CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO TIỀN VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Khái quát về ngân hàng thương mại. 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại. 1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại (NHTM) là một bộ phận không thể tách rời khỏi đời sống xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của NHTM đánh dấu một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển đi lên của nhân loại. NHTM hiện nay là kết quả tất yếu của quá trình phát triển của nền kinh tế tiền tệ. Hệ thống NHTM có một bước lịch sử hình thành và phát triển hết sức riêng biệt với các ngành kinh doanh khác.Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá: Các NHTM xuất hiện trong nền kinh tế với tư cách là các nhà tổ chức trung gian, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế có dư thừa và trên cơ sở đó cấp tín dụng cho các đơn vị kinh tế có nhu cầu, tức là luân chuyển vốn một cách gián tiếp. Hệ thống NHTM có phạm vi hoạt động rộng rãi vì nó cung cấp các dịch vụ tài chính cho tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và các tầng lớp dân cư. Tuỳ theo cách tiếp cận mà có các quan điểm khác nhau về NHTM, điều đó còn phụ thuộc vào tính chất và mục tiêu của nó trên thị trường tài chính của từng nước. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại. Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp: Một doanh nghiệp đặc biệt – hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng. Theo quan điểm của các nhà kinh tế Hoa Kỳ. Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo quan điểm của các nhà kinh tế Pháp. Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Tại Việt Nam, theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. ( Trích trong Khoản 3, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010). Như vậy thông qua một số khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động, ở nước ta các loại hình ngân hàng thương mại được hoạt phép hoạt động theo luật tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác.
Trang 1CHƯƠNG I
CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO TIỀN VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 21.1 Khái quát về ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại.
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một bộ phận không thể tách rời khỏi đờisống xã hội, là một sản phẩm đặc biệt của nền kinh tế thị trường Sự ra đời củaNHTM đánh dấu một bước nhảy vọt trong quá trình phát triển đi lên của nhânloại NHTM hiện nay là kết quả tất yếu của quá trình phát triển của nền kinh tếtiền tệ Hệ thống NHTM có một bước lịch sử hình thành và phát triển hết sứcriêng biệt với các ngành kinh doanh khác.Lịch sử hình thành và phát triển củangân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá: Các NHTMxuất hiện trong nền kinh tế với tư cách là các nhà tổ chức trung gian, nhận tiềngửi của các tổ chức kinh tế có dư thừa và trên cơ sở đó cấp tín dụng cho các đơn
vị kinh tế có nhu cầu, tức là luân chuyển vốn một cách gián tiếp Hệ thốngNHTM có phạm vi hoạt động rộng rãi vì nó cung cấp các dịch vụ tài chính chotất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và các tầng lớp dân cư Tuỳ theo cách tiếp cận
mà có các quan điểm khác nhau về NHTM, điều đó còn phụ thuộc vào tính chất
và mục tiêu của nó trên thị trường tài chính của từng nước
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp: Một doanh nghiệpđặc biệt – hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
Theo quan điểm của các nhà kinh tế Hoa Kỳ
Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụtài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Theo quan điểm của các nhà kinh tế Pháp
Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thườngxuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các
Trang 3số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụtài chính.
Tại Việt Nam, theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàngđược định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng đượcthực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theoquy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” ( Trích trong Khoản 3, điều 4Luật các tổ chức tín dụng năm 2010)
Như vậy thông qua một số khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sửdụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ
cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động, ở nước ta các loại hình ngânhàng thương mại được hoạt phép hoạt động theo luật tổ chức tín dụng bao gồm:Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàngchính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.
1.1.2.1 Hoạt động nhận tiền gửi.
Tiền gửi của khách hàng (gồm cá nhân và tổ chức) là nguồn vốn quantrọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng
Để huy động được nhiều tiền có chất lượng ổn định, các ngân hàng phải đưa rađược nhiều sản phẩm dịch vụ phục vụ được mọi đối tượng và đa dạng hoá cáchình thức huy động vốn như: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
Trang 4tiết kiệm, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thứcnhận tiền gửi khác theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửitiền theo thỏa thuận.
Là đối tượng phải dự trữ bắt buộc với NHNN, nên chi phí tiền gửi củaNHTM trả cho khách hàng cao hơn thực tế Ngoài ra tiền gửi ngắn hạn hoặckhông kỳ hạn thường rất nhạy cảm với biến động của lãi suất và những yếu tốkinh tế khác như lạm phát
Ngoài tiền gửi của khách hàng, NHTM còn huy động vốn từ nguồn đi vaycủa NHNN hay của các NHTM khác và quốc tế.Tuy nhiên tỷ trọng của nguồnvốn này thấp hơn nguồn tiền gửi
1.1.2.2 Hoạt động cấp tín dụng và đầu tư.
Hoạt động quan trọng của NHTM là tìm cách sử dụng nguồn vốn củamình để thu lợi nhuận Đây là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng mộtkhoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc cóhoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán,bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nómang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho NHTM Trong nghiệp vụ này Ngânhàng sẽ dựng nguồn vốn tự của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dướicác hình thức như:
- Hùn vốn, mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, xí nghiệp, việc hùnvốn mua cổ phần chỉ được thực hiện bằng vốn của Ngân hàng
- Mua trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu chính quyền địa phương, Tráiphiếu công ty…
Tất cả mọi hành động đầu tư vào chứng khoán đều nhằm mục đích manglại thu nhập Nhưng mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạtđộng ngân hàng được phân tán
1.1.2.3 Hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Trang 5séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng
và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của kháchhàng
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển, điều này vừa cho phép hỗtrợ đáng kể cho nghiệp khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừatạo ra thu nhập cho Ngân hàng bằng các khoản trên hoa hồng lệ phí…và đây làhoạt động ngày càng có vị trí xứng đáng trong các hoạt động của các NHTMhiện vay
1.2 Đảm bảo tiền vay của ngân hàng thương mại.
1.2.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất quyết định đến khả năngtồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại, là nghiệp vụ sử dụng vốn quantrọng nhất vì đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng Cũng vì vậy màhoạt động chứa nhiều rủi ro nhất
Để tránh điều đó, việc quản lý tiền cho vay được tiến hành rất chặt chẽ,đặc biệt là món vay lớn, với thời hạn dài Chính vì thế khi cho vay, từ khâu thẩmđịnh hồ sơ xin vay trong đó có công tác đảm bảo tiền vay nhằm tránh rủi ro chongân hàng được hết sức chú trọng
1.2.2 Đảm bảo tiền vay của ngân hàng thương mại.
1.2.2.1 Khái niệm, nguyên tắc và đặc trưng.
1.2.2.1.1 Khái niệm.
“Bảo đảm tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tín dụng là việc bảo vệ quyền lợicủa người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu củangười đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.”
Các ngân hàng và các định chế tài chính khác coi bảo đảm tín dụng là nguồnthu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không thể thanh toán được nợ Trongcho vay kinh doanh, nguồn thu nợ thứ nhất từ doanh thu thực tế đối với cho vay
Trang 6ngắn hạn, từ khấu hao và lợi nhuận đối với cho vay trung và dài hạn Trong chovay tiêu dùng nguồn thu nợ thứ nhất từ thu nhập cá nhân như tiền lương, cáckhoản thu nhập tài chính (lãi tiền gởi, cổ tức, trái tức) và các khoản thu nhậpkhác Các khoản thu nợ thứ nhất này thể hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệcủa người đi vay
Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứnhất không thực hiện được, nếu không có một nguồn bổ sung tất yếu ngân hàng
sẽ gặp rủi ro tín dụng Vì vậy để bảo vệ lợi ích của mình các ngân hàng thườngyêu cầu người đi vay phải có các bảo đảm cần thiết, ngoại trừ những khách hànghoạt động tốt và có quan hệ tín dụng thường xuyên
1.2.2.1.2 Nguyên tắc.
Bảo đảm tiền vay có các nguyên tắc sau:
Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có tài sảnđảm bảo, cho vay không có tài sản đảm bảo theo quy định của các văn bản phápquy và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
Tổ chức tín dụng có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sảnhoặc thu hồi nợ trước hạn nếu khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồngtín dụng
Tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy địnhcủa pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên bảo lãnhkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghiệp vụ trả nợ đã cam kết
Sau khi xử lý tài sản đảm bảo tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảolãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảolãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
Trang 7Giá trị bảo đảm lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm.
