Sơ đồ hình cây về mối quan hệ của 50 giống đậu tương có phản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt dựa trên chỉ thị phân tử SSR ...Hình ảnh điện di SDS-PAGE 12,5% của protein chiết từ lá đậu tươ
Trang 1Vũ Thanh Trà
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG DI TRUYỀN
CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG CÓ KHẢ NĂNG
KHÁNG BỆNH GỈ SẮT KHÁC NHAU
Chuyên ngành: Di truyền học
Mã số: 62 42 70 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1 PGS.TS. Chu Hoàng Mậu
2 TS. Trần Thị Phương Liên
Thái Nguyên - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của PGS.TS Chu Hoàng Mậu và TS Trần Thị Phương Liên Các
số liệu trình bày trong luận án là trung thực Một số kết quả đã được công bốriêng hoặc đồng tác giả, phần còn lại chưa được ai công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trongluận án này
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận án
Vũ Thanh Trà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Chu Hoàng Mậu và
TS Trần Thị Phương Liên đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong học tập,nghiên cứu và hoàn thành bản luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nông Văn Hải và các cán bộ
Phòng Công nghệ ADN ứng dụng - Viện Công nghệ sinh học, TS NguyễnThị Bình, ThS.NCVC Nguyễn Thị Thanh Tuyết và các cán bộ Bộ môn Miễndịch Thực vật - Viện Bảo vệ Thực vật, Ban chủ nhiệm Khoa Sinh - KTNN,Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và các bạn đồng nghiệp đãủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn gia đình và những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm nghiên cứu sinh
Công trình được thực hiện và hoàn thành với việc sử dụng các trangthiết bị của Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ gen quốc gia, PhòngCông nghệ ADN ứng dụng, Phòng Hóa sinh protein, Phòng Công nghệ tế bàothực vật (Viện Công nghệ Sinh học); Phòng thí nghiệm Di truyền học, Phòngthí nghiệm Công nghệ gen (Bộ môn Di truyền và Sinh học hiện đại - KhoaSinh - KTNN, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên)
Trang 44 4 5 9
13 17 17 18 20 26 29
33 37 37 38 40 40
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cây đậu tương và và đặc điểm hóa sinh của cây đậu tương
1.1.1 Cây đậu tương
1.1.2 Đặc điểm hóa sinh của cây đậu tương
1.2 Bệnh gỉ sắt và tính kháng bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương
1.2.1 Bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương 9
1.2.2 Tính kháng bệnh gỉ sắt của cây đậu tương
1.3 Các phương pháp phân tích đa dạng di truyền ở cây đậu tương
1.3.1 Phương pháp sử dụng chỉ thị hình thái
1.3.2 Phương pháp sử dụng chỉ thị hoá sinh học
1.3.3 Phương pháp sử dụng chỉ thị phân tử DNA
1.4 Các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương
1.5 Các nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Vật liệu 33
2.1.1 Vật liệu và phương pháp thu thập lá bệnh
2.1.2 Hóa chất
2.1.3 Máy mọc và thiết bị
2.1.4 Mồi của phản ứng RAPD và SSR
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp nhiễm bệnh nhân tạo
Trang 543 44 48
53
58
61
64
70
76
77 79
90
2.2.2 Các phương pháp phân tích hóa sinh
2.2.3 Các phương pháp phân tích đa hình di truyền DNA
