hướng dẫn cấp dưới thi hành, nếu vẫn không thống nhất ý kiến thì Tòa án cấp dướiphải xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không được tuyên là "bị cáokhông phạm tội mà Viện
Trang 1Tìm hiểu về vấn đề “Tòa án chỉ xét xử những hành vi theo tội danh mà VKS đã truy tố và Tòa án quyết định đưa ra xét xử” (Điều 196 BLTTHS), những ý kiến trái chiều và thực tiễn xét xử.
Mục lục
Lời nói đầu 2
I Vấn đề pháp lý: 3
1 Phân tích: 3
a Phân tích Điều 170 BLTTHS 1988: 3
b Phân tích điều 196 BLTTHS 2003 4
c Bất cập trong điều 196 LTTHS 2003 điều 170 LTTHS năm 1988 9
d Phản biện: 10
II Thực tiễn xét xử: 13
III Định hướng sửa đổi: 19
IV Đảm bảo quyền lực của Tòa án trong phiên toà, hướng cải cách tư pháp để đảm bảo sự cân bằng giữa cơ quan công tố và cơ quan xét xử 22
V Một số vấn đề của Tòa án khi xét xử vụ án hình sự 28
1 Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 29
a Nghiên cứu hồ sơ vụ án 29
b Về quyết định đưa vụ án ra xét xử 29
c Chuẩn bị đề cương điều khiển phiên toà 30
d Lập kế hoạch xét hỏi 30
2 Những vấn đề cần chú ý tại phiên toà 30
a Những vấn đề cần chú ý trong phần mở đầu phiên toà 30
b Những vấn đề cần chú ý trong giai đoạn xét hỏi tại phiên toà 30
c Những vấn đề cần chú ý trong giai đoạn tranh luận tại phiên toà 31
Tài liệu tham khảo 32
Trang 2Lời nói đầu
Xét xử các vụ án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyếtmột vụ án hình sự, là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình tố tụng Hoạt động xét
xử là tập trung cao nhất quyền lực tư pháp; Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định tộidanh, hình phạt và quyết định những vấn đề khác có liên quan đến tội phạm Chỉ cóTòa án mới có quyền kết tội và quyết định hình phạt đối với một người Mọi hoạt độngcủa Tòa án đều phải tuân theo những quy định của BLTTHS Nhưng trong thực tiễnhoạt động xét xử luôn có những tình huống đi quá giới hạn hoặc vượt quyền xét xử củacác cơ quan có thẩm quyền
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm giới hạn xét xử Theo nghĩa hẹpthìcác cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng thường nghĩ đến quy định tại điều
196 BLTTHS (BLTTHS) 2003 (Điều 170 BLTTHS 1988) Còn theo nghĩa rộng thìgiới hạn xét xử được hiểu làgiới hạn của việc xét xử không chỉ bao gồm nội dung củaĐiều 196 BLTTHS, mà còn bao gồm cả nội dung về phạm vi, thẩm quyền xét xử củaToà án theo quy định của Ví dụ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS, thìToà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ ánhình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rấtnghiêm trọng, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phạm phá hoại hoà bình,chống loài người và các tội phạm chiến tranh; các tội phạm quy định tại các Điều 93,
95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296,
322 và 323 của Bộ luật hình sự Theo quy định này thì Toà án cấp huyện không thể xét
xử vượt quá phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS
Theo quy định tại Điều 241 về phạm vi xét xử phúc thẩm thì Tòa án cấpphúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa áncấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản
án Việc xem xét các phần không bị kháng cáo, kháng nghị cũng phải theo quy địnhcủa pháp luật, không thể tuỳ tiện
Khi xét xử giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm cũng chỉ có thể khôngchấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật;hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án ; hủy bản án
Trang 3hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại, mà không đượcsửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc không được huỷ bản án phúcthẩm để giữ nguyên bản án sơ thẩm như trước đây.
Giữa Toà án nhân dân với Toà án quân sự phạm vi xét xử cũng khác nhau.Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự thì Toà án quân sự cóthẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công nhân,nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểmtra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội vànhững người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếpquản lý và những người tuy không thuộc các đối tượng trên nhưng hành vi phạm tộicủa họ có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội
Tuy nhiên về nội dụng nghiên cứu, nhóm chủ yếu đề cập và phân tích dướigóc độ là nghĩa hẹp được cụ thể hóa tại điều 196 BLTTHS 2003 và so sánh với điều
170 BLTTHS 1988 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
"Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy
tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử" Do đó, các Tòa án không xét xử nhữngngười và hành vi chưa được Viện kiểm sát truy tố và cũng thể không xét xử bị cáotheo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố Trước khi mở phiên tòa, nếuTòa án thấy cần phải truy tố thêm người, thêm tội hoặc cần xét xử bị cáo theo tội danhkhác nặng hơn, thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung và thay đổi cáotrạng Trong trường hợp qua xét xử tại phiên tòa mới phát hiện được tội phạm mớihoặc người phạm tội mới thì Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án hoặc yêu cầuViện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự (đoạn 3 khoản 1 Điều 104 BLTTHS 2003) Trongtrường hợp Tòa án đề nghị Viện kiểm sát truy tố theo tội danh nặng hơn và đã trao đổi
mà Viện kiểm sát không nhất trí thì cả hai bên đều phải báo cáo ngay với cấp trên củamình Thủ trưởng hai cơ quan cấp trên cần trao đổi ngay để nếu thống nhất ý kiến thì
Trang 4hướng dẫn cấp dưới thi hành, nếu vẫn không thống nhất ý kiến thì Tòa án cấp dướiphải xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không được tuyên là "bị cáokhông phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố".