Bảo đảm tín dụng không chỉ là nguồn thu nợ thứ 2 của ngân hàng mà còn có
ý nghĩa nâng cao ý thức thực hiện trách nhiệm của người đi vay Trong trườnghợp TSĐB có giá trị nhỏ hơn nghĩa vụ được đảm bảo, người đi vay có thể chấpnhận mất tài sản để trốn nợ Và ngược lại, người đi vay động lực trả nợ, vì nếukhông trả thì họ sẽ mất TSĐB với giá trị lớn hơn so với khoản họ vay ngân hàng.Nghĩa vụ gồm vốn gốc, lãi vay, lãi gia hạn và các chi phí liên quan
Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng vay vốn
và được pháp luật cho phép giao dịch, đồng thời có đủ các cơ sở pháp lý để ngân hàng được ưu tiên xử lý tài sản để thu nợ, đó là cơ sở để người vay có quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
Tài sản phải có thị trường tiêu thụ.
Mức độ thanh khoản của tài sản có mối quan hệ tỷ lệ thuận đến lợi ích củangân hàng cho vay Mức độ thanh khoản thấp có nghĩa là tài sản khó bán có thểngân hàng gặp nhiều rủi ro, do vậy ngân hàng khó chấp nhận Mức độ thanhkhoản trung bình thì ngân hàng có thể chấp nhận được nhưng phải tính đến chiphí kéo dài thời gian xử lý
1.2.2.2 Vai trị của đảm bảo tiền vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
1.2.2.2.1 Bảo đảm tiền vay vừa là nguồn thu nợ vừa có tác động đến
nghĩa vụ trả nợ.
Nếu cho vay lớn hơn giá trị tài sản đảm bảo, bên đi vay sẽ có động cơ khôngtrả nợ vì có lợi cho họ Ngược lại, cho vay nhỏ hơn giá trị tài sản đảm bảo sẽ kíchthích nghĩa vụ trả nợ vì nếu họ vi phạm bất kỳ cam kết nào trong HĐTD thì tổchức tín dụng có quyền phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ Do đó, đảm bảotiền vay không chỉ là nguồn thu nợ nếu khách hàng không trả nợ mà còn có tácđộng đến nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, ngăn chặn tình trạng lạm dụng và sửdụng vốn thiếu tính toán
1.2.2.2.2 Có tác dụng phòng ngừa rủi ro tín dụng, giảm nhẹ tổn thất cho
tổ chức tín dụng khi khách hàng không thanh toán nợ.
Trang 8Đảm bảo tiền vay thiết lập thêm cho ngân hàng một nguồn thu nợ thứ haingoài nguồn thu nợ thứ nhất Khi đánh giá hoạt động của khách hàng nếu thấynguồn thu nợ thứ nhất chưa có cơ sở chắc chắn thì buộc ngân hàng phải thiết lậpcác cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai trong điều kiện nên kinh tế cónhiều biến động như hiện nay Mọi dự đoán rủi ro của ngân hàng đều mang tínhchất tương đối Vì vậy, đảm bảo tiền vay có tác dụng phòng ngừa rủi ro tín dụng,giảm nhẹ tổn thất cho tổ chức tín dụng khi khách hàng không thanh toán nợ.
1.2.2.3 Các hình thức đảm bảo tiền vay
1.2.2.3.1 Cho vay có đảm bảo bằng tài sản
a Khái niệm.
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản là việc cho vay vốn của ngân hàng mà theo
đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tàisản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba,bảo lãnh bằng tài sản hình thành từ vốn vay
b Các điều kiện tài sản đảm bảo.
Tài sản đảm bảo là bất kỳ loại động sản, bất động sản và thỏa mãn điều kiệnsau:
• Giá trị đảm bảo phải lớn hơn nghĩa vụ đảm bảo
• Tài sản phải thuộc quyền hợp pháp của khách hàng vay vốn và được phápluật cho phép giao dịch
• Tài sản phải có thị trường giao dịch
c Các hình thức đảm bảo tiền vay bằng tài sản
Hình thức thế chấp
- Khái niệm :
Là việc khách hàng vay dựng tài sản (phần lớn là bất động sản) thuộc sở
Trang 9hữu của mình để đảm bảo cho số nợ vay và trong trường hợp khách hàng khôngthực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền phát mãitài sản đó để thu hồi nợ Ngân hàng là người nắm chứng từ sở hữu gốc.
- Điều kiện của tài sản thế chấp :
• Tài sản thế chấp phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người vay
• Nếu tài sản thuộc về các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạnhoặc công ty liên doanh khi thế chấp phải có văn bản quyết định của Hội đồngquản trị
• Nếu tài sản thuộc quyền sở hữu của TCKT, tập thể khi thế chấp phải cónghị quyết cuộc họp của các thành viên
Trên nguyên tắc tài sản là bất động sản thì khách hàng phải giao chứng thư
sở hữu gốc của cơ quan có thẩm quyền cấp cho ngân hàng quản lý Nếu chưa cóchứng thư thì ngân hàng chỉ nhận thế chấp đối với các loại tài sản có đủ giấy tờgốc hợp lệ, có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật trong khi chờ đợi cấpchứng thư sở hữu gốc và ngân hàng giữ các giấy tờ nói trên
Hình thức cầm cố
- Khái niệm :
Là việc bên vay vốn có nghĩa vụ giao tài sản của mình hoặc các chứng từchứng nhận quyền sở hữu tài sản của mình cho ngân hàng để đảm bảo thực hiệnviệc trả nợ đúng thời hạn theo hợp đồng
- Điều kiện của tài sản cầm cố :
Trang 10•Tài sản cầm cố là động sản phải thuộc quyền sở hữu của chính khách hàngcầm cố.
•Tài sản cầm cố phải được ngân hàng quản lý trong suốt thời hạn tín dụng(dự tài sản đó được ngân hàng nắm giữ, bên đi vay giữ hay một bên thứ ba nào
đó giữ)
•Phải có hợp đồng hoặc giấy chứng thư cho việc cầm cố.
Hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Là khách hàng dựng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với TCTD Hình thức này được ápdụng khi cho vay trung và dài hạn đối với các dự án đầu tư phát triển sản xuất,kinh doanh, dịch vụ
Hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản của bên bảo lãnh
Bảo lãnh là việc một pháp nhân hay thể nhân đem tài sản tiền bạc của mình
để đảm bảo và cam kết với người cho vay sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người
đi vay nếu người đi vay không trả nợ được cho người cho vay khi đến hạn thanhtoán
Sơ đồ khái quát của hình thức bảo lãnh
(2)
(3)(1)
Người bảo lãnh
Trang 11Trong đó:
(1) Người đi vay và người bảo lãnh thương lượng với nhau để đi đến sựđồng ý nhận bảo lãnh của bên bảo lãnh
(2) Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay
(3) Hợp đồng bảo lãnh được ký giữa ngân hàng và người bảo lãnh
1.2.2.3.2 Cho vay có đảm bảo không bằng tài sản
Trang 12bên bảo lãnh.
• Thuộc loại tài sản được phép giao dịch
• Không có tranh chấp tại thời điểm ký kết hợp đồng đảm bảo
• Phải mua bảo hiểm nếu Pháp luật có qui định.
