Xuất phát từ thực tế nêu trên và qua quá trình tìm hiểu, thực tập tại Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long, em đã lựa chọn đề tài: “ Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long” Nội dung đề tài tốt nghiệp gồm 3 chương: Chương I: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp Chương II: Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long Chương III: Giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌCKINH TẾ QUỐC DÂN KHOANGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG THỦY LỢI
THỦY ĐIỆN THĂNG LONG
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Lưu Thị Hương
Sinh viên thực hiện : Hồng Minh Hải
Lớp :TCDN 20.03
MSSV : BH.201851
Trang 2Hà Nội - 11/2011
MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
Chương I: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.1 Tầm quan trọng phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp 4
1.1.2 Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp 6
1.2.1 Thu thập thông tin 7
1.2.2 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 13
1.3 Đánh giá tình hình phân tích tài chính doanh nghiệp 31
Chương II: Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 32
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty 33
2.1.3.Kết quả hoạt động của công ty 40
2.2 Phân tích tình hình tài chính của công ty 40
2.2.1 Phân tích tình hình tài sản 40
2.2.2 Phân tích kết cấu nguồn vốn của công ty 43
2.2.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của công ty 46
2.2.4 Phân tích nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của công ty 50
2.2.5 Phân tích hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi của vốn 57
Trang 32.3 Đánh giá tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng
Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 64
2.3.1 Các thế mạnh so với các công ty cạnh tranh 64
2.3.2 Các điểm yếu cần khắc phục 65
2.3.3 Nguyên nhân của điểm yếu 66
Chương III: Giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 68
3.1 Định hướng phát triển của công ty 68
3.1.1 Tầm nhìn 68
3.1.2 Sứ mệnh 68
3.1.3 Chiến lược công ty 68
3.2 Giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long 69
3.3 Một số kiến nghị với cơ quan nhà nước và đơn vị chủ quản 73
3.3.1 Đối với công ty 74
3.3.2 Đối với nhà nước 74
Kết luận 76
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến tích cực,không ngừng thúc đẩy mở cửa hợp tác với các quốc gia trong khu vực cũng nhưtrên thế giới và đã có những bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt như : Kinh tế,chính trị, văn hóa… Tháng 11/ 2006 Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thươngmại thế giới (WTO), mở ra một bước ngoặt quan trọng cho đất nước nói chung vàcho nền kinh tế nói riêng Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa các doanh nghiệpđược đối xử bình đẳng trên một sân chơi chung, “ Mạnh thắng, yếu thua”, đó là quyluật của nền kinh tế nhiều cơ hội cũng như nhiều thử thách Bởi vậy, để tồn tại trong
sự đào thải khắc nghiệt ấy đòi hỏi các doanh nghiệp phải xem trọng từng bước đi,từng yếu tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của mình Như chúng ta đã biết, Tàichính quyết định đến sự tồn tại, phát triển và cả sự suy vong của doanh nghiệp Dođó, để đảm bảo được sự tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp buộc phải có tìnhhình tài chính lành mạnh và ổn định Mỗi doanh nghiệp cần phải quan tâm đến côngtác tài chính, thường xuyên tổ chức việc phân tích, tổng hợp, đánh giá các chỉ tiêutài chính cũng như việc dự báo tình hình tài chính của doanh nghiệp trong nhữngkhoảng thời gian nhất định để phát huy những mặt mạnh trong công tác tài chínhđồng thời phát hiện kịp thời những mặt yếu kém nhằm khắc phục và hoàn thiện tìnhhình tài chính doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thành đạt trong kinh doanh
Xuất phát từ thực tế nêu trên và qua quá trình tìm hiểu, thực tập tại Công ty cổphần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long, em đã lựa chọn đề tài:
“ Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long”
Nội dung đề tài tốt nghiệp gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương II: Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long
Trang 5Chương III: Giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long.
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN
VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định bốn loại hình doanh nghiệp hoạt động tạiViệt Nam Đó là: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanhnghiệp tư nhân
1.1.1.1 Doanh nghiệp tư nhân.
Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tư nhân là doanhnghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Từ quy định trên chúng ta thấy doanh nghiệp tư nhân gồm những đặc điểm cơbản sau:
Một là:Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tư vốn thành
lập và làm chủ Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân Bởi vậy màchủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tớiquản lý doanh nghiệp, thuê người khác điều hành ( trong trường hợp này phải khaibáo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt độngcủa doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạmngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật
Hai là:Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân bởi vì tài sản của
doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp Tài sản màchủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhânkhông phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp
Ba là:Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
1.1.1.2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn ( TNHH )
Trang 6a Công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có nhữngđặc điểm chung sau đây;
- Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thànhviên công ty
- Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên mỗicông ty không ít hơn hai và không vượt quá năm mươi
- Công ty không được quyền phát hành cổ phần
- Công ty là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn vềcác khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
tổ chức khác theo quy định của pháp luật
- Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điểu
lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp
- Công ty không được phát hành cổ phần
- Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạnđối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của côngty
1.1.1.3 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và khônghạn chế tối đa
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn,theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Trang 7- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữuhạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tàisản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
1.1.1.4 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây;
- Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn cóthành viên góp vốn
- Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghềnghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụcủa công ty ( Trách nhiệm vô hạn )
- Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trongphạm vi số vốn đã góp vào công ty
- Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân
- Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
Như vậy, công ty họp danh có hai loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thànhviên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh vàthành viên góp vốn
1.1.2 Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ giúp đánh giá chính xác đượcsức mạnh tài chính, những tiềm năng, hiệu quả kinh doanh, những triển vọng và rủi
ro trong tương lai, từ đó đề ra các giải pháp quản lý tài chính hoặc đưa ra các quyếtđịnh kinh doanh hiệu quả, góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụcho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lýnhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ vàchất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyếtđịnh quản lý phù hợp
Trang 8Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá rủi ro phá sảntác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, đánh giákhả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanhnghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ranhững dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng củadoanh nghiệp trong tương lai Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dự đoántài chính - một trong các hướng dự đoán doanh nghiệp Phân tích tài chính có thểđược ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau: với mục đích tác nghiệp (chuẩn bị cácquyết định nội bộ), với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phântích( trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp )
1.2.1 Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyếtminh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoántài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài,những thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những thông tin về sốlượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báocáo tài chính doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy,phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thuthập được Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu,ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêuphân tích đãđặt ra : Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo nhữngmục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyênnhân của các kết quả đãđạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
1.2.1.2 Dự đoán và quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết
để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra những quyết định tài chính.Có thể nói mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính Đốivới chủ doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra những quyết định liên quanđến mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợinhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp
Trang 91.2.2 Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử dụngtài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và tình hìnhbiến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tàichính với nhau
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương pháp:phương pháp phân tích ngang và phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính.Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động
cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, cònphân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quangiữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo tài chính với nhau
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ thuộc vàomục đích và yêu cầu của việc phân tích
So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc định mức Đây làphương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, địnhmức và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạch được đề ra
- So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm cho thấy sựbiến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng của doanhnghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh
- So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuất kinh doanhkhác nhau của doanh nghiệp
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánhđược của các chỉ tiêu:
- Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng
- Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng
Trang 10- Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nội dung, cơ cấucủa các chỉ tiêu.
- Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêu này bằngnhững đơn vị tính đổi nhất định
- Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so sánh bằng cácchỉ tiêu tương đôí Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số trường hợp, việc sosánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được hoặc không mang một ýnghĩa kinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối thì hoàntoàn cho phép và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiện tượng nghiên cứu
Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và số tươngđối
Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triểnkhông đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cách khác, sốbình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu Số bình quân cóthể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tương đối( tỷ suất) Khi sosánh bằng số bình quân sẽ thấy mức độ đạt được so với bình quân chung của tổngthể, của ngành, xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khối lượng, quy mô của hiện tượng kinh
tế Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung phản ánh, cách tínhtoán xác định, phạm vi, kết cấu và đơn vị đo lường
Sử dụng số tương đối để so sánh có thể đánh giá được sự thay đổi kết cấu củahiện tượng kinh tế, đặc biệt có thể liên kết các chỉ tiêu không giống nhau để phântích so sánh Tuy nhiên số tương đối không phản ánh được thực chất bên trong cũngnhư quy mô của hiện kinh tế Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi so sánh cần kếthợp đồng thời cả số tuyệt đối và số tương đối
1.2.2.2 Phương pháp loại trừ.
Phương pháp này được áp dụng rộng rãi để xác định xu hướng và mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đối với chỉ tiêu phân tích Khi phân tích, để nghiên cứu ảnhhưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác
Trong thực tế phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích kinh tế dưới 2dạng là: phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch
1.2.2.3 Phương pháp thay thế liên hoàn.
Trang 11Là phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố bằng cách thay thế lầnlượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số củachỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau đó so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được vớitrị số của chỉ tiêu khi chưa có biến đổi cuả nhân tố cần xác định sẽ tính được mức
độ ảnh hưởng của nhân tố đó
Điều kiện áp dụng phương pháp là mối quan hệ giữa nhân tố cần đo ảnh hưởng
và chỉ tiêu phân tích phải thể hiện được dưới dạng công thức Ngoài ra việc sắp xếpcác nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đối với các chỉ tiêu phântích phải theo thứ tự từ nhân tố số lượng đến nhấn tố chất lượng Trình tự thay thếcác nhân tố phải tuân theo nguyên tắc nhất định vừa phù hợp với ý nghĩa của hiệntượng nghiên cứu vừa phải đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ về thực chất của các nhântố
Trình tự thực hiện phương pháp thay thế liên hoàn:
- Bước 1: Sơ bộ phân tích về mặt lý luận mối quan hệ giữa các nhân tố và chỉ tiêukết quả và phân loại các nhân tố thành nhân tố số lượng và nhân tố chất lượng
- Bước 2: Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự: nhân tố đứng sau chất lượng hơn nhân
Trang 12Như vậy, khi có n nhân tố thì có( n- 1) lần thay thế tức là lập được( n- 1) tích sốtrung gian Khi thay đổi trình tự thay thế thì mức độ ảnh hưởng của các nhân tố sẽthay đổi, còn tổng mức độ ảnh hưởng của chúng thì không đổi.
Ưu điểm của phương pháp thay thế liên hoàn: Xác định được mức độ và chiều
hướng ảnh hưởng của các nhân tố, sắp xếp các nhân tố theo mức độ ảnh hưởng củachúng, từ đó sẽ có biện pháp nhằm khai thác, thúc đẩy những nhân tố tích cực vàhạn chế những nhân tố tiêu cực
Nhược điểm của phương pháp thay thế liên hoàn:
- Không có khả năng luận cứ rõ ràng trình tự cụ thể về sự thay thế của các nhân
tố cũng như tính quy ước của việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng thành cácnhân tố số lượng và các nhân tố chất lượng Điều này càng trở nên khó khăn khicó nhiều nhân tố trong tính toán phân tích
- Ảnh hưởng của mỗi nhân tố được xem xét tách rời, không tính đến mối quan hệqua lại của nó với các nhân tố khác, mặc dù sự thay đổi của một trong các nhân
tố dẫn tới sự thay đổi của các nhân tố khác
1.2.2.4 Phương pháp số chênh lệch
Phương pháp số chênh lệch thực chất là phương pháp rút gọn của phương phápthay thế liên hoàn Do vậy, nó cũng đòi hỏi những điều kiện và cũng có những ưuđiểm, hạn chế như thay thế liên hoàn
Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào đóđối với chỉ tiêutổng hợp được xác định bằng số chênh lệch của nhân tố đó nhân với các nhân tốkhác được cố định trong khi lập tích số
Trình tự tiến hành phương pháp số chênh lệch:
- Xác định số chênh lệch tuyệt đối với dấu tương ứng của mỗi một nhân tố
- Nhân số chênh lệch của mỗi một nhân tố với số kế hoạch của các nhân tố khácchưa đo ảnh hưởng và với số thực tế của các nhân tố khác đãđo ảnh hưởng
1.2.2.5 Phương pháp liên hệ
Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, các
bộ phận Để lượng hoá các mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu, trongphân tích kinh doanh còn phổ biến các cách nghiên cứu liên hệ phổ biến như: liên
hệ cân đối, liên hệ thuận nghịch, liên hệ tương quan
Trang 13Phương pháp liên hệ cân đối thường thể hiện dưới hình thức phương thức trìnhkinh tế hoặc bảng cân đối kinh tế.
Nội dung chủ yếu của bảng cân đối kinh tế gồm hai hệ thống chỉ tiêu có quan hệtrực tiếp với nhau về mặt chỉ tiêu Khi thay đổi một thành phần hệ thống chỉ tiêu đó
sẽ dẫn tới sự thay đổi một hoặc một số thành phần khác nhưng sự thay đổi đó vẫnđảm bảo sự cân bằng của bảng cân đối kinh tế Khi phân tích thường dùng để kiểmtra việc ghi chép hoặc để tính toán các chỉ tiêu
Để tính mức độ ảnh hưởng của nhiều nhân tố một cách đồng thời đến một chỉtiêu nào đó:
Tổng=
1.2.2.7 Phương pháp liên hệ thuận nghịch
C=
Trong đó: C- chỉ tiêu cá biệt mà ta đang nghiên cứu
T- chỉ tiêu trực tiếp hoặc chỉ tiêu thuận chiều N- chỉ tiêu ngược chiều
- Mức độ ảnh hưởng của nhân tố trực tiếp(T)
T, N: số chênh lệch tương đối của chỉ tiêu T và N
CT, CN, C: mức độ ảnh hưởng của chỉ tiêu T, N và của 2 chỉ tiêu T, Nđến chỉ tiêu cá biệt đang nghiên cứu
1.2.2.8.Phương pháp liên hệ tương quan
Trang 14Là phương pháp phân tích tương quan nhằm xác định sự tồn tại và dạng củamối liên hệ giữa các đại lượng ngẫu nhiên và cho phép đánh giá mức độ chặt chẽgiữa các mối quan hệ đó.
Trình tự tiến hành:
- Phân tích lý luận để giải thích sự tồn tại và bản chất mối liên hệ;
- Thăm dò các mối quan hệ đó;
- Lập phương trình hồi quy căn cứ vào số tiêu thức, số lần quan sát;
- Tính toán các tham số của chương trình;
- Giải thích ý nghĩa kinh tế của các tham số
1.2.3 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được trình bày theo hai cáchsau:
- Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
- Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính
1.2.3.1 Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính
Phân tích khái quát và phân tích chi tiết tình hình tài chính là nội dung phân tích
mà đồ án sử dụng Vì vậy, nội dung phân tích khái quát và phân tích chi tiết tìnhhình tài chính, không được nêu chi tiết ở phần này mà đựơc trình bày chi tiết ở phầnsau ( Chương 2)
a Phân tích khái quát tình hình tài chính
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, trước tiên phải sosánh tổng tài sản và tổng nguồn vốn giữa kì và đầu năm Qua so sánh, có thể thấyđược sự thay đổi quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ cũng như khả nănghuy động vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, số tổng cộng của tài sản và nguồn vốntăng giảm là do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó cần đi sâu phân tích các mốiquan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định Hai loạitài sản này được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nhưng cân đối nàychỉ mang tính lí thuyết tức là nguồn vốn chủ sở hữu chủ doanh nghiệp đủ trang trảicác loại tài sản cho các hoạt động chủ yếu mà không phải đi vay hoặc chiếm dụng.Thực tế thường xảy ra 1 trong 2 trường hợp sau:
Trang 15- Trường hợp doanh nghiệp thừa nguồn vốn, không sử dụng hết nên sẽ bị chiếmdụng.
