a.Cổ phiếu Là một loại chứng từ dưới hình thức giấy tờ hay ghi trên hệ thống điện tử do các công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có cổ phiếu đối với tài sả
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU Một sự kiện kinh tế nổi bật mang nhiều ý nghĩa chính trị, xã hội diễn
ra trên đất nước ta sau hơn 10 năm đổi mới đó là việc vào tháng 7 năm 2000 bắt đầu sự vận hành của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, với việc khai trương hoạt động của trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) tại
Bên cạnh những dự báo đầy lạc quan, tự tin, đâu đó vẫn còn những ưu
tư, suy đoán ngược lại về những thành bại của TTCK non trẻ Việt Nam Tôi nghĩ rằng cả hai xu hướng trên đều có cơ sở Thương trường mở cửa cũng day nghiệt ngã cam go như chiến trường Trong khuôn khổ bài viết này tôi
không có nhiều tham vọng trong công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động
để mọi tầng lớp nhân dân yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, hưởng ứng dành
dụm tiền tiết kiệm để đầu tư mua chứng khoán (CK) làm chuyển động cỗ máy CK Việt Nam đi lên, ổn định và phát triển Song cũng chỉ muốn cho độc giả và những người quan tâm đến CK Việt Nam hiểu thêm đôi nét về tổng
quan thị trường chứng khoán cũng như tình hình thực tế CK của Việt Nam trong 2 năm qua
1.Tổng quan thi trường chứng khoán
1.Chứng khoán - hàng hoá của thi trường
Chứng khoán là bằng chứng (dưới hình thức giấy tờ hay chi trên hệ
thống điện tử) xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ hợp pháp có thể
Trang 2chuyển nhượng của người sở hữu chứng khoán đối với vốn tài sản và các lợi ích khác của người phát hành
Chứng khoán được chia làm hai loại chính: cổ phiếu và trái phiếu Với
sự phát triển ngày càng cao của công nghệ chứng khoán và hình thức phát
hành, ngày nay khái niệm về chứng khoán đã có sự thay đổi, nó không chỉ là
một chứng từ hiện vật dưới hình thức giấy tờ mà còn có thể được thể hiện
trên hệ thống điện tử
a.Cổ phiếu
Là một loại chứng từ (dưới hình thức giấy tờ hay ghi trên hệ thống điện tử) do các công ty cổ phần phát hành xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có cổ phiếu đối với tài sản của người phát hành
bTrái phiếu
Là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ (gốc và lãi) của tría chủ đối với người phát hành (nó có thể dưới hình thức giấy tờ hay ghi trên hệ thống điện tử) do các công ty, tổ chức hay chính phủ trung ương, địa phương phát hành
c.So sánh cổ phiếu và trái phiếu
Một công ty có nhiều cách để huy động vốn, có thể vay vốn ngân hàng hoặc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu Cổ phiếu hay trái phiếu có thể bao gồm nhiều loại khác nhau, tuy nhiên những điểm khác nhau cơ bản giữa cổ
phiếu và trái phiếu được phân biệt như sau:
Xét về phía các nhà đầu tư:
Vốn gốc (giá trị ban |Không được đảm bảo, |Nói chung được đảm
Trang 3Quyền tham gia vào
quản lý kinh doanh
Với mỗi cổ phần là một phiếu bầu, cổ đông có thể tham gia vào các