2.2.4 Các phương pháp phân tích đa hình protein
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Đánh giá khả năng kháng bệnh gỉ sắt của các giống đậu tương nghiên cứu
3.2 Phân tích đặc điể̉m hóa sinh hạt của các giống đậu tương nghiên cứu 58
3.2.1 Kết quả phân tích hàm lượng protein và lipid trong các hạt của các giống đậu tương nghiên cứu
3.2.2 Phân tích tính hàm lượng và thành phần amino acid trong hạt của một số giống đậu tương
3.3 Đánh giá sự đa dạng di truyền của các giống đậu tương phản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt 64
3.3.1 Phân tích tính đa hình DNA của các giống đậu tương bằng chỉ thị phân tử RAPD
3.3.2 Phân tích tính đa hình DNA của các giống đậu tương bằng chỉ thị phân tử SSR
3.4 Phân tích tính đa hình protein lá của một số giống đậu tương phản ứng khác nhau vớ́i bệnh gỉ sắt
3.4.1 Kết quả phân tích sự đa hình protein ở lá của một số giống đậu tương bằng kỹ thuật điện di SDS-PAGE
3.4.2 Lập bản đồ hệ protein của lá đậu tương bằng kỹ thuật điện di hai chiều
3.4.3 Nghiên cứu tính đa hình protein của các giống đậu tương bằng kỹ thuật điện di hai chiều
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Đề nghị 100
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6Ammonium persulfateArea Under Disease Progress CurveAvr protein Avirulence protein – Protein không nhiễm bệnh từ mầm bệnh
CentimeterCetylmethylammonium bromideDeoxyribonucleic acid
Deoxynucleotide TriphosphatesDithiothreitol
Ethylendiamine tetra acetic acidElecspray ionization Q Trap - Phương pháp khối phổ sử dụng tínhnăng bẫy ion kết hợp nguồn ion hóa bằng cách phun chùm điện tửEthidium bromide
High-performance liquid chromatography-Sắc ký lỏng hiệu năng caoIndole-3-acetamide
Isoelectric Focusing – Phương pháp điện di theo điểm đẳng điệnInstitute of Tropical Agriculture -Viện Nông nghiệp nhiệt đới, NigeriaInternational Soybean Program -Chương trình nghiên cứu đậu
tương Quốc tế, Hoa KỳImmobile pH gradient - Dải gradient pH cố địnhInternational Rice Research Institute- Viện nghiên cứu lúa quốc
tế, PhilippinKilo base
Trang 7Mass spectrometry/ Mass spectrometry - khối phổ liên tụcNhiễm sắc thể
Optical Density - Mật độ quang họcPolymerase chain reaction - phản ứng chuỗi trùng hợp polymerasePolyethylene glycol
Polymorphic Information Content-Hàm lượng thông tin đa hìnhPhenylmethanesulphonylfluoride
Pathogenesis-related protein - protein liên quan đến mầm gây bệnh.Quantitative Trait Loci- Các locus tính trạng số lượng
Resistant gen – gen kháng bệnhResistant protein - protein kháng bệnhRamdom amplified polymorphism DNA - DNA đa hình được nhânbản ngẫu nhiên
Restriction fragment length polymorphism - đa hình về chiều dàiphân đoạn cắt hạn chế
Ribonucleic acidSystemic acquired resistance – Sự kháng bệnh có hệ thốngSodium dodecyl sulfate
SDS-Polyacrylamide gel electrophoresis -Điện di biến tính trêngel polyacrylamide có SDS
Simple Sequence Repeat - trình tự lặp lại đơn giảnTris acetate EDTA
Trichloracetic acidN,N,N’,N’ TetramethylethylenediaminePhương pháp phân nhóm
VoltWeight/volume
Trang 833 38 39 46 49 53 59 63 67 72
84
92
93
96
97
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Danh sách các giống đậu tương nghiên cứu