- Trường hợp doanh nghiệp thiếu vốn để trang trải tài sản nên doanh nghiệp phải
đi vay hoặc chiếm dụng vốn từ bên ngoài
Qua phân tích các mối quan hệ cân đối, cho thấy số vốn doanh nghiệp bị chiếmdụng (hoặc đi chiếm dụng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phải thu và nợphải trả
Bên cạnh đó, trong phân tích tổng quát ta còn tính toán và so sánh các chỉ tiêu tỉsuất tài trợ đẻ thấy được khả năng đảm bảo về mặt tài chính và tính chủ động trongkinh doanh của công ty (phần này được trình bày trong phân tích kết cấu nguồn vốncủa doanh nghiệp) Bên cạnh đó, về khả năng thanh toán cũng cần được quan tâmchú ý ( được trình bày ở phần nhu cầu và khả năng thanh toán)
b Phân tích chi tiết tình hình tài chính
Trong phân tích chi tiết tình hình tài chính ta đi phân tích tình hình phân bổvốn, xem xét doanh nghiệp đã phân bổ vốn hợp lí và phát huy hiệu quả chưa? Đểphân tích, ta tiến hành xác định tỉ trọng từng khoản vốn ở thời điểm đầu kì và cuối
kì và so sánh sự thay đổi về tỉ trọng giữa đầu kì và cuối kì nhằm tìm ra nguyên nhâncủa sự chênh lệch này Qua so sánh ta thấy được sự thay đổi về số lượng, quy mô vàtỉ trọng của từng loại vốn Để có thể thấy được tình hình thay đổi của tài sản là hợp
lí hay không cần đi sâu nghiên cứu sự biến động của tài sản Việc đầu tư chiều sâu,mua sắm trang thiết bị, đổi mới công nghệ để tạo tiền đề tăng năng suất lao động và
sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả hoặc đầu tư tài chính dài hạn được xem xét thôngqua các chỉ tiêu: Tỉ suất đầu tư chung, tỉ suất đầu tư tài sản cố định, tỉ suất đầu tư tàichính dài hạn Bên cạnh đó việc phân tích kết cấu nguồn vốn; phân tích tình hìnhcông nợ và khả năng thanh toán; phân tích hiệu quả và khả năng sinh lợi của vốn;phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được phântích một cách cụ thể và được trình bày cụ thể trong Chương 2 của đề án này
1.2.3.2 Phân tích các hoạt động tài chính và phân tích các tỷ lệ tài chính.
a Phân tích các tỷ lệ tài chính
Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính chủ yếu thường được phân thành 4nhóm chính Đó là: nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về khả năng cânđối vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng hoạt động, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lãi Nhìn
Trang 16chung, mối quan tâm trước hết của các nhà phân tích tài chính là tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp có lành mạnh không? Liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứngđược những khoản nợ đến hạn không? Nhưng tuỳ theo mục đích phân tích tài chính
mà nhà phân tích tài chính chú trọng nhiều hơn đến nhóm tỷ lệ này hay nhóm tỷ lệkhác Chẳng hạn, các chủ nợ ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến tình hình khả năngthanh toán của người vay Trong khi đó, các nhà đầu tư dài hạn quan tâm nhiều hơnđến khả năng hoạt động có lãi và hiệu quả sản xuất kinh doanh Họ cũng cần nghiêncứu tình hình về khả năng thanh toán để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đápứng nhu cầu chi trả hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính khả năng trả nợ cuốicùng của doanh nghiệp Bên cạnh đó, họ cũng chú trọng tới tỷ lệ cân đối vốn vì sựthay đổi tỷ lệ này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới lợi ích của họ
Các tỷ lệ tài chính cung cấp cho người phân tích khá đầy đủ các thông tin vềtừng vấn đề cụ thể liên quan tới tài chính doanh nghiệp Nhiệm vụ của người phântích là phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các nhóm tỷ lệ để từ đóđưa ra kết luận kháiquát về toàn bộ tình hình tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên, trong quá trình phântích nên lưu ý rằng một tỷ lệ tài chính riêng rẽ thì tự nó không nói lên điều gì Nócần phải được so sánh với tỷ lệ ở các năm khác nhau của chính doanh nghiệp đó và
so sánh với tỷ lệ tương ứng của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành.Mỗi nhóm tỷ lệ trên bao gồm nhiều tỷ lệ và trong từng trường hợp các tỷ lệđược lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích
Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét cả bốn nhóm tỷ lệ thường dùng để phântích và đánh giá hoạt động tài chính doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, để tài trợ cho các tài sản củamình các doanh nghiệp không chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu mà còn cần đếnnguồn tài trợ khác là vay nợ Việc vay nợ này được thực hiện với nhiều đối tượng
và dưới nhiều hình thức khác nhau Cho dù là đối tượng nào đi chăng nữa thì để điđến quyết định có cho doanh nghiệp vay nợ hay không thì họ đều quan tâm đền khảnăng thanh toán của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa cáckhoản phải có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ.Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán không những giúp cho các chủ nợ
Trang 17giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và bảo toàn được vốn của mình mà còngiúp cho bản thân doanh nghiệp thấy được khả năng chi trả thực tế để từ đó có biệnpháp kịp thời trong việc điều chỉnh các khoản mục tài sản cho hợp lý nhằm nângcao khả năng thanh toán.