Nếu xét thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tộidanh mà Viện kiểm sát đã truy tố, hoặc áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hìnhphạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, thì Tòa án không phải báo trước cho Viện kiểm sát
và những người tham gia tố tụng
b Phân tích điều 196 BLTTHS 2003
Điều 196 BLTTHS 2003 quy định về “Giới hạn của việc xét xử” có nêu:
- Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểmsát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử
- Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đãtruy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội
mà Viện kiểm sát đã truy tố
Căn cứ vào cách hành văn của điều luật, ta có thể hiểu như sau:
- Tòa án chỉ xét xử những bị cáo mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đãquyết định đưa ra xét xử;
- Tòa án chỉ xét xử những hành vi theo tội danh mà Viện kiếm sát đã truy tố vàTòa án quyết định đưa ra xét xử Tòa án có thể xét xử bị cáo theo điều khoảnkhác với điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật hoặc
về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố
Ở nội dung thứ nhất, không có ý kiến nào khác biệt vì không Tòa án nào lạiđưa ra xét xử một người mà Viện kiểm sát không truy tố
Ở nội dung thứ hai, hiện nay đang tồn tại hai luồng ý kiến trái chiều Vậyvấn đề đặt ra là nên hiểu như thế nào về việc Tòa án chỉ xét xử những hành vi theo tộidanh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án quyết định đưa ra xét xử?
- Ý kiến thứ nhất cho rằng, Tòa án không được kết án bị cáo về một tội phạm
khác (tội danh khác) nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố nhưng Tòa
án lại có quyền kết án bị cáo theo điều khoản khác với điều khoản mà Việnkiểm sát truy tố trong cùng một điều luật Có thể hiểu là Tòa án có thể kết án
bị cáo theo tội danh nhẹ hơn;điều khoản nặng hơn so với tội danh(hoặc điềukhoản) ban đầu nhưng nó chỉ được nằm trong phạm vi điều luật mà Viện kiểm
Trang 5sát đã áp dụng Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội cố ý gây thương tích,thì Tòa án không được kết án bị cáo về tội giết người Nhưng trong trườnghợp Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội giết người, thì Tòa án có thể kết án bịcáo về tội cố ý gây thương tích hoặc tội vô ý làm chết người.
- Ý kiến thứ hai cho rằng, quy định tại Điều 196 BLTTHS là chưa phù hợp
với thực tiễn xét xử, tức là trong một số tình huống, sự việc xảy ra trong thực
tế là nghiêm trọng hơn so với kết luận của Tòa án trong bản án đưa ra với bịcáo vì vậy trong những trường hợp đó rõ ràng người kết tội bị cáo không phải
là Tòa án mà là Viện kiểm sát Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh
cố ý gây thương tích, nhưng qua thực tiễn xét xử và quá trình tra hỏi thì Tòa
đã xác định bị cáo phạm tội giết người và Kiểm sát viên cũng thừa nhận bị cáophạm tội danh này, nhưng Tòa án bắt buộc phải tuyên bị cáo phạm tội cố ýgây thương tích, như vậy là trái với hành vị thực tế,với công bằng xã hội và sẽảnh hưởng lớn đến những người tham dự phiên tòa cũng như những người cóquyền và lợi ích liên quan
Vì vậy để tiếp cận với điều luật, hiểu được ý chí mà những nhà làm luật, cócái nhìn khách quan về các quan điểm đa chiều ta cần phân tích, làm sáng tỏ và giảithích ý nghĩa của một số vấn đề sau:
Thế nào là những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử ?
Một người hoặc nhiều người cùng phạm tội, có thể chỉ thực hiện một hành
vi khách quan nhưng cũng có thể thực hiện nhiều hành vi khách quan Vì vậy, khi xácđịnh giới hạn của việc xét xử cần phân biệt:
- Nếu chỉ có một người phạm tội và chỉ thực hiện một hành vi khách quan
thì việc xác định “hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án
quyết định đưa ra xét xử” căn cứ vào hành vi mà người phạm tội thực hiện với
hành vi mà Viện kiểm sát truy tố theo một tội danh được quy định trong Bộluật hình sự và Toà án quyết định đưa ra xét xử để xác định giới hạn của việcxét xử Ví dụ: Bùi Văn Mạnh do có mâu thuẫn với anh Nguyễn Tuấn Minh làchủ một cửa hàng bia hơi từ trước nên trong một lần tới mua bia hơi, Mạnh đãdùng ly cối thủy tinh đánh vào đầu và dùng ghế gỗ đánh vào người anh Minh
Trang 6(chủ quán) dẫn đến thương tật cho anh Minh là 13% Viện kiểm sát truy tố
“hành vi đánh người” của Mạnh theo tội cố ý gây thương tích (khoản 1 Điều
104 Bộ luật hình sự); Tòa án cũng đã quyết định đưa ra xét xử đối với “hành
vi đánh người” của Mạnh về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104.