1.2.2.5 Một số qui định của NHNN về vấn đề đảm bảo tiền vay
Khi nghị định số163/2006/NĐ-CP được ban hành 29/12/2006 của Chính phủ
về giao dịch đảm bảotiền vay của các tổ chức tín dụng tuy đã góp phần vào sự ổnđịnh tiền tệ của Nhà nước và tạo hành lang pháp lý an toàn cho các tổ chức tíndụng mở rộng hoạt động tín dụng nhưng cũng có những bất cập riêng của nótrong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế Vì thế mà ngày03/12/2007, trên cơ sở đề nghị của Thống đốc NHNN, NHNo&PTNT Việt Namban hành quyết định số 1300/QĐ-HĐQT-TDHo về việc sửa đổi, bổ sung một sốđiều của nghị định số 163 nhằm góp phần hình thành khung pháp lý về bảo đảmtiền vay của các tổ chức tín dụng
1.2.2.5.1 Biện pháp/các hình thức đảm bảo tiền vay
Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định cho vay có đảm bảo haykhông đảm bảo bằng tài sản theo quy định của nghị định số 85 và chịu tráchnhiệm về quyết định của mình
Căn cứ năng lực tài chính của khách hàng vay, tính khả thi và hiệu quả củakhoản vay và tình hình thực tế, ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng một hoặc một
số biện pháp đảm bảo tiền vay được nêu dưới đây :
a Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản
- Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
- Bảo lãnh bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Trang 13Đối với tài sản hình thành từ vốn vay trong tương lai thì:
- Trong trường hợp đảm bảo thực hiên nghĩa vụ bằng tài sản hình thành trong tương lai thì khi bên đảm bảo có quyền sở hữu một phần hay toàn bộ tài sảnđảm bảo, chi nhánh NHNo có các quyền đối với một phần hay toàn bộ tài sản đó.Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu mà bên bảođảm chưa đăng ký quyền sở hữu thì ngân hàng vẫn có quyền xử lý đối với tài sản
đó khi đến hạn xử lý
- NHNo Việt Nam chỉ nhận tài sản đảm bảo khi xác định được quyền sở hữu,quyền sử dụng, số lượng, giá trị của tài sản và tài sản đó được phép giao dịch trênthị trường Đối với hàng hóa thì chi nhánh phải có khả năng quản lý và giám sát.Đối với tài sản phải mua bảo hiểm theo qui định thì khách hàng phải cam kếtmua bảo hiểm trước khi tài sản đã được hình thành đưa vào sử dụng
b Các biện pháp đảm bảo tiền vay trong cho vay có bảo đảm không bằng
tài sản.
Theo luật các tổ chức tín dụng, tại bảo đảm tiền vay đã quy định rõ: Việc chovay không có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng được thực hiện theo quyđịnh của Chính phủ căn cứ vào nghị định 163/2006/NĐ-CP Theo quy định củanghị định này thì một trong những điều kiện để doanh nghiệp được ngân hàngcho vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản là phải có kết quả sản xuất kinhdoanh có lãi trong 2 năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay
Thực tế có rất ít doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện trên trong khi nhu cầuvay vốn lại rất lớn nên nghị định số 666/QĐ-HĐQT-TDHo được ban hành ngày15/06/2010: kết quả kinh doanh có hiệu quả và có lãi, trường hợp lỗ (do mớithành lập và đi vào hoạt động kinh doanh hoặc lổ lũy kế) thì phải có tài liệuchứng minh được phương án khắc phục lỗ khả thi và khả năng trả nợ đúng hạntheo thời hạn cam kết, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp vay theo hình thứckhông có bảo đảm bằng tài sản
Riêng đối với lĩnh vực kinh tế hộ và sản xuất nông nghiệp mới đây nhất,Thống đốc NHNN có ban hành nghị định số 41/2010/NĐ-CP vào ngày12/04/2010 và thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/06/2010 thì đối với hộ
Trang 14nông dân, chủ trang trại sản xuất có dự án đầu tư, phương án kinh doanh khả thi
sẽ được xem xét cho vay từ 50 đến 500 triệu đồng không phải áp dụng biện phápbảo đảm bằng tài sản, chỉ nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có giấyxác nhận của UBND xã phường về đất không có tranh chấp
1.2.2.5.2 Thủ tục thực hiện của hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
• Hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh tài sản có chứng nhận của côngchứng Nhà nước hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền, nếu các bên cóthỏa thuận; trong trường hợp pháp luật quy định phải có chứng nhận hoặc chứngthực thì các bên phải tuân theo
UBND cấp có thẩm quyền chứng thực hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
là các cấp UBND mà pháp luật về công chứng quy định có quyền hạn chứng thựccác hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản
• Trường hợp DNNN cầm cố, thế chấp tài sản là toàn bộ dây chuyền côngnghệ chính theo quy định của cơ quan quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, thì phải
có văn bản đồng ý của cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp đó
• Đối với tài sản cầm cố là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuấtkinh doanh, thì khách hàng vay, bên bảo lãnh chỉ được bán trong trường hợp cóchấp thuận bằng văn bản của tổ chức tín dụng cầm cố Đối với tài sản thế chấp lànhà, công trình xây dựng để bán, để cho thuê thì khách hàng vay, bên bảo lãnhchỉ được bán, cho thuê trong trường hợp có sự chấp thuận bằng văn bản của tổchức tín dụng nhận thế chấp
• Trường hợp cầm cố quyền tài sản (Quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp, quyền đòi nợ, quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp,…) thìkhách hàng vay, bên bảo lãnh phải giao cho tổ chức tín dụng bản chính giấy tờ
Trang 15chứng minh về quyền tài sản đó và phải thông báo cho người thứ ba có nghĩa vụ
về việc cầm cố quyền tài sản đó
1.2.2.5.3 Điều kiện đối với tài sản được nhận làm bảo đảm tiền vay.
Nghị định số 1300/QĐ-HĐQT-TDHo ban hành ngày 03/12/2007 ban hành đãsửa đổi nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006
Tài sản mà khách hàng vay, bên bảo lãnh dựng để cầm cố, thế chấp, bảo lãnhvay vốn tại NHNo Việt Nam phải có đủ điều kiện sau đây:
a Tài sản phải thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý của kháchhàng vay, bên bảo lãnh theo quy định sau đây:
- Đối với giá trị quyền sử dụng đất: phải thuộc quyền sử dụng của khách hàngvay, bên bảo lãnh và được thế chấp theo quy định của pháp luật về đất đai
- Đối với tài sản của DNNN: thì phải là tài sản do Nhà nước giao cho doanhnghiệp đó quản lý, sử dụng và được dựng để BĐTV theo quy định của pháp luật
- Đối với tài sản khác: thì phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, bênbảo lãnh Trường hợp tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu,thì khách hàng vay, bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
b Tài sản được phép giao dịch
c Tại thời điểm thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản không có tranh chấp
d Tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm thì khách hàng vay phảimua bảo hiểm tài sản trong thời hạn đảm bảo tiền vay Bên nhận thế chấp phảithông báo cho tổ chức bảo hiểm biết về việc tài sản đảm bảo đang được dùng đểthế chấp
NHNo&PTNT Việt Nam kiểm tra điều kiện của tài sản đảm bảo tiền vay.Khách hàng vay, bên bảo lãnh chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp phápcủa tài sản đảm bảo tiền vay
1.2.2.5.4 Xác định giá trị đảm bảo tiền vay
Trang 16“Quy định thực hiện các biện pháp đảm bảo tiền vay trong hệ thốngNHNo&PTNT Việt Nam ” xác định giá trị tài sản đảm bảo tiền vay:
a Trường hợp bên bảo đảm dựng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiềunghĩa vụ dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 324 Bộ Luật Dân sự thì chi nhánh NHNo và khách hàng vay có thể thỏa thuận dựng tài sản có giá trị nhỏhơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm theo Điều 48Quy định này, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
b Tài sản đảm bảo tiền vay được xác định giá trị tại thời điểm ký kết hợpđồng bảo đảm; việc xác định giá trị tại thời điểm chỉ làm cơ sở xác định mức chovay của NHNo&PTNT Việt Nam; không áp dụng khi xử lý tài sản đảm bảo đểthu hồi nợ Việc xác định giá trị tài sản đảm bảo tiền vay phải được lập thành vănbản riêng hoặc ghi vào hợp đồng tín dụng
c Giá trị tài sản bảo đảm tiền vay do chi nhánh NHNo, khách hàng vay, bênbảo lãnh thỏa thuận trên cơ sở giá trị thị trường tại thời điểm xác định, có thamkhảo giá quy định của Nhà nước (nếu có), giá mua, giá trị còn lại trên sổ sách kếtoán và các yếu tố khác về giá, trừ trường hợp giá trị quyền sử dụng đất nêu tạikhoản d Điều này
d Giá trị tài sản bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng đất:
- Giá trị sử dụng quyền sử dụng đất trong trường hợp hộ gia đình, cá nhânđược Nhà nước giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất thì được xácđịnh theo giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qui định,không khấu trừ giá trị quyền sử dụng đất đối với thời gian đã sử dụng
- Giá trị quyền sử dụng đất đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểmtrên khoản d Điều này thì do chi nhánh NHNo và khách hàng vay thỏa thuận theogiá đất thực tế chuyển nhượng ở địa phương đó tại thời điểm thế chấp
1.2.2.5.5 Xác định mức cho vay
• Tuỳ từng trường hợp cụ thể, ngân hàng tự tín toán và quyết định mức chovay so với giá trị tài sản đảm bảo Miễn là, kết quả tính toán cho thấy, trongtrường hợp có rủi ro xảy ra, ngân hàng có thể thu được nợ gốc, nợ lãi và các chi
Trang 17phí khác từ việc xử lý tài sản đảm bảo.