Các tỷ lệ về thanh toán bao gồm :
+ Hệ số thanh toán hiện hành
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn Tài sảnlưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng, các khoản phảithu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạnngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phảitrả khác Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định - tới mộtnăm Tỷ lệ khả năng thanh toán chung là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạncủa doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn đượctrang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương ứngvới thời hạn của các khoản nợ đó
Công thức của khả năng thanh toán chung như sau :
Tỷ lệ này có giá trị càng cao thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanhnghiệp càng tốt và ngược lại Nêú khả năng thanh toán chung nhỏ hơn 1 thì doanhnghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên, nếu con số này quácao thì có nghĩa là doanh nghiệp đãđầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với nhucầu Thông thường thì phần vượt trội đó sẽ không sinh thêm lợi nhuận Vì thế màviệc đầu tưđó sẽ kém hiệu quả Vấn đề này đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải phân bổvốn như thế nào cho hợp lý
+ Hệ số thanh toán nhanh:
Một tỷ lệ thanh toán chung cao chưa phản ánh chính xác việc doanh nghiệpcó thể đáp ứng nhanh chóng được các khoản nợ ngắn hạn trong thời gian ngắn vớichi phí thấp hay không vì nó còn phụ thuộc vào tính thanh khoản của các khoảnmục trong tài sản lưu động và kết cấu của các khoản mục này Vì vậy, chúng ta cầnphải xét đến hệ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp
Trang 18Hệ số thanh toán nhanh được tính bằng cách chia tài sản quay vòng nhanhcho nợ ngắn hạn Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóngchuyển đổi thành tiền, bao gồm : tiền, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu.Hàng tồn kho là tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ
bị lỗ khi đem bán Do vậy, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàntrả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán dự trữ (tồn kho)
Nói chung tỷ lệ này thường biến động từ 0,5 đến 1 Tuy nhiên, cũng giốngnhư trương hợp của hệ số thanh toán ngắn hạn để kết luận giá trị của hệ số thanhtoán tức thời là tốt hay xấu cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh của doanhnghiệp Nếu hệ số này nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việcthanh toán nợ
Tỷ lệ này được dựng để đo lường phần vốn góp của các chủ sở hữu doanhnghiệp so với phần tài trợ của chủ nợ cho doanh nghiệp Nó còn được coi là tỷ lệđòn bẩy tài chính và có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính Bởi lẽ, các chủ
nợ nhìn vào số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp để thể hiện mức độ tin tưởng vào
sự bảo đảm an toàn cho các món nợ Nếu chủ sở hữu chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏtrong tổng nguồn vốn thì rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là do các chủ
nợ gánh chịu Mặt khác, bằng cách tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanhnghiệp vẫn nắm được quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp Ngoài ra, cáckhoản vay cũng tạo ra những khoản tiết kiệm nhờ thuế do chi phí cho vốn vay là chiphí trước thuế
Những doanh nghiệp có tỷ lệ này thấp phải chịu rủi ro lỗ ít hơn khi nền kinh tếsuy thoái đồng thời có lợi nhuận kỳ vọng thấp hơn so với doanh nghiệp có tỷ lệ nàycao trong nền kinh tế bùng nổ Hay nói cách khác, những doanh nghiệp có tỷ lệ nợcao có nguy cơ lỗ lớn nhưng lại có cơ hội nhận được lợi nhuận cao Tuy lợi nhuận
kỳ vọng cao nhưng phần lớn các nhà đầu tưđều rất sợ rủi ro Vì thế quyết định về sửdụng nợ phải được cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro
Trang 19Trên cơ sở phân tích kết cấu nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ nắm được khả năng tựtài trợ về mặt tài chính, mức độ chủ động trong sản xuất kinh doanh hay những khókhăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc khai thác nguồn vốn.
Mức độ ảnh hưởng của DFL được xác định như là tỷ lệ thay đổi về doanh lợivốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi về lợi nhuận trước thuế và lãi vay phải trả
Trong đó : Q: là sản lượng
P: là giá bán đơn vị sản phẩmV: là chi phí biến đổi mỗi đơn vị sản phẩm
F: là chi phí cố địnhI: là chi phí lãi vay phải trả
Từ công thức trên ta thấy khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn đểtrang trải lãi vay thì doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bị giảm sút Nhưng khi lợi nhuậntrước thuế và lãi vay đãđủ lớn để trang trải lãi vay phải trả thì chỉ cần một sự giatăng nhỏ về sản lượng cũng mang lại một biến động lớn về doanh lợi vốn chủ sởhữu
+ Khả năng thanh toán lãi vay hay số lần có thể trả lãi
Trang 20Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho lãi tiền vay.
Khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khảnăng trả lãi hàng năm Việc không trả được các khoản nợ này có thể làm cho doanhnghiệp bị phá sản Cùng với tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ này giúp ta thấy đượctình trạng thanh toán công nợ của doanh nghiệp tốt hay xấu Một tỷ lệ nợ trên tổngtài sản cao cộng với khả năng thanh toán lãi thấp so với mức trung bình của ngành
sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc muốn gia tăng nợ
+ Khả năng độc lập về tài chính
Tỷ lệ này phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và tính chủ độngtrong kinh doanh của doanh nghiệp Tỷ lệ này càng lớn thì tài sản của doanh nghiệpcàng ít chịu rủi ro Tuy nhiên, chi phí của vốn cổ phần lớn hơn chi phí vay nợ vàviệc tăng vốn cổ phần cổ phần có thể dẫn đến bị san sẻ quyền lãnh đạo doanhnghiệp
+ Tỷ lệ về cơ cấu tài sản
Đồng thời với việc xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý, doanh nghiệpcần phải xem xét việc sử dụng vốn đó như thế nào để đáp ứng yêu cầu kinh doanh
và nâng cao hiệu qủa kinh tế của đồng vốn Việc phân tích tình hình phân bổ vốnhay kết cấu tài sản của doanh nghiệp sẽ cho ta thấy việc sử dụng vốn của doanhnghiệp có hợp lý hay không, có phù hợp với đặc điểm loại hình kinh doanh không
và sự thay đổi kết cấu tài sản qua từng thời kỳ có ảnh hưởng gì đến kết quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung vàmáy móc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp Nó cho biết năng lực sản xuất và xu
Trang 21hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này tuỳ thuộc vàotừng ngành kinh doanh cụ thể.
Các tỷ lệ về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụngnguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn của doanh nghiệp được đầu tư cho cácloại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài sản lưu động Do đó, các nhà phântích không chỉ quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn
mà còn chú trọng tới hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn củadoanh nghiệp
Chỉ tiêu doanh thu thuần được sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ này nhằm tínhtốc độ quay vòng của một số đại lượng rất cần cho quản lý tài chính ngắn hạn Các
tỷ lệ này cho ta những thông tin hữu ích để đánh giá mức độ cân bằng tài chính vàkhả năng thanh khoản của doanh nghiệp
+ Vòng quay tiền
Tiền là khoản mục có tính lỏng cao nhất trong tổng tài sản của doanh nghiệp.Việc giữ tiền và các tài sản tương đương tiền đem lại cho doanh nghiệp nhiều lợithế như chủ động trong kinh doanh, mua hàng trả tiền ngay được hưởng chiết khấu,ngoài ra khi vật tư hàng hoá rẻ doanh nghiệp có thể dữ trữ với lượng lớn tạo điềukiện giảm chi phí sản xuất Tuy nhiên, tiền được lưu giữ ở mức không hợp lý có thểgây ra nhiều bất lợi Thứ nhất, điều kiện thiếu vốn đang phổ biến ở các doanhnghiệp thì việc giữ quá nhiều tiền sẽ gây ứ đọng vốn, hạn chế khả năng đầu tư vàocác tài sản khác, do đó lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị giảm Thứ hai, do cógiá trị theo thời gian và do chịu tác động của lạm phát, tiền sẽ bị mất giá Vì vậy,cần quan tâm đến tốc độ vòng quay tiền sao cho đem lại khả năng sinh lợi cao nhấtcho doanh nghiệp
+ Vòng quay hàng tồn kho
Dự trữ và tồn kho thường chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản lưu động củadoanh nghiệp Vì vậy, một mặt ta phải giới hạn mức dự trữ này ở mức tối ưu, mặtkhác tăng vòng quay của chúng Dự trữ là một khoản đầu tư cần thiết để đảm bảo
Trang 22tính liên tục của sản xuất và không bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh Khoản đầu tư nàyđược giải phóng sau khi sản phẩm được tiêu thụ.