quyết định của công ty
tại Hội đồng cổ đông
Trả khi công ty bị phá
sản, không được tham
gia vào quản lý công ty
Phải chuẩn bị tiền hoàn
trả khi trái phiếu đáo
định được thông qua
Trái chủ không được tham gia vào quản lý
công ty, tuy nhiên không thể bỏ qua ý kiến
của người giữ trái phiếu
động của công ty không Dù việc kinh doanh của
công ty như thế nào thì vẫn phải trả lãi và vốn gốc theo các điều kiện
Trang 4
ổn định, không nhất | được quy định khi phát
thiết công ty phải chia | hành
tiền cổ tức
Theo mức độ giảm dần của khả năng thanh toán và mức độ tăng dần của rủi
ro, trật tự các loại chứng khoán được xếp như sau:
Chứng khoán nợ ngắn hạn (tín phiếu kho bạc)
Trái phiếu Chính phủ
Trái phiếu công ty
Cổ phiếu ưu đấi
Cổ phiếu thường
Xuất phát từ trật tự thanh toán khi doanh nghiệp bị páh sản thì trái phiếu sẽ được xử lý trước Khi công ty trong quá trình thanh lý thf trật tự thanh toán được xếp như sau:
Phí giải quyết phá sản, lương công nhân viên
Trả thuế
Thanh toán nợ Trong đó có nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Cổ đông Trong đó có cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thông thường
d.Phân loại cổ phiếu và trái phiếu
Trang 5Các cổ phiếu được phát hành: là số lượng các chứng khoán thực sự đã
được bán ra Cổ phần chưa được bán ra hoặc chưa được lưu hành gọi là các chứng khoán chưa được phát hành
Cổ tức là một phần lợi nhuận của công ty chia cho cổ đông tỷ lệ với
số cổ phiếu của họ Cổ tức thường được công bố hàng năm và trả theo quí Một công ty có thể công bố trả cổ tức bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu hay bằng tài sản Để phù hợp với tâm lý của người đầu tư, người ta chia cổ phiếu ra
một số loại như sau:
Cổ phiếu thường:
Cổ phiếu thường thể hiện quyền sở hữu được bỏ phiếu của một công ty
cổ phần Mỗi cổ phiếu thường thể hiền quyền lợi sở hữu của cổ đông trong công ty Số lượng cổ phiếu mà cổ đông nắm càng nhiều, quyền lợi sở hữu của anh ta trong công ty càng lớn Đôi khi, một công ty cổ phần có thể phát
hành nhiều loại cổ phiếu thường khác nhau như loại A và B Hai loại này có
một số điểm khác nhau Một loại cổ phiếu có thể nhận được cổ tức lớn hơn
loại kia Ngoài ra, nếu công ty bị thanh lý thì một loại có thể nhận được phần tài sản nhiều hơn loại kia
Các quyền của cổ đông có cổ phiếu thường: Người sở hữu cổ phiếu
thường thông thường được hưởng một số quyền lợi nhất định như sau:
Quyền bỏ phiếu bầu Hội đông quản trị
Quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phiếu
Quyền bỏ phiếu cho các bấn đề có ảnh hưởng đến toàn bộ công ty
Quyền kiểm tra sổ sách của công ty
Trang 6Quyên được chia tài sản khi công ty thanh lý hay giải thể
Mệnh giá của cổ phiếu thường: Hầu hết các công ty cổ phần ấn định mệnh giá cho mỗi cổ phiếu thường và mệnh giá thường được in trên ác tờ cổ phiếu Mệnh giá cổ phiếu không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu
đó Mệnh giá thể hiện tầm quan trọng duy nhất của nó vào thời điểm cổ phần
đầu tiên được phát hành