• Nhằm đảm bảo thu nợ an toàn, trong từng thời kỳ, tổng giám đốc sẽ quyếtđịnh mức cho vay tối đa so với tài sản bảo đảm Hiện tại, mức cho vay tối đa sovới giá trị tài sản đảm bảo được quy định như sau:
Căn cứ theo nghị định số 1300/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 03/12/2007 về giaodịch có TSBĐ bảo thì mức cho vay tối đa so với giá trị TSBĐTV là:
- Đối với tài sản cầm cố, thế chấp thì mức cho vay tối đa bằng 75% giá trịtài sản đảm bảo
- Trường hợp cầm cố bằng chứng khoán, các giấy tờ có giá: Mức cho vaytối đa thực hiện theo quy định của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam theotừng thời kỳ
- Đối với bộ chứng từ xuất khẩu thế chấp vay vốn: Mức cho vay tối đa bằng100% giá trị bộ chứng từ hoàn hảo trừ đi số tiền lãi phải trả trong thời gian vayvốn
1.2.2.5.6 Danh mục tài sản dựng để làm bảo đảm tiền vay
• Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phátsinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác
• Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh
Trang 18nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
• Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo qui định của pháp luật
• Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quyđịnh của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố
• Tài sản được hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thờiđiểm ký kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoalợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố cóquyền nhận
• Các tài sản khác theo qui định của pháp luật
b Các loại tài sản thế chấp
• Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các loại tài sản gắn liềnvới nhà ở, công trình xây dựng và các loại tài sản khác gắn liền với đất
• Giá trị quyền sử dụng đất theo qui định tại Chương IV – Luật Đất đai:
Điều kiện thế chấp bằng quyền sử dụng đất:
- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trường hợp trước ngày 01/11/2007người sử dụng đất đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận theo quy định của phápluật mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận vàngười sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quyđịnh tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì vẫn được thực hiện cácquyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất thếchấp góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Trang 19Tổ chức kinh tế trong nước thế chấp bằng quyền sử dụng đất:
- Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đượcthế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất
- Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sửdụng đất đã trả không có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước thì được thế chấpbằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất
- Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất sau ngày 01/07/2004 được thếchấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê
- Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01/07/2004 mà đãtrả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiềunăm mà thời gian thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 05 năm thì được thếchấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đấtthuê
- Tổ chức kinh tế thuê lại đất trong khu công nghiệp thì được thế chấp bằngtài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê lại
Hộ gia đình, cá nhân thế chấp bằng quyền sử dụng đất:
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê được thế chấp bằngquyền sử dụng đất
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê sau ngày 01/07/2004, được thế chấpbằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê trước ngày 01/07/2004 mà đã trả tiềnthuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà thờigian thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì được thế chấp bằngquyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê lại trong khu công nghiệp thì đượcthế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê lại
Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nướcngoài thế chấp bằng quyền sử dụng đất:
Trang 20- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam được Nhànước giao đất có thu tiền sử dụng đất; được nhận chuyển nhượng quyền sử dụngđất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được thế chấpbằng quyền sử dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất.
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tưtại Việt Nam được Nhà nước cho thuê đất hoặc thuê lại đất trong khu côngnghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế mà phải trả tiền thuê đất hàng năm thìđược thế chấp bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất, đất thuê lại
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tưtại Việt Nam được Nhà nước cho thuê đất hoặc thuê lại đất trong khu côngnghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế mà phải trả tiền thuê đất một lần cho cảthời gian thuê thì được thế chấp bằng quyền sử dụng đất thuê và tài sản thuộc sởhữu của mình gắn liền với đất trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất
• Tàu biển theo qui định của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quiđịnh của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp
• Các tài sản khác theo qui định của pháp luật Hoa lợi, lợi tức và các quyềnphát sinh từ tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp, nếu chi nhánh và kháchhàng có thoả thuận hoặc pháp luật qui định; trường hợp tài sản thế chấp được bảohiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp
• Trường hợp thế chấp tất cả tài sản có vật phụ, thì vật phụ đó cũng thuộctài sản thế chấp Trong trường hợp thế chấp một phần bất động sản có vật phụ,thì vật phụ đó chỉ thuộc tài sản thế chấp nếu có sự thoả thuận với khách hàng
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đảm bảo tiền vay của ngân hàng thương mại.
1.3.1 Nhân tố chủ quan.
Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Để mang lại hiệu quả cho đồng vốn lưu chuyển, tức là cả vốn và lãi sẽ quay lại ngân hàng cho vay sau một thời gian nhất định đòi hỏi ngân hàng cho vay phỉ thực hiện tốt chất lượng thẩm định và quy trình cho vay
Trang 21Thẩm định ở đây chính là thẩm định dự án đầu tư, đánh giá năng lực tài chính của khách hàng, đánh giá tài sản đảm bảo để đánh giá khả năng trả nợ của khoản vay Làm tốt khâu thẩm định này sẽ làm tăng khả năng thu hồi vốn gốc và lãi đẩy mạnh quá trình cho vay, hạn chế bất lợi xảy ra và đảm bảo độ an toàn của vốn tín dụng.
Các nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là một nhân tố chủ quan trọng đối với đảm bảo tiền vay Nếu như khi nhận vốn vay mà khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích, có năng lực quản lý giỏi, khả năng kinh doanh tốt sẽ mang lại lợi nhuận cao thì dễ dàng hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng làm tăng chất lượng hiệu quả cho vay
Nhưng nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích như vốn ngắn hạn dựng đầu tư tài sản cố định thì khó thu hồi vốn kịp thời để hoàn trả nợ đúng hạn, hay khả năng tài chính của doanh nghiệp không ổn định, khả năng sản suất kinh doanh kém, làm ăn thua lỗ, làm cho chất lượng đảm bảo tiền vay không hiệu quả gây khó khăn và rủi ro cho ngân hàng
1.3.2 Nhân tố khách quan.
Các nhân tố khách quan là các nhân tố thuộc về môi trường, chính trị, xã hội và kinh tế bao gồm cả các chiến lược, đường lối, chủ trương phát triển kinh tếcủa Đảng và Nhà nước, do đó trong quá trình thực hiện nhà nước cần quan tâm điều chỉnh các chính sách kinh tế phù hợp, tạo thuận lợi cho khách hàng cũng như các tổ chức xã hội
Bên cạnh đó, nhân tố môi trường cũng tác động không nhỏ tới hoạt động đảm bảo tiền vay như thiên tai, hỏa hoạn
Trang 22PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẢM BẢO TIỀN VAY TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NO&PTNT HUYỆN
TRỰC NINH - NAM ĐỊNH
Trang 232.1 Khái quát về chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh - Nam Định
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của chi nhánh.