Lúc này Toà án chỉ xét xử Mạnh về “hành vi đánh người” theo tội cố ý gây
thương tích (khoản 1 Điều 104 BLHS)là đúng với quy định tại điều 196BLTTHS
- Trường hợp tuy chỉ có một người phạm tội nhưng lại thực hiện nhiều
hành vi khách quan thì việc xác định “hành vi theo tội danh mà Viện kiểm
sát truy tố và Toà án quyết định đưa ra xét xử” chỉ căn cứ vào hành vi mà
Viện kiểm sát truy tố về một tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự vàToà án quyết định đưa ra xét xử để xác định giới hạn của việc xét xử Ví dụ:Tuấnthực hiện hành vi hiếp dâm và cướp tài sản nhưng Viện kiểm sát chỉ truy
tố Tuấn về tội hiếp dâm, không truy tố Tuấn về tội cướp tài sản thì Toà ánkhông được xét xử Tuấn về hành vi cướp tài sản Nếu Toà án thấy việc Việnkiểm sát không truy tố Tuấn về hành vi cướp tài sản là bỏ lọt tội phạm thì chỉ
có thể quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và yêu cầu Viện kiểm sát truy
tố Tuấn về hành vi cướp tài sản; trường hợp đã trả hồ sơ vụ án để điều tra bổsung mà Viện kiểm sát vẫn không truy tố thì Toà án chỉ có thể kiến nghị trongbản án hoặc kiến nghị bằng văn bản với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đểViện kiểm sát cấp trên xem xét việc không truy tố Tuấn về hành vi cướp tàisản mà Toà án yêu cầu
- Trường hợp cũng chỉ có một người phạm tội và người này cũng thực hiện nhiều hành vi khách quan và tất cả những hành vi khách quan đó Viện kiểm sát chỉ truy tố về một tội, nhưng Toà án thấy trong các hành vi mà Viện
kiểm sát truy tố có hành vi cấu thành tội khác với tội mà Viện kiểm sát truy tốthì Toà án được xét xử tất cả các hành vi mà Viện kiểm sát truy tố nhưngkhông được kết án tất cả các hành vi đó về một tội và cũng không được kết ánthêm tội mà Viện kiểm sát không truy tố Ví dụ: B bị Viện kiểm sát truy tố vềtội tham ô tài sản vì đã 5 lần cùng với C chiếm đoạt 800.000.000 đồng của cơquan, nhưng Toà án thấy hành vi của B chỉ là đồng phạm với C về tội tham ô 3lần với số tiền là 500.000.000 đồng, còn 2 lần là hành vi thiếu trách nhiệm để
Trang 7C chiếm đoạt 300.000.000 đồng Trong trường hợp này, Toà án vẫn xét xử cả
2 hành vi nhưng chỉ được kết án B đồng phạm tham ô khoản 500.000.000đồng về 1 hành vi; nhưng không được kết án B về tội thiếu trách nhiệm gâythiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước về khoản tiền 300.000.000 đồng.Nếu trong thời gian chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên toà Thẩm phán hoặc Hộiđồng xét xử phát hiện được thì trả hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát điều tra bổsung, thay đổi bản cáo trạng truy tố B thêm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hạinghiêm trọng đến tài sản Nhà nước về khoản tiền 300.000.000 đồng, nếu Việnkiểm sát không đồng ý thay đổi cáo trạng vẫn truy tố như cũ thì kiến nghị Việnkiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét mà không được tuyên bố B không phạm tộitham ô về khoản 300.000.000 đồng
- Trường hợp có nhiều người cùng thực hiện một hành vi phạm tội thì việc
xác định giới hạn việc xét xử cũng tương tư như trường hợp một người thựchiện một hành vi phạm tội Nếu có người nào chưa bị Viện kiểm sát truy tố thìToà án trả hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát điều tra bổ sung truy tố thêm ngườiphạm tội; nếu đã trả hồ sơ vụ án mà Viện kiểm sát vẫn không thay đổi cáotrạng (không truy tố thêm) thì Toà án chỉ được xét xử những người mà Việnkiểm sát đã truy tố và kiến nghị cấp Giám đốc thẩm xem xét
- Trường hợp nhiều người cùng thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng đều bị Viện kiểm sát truy tố về một tội thì khi xác định giới hạn việc xét xử
cần căn cứ vào hành vi của từng người phạm tội cụ thể và vai trò tham gia của
họ vào việc thực hiện tội phạm, mà không tách bạch hành vi cụ thể của từngngười Ví dụ: A, B, C và D cùng bàn bạc vào nhà anh H trộm cắp tài sảnnhưng chỉ có C và D trực tiếp lén lút vào nhà anh H lấy tài sản, còn B tìm nơitiêu thụ, A cung cấp phương tiện và trực tiếp vận chuyển tài sản trộm cắpđược đi tiêu thụ thì tất cả A, B, C, D đều được coi là cùng thực hiện hành vitrộm cắp tài sản Nếu Toà án thấy trong số những người mà Viện kiểm sát truy
tố có người không phạm tội trộm cắp tài sản mà chỉ phạm tội chứa chấp hoặctiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì có thể kết án người đó về tộiphạm mà Toà án xác định nhưng không được trái với quy định tại điều 196BLTTHS (tội danh bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố)
