1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biên pháp giúp học sinh trường Vạn Thành 2 viết đúng chính tả

20 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 166 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề nêu trên nên trong quá trình giáo dục trẻ chúng ta cần hết sức xem trọng việc giảng dạy và càng xem trọng việc phụ đạo học sinh yếu, nhất là

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lí do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, mỗi một dân tộc, một quốc gia đều có một ngôn ngữ riêng, một tiếng nói riêng Tiếng Việt là ngôn ngữ được thống nhất trên toàn đất nước ta Để giữ gìn và phát triển vốn chữ viết của tiếng việt thì nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ cả một quốc gia trong một giai đoạn xã hội – lịch sử nhất định, là nơi thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo ở mỗi cấp học, bậc học Trong đó dạy chính tả ở tiểu học là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn tiếng việt trong nhà trường Thông qua việc học chính tả mà các em nắm được quy tắc chính tả và hình thành những kỹ năng, kỹ sảo về chính tả Từ đó, mà nâng cao dần tình cảm quý trọng tiếng mẹ đẻ và nền văn học dân tộc Nhưng không ít người trong chúng ta lại hay nói, phát âm một cách không chính xác từng tiếng, từng từ trong tiếng Việt Đặc biệt là học sinh lớp 1- lớp học đầu tiên của bậc tiểu học Khả năng tư duy của các em còn rất hạn chế, còn mang nặng tính trực quan Trong suốt quá trình học từ tuần 1 đến tuần 24 học sinh mới được học vần ( môn Tiếng Việt) Học sinh đọc, viết vần, từ theo cỡ chữ vừa Sang tuần 25, học sinh được học Tiếng Việt với nội dung tổng hợp trong đó có phân môn chính tả Ở đây, yêu cầu từ sự hiểu biết, từ thói quen có được trong phần học vần, trong các môn học khác, học sinh phải vận dụng, phải chuyển từ viết chữ cỡ vừa sang cỡ chữ nhỏ để chép và viết chính tả Đó là một sự khó khăn đối với học sinh lớp 1 Các em còn lúng túng trong khi viết, khi trình bày bài, chữ viết không đều, không đúng cỡ và mắc nhiều lỗi chính tả, chất lượng chữ viết chưa thực sự cao, đây là một vấn đề thật khó

Vậy, làm như thế nào để nâng cao chất lượng phân môn chính tả cho học sinh lớp

một? Đó cũng chính là lí do khiến tôi chọn đề tài này: “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1B trường Tiểu học Vạn Thạnh 2 viết đúng chính tả”.

2 Mục đích nghiên cứu

Bậc Tiểu học là tiền đề cơ bản để đào tạo và dạy dỗ các thiếu nhi Việt Nam trở thành người có ích, người công dân tốt của xã hội

Nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề nêu trên nên trong quá trình giáo dục trẻ chúng ta cần hết sức xem trọng việc giảng dạy và càng xem trọng việc phụ đạo học sinh yếu, nhất là học sinh viết chính tả còn yếu để nâng cao chất lượng một cách toàn diện Song công tác phụ đạo học sinh nhằm giúp học sinh viết đúng chính tả vẫn chưa đạt đến chuẩn mực cao nhất do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan

Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc phụ đạo học sinh giúp học sinh viết đúng chính tả 1 (vì lớp 1 là lớp nền tảng để các em học tốt các lớp và các cấp bậc tiếp theo) tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm đã tích lũy được qua quá trình phụ đạo học sinh

3 Cơ sở nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu

Trang 2

a Phạm vi và thời gian của đề tài: Đề tài này được áp dụng trong tất cả các giờ

học Tiếng Việt ở lớp 1

b Cơ sở nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc rèn viết chính tả

cho học sinh lớp 1

c Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về việc rèn viết chính tả cho học sinh lớp 1.