Trực Ninh là huyện nằm ở phía nam của tỉnh Nam Định, là vùng đất màu mỡ
do hàng năm được bồi đắp phù sa của hai con sông lớn là Sông Hồng và SôngNinh Cơ Nơi đây có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp và phát triển ngành nghề như vận tải, cơ khí đóng tàu, sản xuất vậtliệu, ươm tơ, dệt…
Trong những năm qua cùng với các cấp, ngành, các DN, tổ chức và cộngđồng dân cư tại địa phương, đã và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế trongnông nghiệp nông thôn Nhiều cụm công nghiệp được triển khai đi vào hoạt độngtheo đúng quy hoạch, các làng nghề truyền thống được củng cố và phát triển,nhiều ngành nghề mới được hình thành, đang hoạt động hiệu quả như; nghề Cơkhí; Luyện thép; Chế biến gỗ; Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu nhưthêu ren, mây tre đan…
Với diện tích đất tự nhiên là là 14.318,96 ha, dân số 188.189 người, trong đó
có 81.000 lao động, nằm trong 51.189 hộ gia đình và 1.015 DN, chủ yếu làDNNVV chiếm 99,3% tổng số DN trên địa bàn, các DN hoạt động phong phú và
đa dạng trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế
Từ những đặc điểm và lợi thế như trên, Trực Ninh là địa phương có nhiềuthuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội và là thị trường đầy tiềm năng đối vớihoạt động của NHTM trong việc cung cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng chonền kinh tế
Chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh, được thành lập theo quyếtđịnh số 100/QĐ- NHNo&PTNT Việt Nam ngày 20/03/1997 Là đơn vị trựcthuộc Chi nhánh ngân hàng No&PTNT tỉnh Nam Định, có nhiệm vụ chính là tổchức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, mà hoạt động chủ yếu là nhậntiền gửi của khách hàng và sử dụng số tiền đó để cho vay và cung cấp các dịch
vụ ngân hàng cho các tổ chức kinh tế và dân cư
Trang 24Chi nhánh có trụ sở chính đặt tại thị trấn Cổ Lễ - huyện Trực Ninh - tỉnh NamĐịnh Với mô hình tổ chức và mạng lưới hoạt động gồm; Trụ sở chính đặt tạitrung tâm huyện, ba Phòng giao dịch đặt tại ba địa điểm cách trung tâm từ 15 đến
20 km đó là: Phòng giao dịch Trực Cát; Phòng giao dịch Chợ Đền; Phòng giaodịch Ninh Cường và nhiều điểm giao dịch khác được đặt lưu động tại các xã, thịtrấn trong toàn huyện
Trải qua 14 năm hoạt động và trưởng thành, Chi nhánh ngân hàng No&PTNThuyện Trực Ninh – Nam Định, đã tự khảng định vị trí là ngành kinh tế mũi nhọn,góp phần quan trọng để phát triển kinh tế tại địa phương
Hiện tại Chi nhánh có 43 cán bộ viên chức, trong đó số cán bộ viên chức có
trình độ đại học là 34 người chiếm 80 % Với phương châm hoạt động là: “Mang
phồn thịnh đến với khách hàng”, Chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Trực
Ninh - Nam Định, không ngừng mở rộng màng lưới đổi mới trang thiết bị, nângcao chất lượng phục vụ, triển khai các chương trình tín dụng trọng điểm; như chovay hộ nông dân theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ,cho vay phát triển kinh tế làng nghề, ngành nghề nông thôn, cho vay chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, cho vay đối với người đi lao động có thời hạn
ở nước ngoài…
Từ việc triển khai thực hiện các chương trình hoạt động của mình.Trongnhững năm qua Chi nhánh đã mang lại nhiều lợi ích vượt lên trên cả sự mong đợicủa khách hàng, vì vậy đã tạo ra sự tín nhiệm của đông đảo khách hàng và côngchúng Đến ngày 31/12/2010 Chi nhánh có tổng nguồn vốn là 464,085 tỷ đồng vàtổng dư nợ cho vay là 331,234 tỷ đồng, với 9.352 khách hàng, thuộc mọi thànhphần kinh tế và dân cư
Trang 252.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của chi nhánh.
Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Ngõn hàng No&PTNT huyện Trực Ninh Nam - Định :
(Nguồn : Chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh – Nam Định)
Ban giám đốc
Phòng tổ
chức hành
chính
Phòng kế toán ngân quỹ
Phòng tín dụng - Kế hoạch
Bộ phận kiểm soát
Phòng giao dịch Chợ Đền
Phòng giao dịch Ninh Cường
Phòng giao dịch Trực Cát
Trang 26Tại chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh có các phòng bansau:
3 Phòng Kiểm tra kiểm soát nội bộ
Và 3 phòng Giao dịch cấp III trực thuộc bao gồm : PGD Trực Cát, PGD NinhCường, PGD Chợ Đền
Trang 27Đại diện Chi nhánh ký kết các hợp đồng với khách hàng, chịu trách nhiệm vềhoạt động kinh doanh của Chi nhánh.
* Các phòng giao dịch: Gồm một trưởng phòng, một phó trưởng phòng kiêm tổ
trưởng tín dụng phụ trách từ hai đến ba cán bộ tín dụng, hai kế toán và kho quỹ
* Phòng tín dụng: Gồm một trưởng phòng và mười tám cán bộ tín dụng được
phân công hoạt động tại trung tâm huyện và các phòng giao dịch
Phòng tín dụng có nhiệm vụ tham gia xây dựng kế hoạch kinh doanh, thiếtlập, thẩm định hồ sơ vay vốn đối với khách hàng, đề xuất trình lãnh đạo duyệtcho vay hay không cho vay, đối với các dự án của khách hàng kiểm soát quátrình sử dụng vốn, đôn đốc thu nợ, xử lý các trường hợp phát sinh trong hoạtđộng tín dụng Đây là bộ phận quan trọng quyết định đầu ra cho Chi nhánh, vàchịu trách nhiệm về các khoản đầu tư đó
* Phòng kế toán - kho quỹ: Gồm một trưởng phòng phụ trách chung, một phó
phòng phụ trách kế toán nội bộ, trực tiếp thực hiện các dịch vụ ngân hàng, mộttrưởng quỹ ; chín kế toán viên, bốn kiểm ngân, được phân công công việc tạitrung tâm huyện và các phòng giao dịch
Phòng kế toán – ngân quỹ thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến hoạt độngthanh toán, thu chi tiền mặt và các dịch vụ ngân hàng theo yêu cầu của kháchhàng Là nơi lưu trữ hồ sơ, số liệu hoạt động của Chi nhánh, bảo quản tiền mặt
và giấy tờ, chứng chỉ có giá , hồ sơ tài sản thế chấp
* Phòng hành chính - tổ chức: Gồm hai cán bộ có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh
đạo trong công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ, đề xuất các vấn đề liên quan đếnnhân sự của Chi nhánh Thực hiện sọan thảo nội quy, quy chế làm việc, an toànlao động, các chế độ khác đối với lao động, tiền lương, khen thưởng, kỷ luật.Ngoài ra còn thực hiện nhiệm vụ mua sắm tài sản, công cụ phục vụ cho hoạtđộng kinh doanh, quản lý tài sản, trang thiết bị, dụng cụ làm việc tại Chi nhánh
Trang 28* Bộ phận kiểm soát: gồm một kiểm soát viên có trách nhiệm kiểm tra, đôn
đốc, nhắc nhở việc hiện đúng các quy định về nghiệp vụ, trong mọi hoạt độngcủa Chi nhánh, kiểm tra tất cả các hồ sơ, sổ sách, chứng từ phát sinh, tiếp nhận,
đề xuất các biện pháp giải quyết mọi thắc mắc, khiếu lại của khách
2.1.3 Thị trường và khách hàng.
2.1.3.1 Thị trường
NHNo&PTNT huyện Trực Ninh là một chi nhánh nhưng ngân hàng hoạtđộng trên toàn bộ huyện, cho phép ngân hàng cấp vốn cho tất cả các ngành nghềkinh tế được Nhà nước cho phép hoạt động
- Khách hàng là hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác Việt Nam
- Khách hàng là cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam
2.2 Thực trạng đảm bảo tiền vay tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Trực Ninh
2.2.1 Đánh giá khái quát tình hình hoạt động chung.