Trang 8- Trường hợp nhiều người trong cùng một vụ án bị truy tố về nhiều tội khác nhau thì phải căn cứ vào hành vi của từng người mà họ bị Viện kiểm sát
truy tố và Toà án quyết định đưa ra xét xử để xác định giới hạn của việc xét xửnhư trường hợp đối với một người đã phân tích ở trên
Thế nào là có thể xét xử bị cáo theo điều khoản khác với điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố trong cùng một điều luật
Về vấn đề này, thực tiễn xét xử không vướng mắc, Toà án có thể xét xử bịcáo theo điều khoản nhẹ hơn hoặc nặng hơn điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố trongcùng một điều luật Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo là ông Kiên theo khoản 2 Điều
137 Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Bộ luật hình sự nhưng Toà án có thể xét xử bịcáo theo khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 137 Bộ luật hình sự Tuy nhiên, trong trường hợpToà án xét xử bị cáo theo điều khoản nặng hơn điều khoản mà Viện kiểm sát truy tốtrong cùng một điều luật thì cần chú ý:
Nếu điều khoản mà Toà án định xét xử đối với bị cáo có khung hình phạtkhông thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp mình thì phải hoãn phiên toà, trả hồ sơ
để Viện kiểm sát cùng cấp chuyển vụ án lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp truy tố bịcáo ra Toà án có thẩm quyền xét xử; không được trả hồ sơ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử,
vì chưa xét xử thì chưa thể biết bị cáo có phạm tội theo điều khoản nặng hơn haykhông
Nếu điều khoản mà Toà án định xét xử đối với bị cáo có khung hình phạtthuộc trường hợp phải cử người bào chữa cho bị cáo thì trước khi mở phiên toà, Toà
án phải làm các thủ tục để bị cáo thực hiện quyền bào chưa của mình đúng theo quyđịnh của pháp luật tố tụng
Thế nào là Toà án xét xử về một tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tội danh khác bằng tội danh mà Viện kiểm sát truy tố
Trường hợp này ít xảy ra, vì một hành vi phạm tội mà cấu thành một tộidanh khác mà tội danh đó lại bằng tội danh mà Viện kiểm sát truy tố là rất hiếm; thôngthường Toà án chỉ xét xử bị cáo về tội danh nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố.Tuy hiếm nhưng về lý thuyết vẫn có thể xảy ra, vì vậy khi xác định tội danh khác bằngtội danh mà Viện kiểm sát truy tố cần so sánh mức hình phạt thấp nhất và mức hình
Trang 9phạt cao nhất giữa hai tội Nếu mức hình phạt thấp nhất và mức hình phạt cao nhất củatội danh mà Viện kiểm sát truy tố bằng mức hình phạt thấp nhất và mức hình phạt caonhất của tội danh mà Toà án định xét xử thì được coi là 2 tội danh bằng nhau Ví dụ:Viện kiểm sát truy tố B về tội hành hạ người khác theo Điều 110 Bộ luật hình sự,nhưng Toà án xét xử bị cáo B về tội làm nhục người khác theo Điều 121 Bộ luật hìnhsự.
Tội danh khác nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố
Trường hợp này thực tiễn xét xử tương đối phổ biến và việc so sánh giữa tộidanh mà Viện kiểm sát truy tố với tội danh mà Toà án định xét xử, tội nào nặng, tộinào nhẹ cũng không phức tạp, chỉ cần căn cứ vào mức hình phạt thấp nhất hoặc mứchình phạt cao nhất giữa hai tội; nếu tội nào có mức hình phạt cao nhất thấp hơn là tộinhẹ hơn; nếu mức hình phạt cao nhất của hai tội bằng nhau thì mức hình phạt thấp nhấtcủa tội danh nào thấp hơn thì tội danh đó nhẹ hơn
Khi xác định tội danh bằng hoặc nhẹ hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố cầnchú ý; do điều luật quy định “tội danh” chứ không quy định “điều khoản của Bộ luậthình sự” nên phải so sánh giữa hai điều luật quy định hai tội danh đó chứ không thể sosánh giữa điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố với điều khoản của
Bộ luật hình sự mà Toà án định xét xử Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố A phạm tội lạmdụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 điều 140 Bộ luật hình sự có khunghình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm, nhưng Toà án thấy A phạm tội lừa đảochiếm đoạt tài sản theo khoản 2 điều 139 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ hainăm đến bảy năm Tuy khung hình phạt quy định tại khoản 2 điều 139 Bộ luật hình sựnhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 3 điều 140 Bộ luật hình sự nhưng tội lừađảo chiếm đoạt tài sản là tội danh năng hơn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảnnên Toà án không thể xét xử bị cáo A về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được