d Các phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp điều tra

+ Phương pháp phân tích – tổng hợp

+ Phương pháp luyện tập thực hành

+ Phương pháp so sánh, đối chiếu

+ Phương pháp thực nghiệm khoa học giáo dục

+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận

Môn Tiếng Việt ở phổ thông vừa là bộ môn khoa học, vừa là phương tiện để nắm chắc kiến thức khác, là công cụ để giao tiếp và tư duy, để giáo dục tình cảm đạo đức cho các em học sinh Ở bậc tiểu học, môn tiếng việt nhằm trang bị cho các em công cụ giao tiếp, rèn luyện cho các em những kỹ xảo sử dụng tiếng Việt trong các hoạt động: nghe-nói - đọc - viết

Chữ viết là một hệ thống ký hiệu bằng đồ hình có chức năng cố định hoá ngôn ngữ

âm thanh, thay cho lời nói – chữ viết là phương tiện giao tiếp quan trọng trong cuộc sống của chúng ta nói chung và trong học tập nói riêng Nét chữ là biểu hiện của nết người, là phản ánh ý thức rèn luyện tư duy vào óc thẩm mĩ của người viết Chữ viết có vai trò rất quan trọng đối với con người Chữ viết là một sự biểu hiện của nết người, dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện các tính cận thận, tính kỷ luật

và lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thầy đọc bài, đọc vở của mình Vì vậy chữ viết cần phải đúng, đẹp Chữ viết sai chính tả hiệu quả giao tiếp sẽ giảm, gây hiểu lầm trong giao tiếp và hậu quả khó lường trước được

Sách giáo khoa tiếng Việt đã xây dựng hệ thống các bài học với một cấu trúc chặt chẽ, vừa đảm bảo tính đồng tâm, vừa đảm bảo tính phát triển Sau khi học xong phần âm

- vần, mục tiêu đề ra là học sinh đọc thông, viết thạo các âm, vần, tiếng, từ, câu Nhưng trong thực tế các em rất bỡ ngỡ khi học phân môn chính tả vào học kì 2 Vì trong một tiết dạy phần âm – vần theo cấu tạo của sách giáo khoa thì các em được đọc, viết âm, vần, tiếng, từ, câu nhưng chưa rèn về kĩ năng nghe – viết về các âm, vần, tiếng, từ này Vì viết

Trang 3

đúng chính tả không chỉ là những hành động cơ bắp như sự phối hợp thuần thục của các ngón tay, bàn tay, cổ tay, cánh tay mà còn là thao tác tư duy trí óc của người viết

Kĩ năng nói và viết là tiền đề cho khả năng giao tiếp của mỗi người Đối với học sinh lớp 1 đây là nền móng đầu tiên và vững chắc để các em tiếp thu những kiến thức mới Học chính tả lớp 1 giúp học sinh hình thành những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo chính

tả cơ bản, năng lực và thói quen viết đúng chính tả, giúp học sinh tự tin, chủ động hơn trong giờ học chính tả sau này

Trẻ em đến tuổi đi học, thường bắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ Trẻ biết chữ mới có phương tiện để học tiếng Việt và các môn học khác Chính vì vậy học sinh phải được học chính tả

2 Thực trạng

a Thuận lợi – khó khăn

Qua thực tế giảng dạy lớp 1, qua tìm hiểu học sinh tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:

Thuận lợi:

- Về phía học sinh

+ Đa số học sinh biết cố gắng vươn lên trong học tập để học giỏi như bạn mình.

+ Các em biết học hỏi, trao dồi kiến thức cùng các bạn trong lớp, trong tổ và bạn ngồi cạnh bên để học tốt hơn

+ Các em khá giỏi vui vẻ, đoàn kết giúp đỡ bạn mình học giỏi hơn

+ Nhìn chung các em viết chính tả đảm bảo tốc độ, viết chữ theo qui định

+ Có nhiều học sinh viết bài sạch sẽ, trình bày đẹp

+ Chăm học, biết vâng lời thầy cô giáo

+ Nhiều học sinh có ý thức tự rèn chữ viết, rèn viết chính tả ở nhà

- Về phía giáo viên

+ Giáo viên nhìn chung có chuyên môn vững vàng, có lòng yêu nghề mến trẻ, say sưa với sự nghiệp trồng người Giáo viên cùng học sinh luôn luôn coi trọng công tác vở sạch – chữ đẹp