Bảng 2.2 Trình tự nucleotide của 20 mồi RAPD
Bảng 2.3 Trình tự nucleotide của các cặp mồi SSR
Bảng 2.4 Thành phần gel và sơ đồ nhuộm bạc theo phương pháp cải tiến
Bảng 2.5 Thành phần gel polyacrylamide
Bảng 3.1 Phản ứng của các giống đậu tương đối với bệnh gỉ sắt
Bảng 3.2 Hàm lượng protein và lipit trong hạt của 50 giống đậu tương
Bảng 3.3 Thành phần của các amino acid của 20 giống đậu tương
Bảng 3.4 Tỷ lệ phân đoạn đa hình và giá trị PIC của các mẫu nghiên cứu
Bảng 3.5 Kết quả phân tích sự đa dạng di truyền bằng chỉ thị SSR
Bảng 3.6 Danh sách các protein của lá đậu tương giống DT2000 được nhận diện bằng phương pháp khối phổ
Bảng 3.7 Đa dạng mức độ biểu hiện của các protein giữa mẫu thí nghiệm và đối chứng của hai giống nhiễm bệnh (DT12 và VMK)
Bảng 3.8 Nhận diện các protein có mức độ biểu hiện khác nhau giữa thí nghiệm và đối chứng ở hai giống nhiễm bệnh DT12 và VMK
Bảng 3.9 Mức độ protein biểu hiện khác nhau giữa giống nhiễm bệnh gỉ sắt mẫn cảm với bệnh gỉ sắt (DT12, VMK) và giống kháng (DT2000, CBU8325)
Bảng 3.10 Nhận diện các protein có mức độ thay đổi giữa giống nhiễm với và giống kháng bệnh gỉ sắt
Trang 9121419
4243
576566
Mặt sau lá đậu tương bị nhiễm bệnh gỉ sắt (A) và hình ảnh
bào tử nấm gỉ sắt với độ phóng đại 400 lần (A)
Hình ảnh nấm gây bệnh gỉ sắt ở đậu tương P pachyrhizi chụp
dưới kính hiển vi điện tử
Mô hình hoạt động của protein kháng bệnh ở nấm
Sơ đồ phân tách protein bằng diện di 2DE Hình ảnh cây thí nghiệm nhiễm bệnh nhân tạo trong phòng
thí nghiệm
Đồ thị chuẩn định lượng protein theo phương pháp Lowry
Lá của các giống đậu tương với 3 mức độ phản ứng với bệnh
gỉ sắt
Hình ảnh điện di sản phẩm RAPD với mồi M14
Hình ảnh điện di sản phẩm RAPD với mồi M18
Sơ đồ hình cây của 50 giống đậu tương dựa trên hệ số tương
đồng di truyền xác định bằng chỉ thị RAPD và kiểu phân
nhóm UPGMA Các alen tại locus Satt009 (A), Satt175 (B), Satt146 (C) Satt
005 (D) của 50 giống đậu tương
Sơ đồ hình cây về mối quan hệ của 50 giống đậu tương có phản
ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt dựa trên chỉ thị phân tử SSR Hình ảnh điện di SDS-PAGE 12,5% của protein chiết từ lá
đậu tương VMK, CBU8325 đối chứng và nhiễm bệnh ở hai
giống đậu tương DT12 và VMK 9 ngày tuổi
Trang 1081
8389
91
95
Hình 3.8
Hình 3.9
Hình ảnh điện di 2-DE so sánh mức độ biểu hiện protein lá đậu
tương giống DT2000 ở thời điểm 6 (A) ngày và 9 ngày (B)
So sánh sự đa dạng về protein lá đậu tương của các giống
DT12, DT2000, CBU8325 và VMK Hình 3.10 Kết quả phân tích và nhận diện protein catalase bằng sắc ký -
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày, có
giá trị kinh tế cao, mang ý nghĩa trong cải tạo đất trồng, dễ canh tác, đặc biệt
có khả năng thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau Hạt đậu tươngchứa 30-55% protein, chứa nhiều loại amino acid không thay thế (lysine,leucine, tryptophan, methionine, cysteine…), 12-25% lipid và các vitamin(B1, B2, C, D, E, K…) cần thiết cho cơ thể Các sản phẩm từ đậu tương được
sử dụng rộng rãi cho các mục đích khác nhau như làm thức ăn, dầu ăn, thựcphẩm chức năng, nguyên liệu cho y học và công nghiệp…Bên cạnh giá trị
dinh dưỡng cao, cây đậu tương còn có khả năng cố định đạm nhờ vi khuẩn R.