c Bất cập trong điều 196 LTTHS 2003 điều 170 LTTHS năm 1988
Thực tiễn xét xử cho thấy quy định về giới hạn xét xử của Tòa án có nhiềuđiểm không hợp lý:
Thứ nhất, việc giới hạn Tòa án không được xét xử theo tội danh khác với tội
danh mà Viện kiểm sát đã truy tố là gián tiếp thừa nhận tội danh do Viện kiểmsát truy tố là đúng và Tòa án chỉ được kết án dựa trên tội danh đó Điều này trái
Trang 10với quy định của pháp luật về chức năng của Viện kiểm sát vì như vậy Việnkiểm sát đã thực hiện một phần chức năng của việc xét xử và việc định tội đượctiến hành trước khi xét xử là vi phạm nguyên tắc “không ai có thể được coi là
có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án”
Thứ hai, quy định về giới hạn xét xử buộc Tòa án phải xét xử theo tội danh mà
Viện kiểm sát đã truy tố là trái với quy tắc đã được quy định trong Hiến pháp
“khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
Thứ ba, quy định về giới hạn xét xử mâu thuẫn với nguyên tắc “xác định sự
thật của vụ án”, theo đó Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xácđịnh sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Vậy khi Tòa
án có đủ chứng cớ xác minh bị cáo phạm tội này nhưng lại phải tuyên án bị cáophạm tội khác theo đúng như truy tố của Viện kiểm sát thì không thể gọi là xácđịnh sự thật được
Thứ tư, Tòa án xét xử và Tòa án quyết định (kết án) là hai khái niệm hoàn toàn
khác nhau Cả hai Điều 170 BLTTHS 1988 và Điều 196 BLTTHS 2003 đều chỉquy định “Tòa án chỉ xét xử” chứ không quy định “Tòa án chỉ được kết án”
Do đồng nhất hai khái niệm xét xử với kết án nên đã dẫn đến việc hiểu khôngđúng tinh thần của Điều 170 BLTTHS 1988 và Điều 196 BLTTHS 2003
d Phản biện:
Đa số các ý kiến cho rằng, Viện kiểm sát chỉ nên truy tố hành vi phạm tộicủa bị cáo ra Tòa án, còn việc kết án bị cáo về tội gì là do Hội đồng xét xử quyết địnhsau khi đã xem xét các tình tiết của vụ án tại phiên tòa đúng như tinh thần tranh tụng
mà Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đã đề ra: “việc phán quyết của Tòa án phải căn cứchủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”
Tuy nhiên, có ý kiến lại cho rằng, quy định tại Điều 170 BLTTHS 1988 nhưvậy là chính xác và đầy đủ, không nhất thiết phải quy định thêm như Điều 196BLTTHS 2003 vừa không đầy đủ vừa mâu thuẫn ngay chính trong nội dung của điềuluật
Còn một số quan điểm trái chiều lại cho rằng điều 170 thiếu sót hơn so vớiđiều 196 Ở điều luật 170 quy định Toà án chỉ xét xử những bị cáo mà Viện kiểm sát
đã truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử Theo Thông tư liên tịch số
01-TANDTC-VKSNDTC/TTLB năm 1988 - Hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật
Trang 11Tố tụng hình sự thì “Nếu xét thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ
hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, hoặc áp dụng khung hình phạt nhẹ hơnkhung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, thì Tòa án không phải báo trước choViện kiểm sát và những người tham gia tố tụng” Còn so sánh với điều 196 thì Toà án
có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùngmột điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố
Ở đây ta có thể thấy khác biệt lớn nhất là ở chỗ “một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội
mà Viện kiểm sát đã truy tố”
Hoặc những ý kiến khác như: quy định “Trước khi mở phiên tòa, nếu Tòa
án thấy cần phải truy tố thêm người, thêm tội hoặc cần xét xử bị cáo theo tội danh khácnặng hơn, thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung và thay đổi cáo trạng.Trường hợp qua xét xử tại phiên tòa mới phát hiện được tội phạm mới hoặc ngườiphạm tội mới thì Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho Viện kiểmsát để điều tra bổ sung Trong trường hợp Tòa án đề nghị Viện kiểm sát thay đổi tộidanh theo hướng nặng hơn và đã trao đổi mà Viện kiểm sát không nhất trí, thì cả haibên đều phải báo cáo ngay với cấp trên của mình Thủ trưởng hai cơ quan cấp trên cầntrao đổi ngay để nếu thống nhất ý kiến thì hướng dẫn cấp dưới thi hành, nếu vẫn khôngthống nhất ý kiến thì Tòa án cấp dưới phải xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đãtruy tố” là chính xác vì nguyên tắc là khi gửi đơn triệu tập người tham gia tố tụng phảighi rõ điều khoản truy tố để các bên có thể tìm hướng biện hộ và việc không cho xửngay mộtphần để đảm bảo việc suy xét chính xác và để các bên có sự chuẩn bị cho