Trong hai năm vừa qua được đánh giá là những năm khỏ khỉ khăn cho ngành ngõn hàng ở Việt Nam: Năm 2010, trong điều kiện kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, nền kinh tế Việt
Trang 29Nam đã sớm bước ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh GDP cả nước năm 2010 tăng 6,78%, cao hơn kế hoạch đề ra là6,5% Tổng kim ngạch xuất khẩu, giá trị sản xuất công nghiệp đều tăng trưởng mạnh mẽ, thu ngân sách vượt kế hoạch, đầu tư phát triển được đẩy mạnh, giải ngân vốn đầu tư phát triển đạt hiệu quả cao Tuy nhiên vẫn còn đó những yếu tố bất lợi như thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra, CPI, lạm phát tăng cao (11,75%), giá vàng tăng mạnh và cao hơn giá vàng thế giới, chênh lệch giữa tỷ giá chính thức
và tỷ giá trên thị trường tự do quá rộng là những bất ổn vĩ mô tác động mạnh đếnđời sống người dân, doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung và của ngành ngânhàng nói riêng trong năm
2.2.2 Tình hình huy động và sử dụng vốn.
2.2.2.1 Tình hình huy động vốn
Công tác huy động vốn là một nhiệm vụ tiên quyết trong hoạt động của ngân hàng Mở rộng hoạt động tín dụng của mình thì ngân hàng cần phải mở rộng hoạt động huy động vốn Vì hoạt động chính của ngân hàng là “đi vay để cho vay” Trong đó huy động tiền gửi là chủ yếu Do đó công tác huy động tiền gửi của mỗi ngân hàng là hoạt động cơ bản để đánh giá hiệu quả của chính sách huy động vốn, cơ cấu huy động vốn của mỗi ngân hàng Bất kỳ ngân hàng nào cũng chú trọng hoạt động này
Trong những năm gần đây thị trường huy động vốn thường xuyên có diễn biến phức tạp, với sự xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức tín dụng, cạnh tranh trong công tác huy động vốn diễn ra quyết liệt Nhờ biết chủ động khai thác nguồn vốn tại chỗ nên vốn huy động của Chi nhánh trong thời gian qua đó tăng trưởng khá ổn định được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 1: Cơ cấu nguồn huy động tiền gửi tại ngân hàng trong giai đoạn 2009 -2011)
Trang 30(Đvt: triệu đồng)
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoán tổng hợp giai đoạn năm 2009 – 2011)
Qua bảng số liệu trên cho thấy tình hình huy động tiền gửi của ngân hàng
trong giai đoạn 2009 - 2011 có diễn biến tích cực Trong năm 2010 nguồn tiền
gửi huy động được tăng 123.948 triệu đồng, với tốc độ 36% so với năm 2009
Trong đó nguồn tiền gửi huy động từ địa phương chiếm tỷ trọng lớn nhất với tỷ
lệ bình quân là 91,18% trong năm 2009 và 87,43% trong năm 2010
Trong cơ cấu nguồn tiền gửi huy động tại địa phương , tiền gửi dân cư là
chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 62,59% trong năm 2009 và 61,14% trong
năm 2010 trong tổng nguồn vốn huy động được Trong năm 2010, nguồn huy
động này tăng 53.674 triệu đồng tương ứng 27,6% so với năm 2009 Đây là
Trang 31nguồn vốn có số dư tương đối ổn định, dễ tăng trưởng để đảm bảo hoạt động cấptín dụng của ngân hàng Yếu tố khách quan có thể lý giải là do ý thức tiết kiệmcủa người dân tăng và cùng với đó trong những năm qua ngân hàng đã khôngngừng nâng cao uy tín đối với khách hàng, đổi mới phong cách dịch vụ với thái
độ ân cần lịch sự, ngoài ra ngân hàng còn đưa ra mức lãi suất hấp dẫn, thời hạnhuy động, phương thức trả lãi phù hợp với tâm lý khách hàng nên số dư tăng ổnđịnh
Ngoài ra, nguồn tiền gửi TCKT cũng góp phần làm tăng nguồn vốn huyđộng lên một cách đáng kể: đây là những khoản tiền gửi dựng để thanh toán, chitrả nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ, vốn tạm thời nhàn rỗi trong quá trình kinhdoanh Các khoản tiền này gửi nhằm mục đích an toàn, hưởng các dịch vụ củangân hàng và tạo mối quan hệ với ngân hàng và chủ yếu là tiền gửi không kỳhạn Cụ thể, trong năm 2010 đạt 39.194 triệu đồng (9,66%), tăng 19.544 triệuđồng tương ứng 99,46% so với năm 2009: đây là một tỷ lệ tăng rất ấn tượngchứng tỏ các doanh nghiệp đã cải thiện được tình hình sau thời kỳ suy thoái kinh
tế và có những tín hiệu tăng trưởng rất tích cực Bên cạnh đó, ngân hàng nhậnloại tiền gửi này còn nhằm mục đích mở rộng quan hệ khách hàng, để mở rộngquan hệ tín dụng với các TCKT
(Bảng2: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại địa phương)
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoán tổng hợp giai đoạn năm 2009 – 2011)
Trang 32Nguồn tiền huy động bằng ngoại tệ cũng được ngân hàng luôn luôn quantâm, xuất phát từ nhu cầu muốn tích trữ ngoại tệ và muốn sinh lời từ số ngoại tệ
đó, ngân hàng đã liên tục đưa ra các chương trình khuyến mại như tiết kiệm dựthưởng, lãi suất linh hoạt cho sản phẩm tiền gửi là ngoại tệ Do đó nguồn vốnhuy động bằng ngoại tệ có xu hướng ổn định và tăng trưởng đều qua các năm :Nếu như ở năm 2009 lượng ngoại tệ huy động (được quy ra VND) là 27.646 triệuđồng thì tới năm 2010 con số này là 29.283 triệu đồng, mức tăng 1.637 triệuđồng tương đương với tỷ lệ tăng 5,92% Điều này phản ánh sự nỗ lực rất lớn củachi nhánh trong công tác huy động vốn cũng như thực hiện nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ về kiểm soát chặt thị trường ngoại hối, chống hiện tượng đô
la hóa,vàng hóa trong nền kinh tế Quản lý chặt chẽ thị trường vàng, ngoại hối,qua đó giảm bớt tình trạng kinh doanh USD trái pháp luật
Bên cạnh đó, thì nguồn tiền gửi khác: bao gồm tiền gửi của các TCTD vàKho bạc cũng tăng trưởng một cách khá ổn định Trong các năm 2010 và 2009lần lượt là 89.171 triệu đồng chiếm 21,48% và 68.913 triệu đồng chiếm tỷ trọng22,18% nguồn vốn huy động tại địa phương Mức tăng trưởng là 20.258 triệuđồng với tỷ lệ tăng 21,29% Đây là loại tiền gửi ổn định và chiếm tỷ trọng khálớn trong nguồn tiền gửi huy động tại địa phương : điều đó phản ánh mức độ tínnhiệm và uy tín của khách hàng đối với ngân hàng ngày càng được nâng cao.Nguồn vốn uỷ thác của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, như dự án ADB,RDF, WB… đến việc nhận vốn điều chuyển từ ngân hàng cấp trên chuyển vềđược chi nhánh luôn quan tâm đặc biệt vì đây là nguồn vốn rẻ và được nhiều ưuđãi,hơn nữa thông qua việc được ủy thác nguồn vốn, ngân hàng còn thu thêm vềcác loại phí dịch vụ nhằm tăng doanh thu cho chi nhánh Nguồn vốn này tăng lênđáng kể và chiếm tỷ trọng bình quân là 8,60% cho năm 2009 và 6,09% ở năm
2010 giảm 1.165 triệu đồng , tương đương với mức giảm 3,98% so với năm
2009 Tỷ lệ này giảm dần ở các năm là do những dự án được tài trợ đã dần hoànthiện và đi vào phục vụ cộng đồng như những dự án về nước sạch, đường giaothông nông thôn, các dự án về y tế
Một điều đặc biệt cần chú ý ở đây là trong năm 2010 thực hiện theo nghị định41/2010/NĐ–CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông
Trang 33nghiệp, nông thôn thay thế QĐ 67 cũ và nguồn vốn theo nghị định 41 chi nhánhđược cấp 30.000 triệu đồng tiền vốn, nhưng tới tháng 11 năm 2011 cũng thựchiện theo nghị định đó chi nhánh được hỗ trợ giải ngân 15.000 triệu đồng, nhiềuhơn 1.000 triệu đồng theo cam kết của chính phủ Cú thể nói đây là một bướctiến quan trọng và kịp thời trong chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn, giúpkhơi thông nguồn vốn để phát triển nông nghiệp tại địa phương đồng thời cũngthể hiện sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên đối với chi nhánh khu vực địa bàn.
