lực quan trọng góp phần đẩy mạnh quá trình này Bên cạnh nguồn nhân lực dồi dào và những chính sách phù hợp thì nguồn lực về vốn cũng quan trọng không kém Tuy nhiên, nguồn vốn huy động trong nước không thể đáp ứng đủ nhu cầu tài chính quốc gia, cho dù đó là một nước nghèo khó ở châu Phi, những nước đang phát triển như Việt Nam, hay là những nước đang phát triển như
Mỹ, Nhật, EU Do đó, các quốc gia rất cần đến những nguồn vay nợ để đầu tư cơ
sở vật chất cho đất nước.
Nợ công là rất quan trọng, nó là một phần không thể thiếu trong tài chính của mỗi quốc gia Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển đất nước Vì thế, nợ công cần được sử dụng hợp lý, hiệu quả, cần phải được quản lý chặt chẽ, nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra tại bất cứ quốc gia nào vào bất
lỳ thời điểm nào
Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay thì việc quản lý và
sử dụng nợ công sao cho phù hợp vẫn luôn là một vấn đề được nhân dân và Nhà nước hết sức quan tâm Theo chủ đề này, em xin trình bày một số hiểu biết về nợ công, thực trạng nợ công tại Việt Nam và xin đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công ở nước ta hiện nay
Trang 4I LÝ THUYẾT CHUN
1 Một số hỏi niệm về Nợ côn
Trong quá khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập
kỷ 80 của Thế kỷ XX Năm 1982, Mê-hi-cơ là quốc gia đầu tiên tuyên bố khôngtrả được nợ vay IMF Đến tháng 10/1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới 240
tỷ USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hỗn trả nợ Tuy nhiên, đến nay xungquanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa thốngnhất
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì nợ công(hay còn gọi là Nợ chính phủ, Nợ quốc gia) theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ củakhu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấpchính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồnvốn hoạt động do ngân sách Nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sởhữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay)
Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương,các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được chính phủbảo lãnh thanh toán
Tùy thuộc thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc
Trang 5công đều xác định nợ công gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảolãnh Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương(Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan,Macedonia…).
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm
nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo
đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nướcngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặccác khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theoquy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàngNhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tàichính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chínhquyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu củachính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (tronghoặc ngoài nước) để trang trải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phảihoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp
Vì vậy, xét cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế Vay nợthực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng
để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển
giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ
được giảm thuế) Theo khía cạnh này có hai quan điểm cơ bản về nợ công
Theo quan điểm truyền thống về nợ công, đại diện là Keynes, cho rằng,việc vay nợ của chính phủ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn,
vì số thuế cắt giảm được bù đắp bằng cách vay nợ nên khuyến khích thế hệ hiện
Trang 6tại tiêu dùng nhiều hơn, số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thểcao hơn Tuy nhiên, vay nợ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai.
Trái ngược với quan điểm trên, những người theo quan điểm kinh tế học
vĩ mô cổ điển (hình thành từ thập niên 1970), đứng đầu là Ricardo-Barro chorằng, biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thíchchi tiêu trong ngắn hạn, vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cánhân mà chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai Việc cắt giảm thuế
và vay nợ sẽ không gây ra những tác động thực sự đối với nền kinh tế Việcchấp nhận thâm hụt giảm thu trong thời kỳ suy thoái, tăng thu trong giai đoạnhưng thịnh và vay nợ cũng là cách “lưu thông thuế” để giảm thiểu những tácđộng tiêu cực của thuế đối với chu trình kinh doanh
2 Phân loại nợ công
Cho đến nay có nhiều cách phân loại nợ công khác nhau, trong đó có 3 cách phân loại chính sau:
Theo đối tượng cho vay: Nợ công gồm vay nợ trong nước và vay nợ nước
ngoài, căn cứ vào người cho vay ở trong nước hay ở nước ngoài
Theo thời hạn vay: Căn cứ vào thời gian vay nợ dài hay ngắn, người ta còn
chia nợ công làm: Nợ ngắn hạn (dưới 1 năm), Nợ trung hạn (từ 1 đến 10 năm) và Nợ dài hạn (trên 10 năm)
Theo hình thức vay: Chính phủ có thể vay nợ theo 2 cách chủ yếu:
- Huy động từ việc phát hành trái phiếu Chính phủ
- Vay trực tiếp từ các nguồn như: vay ưu đãi từ các nước và các thế chế kinh tế
khác (ODA), vay từ ngân hàng thương mại hay 1 số hình thức vay nợ khác
3 Các hình thức vay nợ của Chính phủ
3.1 Phát hành trái phiếu Chính phủ
Trang 7Trái phiếu: Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của
người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán(người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thờigian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn
Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu do bộ tài chính phát hành nhằm
huy động vốn cho NSNN hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước Chính phủ phải trả gục và lãi trong thời gian xác định
Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng
là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao (Do có nguồn ngân sách Nhà nước đảm bảo)
Chính phủcó thể phát hànhTrái phiếu chính phủđể vay từ các tổ chức, cá nhân Trái phiếu chính phủphát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi rotín dụngvìChính phủcó thể tăngthuếthậm chí in thêmtiềnđể thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn Trái phiếu chính phủphát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro vềtỷ giá hối đoái
3.2 Vay trực tiếp
Để sử dụng vốn cho chi tiêu Chính phủ, các quốc gia còn sử dụng nguồn vốn viện trợ từ các quốc gia, thể chế tài chính khác trên thế giới (ODA) hoặc vay từ cácngân hàng thương mại hay từ một số nguồn khác
3.2.1 Vay ODA
Trong cơ cấu nợ công của Việt Nam, nguồn vốn chiếm tỷ lệ lớn là thông qua
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là hoạtđộng hợp tác phát triển giữa Nhà Nước hoặc Chính phủ một nước với các ChínhPhủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia
Trang 8Đặc điểm của nguồn vốn này là:
- Lãi suất cho vay rất thấp khoảng từ 0.25-2%/năm, thời gian cho vay cũngnhư thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả, ân hạn từ 8-10năm)
- Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại thấpnhất là 25% của tổng số vốn ODA
- Mục tiêu chính là giúp các nước tiếp nhận phát triển kinh tế, nâng caophúc lợi xã hội
Ở nước ta, các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm:
- Xoá đói, giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầngkinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc…
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâmnghiệp, thuỷ sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo)
- Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại
- Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số và pháttriển và một số lĩnh vực khác)
- Bảo vệ môi truờng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai
Phân loại
Căn cứ vào tính chất tài trợ:
ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA mà nước tiếp nhận
không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ
ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): Là khoản vay với các
điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ bảo đảm “yếu tố
Trang 9không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đốivới các khoản vay không ràng buộc.