việc thay đổi đó Tại Bản sơ kết kinh nghiệm về việc tiến hành phiên toà sơ thẩm về
hình sự số 80-NCPL ngày 25/3/1974 (do công văn số 90-NCPL ngày 2/3/1974 của Toà án nhân dân tối cao gửi cho Toà án nhân dân địa phương) có đoạn viết: “Cơ sở
để Toà án nhân dân tiến hành phiên toà và để cho bị cáo chuẩn bị việc bào chữa là bảncáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Do đó nếu Toà án nhân dân nhận thấy cần phảithay đổi tội danh, điều luật cần được áp dụng, thêm hoặc bớt số người phải đưa ra xét
xử v.v…thì phải trao đổi lại với Viện kiểm sát nhân dân Nếu viện kiểm sát nhân dânnhất trí thì Viện kiểm sát nhân dân sẽ sửa đổi lại bản cáo trạng nhưng nếu Viện kiểmsát nhân dân không đồng ý thì tuỳ trường hợp, Toà án nhân dân cứ đưa vụ án ra phiêntoà để hội đồng xử án sẽ quyết định (đổi tội danh nhẹ hơn hoặc áp dụng điều luật nhẹhơn, tha miễn hình phạt cho bị cáo, hoặc xác định bị cáo không có trách nhiệm hình sự
Trang 12…) hoặc sẽ xin ý kiến của Toà án nhân dân cấp trên (như truy tố thêm người, thêm tội,định tội danh nặng) Trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự (kèm
theo Thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 của Toà án nhân dân tối cao) ở phần
hướng dẫn xác định tư cách và quyền của bị cáo, Toà án nhân dân tối cao quy định:
“Trong giai đoạn xét xử, Toà án nhân dân chỉ đưa một người ra xét xử với tư cách là bịcáo, nếu Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố người đó trước Toà án nhân dân; nếu Việnkiểm sát nhân dân không truy tố thì Toà án nhân dân không được xét xử một người với
tư cách là bị cáo, trừ những người mà Toà án nhân dân xét xử về việc hình sự nhỏkhông phải mở phiên toà”.Quan điểm này cho rằng, thực hiện vấn đề “giới hạn củaviệc xét xử” trong tố tụng hình sự hoàn toàn không làm mất đi tính độc lập khi xét xửcủa Toà án Đề nghị truy tố của Viện kiểm sát trong bản cáo trạng không có ý nghĩabắt buộc Toà án phải xử như vậy Xuất phát từ vấn đề “giới hạn của việc xét xử”, truy
tố của Viện kiểm sát vừa là căn cứ để Toà án đưa vụ án ra xét xử vừa là cơ sở đểkhống chế giới hạn xét xử của Toà án Sau khi hồ sơ vụ án hình sự được chuyển sangToà án cùng với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lúc này bắt đầu xuất hiện quan hệ tốtụng hình sự giữa hai cơ quan Không thể nói tại thời điểm đó trở đi, Toà án có toànquyền giải quyết mọi vấn đề về vụ án Trong thực tế, quan hệ giữa Viện kiểm sát vàToà án trong giai đoạn này trở đi là quan hệ phối hợp và quan hệ chế ước lẫn nhau.Tính chất phối hợp trong quan hệ giữa Viện kiểm sát và Toà án thể hiện ở chỗ cả hai
cơ quan cùng phải xem xét lại tính căn cứ, tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện trong
hồ sơ vụ án Trong trường hợp cần thiết và những trường hợp hai bên có những bấtđồng về vụ án thì Toà án triệu tập cuộc họp trù bị có đại diện của Viện kiểm sát thamgia v.v…Quan hệ phối hợp này chỉ thể hiện trong giai đoạn chuẩn bị cho việc xét xử
và khi thi hành án Trong phiên toà không có mối quan hệ phối hợp ấy vì Toà án lúcnày là người đứng giữa hai bên: một bên buộc tội (đại diện Viện kiểm sát, người bị hạiv.v…) và một bên gỡ tội (bào chữa viên, bị cáo v.v…) Quan hệ chế ước lẫn nhau giữaViện kiểm sát và Toà án thể hiện ở chỗ Toà án có thể yêu cầu Viện kiểm sát tiến hànhđiều tra bổ sung, cung cấp thêm những tài liệu và chứng cứ cần thiết khác phục vụ chokhâu xét xử tại phiên toà Nếu có những căn cứ bị cáo không phạm tội, Toà án có cóthể tự mình hoặc yêu cầu được bổ sung cáo trạng trước hoặc sau ngay trong phiên toànếu điều đó không làm xấu đi tình trạng của bị cáo hoặc gây khó khăn cho việc bàochữa của bị cáo, rút một phần hay toàn bộ việc truy tố trong thời gian chuẩn bị đưa vụ
Trang 13án ra xét xử hoặc ngay tại phiên toà trước khi Hội đồng xét xử nghị án Như vậy, quan
hệ chế ước này được thể hiện ở chỗ tất cả các khâu, từ khi hồ sơ vụ án chuyển sangToà án (giai đoạn chuyển tòa) đến khi kết thúc giai đoạn tố tụng hình sự
Khi quy định, Toà án chỉ xét xử thì cần phải hiểu rằng Toà án không thể xét
xử một người mà mà Viện kiểm sát không truy tố, còn việc Toà án quyết định như thếnào đối với người bị đưa ra xét xử là phải căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ
án đối chiều với các quy định của Bộ luật hình sự Toà ánchỉ xét xử những hành vitheo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, tức là ngoài những hành vi theo tội danh màViện kiểm sát đã truy tố thì Toà án không được xét xử những hành vi mà Viện kiểmsát không truy tố Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về hành vi lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài tài sản với tổng số tiền là 500.000.000 đồng, thì Toà án chỉ được xét xử
bị cáo về hành vi chiếm đoạt 500.000.000 đồng Khi xét xử về hành vi này Toà án thấy
bị cáo không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mà phạm tội lừa đảochiếm đoạt tài sản, thì Toà án vẫn có thể kết án bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản Toà án xét xử và Toà án quyết định (kết án) là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.Điều 170 BLTTHS năm 1989 và Điều 196 BLTTHS năm 2003 chỉ quy định: “Toà ánchỉ xét xử” chứ không quy định “Toà án chỉ được kết án” Do đồng nhất hai khái niệmxét xử với kết án nên đã dẫn đến việc hiểu không đúng tinh thần của điều 170BLTTHS 1989 và Điều 196 BLTTHS năm 2003
Chúng tôi thấy ý kiến này có nhân tố hợp lý, nhưng nếu phải hiểu như ýkiến này thì cách hành văn tại Điều 196 BLTTHS năm 2003 như hiện nay là không rõràng, khó hiểu vẫn cần phải sửa lại theo hướng:“Toà án chỉ đưa ra xét xử những bị cáo
mà hành vi phạm tội của họ bị Viện kiểm sát truy tố Việc kết án bị cáo phạm tội gì doToà án quyết định” Hy vọng khi có điều kiện, các nhà làm luật quan tâm đến vấn đềnày một cách triệt để hơn
II Thực tiễn xét xử:
Như đã trình bày, quy định hiện hành của BLTTHS chỉ cho phép Tòa án xét
xử những bị cáo và những hành vi đã bị Viện Kiểm sát truy tố và Tòa án quyết địnhđưa ra xét xử Việc quy định như vậy đã dẫn tới một số bất cập trong thực tiễn xét xử
án hình sự Vụ việc sau đây là một ví dụ điển hình
Trang 14Phân tích hành vi của 2 đối tượng ta nhận thấy: hành vi của Châu là lợidụng chức vụ của mình quản lý tiền mặt để lấy tiền của trung tâm trái phép Điều 142BLHS quy định chủ thể của tội “Sử dụng trái phép tài sản” là “người nào vì vụ lợi mà
sử dụng trái phép tài sản của người khác”; trong khi điều 278 BLHS quy định về chủthể của tội “tham ô tài sản” là “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tàisản mà mình có trách nhiệm quản lý” Vậy việc truy cứu trách nhiệm hình sự của Châutheo điều 142 là không hợp lý Hành vi của Châu và Thiên đã cấu thành tội “Tham ôtài sản” theo điểm a khoản 4 điều 278 với khung hình phạt là phạt tù từ 20 năm, tùchung thân hoặc tử hình – một mức hình phạt cao hơn nhiều so với khung hình phạttheo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố
Thực tiễn vụ việc, khi xét thấy cần truy tố 2 đối tượng theo tội danh khácnặng hơn, Tòa án đã trả hồ sơ yêu cầu thay đổi tội danh truy tố nhưng Viện kiểm sátkhông đồng ý Vì vậy, Tòa án buộc phải mở phiên tòa xét xử 2 bị cáo với tội danh màViện kiểm sát đã truy tố; quyết định hình phạt của Châu là 6 năm tù và Thiên là 20năm tù
Vụ việc trên cho thấy bất cập trong quy định về giới hạn xét xử của tòa án.Việc xét xử của tòa án bị ảnh hưởng rất nhiều bởi phần truy tố của Viện kiểm sát Nóicách khác, Viện kiểm sát truy tố tới đâu thì Tòa án chỉ được xử tới đó hoặc thấp hơn;
mà trong nhiều trường hợp dẫn tới xét xử sai, không đúng tội danh thật sự
Một thẩm phán Hình sự Tòa án nhân dân TP.HCM cho biết có nhiều vụ ántòa thấy bị cáo nhận hối lộ hoặc chiếm đoạt số tiền lớn nhưng Viện kiểm sát chỉ buộctội một khoản tiền nhỏ hơn nhiều thì tòa cũng chỉ được xét xử và tuyên án căn cứ trêntruy tố của Viện kiểm sát Mặc dù tòa có quyền yêu cầu trả hồ sơ đề nghị điều tra bổsung, truy tố thêm người, thêm tội hoặc chuyển bị cáo sang khung hình phạt nặng hơnnhưng Viện kiểm sát không làm thì thẩm phán cũng bó tay Chính vì vậy, các thẩmphán đành đưa chính kiến của mình về việc lọt người, lọt tội thành kiến nghị khi tuyênán
Tuy nhiên, theo một thống kê mới đây của Tòa án nhân dân TP.HCM, hầuhết các kiến nghị của tòa án gửi cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đề nghị điều tra, truy
tố những người đã bị bỏ lọt trong quá trình tố tụng thường "rơi vào im lặng" hoặc nếu
có trả lời thì cũng chỉ là: không có cơ sở để khởi tố, truy tố Những kiến nghị của tòa1www.http://tuoitre.vn
Trang 15sơ thẩm cũng hiếm khi được cấp phúc thẩm xem xét, do cấp phúc thẩm chủ yếu xemxét phạm vi có kháng cáo, kháng nghị.