Vòng quay hàng tồn kho là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được xác định bằng công thức dướiđõy
Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho phản ánh số lần hàng tồn kho được bán ratrong kỳ kế toán và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn luân chuyển Con sốnày càng cao chứng tỏ khả năng bán ra càng lớn Trên góc độ chu chuyển vốn thì hệ
số quay vòng tồn kho lớn sẽ giảm bớt được số vốn đầu tư vào công việc này, hiệuquả sử dụng vốn sẽ cao hơn Tuy nhiên, khi phân tích cũng cần phải chú ý đếnnhững nhân tố khác ảnh hưởng đến hệ số quay vòng tồn kho như việc áp dụngphương thức bán hàng, kết cấu hàng tồn kho, thị hiếu tiêu dùng, tình trạng nền kinh
tế, đặc điểm theo mùa vụ của doanh nghiệp, thời gian giao hàng của nhà cung cấp
Biến động của chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho cung cấp cho ta nhiều thôngtin Việc giảm vòng quay vốn hàng tồn kho có thể do chậm bán hàng, quản lý dự trữkém, trong dự trữ có nhiều sản phẩm lạc hậu Nhưng việc giảm vòng quay hàng tồnkho cũng có thể là kết quả của quyết định của doanh nghiệp tăng mức dự trữnguyên vật liệu khi biết trước giá cả của chúng sẽ tăng hoặc có thể có sự gián đoạntrong việc cung cấp các nguyên vật liệu này (có đình công, suy giảm sản xuất).Ngược lại, việc tăng vòng quay hàng tồn kho có thể do những cải tiến được áp dụngtrong khâu bán hàng hay hàng hoá của doanh nghiệp đạt chất lượng cao, kết cấuhợp lý Đây là điều đáng khích lệ Còn nếu doanh nghiệp duy trì mức tồn kho thấpthì cũng làm cho hệ số quay vòng hàng tồn kho tăng cao nhưng điều này đôi khi gây
ra tình trạng thiếu hàng để bán và ảnh hưởng đến việc tăng doanh thu
+ Kỳ thu tiền bình quân
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tồn tại các khoản phải thu là điềukhó tránh khỏi Nhờ bán chịu, doanh nghiệp có thể thu hút thêm khách hàng, mởrộng thị trường và duy trì thị trường truyền thống, do đó có thể giảm hàng tồn kho,duy trì được mức sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị Hơn nữa,nó còn có thể mang lại lợi nhuận tiềm năng cao hơn nhờ việc tăng giá do khách
Trang 23hàng mua chịu Song việc bán hàng chịu cũng đẩy doanh nghiệp vào tình trạng phảiđối mặt không ít với các rủi ro Đó là giá trị hàng hoá lâu được thực hiện dẫn đếngiảm tốc độ chu chuyển của vốn, đặc biệt trong tình trạng thiếu vốn doanh nghiệpphải huy động nguồn tài trợ cho việc bán chịu; một điều đáng lo ngại hơn là rủi ro
về khả năng thu nợ, chi phí đòi nợ Vì vậy, nhiệm vụ của người quản lý doanhnghiệp là phải quan tâm đến kỳ thu tiền bình quân và có biện pháp rút ngắn thờigian này
Kỳ thu tiền bình quân được tính theo công thức sau (đơn vị của công thứcnày là ngày) :
Trong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năngthu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụthuộc vào nhiều yếu tố :
Tính chất của việc doanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịu : Một sốdoanh nghiệp có chính sách mở rộng bán chịu và chấp nhận kéo dài thờihạn thanh toán hơn các đối thủ cạnh tranh để phát triển thị trường
Tình trạng của nền kinh tế : Khi tình hình thuận lợi các doanh nghiệp cókhuynh hướng dễ dàng chấp nhận bán chịu và ngược lại Nếu chấp nhậntăng thời gian bán chịu cho khách hàng mà không tăng được mức tiêuthụ thì đó là dấu hiệu xấu về tình hình kinh doanh Doanh nghiệp cầnphải thay đổi chính sách tiêu thụ để giữ khách hàng hoặc nâng cao khảnăng cạnh tranh của sản phẩm Nhưng tình trạng đó cũng có thể là dokhách hàng gặp khó khăn trong chi trả nhất là ở vào thời kỳ kinh tế suythoái Tình huống đó gây khó khăn dây chuyền cho các doanh nghiệpbán chịu
Chính sách tín dụng và chi phí bán hàng chịu : khi lãi suất tín dụng cấpcho các doanh nghiệp để tài trợ cho kinh doanh tăng, các doanh nghiệpcó xu hướng giảm thời gian bán chịu vì nếu tiếp tục kéo dài thời hạn sẽrất tốn kém về chi phí tài chính
Ngoài ra độ lớn của các khoản phải thu còn phụ thuộc vào các khoản trảtrước của doanh nghiệp
Trang 24+ Vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Nếu sốvòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại Chỉ tiêu này cònđược gọi là hệ số luân chuyển Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn sẽ góp phần giảiquyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
+ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồngdoanh thu trong kỳ Tài sản cố định ở đây được xác định là giá trị còn lại tới thờiđiểm lập báo cáo tức là bằng nguyên giá tài sản cố định trừ đi hao mòn luỹ kế
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Tỷ lệ này cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Nócũng thể hiện số vòng quay trung bình của toàn bộ vốn của doanh nghiệp trong kỳbáo cáo Hệ số này làm rõ khả năng tận dụng vốn triệt để vào sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Việc tăng vòng quay vốn kinh doanh này là yếu tố quan trọnglàm tăng lợi nhận cho doanh nghiệp đồng thời làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng
uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Khả năng sinh lời là kết quả tổng hợp chịu tác động của nhiều nhân tố vì thếkhác với các tỷ lệ tài chính phân tích ở trên chỉ phán ánh hiệu quả từng hoạt độngriêng biệt của doanh nghiệp, tỷ lệ về khả năng sinh lời phản ánh tổng hợp nhất hiệuquả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp Mục đích chungcủa các doanh nghiệp là làm sao để một đồng vốn bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất
và khả năng sinh lời nhiều nhất Để đánh giá khả năng sinh lời người ta dựng cácchỉ tiêu sau:
Trang 25+ Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Chỉ tiêu trên phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một đồng doanh thu.Chỉ tiêu này có thể tăng giảm giữa các kỳ tuỳ theo sự thay đổi của doanh thu thuần
và chi phí Nếu doanh thu thuần giảm hoặc tăng không đáng kể trong khi đó chi phítăng lên với tốc độ lớn hơn sẽ dẫn đến lợi nhuận sau thuế giảm và kết quả là doanhlợi tiêu thụ sản phẩm thấp Khi đó, doanh nghiệp vẫn cần xác định rõ nguyên nhâncủa tình hình để có giải pháp khắc phục
+ Doanh lợi vốn chủ sở hữu
Được xác định bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho vốn chủ sở hữu Nóphản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tưđặc biệt quantâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốnchủ sở hữu cũng là mục tiêu của hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp Ta xétcác nhân tố ảnh hưởng đến doanh lợi vốn chủ sở hữu như sau:
Như vậy, doanh lợi vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của ba nhân tố :
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
Vì vậy, khi xem xét sự biến động của doanh lợi vốn chủ sở hữu ta cần phântích sự thay đổi của cả ba yếu tố trên để đưa ra những kết luận đúng đắn
+ Doanh lợi vốn
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dựng để đánh giá khả năng sinh lời củamột đồng vốn đầu tư (ROA) Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp đượcphân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn lợi nhuận trước thuế và lãi haylợi nhuận sau thuế để so sánh với tổng tài sản Đối với doanh nghiệp có sử dụng nợtrong kinh doanh, người ta thường sử dụng chỉ tiêu doanh lợi vốn xác định bằngcách chia lợi nhuận trước thuế và lãi cho tổng tài sản
Trang 26b Phân tích các hoạt động tài chính
Một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài chính là bảng nguồn vốn
và sử dụng vốn (bảng tài trợ) Nó giúp các nhà quản lý xác định rõ các nguồn cungứng vốn và mục đích sử dụng các nguồn vốn
Trong phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường xem xét
sự thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một doanh nghiệptrong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng cân đối kế toán
Để lập được bảng này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi của các khoản mục trênbảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ Mỗi sự thay đổi được phân biệt ở haicột sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc :
Sử dụng vốn : tăng tài sản hoặc giảm vốn.