Có thể nói, nhìn vào bảng tổng kết của 11 tháng đầu năm 2011 và kế hoạch cảnăm chúng ta nhận thấy kế hoạch của chi nhánh gần như không thể đạt được.Trong chỉ tiêu cơ bản hoạt động của ngân hàng năm 2011, tổng nguồn vốn tăng17% so với năm 2010 ( tăng khoảng 69 tỷ đồng): nói như thế chúng ta hiểu rằngđến cuối năm 2011 mục tiêu tăng nguồn vốn của chi nhánh phải đạt 533.085 triệuđồng, so với mục tiêu đề ra thì chỉ tiêu còn thiếu 155.736 triệu đồng trong khi đótheo kế hoạch chi nhánh chỉ còn 31 ngày của tháng 12 Nguyên nhân của tìnhtrạng này xuất phát từ những biến động theo chu kỳ của nền kinh tế và sự cạnhtranh khốc liệt giữa các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn ngày càng cao dẫn tớinguồn vốn bị chia sẻ và một phần do sự thiếu năng động của chi nhánh trong việctiếp thị nhằm thu hút nguồn vốn.Đây là một áp lực to lớn đối với toàn thể nhânviên và cán bộ của chi nhánh, đòi hỏi sự nỗ lực hết sức của toàn thể cán bộ nhânviên để có thể đạt được mục tiêu đề ra
2.2.2.2 Tình hình cho vay
Nhìn chung trong thời qua tình hình có nhiều khó khăn, ảnh hưởng khôngtốt đến hoạt động ngân hàng Nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của cơ quan địaphương và của ngân hàng cấp trên, ban lãnh đạo cùng với các cán bộ nhân viênngân hàng đã nổ lực phấn đấu nên hoạt động của ngân hàng đã đạt được nhữngkết quả nhất định
Bảng 3: Cơ cấu dư nợ cho vay tại ngân hàng trong giai đoạn 2009 – 2011.
(Đvt: triệu đồng)
Trang 34(Nguồn: Bảng cân đối tài khoán tổng hợp quý giai đoạn năm 209 – 2011)
Từ bảng số liệu trên ta thấy qua các dư nợ qua các năm đều có chiềuhướng tiến triển thuận lợi: Trong năm 2010 dư nợ đạt 331.234 triệu đồng, tăng31.081 triệu đồng với tốc độ 10,36% so với năm 2009, dư nợ đến tháng 11 năm
2011 đạt 331.773 triệu đồng Có thể nói đây là tín hiệu tốt cho thấy dư nợ tíndụng tăng trưởng khá đều và ổn định Để đạt được kết quả đó, chi nhánh đã đẩymạnh công tác tiếp thị: với việc chủ động thành lập các đoàn tiếp thị kiểm tra dư
nợ hộ sản xuất kinh doanh tại 11 xã với 5 mục đích đề ra:
Nắm vững nhu cầu vay thêm, vay mới
Kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay và tài sản thế chấpNgăn chặn tín dụng ngầm, tín dụng đen
Đẩy mạnh, tuyên truyền quảng cáo để củng cố hình ảnh của NHNoPhát triển các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng
Trang 35Đây có thể coi là một “cơ hích” mạnh mẽ: củng cố được mạng lưới thêmmột bước, mở rộng diện hộ, tăng dư nợ, khắc phục khâu yếu nhất của cán bộ tíndụng và chủ động kiểm soát hoàn toàn địa bàn.
Ta biết rằng, cả hai nhân tố cho vay và thu nợ đều ảnh hưởng đến dư nợcủa ngân hàng Việc tăng cường cho vay sẽ làm cho dư nợ tăng, nhưng công tácthu nợ tốt thì dư nợ giảm Cùng với năm 2009 khi ngân hàng đã thực hiện tốt góikích cầu của Chính phủ, đẩy mạnh sản xuất, phát triển đất nước thoát khỏi khủnghoảng, đặc biệt là giai đoạn cuối năm trên cả nước nói chung và trên địa bàn chinhánh nói riêng đã đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư lớn, ngân hàng đã góp phần đáng
kể vào việc đáp ứng nhu cầu đó Bên cạnh đó, công tác thu nợ luôn được ngânhàng quan tâm Dưới sự chỉ đạo đúng đắn của Ban lãnh đạo cùng toàn thể nhânviên đã nhắc nhở, đôn đốc khách hàng vay trả nợ đúng hạn Cho vay và thu nợđều tăng đều dẫn đến dư nợ tăng là điều dễ hiểu Điều này góp phần khẳng địnhđược vị thế của ngân hàng trong hệ thống NHTM đang hoạt động trên địa bànhuyện
Tuy nhiên để đánh giá chất lượng tín dụng cần phải xem xét chỉ tiêu nợxấu Nợ xấu trong năm 2010 với mức tăng 955 triệu đồng tương ứng 180,87% sovới năm 2009, tỷ lệ nợ xấu năm 2010 đạt 0,45% và đến tháng 11 năm 2011 là2.135 triệu đồng tăng 652 triệu đồng so với thời điểm cuối năm 2010.Lý giải chonguyên nhân của tình trạng nợ xấu ngày càng gia tăng có 3 nguyên nhân sau:
Nợ tàu thuyền ( Nợ nhạy cảm và có tiềm ẩn rủi ro cao)là 83/331 tỷ đồng,chiếm 25% tổng dư nợ toàn huyện, nợ quá hạn của khối này là 2 món vớitổng dư nợ là 1.375 triệu đồng, chiếm 93% tổng dư nợ quá hạn của toànchi nhánh: nguyên nhân là do chân hàng vận tải không ổn định hoặckhông có bởi suy giảm kinh tế, hoặc một số chủ phương tiện tuy có thunhập hàng tháng nhưng làm ăn xa nên khó kiểm soát, sử dụng thu nhậpvào việc khác
Nhận thức của một số cán bộ tín dụng về lãi dự thu, nợ thử thách khôngđầy đủ, ý thức trách nhiệm chưa cao: một số tổ vay vốn không đôn đốc
nợ, lãi với cán bộ ngân hàng theo đúng thỏa thuận
Các món nợ quá hạn lâu ngày từ năm 2008 đến nay chưa được xử lý
Trang 36Mặc dù tỷ lệ này tăng không quá lớn so với quy định của NHNN, song về
lâu dài thì đây có thể sẽ là tín hiệu không tốt trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng, đặc biệt khi nền kinh tế có nhiều biến động và vẫn chưa được ổn định Tỷ
lệ nợ xấu tăng nhưng một điều nhận thấy ở đây là số món có nợ xấu giảm đáng
kể : từ 102 món ở năm 2009 giảm xuống còn 17 món ở năm 2010, điều này cho
thấy ngân hàng cơ cấu lại nợ xấu của mình, tích cực thu hồi nợ xâu, đảm bảo an
toàn nguồn vốn cũng như hoạt động tín dụng, đưa về mức hợp lý hơn có thể cũng
như tỷ lệ nợ xấu
Dư nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn, cả hai chỉ tiêu dư nợ ngắn hạn,
trung và dài hạn đều tăng lần lượt là 58,29% và 41,71% so với năm 2009: tỷ
trọng cho vay ngắn hạn có xu hướng tăng và tỷ trọng cho vay trung dài hạn có xu
hướng giảm qua các năm từ 44,40% năm 2009 xuống còn 41,71% vào năm 2010