Một số vụ việc tương tự, những kiến nghị của Tòa án không được xem xét
Ví dụ, vụ tiêu cực của Lương Cao Khải, nguyên vụ phó Thanh tra Chính phủ, cùngmột số thanh tra viên đoàn thanh tra Chính phủ: tòa kiến nghị xử lý hình sự đối vớinhóm cán bộ của các đơn vị bị thanh tra (có liên quan thực hiện các dự án đầu tư tạiTổng công ty Dầu khí VN) do đã có hành vi chủ động dùng tiền của công ty để đưahối lộ cho đoàn thanh tra Chính phủ gồm: Huỳnh Kim Quy, Nguyễn Xin, Đặng HữuQuý, Đậu Hồng Lạc Những người này đã được Viện kiểm sát miễn truy cứu tráchnhiệm hình sự.Vụ án chạy hạn ngạch dệt may tại Bộ Thương mại do nguyên thứ
trưởng Mai Văn Dâu cùng đồng phạm thực hiện: Tòa kiến nghị điều tra xử lý hành vi
của Mai Văn Dâu và Lê Văn Thắng (nguyên vụ phó Vụ Xuất nhập khẩu) trong việcnhận 30.000 USD và một số khoản tiền khác Kiến nghị xử lý hình sự một số chuyênviên Vụ Xuất nhập khẩu (đã được Viện kiểm sát cho miễn trách nhiệm hình sự), khởi
tố điều tra xử lý một số chủ doanh nghiệp đã có hành vi đưa hối lộ nhưng được cơquan điều tra đề nghị xử lý hành chính 2
Những điển hình trên cho thấy, việc thu hẹp giới hạn xét xử, để việc địnhtội danh bị ảnh hưởng bởi cáo trạng của Viện kiểm sát dẫn tới nhiều hậu quả tiêu cựccho thực tiễn xét xử của Tòa án Nếu tuân thủ pháp luật, Tòa án không thể vượt quyền
để xét xử sẽ dẫn tới tình trạng lọt người lọt tội Đây cũng có thể xem là một lỗ hổng
có thể góp phần vào tình trạng tiêu cực, tham nhũng hối lộ đang diễn ra Việc can thiệpđược vào bản cáo trạng của Viện kiểm sát sẽ gián tiếp áp đặt đến quyết định định tộicủa Tòa án, sự thật của vụ án sẽ không thể được làm rõ
Mặt khác, nếu Tòa án quyết tâm bảo vệ pháp luật, chấp nhận vượt giới hạn
để xét xử thì sẽ đặt ra một vấn đề khác đó chính là giá trị pháp lý của bản án, quyếtđịnh của tòa Liệu một bản án vi phạm thủ tục tố tụng (điều 196 LTTHS) thì có đảmbảo tính thượng tôn pháp luật?
Trong các vấn đề Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM đưa ra rút kinh nghiệmtại một hội nghị nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố mới đây, đáng chú ý làvẫn có những tòa sơ thẩm vượt quá giới hạn xét xử nên án bị hủy Sau đây là một vài
ví dụ điển hình
2www.http://tuoitre.vn
Trang 16Trường hợp thứ nhất: Xét xử cả hành vi mà Viện kiểm sát không truy tố 3
Tháng 6-2009, Nguyễn Duy Khang, Trịnh Hoàng Nam cùng một ngườichưa rõ lai lịch tổ chức trường gà tại bãi đất trống trên quốc lộ 1, khu phố 11,phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân (TP.HCM) Khang và Nam thayphiên nhau ghi biện, làm trọng tài, thu tiền xâu của những người tham gia đá
gà ăn tiền
Trưa 13-8-2009, trường gà bị công an ập vào triệt phá Khang, Nam cùngnhiều người liên quan bị bắt quả tang, sau đó bị khởi tố, truy tố Tháng 1-2011,TAND quận Bình Tân xử sơ thẩm đã kết án Khang, Nam về tội tổ chức đánhbạc, sáu bị cáo khác về tội đánh bạc Sau đó, Khang cùng một bị cáo kháckháng cáo xin được hưởng án treo
Tại phiên phúc thẩm gần đây, TAND TP.HCM đã tuyên hủy toàn bộ bản
án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại từ đầu vì cấp sơ thẩm có khá nhiều vi phạm
Cụ thể, cáo trạng không xác định hành vi, vai trò cụ thể của từng bị can,không ghi rõ chứng cứ xác định tội trạng, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹtrách nhiệm hình sự của từng người Như vậy, việc truy tố là không có cơ sở,
vi phạm Điều 167 BLTTHS Thế nhưng bản án sơ thẩm vẫn có phần “nhậnthấy” giống như nội dung cáo trạng
Đặc biệt, trong phần “xét thấy” của bản án, tòa sơ thẩm lại tự xác định sốtiền đánh bạc, vai trò để quyết định hình phạt cao thấp cho các bị cáo Đâychính là việc xử phạt các bị cáo về những hành vi mà VKS không truy tố tạicáo trạng, vi phạm Điều 196 BLTTHS
Ngoài ra, cách xác định số tiền đánh bạc của tòa sơ thẩm cũng khôngđúng luật định Còn tại phần xét hỏi, tòa sơ thẩm tiến hành xét hỏi một lần3www.http://baomoi.vn