- Về phía gia đình và nhà trường

Trang 4

+ Đa số PHHS đều quan tâm đến việc học tập của các em Đầu năm học, phụ huynh đã mua đầy đủ đồ dùng sách vở, đồ dùng học tập cho em Nhiều phụ huynh đã dành thời gian để kèm cặp thêm cho các em học tập ở nhà

+ Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, bảo đảm cho việc dạy – học của giáo viên và học sinh như phòng học, ánh sáng, bàn ghế, đồ dùng cho môn học…

Khó khăn:

- Về phía học sinh

+ Một số em phát âm chưa sau: l- n, ch - tr, s - x… nên khi viết chính tả hay mắc lỗi

+ Một số học sinh chưa nắm chắc qui tắc chính tả: ng-ngh, g-gh, c-k nên khi gặp bài chính tả nghe-viết, học sinh dễ viết sai

+ Chưa nắm chắc về âm – vần nên khi phân tích để viết một số tiếng khó còn lúng túng, không phân tích được

+ Các em nghe hiểu còn hạn chế Còn nhiều em không nắm được nghĩa các từ + Một số học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút chưa đúng

+ Tiếp thu bài chậm; hổng hóc kiến thức ở những ngày nghỉ học

+ Đôi lúc học sinh còn viết ngoáy, ý thức chưa cao, chưa tự giác rèn chữ viết

+ Các em đa phần là con nông dân, tuy điều kiện vật chất đầy đủ nhưng điều kiện đảm bảo giao tiếp ở nhà còn hạn chế, khi các em nói sai, nói ngọng thì bố mẹ, anh em … chưa sửa cho các em Đến trường giáo viên chú ý đến sửa lỗi cho học sinh nhưng trong giờ ra chơi các em vui đùa, nói chuyện, khi nói ngọng, nói sai, các em không tự sửa cho nhau chưa ý thức tự sửa cho mình

- Về phía giáo viên

+ Giáo viên luôn quan tâm đến phong trào vở sạch - chữ đẹp, chấm chữa bài cho học sinh thường xuyên Song khi chấm bài cho học sinh, hoc sinh viết sai lỗi chính tả, thì giáo viên thường chỉ gạch chân, ít sửa sai cho các em Giáo viên mới chú trọng đến chữ viết đúng nên khi học sinh viết sai chữ thì giáo viên gạch chân lỗi sai, còn khi học sinh viết sai nét, giáo viên đều bỏ qua Vì vậy, khi giáo viên nhận xét, đánh giá bài viết của các em, các em không biết phải sửa thế nào cho đúng, cho đẹp

+ Bản thân một số giáo viên còn phát âm chưa chuẩn

+ Trong các giờ học chính tả, giáo viên chưa thực sự tổ chức tiết học sôi nổi, chưa

có sự đổi mới phương pháp – hình thức dạy học thực sự mà còn mang tính hình thức

Trang 5

+ Giáo viên chưa phát động các cuộc thi vui học ngoài phong trào vở sạch - chữ đẹp để phát triển tối đa khả năng viết chính tả của học sinh

b Tình hình qua khảo sát điều tra

Vào đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát nhỏ trong lớp 1/ 3 Trường Tiểu học Vạn Thanh 2 với nội dung sau:

+ Tìm hiểu số học sinh học mẫu giáo và số học sinh không học mẫu giáo hoặc học không đều và tìm hiểu lý do học sinh không học mẫu giáo

+ Kiểm tra sự nắm bắt, nhận diện chữ cái đã học ở trường mầm non

Kết quả thu được như sau:

+ 100% HS đã học qua lớp mẫu giáo

+ Kết quả khảo sát nhận diện chữ cái đã học ở trường mầm non

Lớp 1/3

sĩ số

Học sinh không biết chữ cái nào

Học sinh biết từ 10-15 chữ

Học sinh nhận biết hết

Như vậy tỉ lệ học sinh nhận diện chữ cái một cách chắc chắn chính xác bảng chữ cái chưa cao dẫn đến kết quả học tập chưa cao