Japonicum sống cộng sinh trên rễ cây tạo thành các nốt sần Vì thế, việc trồng
cây đậu tương không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn có tác dụng cảitạo đất Do đó, cây đậu tương đã được quan tâm trồng và phát triển mạnh ởnhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, đậu tương là nhóm cây trồng chínhđược ưu tiên khuyến khích phát triển, sản xuất đứng sau lúa, ngô và lạc
Việt Nam từng là một nước “xuất khẩu” đậu tương vào những năm
1980 theo hạng mục tiểu ngạch, tuy nhiên cho đến nay nước ta đã trở thànhnước nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn hàng triệu tấn khô dầu đậu tươngđang được nhập khẩu hàng năm Mặc dù diện tích gieo trồng có tăng hàngnăm nhưng năng suất thấp và sản lượng đạt được không ổn định, khả năngchống chịu bệnh và các stress kém Sâu bệnh nói chung và bệnh gỉ sắt nóiriêng là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới diện tích gieo trồng và làm giảmnăng suất, chất lượng hạt đậu tương, gây tổn thất lớn về kinh tế
Bệnh gỉ sắt ở đậu tương do loài nấm Phakopsora pachyrhizi gây ra và
đang được coi là một trong những mối đe dọa chính trên cây đậu tương gâythiệt hại đáng kể, làm giảm từ 10-80% năng suất và chất lượng đậu tương ở
Trang 12nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Yêu cầu đặt ra hiện nay là cầnphải chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật đặc biệt là tạo ra những giốngcây có năng suất cao, có khả năng chống chịu bệnh để đưa vào sản xuất mởrộng diện tích gieo trồng và nâng cao chất lượng hạt, đáp ứng được nhu cầuđậu tương trong nước cũng như phục vụ xuất khẩu Do đó, nghiên cứu chọntạo các giống đậu tương mới có khả năng kháng bệnh gỉ sắt cao là một giảipháp mang tính chiến lược cho sự phát triển bền vững.
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt ở đậu tương đãđược tiến hành và thu được một số kết quả đáng kể, tuy nhiên hầu hết cácnghiên cứu này mới chỉ tập trung vào việc giám sát quá trình phát triển bệnh,nghiên cứu dịch tễ học, đánh giá sự thất thu năng suất hoặc phân tích phản ứngbệnh mà chưa chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu khả năng kháng bệnh gỉ sắtcũng như đánh giá sự đa dạng di truyền của các giống đậu tương có khả năngkháng bệnh gỉ sắt cũng như cơ chế phân tử của hiện tượng này Việc nghiêncứu sự đa dạng di truyền của tập đoàn đậu tương có phản ứng khác nhau đốivới bệnh gỉ sắt không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo tồn các giống có khả năngkháng bệnh mà còn có ý nghĩa quan trọng trong công tác chọn tạo giống cóchất lượng cao
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu sự đa dạng di truyền của một số giống đậu tương có khả năng kháng bệnh gỉ sắt khác nhau”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Đánh giá được khả năng phản ứng của các giống đậu tương với bệnh gỉsắt nhằm phát hiện các giống kháng và nhiễm mới
2.2 Xác định được sự đa dạng di truyền ở mức độ DNA của các giống đậutương nghiên cứu
Trang 132.3 So sánh đa hình protein, lập được bản đồ điện di protein lá đậu tương, sơ
bộ rút ra được nét đặc trưng về protein giữa giống kháng và giống nhiễm
3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá khả năng kháng bệnh gỉ sắt của các giống đậu tương
- Xác định hàm lượng protein, lipid và thành phần amino acid trong hạtcủa các giống đậu tương nghiên cứu
- Phân tích sự đa dạng di truyền của các giống đậu tương nghiên cứubằng chỉ thị phân tử RAPD và SSR
- Lập bản đồ điện di protein lá đậu tương và định danh hệ protein lábằng phương pháp điện di một chiều, hai chiều và nhận diện protein trên hệsắc ký-khối phổ Đồng thời phân tích, so sánh sự đa dạng thành phần protein
lá của một số giống đậu tương nhiễm và kháng bệnh gỉ sắt
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cây đậu tương và đặc điểm hóa sinh của cây đậu tương
1.1.1 Cây đậu tương
Đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây thuộc họ đậu (Fabaceae) Chi Glycine có hai chi phụ là Glycine và Soja Chi phụ Soja có hai loài là
G.max (L.) Merrill và G soja Sieb et Zucc Glycine soja là dạng mọc leo
hoang dại, hạt nhỏ, cứng và sản lượng thấp nên không được sử dụng trong
nông nghiệp Glycine max không thấy mọc hoang dại.