Giá thị trường của cổ phiếu thường: Khi cổ phiếu bán ra công chúng, giá của nó được xác định bởi giá mà các nhà đầu tư mua nó, giá này được gọi
là giá thị trường, nó phụ thuộc vào sự tin tưởng của nhà đầu tư với công ty
phát hành
Trên thực tế, giá thị trường của cổ phiếu không phải là công ty ấn định
và cũng không phải do một người nào đó quyết định Giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng bán nó và giá cao nhất mà nguươì mua sắn sàng mua nó
Cổ phiếu ru đãi:
Cổ phiếu ưu đãi cũng thể hiện quyền lợi sở hữu trong một công ty Nó được gọi là cổ phiếu ưu đãi vì những cổ đông nắm loại cổ phiếu này được hưởng một số ưu đãi hơn so với những cổ đông thường Những cổ đông ưu đãi có thể có quyền nhận cổ tức trước cổ đông thường hay có quyền ưu thị
trường nên được nhận tài sản trước trong trường họp công ty bị giải thể
Tuy nhiên, không giống với các cổ đông thường, các cổ đông ưu đãi
thường không được bỏ phiếu bầu ra HĐQT và quyền hưởng lợi tức cổ phần
bị giới hạn theo một số lượng nhất định
Mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi: Giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu
ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không giống mệnh giá ở đây mệnh giá cũng
có mối liên quan đến giá thị trường Nừu một cổ phiếu ưu đãi có mệnh giá
Trang 7thì cổ tức sẽ được tính dựa vào mệnh giá đó Nếu cổ phiếu ưu đãi không có mệnh giá thì cổ tức sẽ được công bố bằng một số đô la nào đó trên mỗi cổ
phiếu mà công ty phát hành ấn định
Các loại cổ phiếu ưu đấi: Nếu một công ty phát hành nhiều sêri cổ
phiếu ưu đãi, họ có thể chỉ định một loại là ưu đãi thứ nhất, loại kia là ưu đãi
thứ hai Hoặc họ cũng có thể phân biệt các cổ phiếu ưu đãi thông qua sự ưu
đãi của nó đối với việc hưởng lợi tức cổ phần
Cổ phiếu ưu đãi tham dự và không tham dự chia phần: Cổ phiếu ưu đãi
không tham dự chia phần là loại chỉ được hưởng lãi cổ phần ưu đãi, ngoài ra không được hưởng thêm bất cứ phần lợi nhuận nào Ngược lại, cổ phiếu ưu đãi tham dự chia phần thì cổ đông được hưởng một phần lợi tức phụ thuộc
theo qui đidnhJ khi công ty làm ăn có lãi cso
Cổ phiếu ưu đãi tích luỹ và không tích luỹ: Cổ tức trên cổ phiếu ưu đãi cũng
có thể được tích luỹ hoặc không tích luỹ Một cổ phiếu ưu đãi được tích luỹ
có nghĩa là nếu cổ tức không được công bố trả trong một năm nào đó thì cổ
tức này sẽ được tích luỹ hay cộng dồn Cổ tức gộp này phải được trả trước
khi công bố trả cổ tức cho các cổ phiếu thường Mặt khác, nếu cổ tức không được tích luỹ và công ty đã bỏ qua cổ tức của một năm nào đó thì cổ tức đó không phải cộng thêm trước khi cổ tức thanh toán cho những cổ phiếu thường
Cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi: Là loại cổ phiếu ưu đãi có quyền chuyển
sang một loại chứng khoán khác của chính công ty đó Công thức để thực
hiện việc chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi sang cổ phiếu thường
do công ty quy định tại thời điểm cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi được phát hành.