Một trong những lí do dẫn đến kết quả học tập chưa cao là các em chưa có ý thức học tập, còn ham chơi, tiếp thu bài chậm, một số PHHS chưa quan tâm nhiều đến việc học của các em Vì vậy là giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm chúng ta phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng học sinh để học sinh phát huy hết những mặt tích cực và rèn luyện những mặt chưa tốt để học sinh hoàn thiện tốt mục đích học tập của mình Chúng ta còn phải tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn cảm thấy nhẹ nhàng, thích thú trong học tập chứ không là cảm thấy như bị áp lực và trở nên chán nản không thích học Không những thế giáo viên cũng phải gần gũi, thương yêu, an ủi và kịp thời động viên để các em thích học và tích cực hơn trong học tập

3 Biện pháp thực hiện

a Giúp học sinh hiểu nghĩa từ – ghi nhớ từ

Trang 6

Là giáo viên giảng dạy lớp 1, tôi luôn chú trọng yếu tố này Ngay từ các bài học vần, tôi luôn giải nghĩa từ khoá từ áp dụng trong các bài học vần qua tranh ảnh mô hình, lời giải thích giúp học sinh hiểu nghĩa từ, hiểu câu, đồng thời tôi đưa từ, câu văn vào văn cảnh cụ thể để học sinh dễ dàng hiểu từ, hiểu câu và hiểu sâu hơn ( Phần luyện nói, đoạn ứng dụng ), từ đó có cách đọc đúng, viết đúng

Bài viết chính tả phần lớn là viết lại một phần nội dung bài tập đọc đã học Vì vậy,

để học sinh viết tốt các bài chính tả thì ngay các tiết học tập đọc, giáo viên cần cho học sinh hiểu nghĩa từ trong bài đọc, hiểu câu, hiểu nội dung cơ bản của bài đọc Trước khi viết bài chính tả, giáo viên gợi ý, hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài viết như vậy, khi viết chính tả, học sinh bắt đầu đã có vốn từ, nắm được nội dung bài, học sinh sẽ tự đọc – phân tích – viết đúng, đặc biệt là những tiếng, từ viết khó, hạn chế sự mắc lỗi

b Dạy học sinh viết – trình bày bài chính tả

Từ tuần 25 học sinh lớp 1 bắt đầu viết chính tả Giai đoạn này học sinh vừa luyện chữ cỡ vừa và bắt đầu học phân môn chính tả Như vậy, học sinh lớp 1 không có một tiết học riêng nào và cũng chưa có lần nào để làm quen với cách viết các chữ theo cỡ chữ nhỏ trước khi các em viết bài chính tả Do đó học sinh thường lúng túng khi viết chính tả như: + Không biết cách trình bày bài viết Chưa nắm được độ cao từng con chữ

Vậy, chúng ta cần phải làm gì giúp các em khỏi bị lúng túng khi viết chính tả, đặc biệt ở những bài đầu ở của phân môn chính tả ?

Với học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em “nói đấy”, “nghe đấy” rồi cũng “ quên ngay đấy” Nếu như các em không được làm quen, được nhắc nhở thường xuyên thì các em sẽ không biết làm, nếu có làm thì dễ bị sai, bị nhầm lẫn và không tránh khỏi lúng túng Với lớp tôi, tôi đã thực hiện như sau:

* Giới thiệu chữ viết thường cỡ nhỏ:

+ Sau khi học sinh đã được làm quen, thực hành viết các chữ cái, học sinh đã nắm được cấu tạo con chữ, độ cao, độ rộng của từng con chữ cũng như kĩ thuật viết từng con chữ cỡ vừa Khi chuyển sang phần vần, từ tuần 15, trong những giờ luyện tiếng Việt, giáo viên nên “giới thiệu” với học sinh các con chữ trong vần hôm đó ôn luyện theo cỡ chữ nhỏ theo hình thức “đưa chữ mẫu viết theo cỡ chữ nhỏ để giới thiệu” với mục đích chủ yếu để học sinh có sự nhận biết ban đầu về độ cao, độ rộng của từng con chữ theo cỡ chữ nhỏ VD : Luyện đọc bài 69: ăt- ât ( tiếng việt 1-tập 1 ) Trong bài này tôi giới thiệu

cho học sinh con chữ “ă â”, viết theo cỡ chữ nhỏ có độ cao 1 đơn vị, con chữ “t” cao 1,5