Nguồn vốn : giảm tài sản hoặc tăng vốn.
Việc thiết lập bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở để tiến hành phântích tình hình tăng giảm nguồn vốn, sử dụng vốn, chỉ ra những trọng điểm đầu tưvốn và những nguồn vốn chủ yếu được hình thành để tài trợ cho những đầu tưđó
Từ đó có giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trongdoanh nghiệp
+ Vốn lưu động thường xuyên
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có tài sản baogồm tài sản lưu động và tài sản cố định Để hình thành hai nguồn tài sản này phải cócác nguồn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong khoảngthời gian dưới một năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm nợ ngắn hạn,
nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ ngắn hạn phải trả khác
Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho hoạtđộng kinh doanh, nó có thời hạn trên một năm và bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu,nguồn vốn vay nợ trung hạn và dài hạn
Trang 27Nguồn vốn dài hạn trước hết được đầu tưđể hình thành tài sản cố định(TSCĐ), phần dư của nguồn vốn dài hạn được đầu tưđể hình thành tài sản lưu động(TSLĐ) Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn và tài sản cố định hay giữa tài sản lưuđộng và nợ ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên Mức độ an toàn củatài sản ngắn hạn phụ thuộc vào độ lớn của vốn lưu động thường xuyên.
VLĐ thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn - TSCĐ = TSLĐ - Nợ ngắn hạnCó 3 trường hợp có khả năng xảy ra như sau:
Vốn lưu động thường xuyên > 0, nghĩa là nguồn vốn dài hạn lớn hơn tàisản cố định, phần dư thừa đóđầu tư vào tài sản lưu động Đồng thời, tàisản lưu động lớn hơn nợ ngắn hạn nên khả năng thanh toán của doanhnghiệp tốt
Vốn lưu động thường xuyên = 0, có nghĩa nguồn vốn dài hạn vừa đủ tàitrợ cho tài sản cố định và tài sản lưu động đủ để doanh nghiệp trả cáckhoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính như vậy là lành mạnh
Vốn lưu động thường xuyên < 0, nguồn vốn dài hạn không đủ để tài trợcho tài sản cố định Doanh nghiệp phải đầu tư một phần nguồn vốn ngắnhạn vào tài sản cố định, tài sản lưu động không đủ đáp ứng nhu cầuthanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăngbằng, doanh nghiệp phải dựng một phần tài sản cố định để thanh toán nợngắn hạn đến hạn phải trả
Như vậy, vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng
để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, nó cho biết :
Một là, doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn haykhông?
Hai là, tài sản cố định của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vữngchắc bằng nguồn vốn dài hạn không?
Từ công thức tính vốn lưu động thường xuyên ta có thể thấy các yếu tố làmthay đổi vốn lưu động thường xuyên là những nghiệp vụ làm thay đổi nguồn vốndài hạn và tài sản cố định của bảng cân đối kế toán
Các nghiệp vụ làm giảm vốn lưu động thường xuyên:
Tăng tài sản cố định: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình vàtài sản cố định tài chính
Trang 28 Giảm nguồn vốn dài hạn:
Giảm vốn chủ sở hữu : do chia lợi tức cổ phần, lỗ trong kinh doanh
Hoàn trả tiền vay : bao gồm trả tiền vay trung và dài hạn, hoàn trảtrái phiếu đáo hạn
Các nghiệp vụ làm tăng vốn lưu động thường xuyên:
Tăng nguồn vốn dài hạn:
Tăng vốn chủ sở hữu: phát hành thêm cổ phiếu thường, giữ lại lợinhuận không chia
Tăng vay nợ trung, dài hạn; phát hành trái phiếu dài hạn
Giảm tài sản cố định thông qua nhượng bán
Những thay đổi tài sản lưu động hoặc nợ phải trả ngắn hạn không làm thayđổi vốn lưu động thường xuyên, bởi vì việc tăng của một loại tài sản lưu động sẽdẫn đến hoặc giảm một loại tài sản lưu động khác, hoặc tăng một dòng nợ ngắn hạn.Chẳng hạn, khi bán sản phẩm tồn kho sẽ làm giảm tồn kho và tăng tương ứng ở mục
nợ phải thu (nếu bán chịu), hoặc tăng tiền mặt (nếu bán thu tiền ngay) Ta cũng cầnchú ý là chính sách khấu hao có tác động lớn vào vốn lưu động thường xuyên, nếudoanh nghiệp áp dụng chế độ khấu hao nhanh thì vốn luân chuyển sẽ cao hơn so với
áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng
Vốn lưu động thường xuyên thể hiện mức độ an toàn, đảm bảo cho doanhnghiệp chống lại rủi ro làm mất giá trị tài sản hoặc rủi ro làm giảm tốc độ luânchuyển vốn dự trữ Vì vậy, mọi biến động của vốn lưu động thường xuyên phảiđược chú ý theo dõi Tại các thời điểm khác nhau có ba tình huống xảy ra :
Tăng vốn lưu động thường xuyên
Trong trường hợp này, an toàn của doanh nghiệp tăng vì phần lớn tài sản cốđịnh được nguồn vốn dài hạn tài trợ Tuy nhiên, cần phải thấy rằng để đạt được sự
an toàn đó, doanh nghiệp phải tăng nợ dài hạn Nếu khối lượng nợ dài hạn càng lớn
sẽ dẫn đến chi phí tài chính càng cao, từ đó làm giảm kết quả kinh doanh Nếu tăngvốn lưu động thường xuyên bằng việc tăng vốn chủ sở hữu thì tình hình tài chínhdoanh nghiệp được cải thiện, nhưng doanh nghiệp phải chịu chi phí sử dụng vốncao hơn nợ vay và có thể phải chia sẻ quyền kiểm soát doanh nghiệp Do vậy, quyếtđịnh tăng vốn lưu động và tăng bằng cách nào đòi hỏi một quyết định đúng
Trang 29Mặt khác, khi vốn lưu động thường xuyên đã tài trợ đủ cho tài sản cố địnhcòn dư thừa, nếu sử dụng vốn lưu động thường xuyên tài trợ toàn bộ cho tồn khokhông phải là quyết định quản trị tốt, vì có thể doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốndài hạn tốn kém cho đầu tư tài sản ngắn hạn mà lẽ ra việc sử dụng này phải do tíndụng ngắn hạn tài trợ.
Giảm vốn lưu động thường xuyên
Khi một doanh nghiệp giảm vốn lưu động thường xuyên sẽ làm cho mức độ
an toàn tài chính của doanh nghiệp giảm xuống Tuy vậy, nếu việc giảm vốn nàynhằm tài trợ cho các khoản đầu tư sinh lời mới góp phần nâng cao vị thế của doanhnghiệp thì cũng cần quan tâm xem xét kỹ
Giữ ổn định vốn lưu động thường xuyên
Tình huống này thể hiện tình trạng giữ ổn định các hoạt động của doanhnghiệp; để điều chỉnh cơ cấu đầu tư do lợi nhuận không tăng hoặc mức tăng trưởnggiảm lâu dài, khi cần đánh giá thực trạng của tình huống này cần tiến hành nghiêncứu nguồn có khả năng tạo ra lợi nhuận để xem xét
+ Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Tại một thời điểm nào đó, vốn lưu động thường xuyên chỉ rõ mức độ an toàn
mà doanh nghiệp có được nhằm tài trợ cho chu kỳ kinh doanh của nó Vì thế ta phảinghiên cứu một cách đầy đủ bằng cách so sánh giữa vốn lưu động thường xuyên vànhu cầu vốn lưu động thường xuyên Vậy nhu cầu vốn lưu động thường xuyên làgì?
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệpcần để tài trợ cho một phần tài sản lưu động, đó là hàng dự trữ và các khoản phảithu (tài sản lưu động không phải là tiền)
Như vậy, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên phụ thuộc vào ba tham số : dựtrữ, tồn kho và sản phẩm dở dang; nợ phải thu; nợ ngắn hạn Nhưng tầm quan trọngcủa ba tham số này thay đổi theo tính chất của ngành và mức độ hoạt động, điềukiện quản lý và những biến động giá cả Vì vậy, ta cần phải xem xét sự biến độngcủa nhu cầu vốn lưu động thường xuyên theo tính chất của ngành và mức độ hoạtđộng, điều kiện quản lý và những biến động giá cả
Nhu cầu VLĐ thường xuyên = Dự trữ và các khoản phải thu - Nợ ngắn hạn
Trang 30Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và tính chất của ngành mà doanhnghiệp hoạt động : nhìn chung có mối liên hệ chặt chẽ giữa nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên và giá trị gia tăng do doanh nghiệp tạo ra Các doanh nghiệp có giá trịgia tăng thấp và chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn (ngành thương mại) thì nhu cầuvốn lưu động thường xuyên nhỏ thậm chí âm do dự trữ ít và tận dụng được nguồnkinh phí từ bán chịu của nhà cung cấp Các doanh nghiệp có giá trị gia tăng cao vàchu kỳ sản xuất dài thường có nhu cầu vốn lưu động thường xuyên lớn Đó là cácdoanh nghiệp chấp nhận bán hàng chịu trong thời gian dài và khối lượng tồn kholớn (doanh nghiệp công nghiệp chế tạo máy) Tuy nhiên một số doanh nghiệp có thểgiảm vốn lưu động thường xuyên bằng cách yêu cầu khách hàng ứng trước chonhững hợp đồng mà họ đang thực hiện
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và mức độ hoạt động diễn ra theo chu
kỳ : nợ phải thu từ khách hàng và nợ phải trả đối với nhà cung cấp gần như tỷ lệthuận với doanh thu Tuy nhiên, dự tình hình tiêu thụ bị chậm lại thì nhu cầu vốnlưu động thường xuyên cũng không giảm ngay vì những đơn đặt hàng đã ký kếtkhông thể huỷ bỏ, dự trữ và tồn kho vẫn tăng do tốc độ bán hàng chậm lại
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và sự biến động giá cả : trong thời kỳlạm phát, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên tăng vì việc tăng nợ phải trả không
đủ bù đắp mức tăng các khoản tồn kho và nợ phải thu, nhất là trong ngành côngnghiệp Tình trạng đó làm cho các doanh nghiệp phải vay mượn nhiều hơn để tài trợcho các nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên và quản lý : quản lý tồn kho cũng nhưquản lý bán chịu cho khách hàng là tiền đề làm tăng hay giảm nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên Khi tốc độ vòng quay dự trữ tăng để giảm dự trữ cũng như tăngcường nhận ứng trước của khách hàng sẽ góp phần làm giảm nhu cầu vốn lưu độngthường xuyên và ngược lại
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên có thể nhận các giá trị sau :
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0, tức là tồn kho và các khoảnphải thu lớn hơn nợ ngắn hạn Tại đây các sử dụng nợ ngắn hạn củadoanh nghiệp lớn hơn các nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được
từ bên ngoài, doanh nghiệp phải dựng nguồn vốn dài hạn để tài trợ vào
Trang 31phần chênh lệch Trong trường hợp này doanh nghiệp cần có biện pháp
để giải phóng tồn kho và giảm các khoản phải thu từ khách hàng
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên = 0, tức là các nguồn vốn từ bênngoài vừa đủ để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0 có nghĩa là các nguồn vốn từbên ngoài đã dư thừa để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của doanhnghiệp Doanh nghiệp không cần nhận thêm nguồn vốn ngắn hạn để tàitrợ cho chu kỳ kinh doanh
+ Tiền
Tiền = Vốn lưu động thường xuyên - Nhu cầu vốn lưu động thường xuyênNếu tiền < 0 sẽ xảy ra tình trạng mất cân đối trong nguồn vốn ngắn hạn vàdài hạn ( vốn ngắn hạn nhiều, vốn dài hạn ít ) hoặc mất cân đối trong đầu tư dài hạn( đầu tư dài hạn quá nhiều)
Trong nền kinh tế thị trường, tiền của doanh nghiệp là một yếu tố rất quantrọng Ở một thời điểm nhất định, tiền chỉ phản ánh và có ý nghĩa như một hình tháibiểu hiện của tài sản lưu động; nhưng trong quá trình kinh doanh, sự vận động củatiền được xem là hình ảnh trung tâm của hoạt động kinh doanh, phản ánh năng lựctài chính của doanh nghiệp Mặt khác, thông tin về luồng tiền của doanh nghiệp rấthữu dụng trong việc cung cấp cho người sử dụng một cơ sở để đánh giá khả nănghoạt động của doanh nghiệp trong việc tạo ra tiền và nhu cầu của doanh nghiệptrong việc sử dụng luồng tiền đó Ngoài ra, nó còn giúp doanh nghiệp lập kế hoạchtài chính ngắn hạn, dự báo các luồng tiền phát sinh để chủ động trong đầu tư hoặchuy động vốn tài trợ Chính vì thế, trong hệ thống báo cáo tài chính phải có bản báocáo bắt buộc để công khai về sự vận động của tiền thể hiện được lượng tiền doanhnghiệp đã thực thu trong kỳ kế toán