Trang 8Chứng khoán ngân quỹ: Vì nhiều lý do, công ty mua về những cổ phần mà
họ đã phát hành mà hiện tại do công ty đó sở hữu được gọi là các chứng
khoán ngân quỹ, nó không có quyền bỏ phiếu và không được nhận cổ tức
Chứng khoán trôi nổi: Là tổng số các chứng khoán đã được phát hành trừ đi
số chứng khoán đã được công ty mua lại (chứng khoán ngân quỹ) Các chứng khoán trôi nổi có quyền nhận cổ tức và có quyên bỏ phiếu
Trái phiếu:
Đặc điểm của trái phiếu:
Mệnh giá: trên bề mặt của trái phiếu, thường công bố số tiền mà người phát hành cam kết trả cho người có trái phiếu Số tiền này được gọi là mệnh giá của trái phiếu
Ngày đáo hạn: ngày đáo hạn cũng được ghi trên bề mặt trái phiếu đây là
ngày người phát hành trái phiếu sẽ thanh toán mệnh giá cho người có trái
phiếu Kỳ hạn của trái phiếu rất đa dạng, có thể lên tới 30 năm hay hơn nữa Lãi suất: lãi suất được công ty công bố theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá trái phiếu Mặc dù lãi suất được tính theo hàng năm nhưng nó được thanh toán nữa một năm một lần
Phân biệt theo tiêu thức người phát hành Có hai loại trái phiếu là trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ:
Trái phiếu công ty:
Trái phiếu vô danh: Tên trái chủ của trái phiếu vô danh không được đăng khí
tại công ty phát hành Trái phiếu này được thanh toán cho những ai mang nó,
tức là người chủ sở hữu trái phiếu đó Trái phiếu vô danh có gắn các cuống phiếu trả lãi, trái chủ xé một cuống phiếu vào ngày trả lãi và gửi cho đại lý
của công ty cổ phần để thanh toán
Trang 9Trái phiếu ghỉ tên: Tên của trái chủ được đăng kí tại công ty phát hành Người có trái phiếu này không phải gửi các cuống phiếu cho các đại lý thanh toán để nhận phần lãi của mình Mà thay vào đó, vào ngày đến hạn, người đại lý sẽ tự động gửi cho anh trái phiếu một tờ séc trả cho khoản lãi đó Trái phiếu có thể thu hồi: Một số công ty có quy định trong trái phiếu một số điều khoản cho phép họ mua lại trái phiếu trước khi đến hạn Thông thường,
cổ phiếu chấp nhận trả cho người có trái phiếu theo giá gia tăng khi công ty muốn mua lại trái phiếu đó
Trái phiếu có thể chuyển đổi: trái phiếu chuyển đổi cho người sở hữu quyền
đổi trái phiếu của anh trái phiếu sang một loại chứng khoán nào đó Chứng
khoán này có thể là cổ phiếu ưu đãi hay cổ phiếu thường của công ty phát
hành
Trái phiếu bảo đảm: cũng như những người đi vay khác, công ty thường đưa
ra một thứ có giá trị làm vật bảo đảm cho các khoản vay Khi công ty thực hiện điều này, ta nói rằng nó đã phát hành một trái phiếu có bảo đảm có một
số loại trái phiếu bảo đảm chủ yếu là:
Trái phiếu có tài sản cầm cố: một trái phiếu có tài sản cầm cố là việc công ty phát hành thế chấp bất động sản để đảm bảo khả năng thanh toán nợ Trái phiếu có tài sản thế chấp: công ty phát hành đưa ra các chứng
khoán để chuyển nhượng mà công ty sở hữu của người khác để bảo đảm cho
việc phát hành trái phiếu Loại trái phiếu này bao gồm: Trái phiếu không bảo
đảm nghĩa là: một công ty có khả năng nhận tín dụng cao có thể phát hành
trái phiếu chỉ trên uy tín của mình Những trái phiếu này được gọi là giấy nhận nợ và công ty không phải thế chấp tài sản làm đảm bảo cho nó Và các
chứng khoán nhận nợ do ngân hàng phát hành nghĩa là: Các ngân hàng có thể tham gia vào thị trường với các công cụ ngắn hạn như: Chứng khoán tiền
Trang 10gửi (cung cấp cho ngân hàng các nguồn vốn để thực hiện cho vay ngắn hạn), phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng (được phát hành để tài trợ cho buôn bán quốc tế)