đơn vị Trong một số tiết luyện tiếng việt sau, khi có vần chứa các con chữ đó theo cỡ chữ nhỏ thì học sinh sẽ biết ngay Làm như vậy, học sinh vừa nắm chắc cấu tạo vần, vừa được làm quen với chữ viết thường cỡ nhỏ trong vần đó

+ Lưu ý : Giáo viên thực hành phần này cần lưu ý giúp học sinh phân biệt rõ chữ thường cỡ vừa với chữ thường cỡ nhỏ để tránh nhầm lẫn khi viết bài học vần

Trang 7

Để thực hiện tốt việc này đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo trong cách giới thiệu và điều quan trọng hơn giáo viên phải nắm chắc mẫu chữ viết thường và viết hoa Mẫu chữ viết thường và chữ hoa (theo cỡ chữ nhỏ):

+ Nếu kể chiều cao của con chữ thấp nhất không kể các dấu phụ trên các con chữ ấy (các chữ a, ă, â, c, e, ê…) là đơn vị chiều cao của chữ và lấy dòng kẻ dưới cùng của khuông kẻ vở làm dòng chuẩn thì các chữ viết thường có các độ cao là vị trí trên khuông

kẻ như sau:

- 1 đơn vị : a, ă, â, c, e, ê, m, o, ơ, u, ư, v, x

- 1,25 đơn vị : r, s

- 1,5 đơn vị : t

(các chữ 1 đơn vị 1,25 đơn vị và 1,5 đơn vị trên đều viết trên dòng chuẩn )

- 2 đơn vị: d, đ (với 2 đơn vị trên dòng chuẩn)

- p, q (với 1 đơn vị trên và 1 đơn vị dưới dòng chuẩn)

- 2,5 đơn vị : b, h, k, l ( với 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn)

- g, y (với 1 đơn vị trên và 1,5 đơn vị dưới dòng chuẩn)

+ Các chữ hoa đều có độ cao 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn trừ g và y có độ cao 4 đơn

vị, với 2,5 đơn vị ở trên và 1,5 đơn vị ở dưới dòng chuẩn

Như vậy, qua các bước giới thiệu đó, phần nào học sinh đã biết về cỡ chữ nhỏ để rồi khi chuyển sang viết chính tả học sinh không còn bỡ ngỡ, lúng túng về độ cao các con chữ cũng như kỹ thuật viết

* Tập chép và viết chính tả:

Khi chúng ta làm tốt việc giới thiệu chữ viết thường cỡ nhỏ kết hợp với sự bao quát, sự chỉ bảo nhiệt tình của giáo viên trong giờ chính tả, nhìn chung học sinh viết chính tả sẽ không bị lúng túng về cách viết chữ Nhưng cũng không thể tránh khỏi một số trường hợp học sinh viết không đúng cỡ chữ, chữ chưa đều, chưa đẹp Với những trường hợp này giáo viên cần phải hướng dẫn tỉ mỉ để các em viết đúng mẫu, có biện pháp để giúp các em khắc phục nhược điểm Với những học sinh yếu, tôi áp dụng việc viết mẫu trong một số bài chính tả của những tuần đầu Ở mỗi bài chính tả tôi viết mẫu cho các em một câu văn hoặc một dòng thơ Viết thật ngay ngắn và đẹp cho các em quan sát Đặc điểm của học sinh tiểu học là rất hay bắt chước và bắt chước cũng rất nhanh, hơn nữa ở lớp 1 các bài chính tả hầu như là tập chép nên tăng cường việc tri giác chữ viết bằng thị giác cho học sinh thì việc viết mẫu của giáo viên không những giúp cho các em viết đẹp

mà còn giảm đáng kể tình trạng mắc lỗi

Trang 8

Để làm tốt việc này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có ý thức luyện chữ và không phải chỉ ở giờ chính tả, tập viết mà tất cả các giờ học khác đòi hỏi chữ viết trên bảng của giáo viên thật sự mẫu mực