bởi vì: Xuất phát điểm về dư nợ cho vay trung, dài hạn của chi nhánh những
năm trước còn thấp Năm 2009 chi nhánh đã đầu tư nhiều dự án vay trung dài
hạn của các DN để xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm công cụ, thiết bị, phương
tiện vận tải phục vụ cho sản xuất kinh doanh, đồng thời thực hiện các chính sách
của chính phủ trong đó có chủ trương kích cầu tiêu dùng trong khi các dự án vay
trung, dài hạn này ổn định đi vào khai thác, sử dụng thì nhu cầu vốn vay trung
dài hạn giảm, nhu cầu vốn vay ngắn hạn tăng lên Trong giai đoạn này chi nhánh
đã điều chỉnh cơ cấu dư nợ theo hướng tăng dần tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn
hạn, và giảm dần tỷ trọng cho vay trung dài hạn cho phù hợp cơ cấu nguồn vốn,
đảm bảo tốt khả năng thanh khoản
Trong cơ cấu dư nợ tại chi nhánh, chúng ta đặc biệt quan tâm tới dư nợ
cho vay theo hình thức hỗ trợ lãi suất và dư nợ cho vay theo nghị định
41/2010/NĐ-CP được triển khai trên địa bàn, cụ thể:
(Bảng4:Cơ cấu dư nợ theo nhóm cho vay hỗ trợ lãi suất và nhóm cho vay theo
nghị định 41/2010/NĐ-CP)
Trang 371.Dư nợ cho vay hỗ trợ ls 19.904 14.030 (5.874) (29,51)
(Nguồn : Chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh – Nam Định)
Theo bảng số liệu trên cho thấy trong 2 năm mà khởi điểm là năm 2009khi thủ tướng Chính phủ cú quyết định số 443/QĐ-TTg ngày 4/4/2009, trong đóChính phủ hỗ trợ lãi suất cho khách hàng vay để sản xuất - kinh doanh, nhằmgiảm giá thành sản phẩm hàng hoá, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm,trong điều kiện nền kinh tế bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế thế giới Năm 2009 chi nhánh đã giải quyết hỗ trợ cho khách hàng số dư
nợ cho vay là 19.904 triệu đồng cao hơn năm 2010 với số dư nợ chỉ đạt 14.030giảm 5.874 triệu đồng, mức giảm 29,51% so với năm 2009 Nguyên nhân là dosau khủng hoảng các doanh nghiệp đã dần khôi phục và đi vào hoạt động ổn địnhnên đối tượng được hỗ trợ cũng giảm dần.Theo thống kê của chi nhánh số lãi đã
hỗ trợ trong năm 2009 là 1.196 triệu đồng và 2.542 triệu đồng trong năm 2010,tăng 625 triệu đồng với tỷ lệ tăng 32,87 % Đến tháng 11 năm 2011 thì con sốnày là 2.831 triệu đồng.Nguyên nhân là do số dư nợ của năm 2009 còn tồn lạicộng với số dư nợ phát sinh mơi trong năm 2010 khiến khoản tiền lãi hỗ trợ lãisuất tăng lên
Bảng 5: Dư nợ phân theo khách hàng Đơn vị : Triệu đồng
Trang 381.Dư nợ hộ nông dân 170.54
(Nguồn : Chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh – Nam Định)
Bảng số liệu trên cho thấy dư nợ cho vay của Chi nhánh qua các năm chủ yếutập trung cho vay các hộ nông dân, chiếm tỷ trọng bình quân hai năm từ là55,285% tổng dư nợ Dư nợ cho vay DNNVV còn thấp, chiếm tỷ trọng bình quân
37,555%, cho vay các đối tượng khác như cho vay cán bộ nhân viên, cho vaycầm cố tỷ trọng bình quân 7,16% tổng dư nợ
(Biểu đồ dư nợ phân theo nhóm khách hàng)
(Nguồn : Chi nhánh ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh – Nam Định)
Trang 392.2.3 Đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh
Hiện nay trên địa bàn ngày càng phát triển, xuất hiện nhiều ngân hàng
thương mại cổ phần, các quỹ tín dụng nhân dân: trong đó có một số tổ chức tỏ ra
ưu thế hơn về loại hình dịch vụ đa dạng, đội ngũ nhân viên trẻ năng động, sáng
tạo Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến thị phần kinh doanh của chi nhánh
NHNo&PTNT huyện Trực Ninh Nhưng với sự nổ lực của toàn bộ nhân viên
ngân hàng, từ ban lãnh đạo cấp cao đến nhân viên cấp dưới của chi nhánh đã đưa
ngân hàng kinh doanh có hiệu quả trong những năm vừa qua
Bảng 6: Tình hình về kết quả kinh doanh tại ngân hàng trong 2 năm 2009 – 2010
Trang 40Chi phí nhân viên 2.348 2.756 408 17,37 3.286
( Nguồn: Trích từ BC kết quả hoạt động kinh doanh năm giai đoạn 2009 - 2011)
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng thu nhập năm 2010 tăng hơn gấp đôi tức là115% so với năm 2009 tương ứng là 1.054 triệu đồng Đây thực sự là con số ấn
tượng đối với chi nhánh, phản ánh sự nỗ lực của toàn thể chi nhánh trong côngtác hoạt động, khẳng định sự bứt phá mạnh mẽ khi thoát ra khỏi tình hình khủnghoảng kinh tế
Nền kinh tế nước ta đang dần hồi phục Song nếu xét trên gốc độ toàn hệthống nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng thì đây là kết quảhợp lý Bởi vì:
- Thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm chủ yếu trong tổng thu nhập, tỷ lệnày luôn > 80% thu nhập của chi nhánh: Chiếm 78%,82% và 87% trong tổng thunhập năm các năm 2009/2010 và 11 tháng năm 2011 Trong năm 2010 thu nhập
từ hoạt động tín dụng (thu từ lãi) tăng 20,01% so với năm 2009 tương ứng là8.933 triệu đồng Có thể nói nguồn thu từ lãi cho vay vẫn là nguồn thu chủ yếutrong hoạt động của chi nhánh nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nóichung Đây vẫn là “quả trứng vàng” cho các ngân hàng khai thác
- Trong năm 2010, thu từ ngoài tín dụng là giảm với 21,66% tương ứng
1412 triệu đồng so với năm 2009 Tuy vậy, thu từ hoạt động ngoài chiếm tíndụng vẫn chiểm tỷ trọng nhỏ, cụ thể là năm 2009 chiếm 1,93%; năm 2010 là 2%.Ngân hàng đã mở rộng các khoản thu ngoài tín dụng như dịch vụ thanh toán,kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ khác đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàngngày càng cao và đã thực hiện đựơc mục tiêu của ngân hàng