Trái phiếu chính phủ:
Để tài trợ cho chỉ tiêu ngân sách, các chính phủ có thể phát hành trái
phiếu thông qua kho bạc nhà nước Trái phiếu chính phủ có thể là ngắn hạn,
trung và dài hạn
Kì phiếu kho bạc ngắn hạn: Phổ biến nhất là các loại 3 tháng và 6 tháng, các
kỳ phiếu ngắn hạn là những công cụ chiết khấu và thường không có mức lãi suất cố định Các kì phiếu ngắn hạn thường được mua bằng một số tiền và người mua sẽ nhận được một số tiền lớn hơn (bằng mệnh giá) khi đến hạn khoản chênh lệch giữa hai số tiền trên gọi là khoản chiết khấu, lãi suất thu được chính là lãi suất chiết khấu
Trái phiếu kho bạc trung và dài hạn: Các trái phiếu kho bạc trung và dài hạn
là các công cụ có kỳ hạn dài hơn kỳ phiếu kho bạc Trái phiếu trung hạn được phát hành với thời gian đáo hạn từ một năm đến 10 năm trái phiếu dài hạn được phát hành từ 10 đến 30 năm Các trái phiếu trung và dài hạn có mức lãi suất cố định và được trả lãi trên cơ sở nửa năm những công cụ này được tính toán trên cơ sở l năm 365 ngày ( mà không phải là 360 ngày như đối với các kì phiếu ngắn hạn và các công cụ khác)
Trái phiếu địa phương: Kì phiếu địa phương ngắn hạn: các chính quyền địa
phương phát hành những công cụ ngắn hạn để ứng trước nhu cầu về vốn Những công cụ này được gọi là kì phiếu, thường có kì hạn 6 tháng hoặc ít
hơn các kì phiếu được phát hành trên cơ sở dự tính trước các khoản thuế gọi
là kì phiếu ứng trước thuế Các loại phát hành dựa trên dự tính thu nhập tương lai gọi là kì phiếu ứng trước thu nhập Các kì phiếu ứng trước đợt phát
10
Trang 11hành trái phiếu mới gọi là kì phiếu ứng trước cho phát hành trái phiếu Trái phiếu địa phương trung và dài hạn thường có một số đặc điểm sau:
Trái phiếu trách nhiệm chung: được bảo đảm bằng năng lực thu thuế của chính quyền địa phương
Trái phiếu bảo đảm bằng thuế cụ thể: được bảo đảm bằng một loại thuế nhất định của địa phương
Trái phiếu thu nhập: được bảo đảm bằng thu nhập từ dự án xây dựng
bằng tiền bán trái phiếu
2 Cấu trúc cơ bản của thi trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những
sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng có kì hạn
trên l năm) còn nói theo ngôn ngữ bình dân thì thị trường chứng khoán là
cái chợ mua bán các phương tiện đầu tư tài chính nhằm mục đích lợi nhuận
Thị trường chứng khoán có hai bộ phận:
a.Thị trường sơ cấp (prùnary market)
Các chứng khoán lần đầu tiên được bán ra thị trường được gọi là
chứng khoán mới phát hành Thị trường mua bán chứng khoán mới phát hành được gọi là thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường phát hành
b.thi trường thứ cấp (secondary market)
Là thị trường mà các chứng khoán đựoc mua bán lại sau khi các chứng
khoán được bán ở thị trường sơ cấp Trên thị trường thứ cấp, lợi nhuận thu
được từ việc bán chứng khoán thuộc về nhà đầu tư và những người buôn bán vhứ không thuộc về công ty phát hành chứng khoán
11
Trang 12Thị trường thứ cấp bao gồm thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoán) và thị trường tập trung (OTC)
Sở giao dịch chứng khoán (tại sàn hoặc không có sàn)
Sở giao dịch chứng khoán đại diện cho thị trường giao dịch theo
phương thức đấu giá trong đó những người mua và những người bán cạnh tranh giao dịch với nhau trên cơ sở đó hình thành giá cả cạnh tranh
Hình thức sở hữu:
Lịch sử phát triển SDGCK các nước đã và đang trải qua một số hình