* Hướng dẫn trình bày bài chính tả

Việc trình bày bài chính tả của học sinh ở những bài đầu khó khăn

Học sinh không biết cách trình bày như thế nào cho đúng chứ chưa nói gì trình bày cho đẹp, từ cách ghi tên bài viết rồi đến trình bày nội dung bài viết

Chúng ta đã biết, học sinh tiểu học, đặc biệt là đối với học sinh lớp 1 các em luôn luôn bắt chước và thậm chí bắt chước một cách máy móc do các em không hiểu bản chất của vấn đề, ví dụ về hiện tượng học sinh mắc lỗi cách trình bày xuống dòng như tôi đã trình bày ở phần thực trạng Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng này? Ở đây tôi xin được trình bày cách làm mà tôi đã thực hiện và thấy có hiệu quả như sau :

Cách 1: Đưa ra quy định chung cho học sinh của lớp mình

+ Cách ghi thứ - ngày - tháng

+ Cách ghi tên phân môn

+ Cách ghi tên bài

Đối với những học sinh yếu, tôi sẽ chỉ và hướng dẫn các em ở một số bài đầu tiên

về cách viết, viết cách lề khoảng mấy ô Sau đó yêu cầu học sinh tự ước lượng, tự thực hành

Cách 2: Cách trình bày đoạn văn, đoạn thơ:

Nếu cứ để đến khi viết chính tả giáo viên hướng dẫn học sinh cách trình bày một đoạn văn hay một khổ thơ, bài thơ thì thật là khó khăn trong một tiết học mà hiệu quả lại không cao, chắc chắn sẽ có nhiều em trình bày sai, đặc biệt là viết đoạn văn hay khổ thơ lục bát

Vì vậy, trong các bài học vần, khi đưa ra đoạn văn, đoạn thơ ( khổ thơ ) ứng dụng tôi luôn chú ý cách trình bày đoạn ứng dụng đó trên bảng phụ hoặc bảng lớp giới thiệu cho học sinh hiểu cách trình bày từng bài đó

Cụ thể :

* Thơ:

VD1 : Dạy bài 84: op-ap ( TV1 – Tập 2 )

Đoạn thơ ứng dụng :

Trang 9

Lá thu kêu xào xạc Con nai vang ngơ ngác Đạp trên lá vang khô

Ở đây, giáo viên giúp học sinh hiểu:

+ Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải viết hoa con chữ đầu tiên (chữ viết), in hoa con chữ đầu tiên (chữ in)

+ Chữ đầu các dòng thơ phải thẳng đều nhau

+ Cuối đoạn thơ phải có dấu chấm

VD2 : Dạy bài 88: ip – up ( TV1- Tập 2 )

Đoạn thơ ứng dụng:

Tiếng dừa làm dịu nắng trưa Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo Trời trong đầy tiếng rì rào Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra

Ở đây, giáo viên cũng phải giúp học sinh hiểu:

+ Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải được viết hoa con chữ đầu tiên

+ Cuối đoạn thơ có dấu chấm

Hơn nữa, ở đây giáo viên còn phải giúp học sinh nhận thấy số chữ ở từng dòng thơ

và cách trình bày khác với bài trước

Dòng 6 chữ phải lùi vào so với lề vở Dòng 8 chữ phải lùi ra khoảng 1 ô so với dòng 6

Đoạn văn:

Giáo viên phải giúp học sinh thấy được: chữ đầu đoạn văn, chữ đầu câu phải viết

hoa con chữ đầu tiên Cuối câu có sử dụng dấu câu “.” Như vậy, ngay từ các bài học vần

giáo viên giới thiệu cho học sinh, cách trình bày cách viết hoa (viết hoa tên riêng …) cách ghi dấu chấm, cách ghi dấu phẩy hay cả cách ghi dấu chấm hỏi có trong bài

Trước khi học sinh chép bài chính tả, tôi đưa ra bảng phụ này để học sinh nhận xét, rút ra cái sai, từ đó giúp học sinh không mắc phải cái sai