Trong quản lý ngân quỹ người ta quan tâm đến chu kỳ vận động của tiền mặt.Chu kỳ vận động của tiền mặt là độ dài thời gian từ khi thanh toán tiền mua nguyênvật liệu (NVL) đến khi thu được tiền từ những khoản phải thu do việc bán sản phẩmcuối cùng, nó được tính bằng công thức sau:
Chu kỳ vận
động của tiền
= Thời gian vậnđộng của NVL
+ Thời gian thuhồi các khoản
+ Thời gianchậm trả các
Trang 32phải thu khoản phải thu Công thức trên cho thấy chu kỳ tiền mặt cũng là một chỉ tiêu để đánh giá hiệuquả quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp
Mục tiêu doanh nghiệp là rút ngắn chu kỳ vận động của tiền Chu kỳ nay càngdài thì nhu cầu tài trợ từ bên ngoài càng lớn và mỗi nguồn tài trợ đều có chi phí
Để phân tích tài chính đạt được hiệu quả tốt nhất các nhà phân tích tài chínhphải biết kết hợp giữa phân tích các tỷ lệ và phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốncho hoạt động kinh doanh thì mới đưa ra tổng thể tình hình tài chính
1.3 Đánh giá tình hình phân tích tài chính doanh nghiệp
Chúng ta biết rằng cần phải có các doanh nghiệp cần phải có một lượngvốn nhấtđịnh gồm vốn cố định, vốn lưu động và các loại vốn chuyên dùngkhác để tiến hànhsản xuất kinh doanh Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổchức huy động và sửdụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tíndụng và chấp hành luật pháp Việc phân tích tìnhhình tài chính sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính Từ đó đề ra những biện pháp hữu hiệu đểnâng cao hiệu quả hoạt động kinhdoanh
Đối với doanh nghiệp, mục đích của phân tích là nhằm đánh giá kếtquả hoạtđộng kinh doanh và kết quả thực hiện các biện pháp tài chính đã đặtra, xác địnhtiềm năng phát triển của doanh nghiệp cần khai thác, xác địnhnhững điểm hạn chế,cần khắc phục cần hoàn thiện, từ đó giúp các nhà quảntrị điều hành hoạt động sảnxuất kinh doanh, lập kế hoạch cho những năm tớicũng như tổ chức huy động vốn,lựa chọn phương án đầu tư, có chiến lượcđưa sản phẩm ra thị trường một cách hiệuquả nhất
Đối với nhà đầu tư, cần phân tích tình hình tài chính của doanhnghiệp Mình dựđịnh đầu tư để tính toán mức lợi nhuận hay những rủi ro cóthể phát sinh trong quátrình đầu tư để đưa ra quyết định đúng đắn nhất
Trang 33CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY
CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG THỦY LỢI THỦY ĐIỆN THĂNG LONG
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long
Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Thủy lợi Thủy điện Thăng Long được thànhlập năm 2008 với vốn pháp định tại thời điểm thành lập : 2.000 triệu đồng (2 tỷđồng)
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch
và Đầu tư thành phố Hà nội cấp:
Đăng ký kinh doanh lần đầu:số 0103026085 cấp ngày 29 tháng 7 năm 2008;Đăng ký kinh doanh lần hai :số 0102845574 cấp ngày 19 tháng 4 năm 2010
Từ khi thành lập, Thanglong HWRCC.,JSC đã phát triển mạng lưới văn phòngđại diện Tính đến nay, Thanglong HWRCC.,JSC có 1 trụ sở chính và 1 văn phòngđại diện tại Hà Nội
Trang 342.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.2.1 Tổ chức bộ máy công ty
Trang 35THÂM NIÊN CÔNG
CHỨC VỤ SL GHI
CHÚ
Trang 36I.Ban Lãnh Đạo
Hội đồng quản trị Đại học, trên đại học
8-37năm Ban HĐQT 4Ban Giám Đốc Đại học, trên đại học GĐ, PGĐ 4
II.Phòng ban
Phòng Kỹ thuật Đại học, trên đại học 8-15 năm
Tr, Ph
Đại học 2- 5 năm Nhân viên 6
Phòng KCS Đại học, trên đại học 10 năm Tr.Phòng 1
Đại học 2- 5 năm Nhân viên 2Phòng Quản lý KH -
III Đơn vị sản xuất
Phòng thiết kế1+2 Đại học, trên đại học 5-15 năm Tr.phòng 2
Đại học 2- 5 năm Nhân viên 29
Đội Khảo sát Địa hình Đại học, trên đại học 5-30 năm Đội trưởng 1
KTV, CN 5-10 năm Nhân viên 8
Đội Khảo sát Địa chất Đại học, trên đại học 5-30 năm Đội trưởng 1
KTV, CN 5-10 năm Nhân viên 8
Đội Tư vấn giám sát Đại học, trên đại học 13 năm Đội trưởng 1
Đại học 5-10 năm Nhân viên 6
5 Đội thi công Đại học 8 năm Đội trưởng 1
IV Chuyên gia cao
Trang 372.1.2.3 Các công trình đã và đang thực hiện
ĐẦU TƯ
CẤP CÔNG TRÌNH
GIÁ TRỊ
TƯ VẤN (TRIỆU ĐỒNG)
QUY MÔ CÔNG TRÌNH
THỜI GIAN THỰC HIỆN
1. Tư vấn thiết kế Đê Hữu
Cty TNHH thươngmại và xây dựngHồng Đức
II 1700 Thiết kế toàn bộ tuyến đê dài 1200m và
Công ty Cổ Phần Đầu
Tư và Du lịchBình Tiên
III 2.666
Thiết kế các đập dâng kết cấu bê tông trọng lực:
- Đập dõng Chà Là 1: L = 250m; H = 23,0m
Trang 38TấN CÔNG TRÌNH ĐỊA ĐIỂM CHỦ
ĐẦU TƯ
CẤP CÔNG TRÌNH
GIÁ TRỊ
TƯ VẤN (TRIỆU ĐỒNG)
QUY MÔ CÔNG TRÌNH
THỜI GIAN THỰC HIỆN
Sở NN & PTNTBình Thuận
Ban QLDA tưới Phan
Rí – Phan Thiết tỉnhBình Thuận
IV 450 Thiết kế chi tiết tại hiện trường các kênh
cấp II; III và các công trình trên kênh 2009
Ban QLDA HuyệnTuy Phong III 5.004
- Thiết kế đập bê tông trọng lực:
Sở NN & PTNT TỉnhTuyên Quang III 1.454
Sở NN & PTNT TỉnhTuyên Quang III 110
Chiều cao lớn nhất H = 20mChiều dài L= 2.350m
Khoảng cách tường đứng kết hợp mái nghiêng
2009
11 Tư vấn khảo sát, lập dự Bình Sở NN & PTNT III 1.786 - Đập vật liệu địa phương 2010
Trang 39TấN CÔNG TRÌNH ĐỊA ĐIỂM CHỦ
ĐẦU TƯ
CẤP CÔNG TRÌNH
GIÁ TRỊ
TƯ VẤN (TRIỆU ĐỒNG)
QUY MÔ CÔNG TRÌNH
THỜI GIAN THỰC HIỆN
án đầu tư xây dựng công
- Kênh Thạch Kim dài L = 1690m
- 18 công trình trên kênh;
- Hồ chứa nước Vực Nồi
- Hồ chứa nước Khe Gạo
- Hồ chứa nước Đầu ngọn
- Hồ chứa nước Bầu Mía
2010
14
Tư vấn khảo sát, lập dự
án đầu tư xây dựng công
trình Hồ chứa nước Tân
Lê
BìnhThuận
Dự án cải tạo Hồ Trung
Văn- Khu Đô Thị Mới
Mỗ Lao
Hà Nội
Ban quản lý dự ánKhu Đô thị Mới Mỗ
Lao
- Diện tích nạo vét : 24.432,376 m2
- Xây dựng kè bảo vệ hồ
- Chiều dài tuyến hồ: 279,86m
- Kết cấu tường kè : Tường trọng lực xây bằng đá vứa M100
- Chiều cao kè lớn nhất: 2,60m
2010
Trang 40TấN CÔNG TRÌNH ĐỊA ĐIỂM CHỦ
ĐẦU TƯ
CẤP CÔNG TRÌNH
GIÁ TRỊ
TƯ VẤN (TRIỆU ĐỒNG)
QUY MÔ CÔNG TRÌNH
THỜI GIAN THỰC HIỆN
16
Dự án xây dựng Trạm
Bơm Triều Đông huyện
Thanh Oai
Hà Nội Uỷ Ban Nhân Dân
Sở Nông Nghiệp vàPhát triển Nông thônTuyên Quang
III 1.900 Công suất hệ thống cấp nước sinh hoạt :