thức sở hữu như sau:
Trước hết nó là một tổ chức do các thành viên (là công ty chứng khoán) sở hữu Thời kì đầu, SGDCK được tổ chức dưới hình thức các câu lạc
bộ mini dần dần phát triển thành các tổ chức phi lợi nhuận do các thành viên
sở hữu Tuy nhiên, hội đồng quản trị của SGDCK, bên cạnh những thành viên do công ty thành viên cử ra vẫn có một số thành viên do chính phủ đề
cử
Là thành một công ty cổ phần, do các công ty thành viên, các ngân
hàng và cả các tổ chức không phải là thành viên sở hữu
Là một tổ chức do chính phủ sở hữu: Có một vài nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định, SDGCK do chính phủ sở hữu (như trường hợp của Hàn Quốc) Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến nhất Hình thức này cho phép SGDCK có quyền tự quản ở mức độ nhất định, tính hiệu quả và sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý tốt hơn các hình
thức khác Các nhà đầu tư nước ngoài cũng yên tâm hơn so với hình thức do
chính phủ sở hữu Tuy nhiên trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, việc chính phủ đứng ra sở hữu và quản lý SDG sẽ cho phép ngăn ngừa sự lộn x6n,
12
Trang 13không công bằng khi hình thức sở hữu thành viên chưa đựoc bảo vệ bằng hệ
thống pháp lý đầy đủ, rõ ràng
Số lượng sở giao dịch chứng khoán:
Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước, số lượng các thị trường tập trung có khác nhau:
Bảng dưới đây sẽ minh hoạ số lượng thị trường của một số nước:
Việc tồn tại nhiều SDGCK có ưu điểm là tạo ra sự cạnh tranh, đồng
thời cho phép các địa phương có thể tham gia vào thị trường chứng khoán
Tuy nhiên với sự phát triển của hệ thống vi tính và thông tin hiện nay, việc
13
Trang 14tồn tại nhiều SDGCK đã trở nên không cần thiết, tạo ra sự chia cắt thị trường, chênh lệch về giá cả và lãng phí về cơ sở vật chất và kĩ thuật
Chính vì vậy, xu hướng chúng trái ta hiện nay là hợp nhất các SDGCK
vào một thị trường thống nhất trong cả nước Với sự phát triển của hệ thống
vi tính, xu hướng chung của các nước là hợp nhất các SDGCK vào một thị trường thống nhất, với một sàn giao dịch có nối mạng với nhau Thực tế cho
thấy việc tồn tại nhiều sở giao dịch chứng khoán sẽ dẫn đén việc cạnh tranh,
chia cắt thị trường, chênh lệch về giá cả và lãng phí về cơ sở vật chất kĩ thuật
-Thị trường phi tập trung (OTC)
Tại hầu hết các nước, bên cạnh thị trường giao dịch tập trung dành cho
việc giao dịch chứng khoán của những công ty lớn đã qua nhiều năm thử
thách của thị trường, còn có thị trường phi tập trung (OTC) dành cho việc
giao dịch chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ Thị trường OTC đại diện cho một thị trường thương lượng, nơi mà một người bán thương lượng
với một người mua Các hoạt động thường được diễn ra ngoài SDGCK và
thường được sử dụng cho các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ không
đủ tiêu chuẩn niêm yết Thông thường thị trường giao dịch tập trung được thành lập trước, sau đó rất nhiều năm thị trường OTC mới được khởi động, vì
việc thành lập thị trường OTC đòi hỏi nhiều vấn đề kinh phí, trang thiết bị kỹ
thuật và vấn đề giám sát
Các công ty trên thị trường OTC được gọi chung là các nhà “môi giới -
giao dịch” bởi họ có thể mua, bán chứng khoán với tư cách là người môi giới
hoặc với tư cách chính chủ Với tư cách người tạo thị trường, công ty có thể
bán cho khách hàng chứng khoán dự trũ của họ hoặc mua chứng khoán từ
14
Trang 15khách hàng cho tài khoản của riêng họ Với tư cách là người môi giới, công
ty có thể mua bán chứng khoán với một nhà tạo thị trường khác Dù hoạt động với tư cách nào đi nữa, nhà môi giới giao dịch cũng phải nói rõ cho
khách hàng biết họ đang thực hiện lệnh của khách hàng với tư cách gì
Khi hoạt động với tư cách người môi giới hay đại diện, công ty phải công bố mức hoa hồng mà họ đòi hỏi Khi giao dịch cho mình, một nhà môi
giới — giao dịch cố gằng thu lợi nhuận bằng thao tác nâng giá (mark up) hay giảm giá (mark down) Mark up là khoản chênh lệch giữa mức giá mà công
ty trả để mua một chứng khoán và mức giá mà công ty đòi ở khách hangf mua chứng khoán đó Ngược lại, nếu khách hàng là người bán của công ty và mức giá mà nó thực tế trả cho khách hàng
3 Những ưu nhược điểm của thi trường chứng khoán
a.Uu điểm
Tất cả các nước trên thế giới đều ưu tiên vào việc tăng cường sức mạnh
cho nên kinh tế qua việc thúc đẩy vai trò quan trọng của thị trường chứng
khoán trong quá trình này, và cũng không có nền kinh tế thị trường nào phát triển thịnh vượng mà không có vai trò của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán cũng cho phép hoạt động đầu tư trực tiếp dài hạn qua việc thị trường chứng khoán có thể thoả mãn các nhu cầu đối ngược nhau của các nhà đầu tư bằng việc tạo khả năng thanh khoản coa Hơn nữa sự tồn tại của thị trường chứng khoán là yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì các nhà đầu tư nước ngoài thường cân nhắc liệu thị trường chứng khoán nước đó hoạt động tốt hay không như một yếu tố quan trọng để đưa ra quyết định đầu tư
Thị trường chứng khoán cũng tạo điều kiện cho việc cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nước bằng việc tạo ra cho chính phủ và các nhà đầu tư
15
Trang 16mức giá chuẩn của các cổ phiếu được bán ra cho công chúng Thị trường
chứng khoán hỗ trợ định giá cổ phần trong chương trình cổ phần hoá
Thị trường chứng khoán chính là tốc độ của dòng thông tin, là lĩnh vực
mà tất cả các loại thông tin được tập hợp và phân tích, đánh giá và giá cổ phiếu phản ánh trung thực các thông tin đó
Thị trường chứng khoán là một phần quan trọng không thể thiếu được
và có phần quan trọng của thị trường tài chính nó có thẻe làm tăng tốc độ sự phát triển của nghành tài chính đất nước
Thị trường chứng khoán là nguồn thu hút ngoại tệ qua việc bán chứng khoán cho các nhà đầu tư nước ngoài hay đầu tư gián tiếp của người nước
ngoài có thể ở bất cứ số ngoại tệ nào mà họ có hay họ muốn bỏ ra để mua cổ
phần không nhất thiết phải đòi hỏi một mức vốn nhất định như đầu tư trực tiếp vào một dự án
Thị trường chứng khoán điều tiết việc phát hành cổ phiếu Vai trò điều tiết của thị trường chứng khoán còn có thể hướng các đơn vị đầu tư vào các nghành hay lĩnh vực khuyến khích bằng cách phát hành cổ phiếu của những
đơn vị đã được đánh giá tương đối chính xác
Thị trường chứng khoán tạo thói quen về đầu tư: sự phát triển của thị trường chứng khoán có sức hấp dẫn và tạo thói quen cho mọi người tham gia vào hoạt động của thị trường
b.Nhược điểm:
Yếu tố đầu cơ dễ gây ảnh hưởng dây chuyên làm cho cổ phiếu có thể
tăng giá tạo ra sự khan hiếm hay thừa làm cho giá cổ phiếu có thể lên xuóng
đột ngột khi có sự câu kết — mua bán nội gián: dùng thông rin nội bộ trong một đơn vị để mua bán cổ phiếu của đơn vị đó nhằm thu lợi bất chính gây ảnh hưởng đến giá trị của cổ phiếu vi phạm nguyên tắc công bằng
16