ODA vay hỗn hợp: Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản
vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưngtính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay
có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
Căn cứ vào mục đích sử dụng:
Hỗ trợ cơ bản: Là loại ODA dành cho việc thực hiện nhiệm vụ chính của
các chương trình, dự án đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhưđường sá, cầu, cảng,… Loại ODA này thường là các khoản vay ưu đãi
Hỗ trợ kỹ thuật: Là loại ODA được thực hiện nhằm chuyển giao tri thức,
chuyển giao công nghệ, phát triển năng lực, phát triển thể chế, nghiên cứu tiềnđầu tư các chương trình dự án, phát triển nguồn nhân lực,… Loại ODA nàythường là ODA không hoàn lại
Căn cứ vào nhà tài trợ:
ODA song phương: Là loại ODA được Chính phủ một nước tài trợ trực
tiếp cho Chính phủ nước khác
ODA đa phương: Là loại ODA do các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên
chính phủ tài trợ cho Chính phủ của một nước
ODA của các tổ chức phi chính phủ: Là loại ODA do các tổ chức phi
chính phủ cung cấp
Tính cho đến nay, Việt Nam có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợsong phương và 23 nhà tài trợ đa phương Trong đó:
Trang 10- Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa,Cơ-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Lúc-xem-bua, Mỹ,Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha,Thái Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Xin-ga-po.
- Các nhà tài trợ đa phương gồm:
• Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế
giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB),Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triểnquốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là QuỹOPEC), Quỹ Kuwait;
• Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Cao
uỷ Liên hợp quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc(UNFPA), Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO),Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp củaLiên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tộiphạm của Liên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc(UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc(UNICEF), Quỹ Quốc tế và Phát triển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục,Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế(ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới(WHO)
3.2.2 Vay từ các ngân hàng thương mại
Ngoài nguồn vay phổ biến nhất là ODA, thì chính phủ các nước cũng cóthế huy động vốn từ các nguồn như NHTM trong các trường hợp cần thiết
Trang 114.1 Các tác động đến tăng trưởng kinh tế
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:
- Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng
cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút
- Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân:
thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (tráiphiếu chính phủ) Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư
đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chếđầu tư
- Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế
là một tổng thể thì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu
nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay Thuế làmméo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội
- Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công
cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượngcrowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên)
- Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái
phiếu chính phủ Phát hành thêm trái phiếu chính phủ thì giá trái phiếu chínhphủ giảm, thể hiện qua việc chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới huyđộng được người mua Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tếcũng tăng Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân,khiến họ giảm đầu tư Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của ngườitiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăngtương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vàotrong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu ròng Tóm lại,
Trang 12phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì cónhững tác động phụ làm giảm tổng cầu.
- Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài
sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất,người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn.Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ việc tăng chi tiêu chính phủ (nhờ pháthành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tớităng lượng cầu tiền Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực tớitốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát)
4.2 Lạm phát
Chỉ tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnh ảnhhưởng của lạm phát vì trong tính toán chi tiêu củaChính phủ, người ta tính toáncác khoản trả lãi vay theolãi suất danh nghĩatrong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉnên tính theolãi suất thực tế Do lãi suất danh nghĩabằnglãi suất thực tếcộngvớitỷ lệ lạm phát, nên thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại Trong những thời kỳlạm phát ở mức cao và nợ chính phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn
4.3 Các khoản nợ tiềm tàng
Nhiều nhà kinh tế lập luận rằng tính toán nợ chính phủ đã bỏ qua cáckhoản nợ tiềm tàng như tiền trợ cấp hưu trí, các khoảnbảo hiểm xã hộimà chínhphủ sẽ phải chi trả cho người lao động hay các khoản mà chính phủ sẽ phải chitrả khi đứng ra bảo đảm cho các khoản vay của người có thu nhập thấp mà trongtương lai họ không có khả năng thanh toán
4.4 Một số hạn chế khi vay nợ nước ngoài
Khi cơ cấu nợ công của một nước phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn vaynước ngoài, đất nước đó sẽ gặp phải nhiều rủi ro về nhiều mặt: