Xét về toàn cảnh, thị trường tài chính thế giới trong những năm qua có rất nhiều biến động. Việc gia nhập tổ WTO không chỉ mang đến cho chúng ta những cơ hội để phát triển kinh tế, mà việc mở cửa lần này cũng khiến Việt Nam đối mặt với rất nhiều thách thức. Mặc dù thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ và chưa phát triển nhưng những hệ lụy mà những cuộc khủng hoảng gần đây gây ra cho Việt Nam cũng không phải là ít. Kinh tế Việt Nam đã phát triển chậm lại. Cái mà chúng ta nhìn thấy rõ nhất hiện nay chính là việc tiền Đồng mất giá. Lạm phát tăng cao kéo theo lãi suất cao, gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế cũng như mức độ ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, các thị trường tài sản. Như vậy, việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN làm sao để có thể kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm vẫn đang là một câu hỏi làm đau đầu các nhà lãnh đạo và kinh tế Việt Nam. Qua quá trình học tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ, với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần tìm hiểu, nghiên cứu về chính sách tiền tệ, Đề án môn học này xin được trình bày đề tài : “Thực trạng và đánh giá chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam giai đoạn từ 2007 đến hất 2010” Mặc dù đã giới hạn đã giới hạn việc xem xét chính sách tiền tệ dưới sự điều hành của Ngân hàng nhà nước giai đoạn 2007 hất 2010, tuy nhiên đây vẫn là một đề tài rộng, đòi hỏi sự nghiên cứu sâu rộng trong khi kiến thức của bản thân còn hạn hẹp. Hy vọng nhận được nhận xét của Thày và các bạn khác để đề tài của em được tốt hơn.
Trang 1Lời mở đầu
Trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại quốctế (WTO) và đang dần hội nhập ngày cảng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thìhoạt động của nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả điều hành chínhsách tiền tệ của ngân hàng nhà nước
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng, cómối liên hệ chặt chẽ với nhiều chính sách vĩ mô khác Có thể nói chính sách tiềntệ là hệ thống các quan điểm, chủ trương và biện pháp của Nhà nước nhằm tácđộng và điều chỉnh các hoạt động về tiền tệ – tín dụng, ngân hàng và ngoại hối,tạo ra sự ổn định cho lưu thông tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân pháttriển
Xét về toàn cảnh, thị trường tài chính thế giới trong những năm qua có rất nhiềubiến động Việc gia nhập tổ WTO không chỉ mang đến cho chúng ta những cơhội để phát triển kinh tế, mà việc mở cửa lần này cũng khiến Việt Nam đối mặtvới rất nhiều thách thức Mặc dù thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ và chưaphát triển nhưng những hệ lụy mà những cuộc khủng hoảng gần đây gây ra choViệt Nam cũng không phải là ít Kinh tế Việt Nam đã phát triển chậm lại Cáimà chúng ta nhìn thấy rõ nhất hiện nay chính là việc tiền Đồng mất giá Lạmphát tăng cao kéo theo lãi suất cao, gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế cũng nhưmức độ ổn định của hệ thống tài chính – ngân hàng, các thị trường tài sản
Như vậy, việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN làm sao để có thể kiềmchế lạm phát, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm vẫn đang là một câuhỏi làm đau đầu các nhà lãnh đạo và kinh tế Việt Nam
Qua quá trình học tập môn Lý thuyết tài chính tiền tệ, với mục đích trau dồikiến thức đã học và góp phần tìm hiểu, nghiên cứu về chính sách tiền tệ, Đề án
môn học này xin được trình bày đề tài : “Thực trạng và đánh giá chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam giai đoạn từ 2007 đến hất 2010”
Mặc dù đã giới hạn đã giới hạn việc xem xét chính sách tiền tệ dưới sự điềuhành của Ngân hàng nhà nước giai đoạn 2007 hất 2010, tuy nhiên đây vẫn làmột đề tài rộng, đòi hỏi sự nghiên cứu sâu rộng trong khi kiến thức của bản thâncòn hạn hẹp Hy vọng nhận được nhận xét của Thày và các bạn khác để đề tàicủa em được tốt hơn
Xin chân thành cảm ơn
Trang 2Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1 Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ
a Khái niệm chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương (ởViệt Nam là Ngân hành nhà nước) khởi thảo và thực thi thông qua các công cụ,biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: Ổn định giá trị đồng tiền, tạo công
ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế
Có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà Ngân hàng nhànước Việt Nam (NHNN VN) thông qua các hoạt động của mình tác động đếnkhối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phụ vụ cho việc thực hiện các mục tiêukinh tế – xác hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định Mặt khác, nó là mộtbộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ.Chúng ta đầu biết, với vai trò và chức năng của mình, NHNN sử dụng chínhsách tiền tệ nhằm gây ra sự mở rộng hay thắt chặt lại trong việc cung ứng tiềntệ để ổn định giá trị đồng tiền bản tệ (tiền đồng), đưa sản lượng và việc làm củaquốc gia đến mức mong muốn
Căn cứ vào quãng thời gian nhất định, chính sách tiền tệ của một quốc gia cóthể được hoạch định theo một trong hai hướng:
- Chính sách tiền tệ mở rộng: Nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyếnkhích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm Trường hợp nàychính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp
- Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chế đầu
tư, kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế Trường hợp này, chínhsách tiền tệ nhằm chống lạm phát
b Vị trí của chính sách tiền tệ:
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của Ngân hàng trung ương.Có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt động củangân hàng trung ương Các hoạt động khác của Ngân hàng trung ương đầunhằm thực thi chính sách tiền tệ đạt được các mục tiêu của nó
Trang 3Đối với một đất nước mà thị trường tài chính tiền tệ còn ít phát triển như ViệtNam hiện nay thì việc điều hành của ngân hàng Trung ương có vai trò rất lớnđảm bảo sự phát triển ổn định của cả một thể chế tài chính Ngân hàng nhà nướcViệt Nam là ngân hàng của nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý về mặtnhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng; vừa thực hiện chức năng làngân hàng của nhà nước.
2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
a Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ:
Thông qua chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương có thể góp phần quan trọngtrong việc kiểm soát lạm phát Nếu chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ươngnhằm mở rộng cung ứng tiền tệ thì giá cả hành hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, tấtyếu dẫn đến tình trạng lạm phát Ngược lại, chính sách tiền tệ nhằm thắt chặtcung ứng tiền tệ thì sẽ làm cho giá cả hàng hóa và dịch vụ giảm xuống và nhưvậy tỷ lệ lạm phát giảm xuống
Kiểm soát lạm phát được biểu hiện trước hất ở chỗ ổn định giá trị đối nội của
đồng tiền (tức là sức mua của nó đối với hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước) Mặt khác nó còn được biểu hiện sự ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền (được đo bằng tỷ giá hối đoái thả nổi) Tuy vậy chính sách tiền tệ
hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng 0 vìnhư vậy nền kinh tế không thể phát triển được, để có một tỷ lệ lạm phát giảmphải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên
b Tạo công ăn việc làm:
Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp đều có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sửdụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đóảnh ưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảmthì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên Mặt khác, khi tằng trưởng kinhtế đạt được do kết quả của cuộc cải tiến kỹ thuật thì việc làm có thể không tăngmà còn giảm Theo nhà kinh tế học Arthur Okun thì khi GNP thực tế giảm 2%
so với GNP tiền năng thì mức thất nghiệp tăng 1%
Từ đó có thể thấy vai trò cảu Ngân hàng trung ương khi thực hiện mục tiêu này:Tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh, chống suy thoái kinh tế theochu kỳ tăng trưởng kinh tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp không vượt quátỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Trang 4c Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch địnhcác chính sách kinh tế vĩ mô của mình để giữ cho nhiệp độ tăng trưởng đó ổnđịnh, đặc biện việc ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòngtin của của dân chúng đối với chính phủ
Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được một cách hàihòa
Mối quan hệ giữa các mục tiêu: Có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, khôngtách rời Nhưng xem xét trong ngắn hạn thì các mục tiêu này có thể mâu thuẫnvới nhau Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hòa thì Ngân hànhtrung ương trong khi thực hiện chính sách tiền tệ cần phải có sự phối hợp vớichính sách kinh tế vĩ mô khác
Đối với nước ta khi mà bội chi ngân sách nhà nước thường lớn, cán cân thanhtoán thâm hụt thì đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ chính sách kinh tế đốingoại trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ Đó phải là một chính sáchkinh tế mở, hướng xuất khẩu Mặt khác phải tranh thủ tối đa trình độ công nghệ,khoa học kỹ thuật và mọi nguồn lực từ bên ngoài Trong đó, đặc biệt là quan hệvới các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Quỹtiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADP)
3 Các công cụ điều tiết:
Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTW nhằm ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất từđó mà đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ
a Công cụ trực tiếp:
Là việc tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông hoặc các mức lãisuất trung và dài hạn Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến trong thời kỳcác hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ Các công vụ được sử dụng đólà:
- Hạn mức tín dụng
- Ấn định lãi suất
- Ấn định tỷ giá
Trang 5 Quản lý hạn mức tín dụng của các Ngân hàng thương mại (NHTM):
Khái niệm: Là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM
không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định đểthực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình Việc định ra hạnmức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô, sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không thể chovay vượt quá hạn mức do NHTW quy định
Cơ chế tác động: Đây là một công cụ điều chỉnh một các trực tiếp đối
với lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lyys khối lượng hạn mức tíndụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cungứng theo mục tiêu của NHTM
Đặc điểm: Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát được lượng tiền cung ứng
khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nórất cao trong những gia đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá caocủa nền kinh tế Tuy nhiên, nhược điểm của nó rất lớn: Triệt tiêu độnglực cạnh tranh giữa các NHTM, làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nềnkinh tế, dễ phá sinh nhiều hình thức tính dụng ngoài sự kiểm soát củaNHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc pháttriển kinh tế tăng lên
Quản lý lãi suất của các NHTM:
Khái niệm: NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn định một trần lãi
suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó.Từ đó ảnh hưởng tới quy mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thểđạt được mục đích là quản lý mức cung tiền của mình
Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm
sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTMlàm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo
Đặc điểm: Giúp cho NHTW thực hiện quản lts lượng tiền cung ứng theo
mục tiêu của từng thời kỳ Điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa cóđiều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp Dù vậy nhưngnó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thựcchất lãi suất là giá cả của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chínhquan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy
Trang 6định điều chỉnh lãi suất dẽ làm làm cho các NHTM bị động, tốn kémtrong hoạt động kinh doanh của mình.
Tỷ giá hối đoái:
Khái niệm: Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt
giá trị giữa hai đồng tiền Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của mộtđơn vị tiền tệ nước này được thể hiện bằng một đơn vị tiền tệ của nướckhác
Cơ chế tác động: Tác động đến hoạt động kinh tế, từ hoạt động xuất
nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiên dùng trong nước qua biến đổicủa giá cả hàng hóa
Đặc điểm: NHTW có thể ấn định tỉ giá cố định hay thả nối theo quan hệ
cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối bên cạnh đó còn có tỷ giá cốđịnh nhưng di động khi cần thiết và tỷ giá thả nối có quản lý Khi vậnđộng công cụ này không phải NHTW đẩy tý giá lên cao hay kéo tỷ giáxuống thấp mà ổn định tỷ giá ở mức độ hợp lý phù hợp với đặc điểm điềukiện thực tế cảu đất nước trong từng giai đoạn để tác động cuối cùng củanó là tốt nhất
b Công cụ gián tiếp:
Đây là nhóm các công cụ tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động củachính sách tiền tệ thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được lantruyền đến các mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi suất.Bao gồm:
Nghiệp vụ thị trường mở:
Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực
hiện trên thị trường mở rộng nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó điềutiết lượng tiền cung ứng
Cơ chế tác động: Thể hiện qua hai hoạt động sau của NHTW:
- Khi NHTW mua bán chứng khoán, làm tăng cơ số tiền tệ qua đố làm tănglượng tiền cung ứng
- Khi NHTW bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiển tệ, qua đó làm giảmlượng tiền cung ứng
Trang 7 Đặc điểm: Nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ quan trọng nhất
của NHTW trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, bởi những ưu thếvốn có của nó:
- NHTW có thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nghiệp vụ thị trường tựdo
- Linh hoạt và chính xác, có thể được sử dụng ở bất cứ mức độ nào, điềuchỉnh một lượng tiền cung ứng lớn hay nhỏ
- NHTW dễ dàng đảo ngược lại tình thế của mình
- Thực hiện nhanh chóng, ít tốn kém về chi phí và thời gian
Dự trữ bắt buộc
Khái niệm: Là số tiền mà các NH, các tổ chức tín dụng phải giữ lại mà
không được dùng để cho vay hoặc đầu tư, mức dự trữ này do NHTW quyđịnh và bằng một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi của khách hàngtại các tổ chức tín dụng
Cơ chế tác động: Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp
đến cơ chế tạo tiền của các NHTM Theo thuyết tạo tiền, từ một lượngtiền dự trữ ban đầu, hệ thống NHTM có thể tạo ra một lượng tiền gửi lớngấp nhiều lần, với công thức tổng quát
Tiền gửi mới được tạo ra = Tiền dự trữ ban đầu x 1/Tỷ lệ dự trữ bắt buộcTrong đó: 1/Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là hệ số nhân tiền tệ
Do vậy, nếu NHTW quyết định tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽlàm cho hệ số tạo tiền thu hẹp hoặc tăng lên
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn tác động đến lãi suất cho vay của hệ thốngNHTM Khi mức dự trữ tăng lên đòi hỏi các NHTM phải tăng lãi suấtcho vay đối với nền kinh tế, giá các khoản vay đắt hơn, khả năng cho vaycủa các NHTM giảm xuống và theo đó lượng tiền cung ứng cũng giảmxuống và ngược lại
Đặc điểm: Đây là công cụ mang nặng tính quản lý của Nhà nước nên
giúp NHTW chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác
động của nó cũng rất mạnh (Chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền) Tuy nhiên
Trang 8tính linh hoạt của công cụ này không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rấtchậm, phức tạp, tốn kém và có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt độngkinh doanh của ác Ngân hàng thương mại.
Chương II THỰC TRẠNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2007 ĐẾN HẤT 2010
I Thực trạng việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt
Nam:
1 Bối cảnh chung:
Năm 2007, kinh tế Việt Nam phát triển trong điều kiện khó khăn do ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Việt Nam đối mặt với khó khăn nhiềuhơn thuận lợi so với các năm trước
Về khó khăn: Thị trường thế giới biến động lớn, phức tạp Giá cả nhiên
liệu, vật tư nhất là xăng dầu, phôi thép, nguyên liệu sợi vải, vật liệu phụcvụ công nghiệp dệt may, da giafyy, hóa chất, phân bón, thức ăn chăn nuôităng cao Thị trường xuất khẩu một số mặt hàng biến động phức tạp nhưdệt may, da giày, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, xe đạp và phụ tùng, động
cơ điện Điều đó đã làm cho giá cả tiêu dùng trong nước tăng cao liêntục chưa có điểm dừng
Các điểm chủ yếu của nền kinh tế vốn tồn tại nhiều năm nay như kết cấu hạtầng yếu kém, nhất là giao thông, thủy lợi, điện đã bộc lộ rõ nét qua thiên tainăm 2007 không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế bền vững với tốc độcao
Về thuận lợi: Thành quả nổi bật của những năm qua là duy trì được tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5/năm trong 5 năm từ 2001 đến
2005 và 8,17% năm 2006 Thế và lực của Việt Nam đã mạnh lên so vớicác năm trước Đó là những tiền đề vật chất rất quan trọng, là yếu tốthuận lợi cơ bản để các ngành, các cấp thực hiện các chỉ tiêu kế hoạchnăm 2007
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTOvà thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó thị trường xuất khẩu mở rộng,
Trang 9các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏhoặc hạn chế Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao qua hộinghị cấp cao APEC năm 2006 Quan hệ ngoại giao, các hoạt động hợp tác kinhtế, đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu được củng cố và thăng cường thôngqua các cuộc thăm cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nuowcs cùng với sự thamgia của các nhà doanh nghiệp Tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc phòngđảm bảo đã tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũngnhư các doanh nghiệp trong nước.
Thị trường và giá cả các mặt hành xuất khẩu của Việt Nam diễn biến theohướng cầu lớn hơn cung như dầu thụ, gạo, cà phê, chè, thủy sản Do đó, giá cảcác mặt hàng này tăng cao, có lợi cho hoạt động xuất khẩu
Bối cảnh trên đây đã tác động trực tiếp, toàn diện đến quá trình và kết quả sảnxuất kinh doanh của các ngành, các doanh nghiệp và xu thế biến động thịtrường, giá cả trong nước trên cả 2 mặt thành tựu và hạn chế, bất cập của nềnkinh tế năm 2007
Sang đến năm 2008 tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến độngphức tạp Cụ thể:
Tình hình thế giới:
Từ đầu năm 2008, giá dầu thô và nhiều loại vật tư, lương thực trên thị trườngthế giới tăng đột biến, giá dầu thô đã tăng trên 140USD/thùng; giá lương thựctăng trên 1.000USD/tấn Kinh tế tăng trưởng chậm lại trên phạm vi toàn cầu,trước hết là do những khó khăn trong thị trường nhà đất của mỹ và sự mất giácủa đồng USD làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ giảm sút
Từ sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ, suy thoái kinh tế và lạm phát đã lan rộng racác nền kinh tế lớn khác trong năm 2008 như EU, Nhật Bản, Trung Quốc, ẤnĐộ và ảnh hưởng tới toàn thế giới Tốc độ tăng trưởng kinh tế Quí I năm 2008của các nước đầu giảm Dự báo chỉ số CPI của các nước năm 2008 sẽ tăng caohơn nhiều các năm trwowcss
Tình hình trong nước:
Từ năm 2007 một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế đã có những biểuhiện xấu và tiếp tục tác động dang năm 2008 như: chỉ số giá tiêu dùng trongnăm 2007 tăng tới 12,6%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng tới 39% và nhậpsiêu lên tới 29% tổng kim ngạch xuất khẩu; cân đối tiền tệ, các chỉ số về tổng
Trang 10phương tiện thanh toán, tổng mức huy động vốn và tổng dư nợ tín dụng của nềnkinh tế đều tăng rất cao Các dự báo khi xây dựng kế hoạch năm 2008 biến độngkhá lớn so với tình hình tực tế (tỷ giá giữa đồng Việt Nam với USD); lãi suấttiết kiệm; mức lãi suất cho vay).
Kinh tế thế giới bước sang năm 2009 với nhiều âu lo và thấp thỏm Mỹ, đầu tầukinh tế toàn cầu sau khi “lên dốc” không thành vào Quý III năm 2008 đã trượtdốc không phanh Các kế hoạch cứu trợ khẩn cấp liên tiếp được đưa ra nhưngchưa thể ngăng chặn được sự “bốc hơi” của lượng tài sản tài chính lên tới hơn30.000 tỉ USD Toàn thế giới đã chịu “chấn động” của “cơn sóng thần thế kỷ”.Lạm phát, giá hàng hóa, vật tư tăng cao
Nếu tăng trưởng kinh tế năm 2008 của nước ta diễn ra theo đúng kịch bản 6,5%,thì hy vọng rằng trong năm 2009 chúng ta vẫn tiếp tục là nền kinh tế thu hútnhiều sự quan tâm của cộng đồng kinh doanh và tài chính quốc tế Tuy vậy, khókhăn về nguồn vốn và tín dụng quốc tế chưa đi qua Thu hút FDI trong năm
2009 gặp nhiều khó khăn Việc tạo đủ công ăn việc làm cho người lao động làmột thách thức của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009 Khu vực doanhnghiệp, đặc biệt khối tư nhân còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốntín dụng Thu hẹp quy mô và giãn sản xuất, đồng nghĩa với việc cắt giảm nhâncông hoặc sử dụng không hết thời gian làm việc là những giải pháp phổ biến tạinhiều đơn vị sản xuất trong năm 2009
Mặt bằng lãi suất được điều chỉnh giảm dần suốt 6 tháng cuối năm 2008 nhưngtrên thị trường tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp vẫn chưa tìm được tiếngnói chung
Do tình trạng suy thoái kinh tế và thất nghiệp còn gia tăng, nhu cầu tiêu dùngtrong năm 2009 giảm mạnh WB ước tính mậu dịch thế giới sau khi tăng 6,2%trong năm 2008 đã suy giảm 2,1% trong năm 2009 Từ đó có thể xác định mộtnăm khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam
Trong năm 2009, NHNN đã thành công trong việc kích thích tăng trưởng ở mức5,3%, trong khi kiềm chế lạm phát ở mức 6,5% Nền kinh tế đã dần đi vào ổnđịnh Năm 2010, NHNN đã cố gắng đáp ứng cả 2 mục tiêu những mục tiêu tăngtrưởng kinh tế chiếm ưu thế vì tình hình kinh tế thế giới biến chuyển thuận lợihơn tạo điều kiện cho Việt Nam tăng trưởng cao hơn năm 2009 Để đạt mứctăng trưởng 6,5% cho năm 2010 chúng ta phải chấp nhận một mức lạm phát caohơn 7%
Trang 11Kinh tế trong nước có xu hướng tăng trưởng cao, thị trường tài chính, tiền tệ vàkinh tế vĩ mô về cơ bản là ổn định Mặc dù vậy, giá cả hàng tiêu dùng trongnước tăng ở mức khá cao Chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm 2010 tăng3,35% ở hầu hết các mặt hàng.
Như vậy, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng ở mức khá cao trong những tháng đầunăm 2010, nhưng so với cùng kỳ năm 2009 chưa phải là đột biến Nguyên ngântrực tiếp và chủ yếu làm cho giá cả hàng h óa tiêu dùng tăng là do tác động củagiá cả hàng hóa thế giới, nhu cầu tiêu dùng tăng cao và việc điều chỉnh tăng giámột số mặt hàng thiết yếu
Ngày 1/3/2011, NHNN đã tổ chức họp báo công bố Chỉ thị số 1/CT-NHNN,nhằm triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ Theo đó năm 20100 sẽthực sự là năm “thử lửa” đối với chính sách tiền tệ, tài khóa do những bất ổn vĩ
mô mang lại Bám sát Nghị quyết 11 với trọng tâm là giảm tổng cầu, cùng vớisự “thắt lưng buộc bụng” của tài khóa, chính sách tiền tệ cũng phải theo hướngnày Trọng tâm của NHNN trong năm nay là phải góp phần kiềm chế lạm phát,ổn định tỷ giá, cung cấp vốn kịp thời cho sản xuất thiết yếu và giữ vừn thanhkhoản của cả hệ thống Tuy nhiên vẫn còn nhiều mối lo, trong đó có ba vấn đềđược đặc biệt chú ý là lãi suất cao, thanh khoản kém khi NHNN thực hiện thắtchặt tiền tệ và việc đưa kinh doanh vàng vào khuôn khổ pháp luật
2 Diễn biến việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam
a Giai đoạn 2007:
Thực hiện ý kiến chỉ đạo nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2007, NHNNtrong thực thi CSTT đã bám sát mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểmsoát lạm phát, đảm bảo sự ổn định tiền tệ, ổn định hệ thống ngân hàng, gópphần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy tăng trưởngkinh tế cao, bền vững trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế – nhiềuthuận lợi, nhưng cũng không ít thách thức, trên cơ sở đó, NHNN đã thựchiện các giải pháp điều hành CSTT như sau:
- Thực hiện can thiệp thị trường ngoại hối nhằm giảm áp lực tăng giá
VND gây bất lợi cho tăng trưởng kinh tế:
Trong phạm vi khối lượng tiền cung ứng tăng được Chính phủ phê duyệt năm
2007, NHNN đã sử dụng linh hoạt các công cụ CSTT để điều tiết có hiệu quảkhối lượng tiền cung ứng này nhằm đạt mục tiêu mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoạihối nhà nước, hạn chế sức ép tăng giá đồng Việt Nam, góp phần bình ổn thị
Trang 12trường ngoại hối nhưng đồng thời cũng hút mạnh lượng tiền đã cung ứng ra chomục đích mua ngoại tệ để giảm mức độ dư thừa vốn khả dụng của các NHTM,hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán (TPTTT), qua đó giảm áplực lạm phát Cụ thể:
+ Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, NHNN đã hút được một lượng tương đốilớn vốn khả dụng dư thừa của các TCTD, đồng thời vẫn điều tiết kịp thời sựthiếu hụt vốn mang tính thời điểm của một số TCTD, đảm bảo duy trì ổn địnhtiền tệ, ổn định lãi suất thị trường
+ Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng gấp 2 lần so với mức của năm 2006để hạn chế mức độ dư thừa vốn khả dụng của các TCTD, đảm bảo duy trì ổnđịnh tiền tệ, ổn định lãi suất thị trường
+ Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm phát tínhiệu ổn định lãi suất thị trường Đồng thời, trong điều kiện nguồn cung ngoại tệdồi dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định về trần lãisuất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do hóa lãi suất thịtrường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế
+ Hạn chế cho vay có đảm bảo bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vaychiết khấu trong hạn mức phân bổ
- Điều hành tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với điều kiện
mở cửa thị trường tài chính:’
+ Ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng hiên độ tỷ giá từ0,25% lên 0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75% Đồngthời NHNN đã thựa hiện việc mua ngoại tệ theo nhu cầu bán của các NHTM,Kho bạc Nhà nước và các tổ chức quốc tế với tỷ giá phù hợp để hạn chế sức éptăng giá đồng Việt Nam và tăng cường mức dự trữ ngoại hối Nhà nước Chênhlệch giữa tỷ giá mua ngoại tệ của NHNN và tỷ giá bình quân trên thị trường liênngân hàng đã được thu hẹp, phản ánh sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường.+ Thực hiện Quyết định số 597/QD-TTg ngày 11/5/2007 của Thủ tướng Chínhphủ, NHNN đã duy trì hạn mức Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng bằng 30% tổngdự trữ ngoại hối nhà nước với biên độ +/- 10% thay vì xác định hạn mức theogiá trị tuyệt đối như trước đây Việc xác định hạn mức như vậy cho phépNHNN tăng cường tính linh hoạt trong điều hành tỷ giá, kịp thời ứng phó vớicác rủi ro đảo chiều của các nguồn vốn, đặc biệt là các nguồn vốn đầu tư giántiếp của nước ngoài
Trang 13+ NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối nhà nước, đáp ứng mục tiêu thanhkhoản và sinh lới ở mức độ nhất định Tổng dự trữ ngoại hối nhà nước tính theotuần nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng từ mức 13,6 tuần vào thời điểm cuốinăm 2006 lên gần 18 tuần năm 2007.
+ Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Ngoại hối;triển khai thực hiện Đề án nâng cao tính chuyển đổi của VND, khắc phục tìnhtrạng đô la hóa trong nền kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
- Thực hiện các giải pháp kiểm soát chất lượng và tốc độ tăng trưởng
tín dụng, tăng tổng phương tiện thanh toán nhằm kiểm soát lạm phát.
Bên cạnh việc sử dụng các công cụ CSTT để thu hút tiền dư thừa của các TCTDđể hạn chế việc mở rộng quá mức đầu tư tín dụng và tăng TPTTT, NHNN tiếptục thực hiện hoàn thiện cơ sở pháp lý và yêu cầu các TCTD thực hiện các quyđịnh về kiểm soát rủi ro, quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinhdoanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như:+ Yêu cầu các TCTD tiếp tục thực hiện Công văn số 7318/NHNN-CSTT ngày25/8/2006 về việc thực hiện một số biệ pháp để kiểm soát việc cho vay đầu tư,kinh doanh chứng khoán ở mức hạn chế và đảm bảo an toàn Ban hành tín dụngvà cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩytăng trưởng kinh tế, trong đó có qui định khống chế dư nợ vốn cho vay, chiếtkhấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dưnợ tín dụng của các TCTD
+ Ban hàng Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007 quy định cácTCTD không được cấp tín dụng cho các doanh nghiệp trực thuộc hoạt độngtrong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, không được cho vay có đảm bảo đốivới các khoản vay nhằm đầu tư kinh doanh chứng khoán
+ Bổ sung sửa đổi quy định về tín dụng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi rophù hợp với chuẩn mực quốc tế và yêu cầu tăng cường năng lực tài chính củaNHTM khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, hệ số rủi ro của các khoản cho vayđể đầu tư chứng khoán
+ Ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-NHNN ngày 02/11/2007 về yêu cầu các tổchức tín dụng và các đơn vị trực thuộc NHNN thực hiện các giải pháp đảm bảokhả năng thanh toán và kiểm soát tổng phương tiện thanh toán
Trang 14b Gian đoạn 2008:
6 tháng đầu năm:
Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu, CPI củaViệt Nam trong 6 tháng tăng bình quân là 15,03%, mức thâm hụt cán cânthương mại ở mức kỷ lục (hơn 14% GDP) Trước tình hình đó thực hiện cáccông văn 75/TTg-KTTH ngày 15/01.1008 và 319/TTg-KTTH ngày 03/03/2008của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổnđịnh kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vũng; NHNN đãthực hiện các giải pháp điều hành CSTT như sau:
- Điều hành CSTT theo hướng thắt chặt để kiểm chế tốc độ tăng tổng
phương tiện thanh toán và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nhằm đảm bảo mức tăng tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng không vượt quá 30%.
Đề thực hiện mực tiêu này, NHNN đề ra những giải pháp và biện pháp cụ thể:Thứ nhất: Chỉ đạo các TCTD kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực cho vay có rủi
ro cao như đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản thông qua việc:
+ Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay,chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được vượtquá 20% vốn điều lệ cảu TCTD
+ Yêu cầu các TCTD khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vaybất động sản ở mức hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn cho vay
+ Ban hành quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN về cho vay bằng ngoại tệ của tổchức tín dụng đối với khách hàng vay là người cư trú nhằm hạn chế cho vay đốivới nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn ngoại tệ
Thứ hai, sử dụng các công cụ của CSTT như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, thịtrường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các NHTM và từ đó tác độnglên khả năng cung cấp vốn ngân hàng ra thị trường theo mục đích đặt ra và thuhút mạnh tiền từ lưu thông về, cụ thể:
+ Tăng tỷ lệ DTBB (Trừ NHNo&PTNT, Quỹ TDNDTW)