Trang 10

Trước khi học sinh chép bài chính tả, tôi đưa ra bảng phụ này để học sinh nhận xét, rút ra cái sai, từ đó giúp học sinh không mắc phải cái sai đó cách sử dụng bảng phụ này tôi thực hiện khi dạy chính tả ở bài đầu kiểu trình bày đoạn văn, bài thơ hay khổ thơ

c Dạy theo nhóm đối tượng học sinh, kết hợp sử dụng một số “mẹo luật” chính tả

Là giáo viên Tiểu học vừa làm công tác chủ nhiệm, vừa trực tiếp giảng dạy nên hiểu rất rõ về học sinh cũng như chất lượng chữ viết của học sinh lớp mình Để khắc phục những nhược điểm phát huy được mặt mạnh giáo viên phải biết phân loại học sinh thành các nhóm theo các lỗi sai cơ bản học sinh hay mắc để trong các giờ học, đặc biệt là giờ luyện Tiếng Việt, giáo viên thấy học sinh lớp mình yếu về mặt nào thì chủ động rèn cho học sinh về mặt đó Giáo viên phải phân loại một cách rõ ràng: Em nào sai cách trình bày; Em nào sai khi đọc và viết l - n, r – gi – d, ch – tr; sai các nét; sai cách viết dấu thanh… thì phân biệt riêng để có những bài tập phù hợp Đối với môn chính tả, nhược điểm chính của học sinh lớp 1 là viết sai các lỗi thông thường như: g - gh, s-x, ch-tr, ng-ngh, qu-v…, sai khoảng cách các con chữ, nét chữ chưa chuẩn, sai cách ghi dấu thanh…

vì vậy giáo viên cần lưu ý:

+ Ngay từ những bài học vần đầu tiên cho đến khi học sinh viết chính tả, giáo viên cần luôn luôn chú ý đến từng nét chữ của học sinh Giáo viên viết mẫu hướng dẫn học sinh, chữ viết của giáo viên rõ ràng chính xác thế nhưng không phải em nào cũng viết được đúng, được đẹp như giáo viên hướng dẫn có em viết đúng chữ nhưng sai nét như: Nét chữ không bám dòng kẻ, nét chữ viết nghiêng không đều, sai độ rộng… giáo viên phải sửa từng nét chữ cho học sinh, dùng phấn, bút khác màu mực (màu đỏ) sửa cho các

em, giúp các em có ý thức tự sửa sai trong các lần viết sau Đối với học sinh khá, giỏi, giáo viên có thể cho học sinh tự nhận xét, sửa sai hoặc sửa sai khi giáo viên chỉ rõ cái sai

đó Điều này giáo viên phải chú ý sửa sai cho các em từ các bài tập viết phần học vần (gạch chân – sửa những nét học sinh hay mắc lỗi) trước khi viết bài mới giáo viên cho học sinh viết lại những lỗi viết sai chính tả của mình, giúp các em không bị mắc sai trong các lần sau Khi viết chính tả giáo viên có những nhận xét chung hoặc góp ý trực tiếp với học sinh để học sinh thấy được những lỗi chính tả của mình cũng như cách sửa

+ Trong những bài đầu viết chính tả, còn nhiều học sinh hay mắc lỗi trình bày Với những trường hợp này, trong giờ luyện Tiếng Việt, giáo viên cho học sinh viết một bài chính tả và giáo viên chú ý hướng dẫn cách trình bày

+ Với những học sinh hay mắc lỗi đọc – viết sai:gi-d, s-x … muốn sửa lỗi đọc- viết sai gi- d, s-x, qu – v, …, giáo viên cần cho học sinh phát âm nhiều lần rồi phân tích trước khi viết

VD: Bài tập chép “Trường em”.

Khi hướng dẫn học sinh viết : “Trường ” tôi cho học sinh đọc ( phát âm ) đúng.

Sau đó yêu cầu học sinh phân tích : trường = Tr + ương + ( ` ) Cuối cùng mới yêu cầu học sinh viết : Trường Với cách làm như vậy học sinh sẽ không bị viết sai thành

“chường” hay nhầm lẫn với chữ khác.

Ngày đăng: 16/08/2014, 15:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w