Về nguồn gốc, đậu tương có nguồn gốc từ Đông Á, có thể mọc hoang
dại từ thung lũng sông Dương Tử, các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc TrungQuốc, hoặc các vùng kế cận của Cộng hòa liên bang Nga, Triều Tiên và NhậtBản Hầu hết các giống đậu tương địa phương đang trồng tại nước ta hiện nayđều du nhập từ Trung Quốc [8]
Về đặc điểm hình thái, cây đậu tương là cây thân thảo, lá có ba loại: lá
mầm (lá tử diệp), lá nguyên (lá đơn) và lá kép, mỗi lá kép có từ 3 - 4, thậmchí đến 5 lá chét, mọc so le Hoa đậu tương nhỏ không hương vị, có dạngcánh bướm, có màu sắc tuỳ từng giống khác nhau: màu trắng, tím, tím nhạt
Tỷ lệ đậu quả 20 - 30% tuỳ từng vụ Quả thuộc loại quả giáp, khó tách, hơicong, lúc quả non có màu xanh, nhiều lông (có khả năng quang hợp do códiệp lục) khi chín có màu nâu Tuỳ điều kiện canh tác mỗi cây con cho từ 20 -
400 quả Hạt có nhiều hình dạng: hình tròn, hình bầu dục, tròn dẹt có giá trịdinh dưỡng cao Hạt to, nhỏ tuỳ theo các giống khác nhau, khối lượng 1000hạt thay đổi trung bình từ 100 - 200g Màu sắc rốn hạt ở các giống khác nhau
là một biểu hiện đặc trưng của giống [9]
Về đặc điểm di truyền, đậu tương Glycine max có bộ nhiễm sắc thể
(NST) lưỡng bội 2n = 40 là cây tự thụ phấn, ít có khả năng thụ phấn chéo
Trang 15Những nghiên cứu về hệ gen (genome) đậu tương cho thấy, bộ gen đậu tương
có từ 1,29 x 109 đến 1,8 x 109bp cho bộ đơn bội Trong số đó có khoảng 40 65% trình tự lặp lại (những trình tự này có kích thước nhỏ hơn 0,3 - 0,4kb),các trình tự không lặp lại chiếm khoảng 35 - 60% (có chiều dài 1,1 - 1,4kb)được xếp xen kẽ với trình tự lặp lại [95]
-Thời gian sinh trưởng của đậu tương được chia làm 3 loại: chín sớm
(từ 75 - 78 ngày); chín trung bình (từ 80 - 100 ngày) và chín muộn (từ 110
- 120 ngày) Thời gian sinh trưởng là yếu tố rất quan trọng để lựa chọn câytrồng luân canh hay xen vụ Đậu tương là cây tương đối mẫn cảm với điềukiện ngoại cảnh và các mầm bệnh, các giống thường thích hợp với từng vụkhác nhau [3]
1.1.2 Đặc điểm hóa sinh của cây đậu tương
1.1.2.1 Thành phần protein trong hạt đậu tương
Trong hạt đậu tương, hàm lượng protein chiếm từ 12-55% Thực tế chothấy, tuy kiểu gen và điều kiện canh tác làm ảnh hưởng tới hàm lượng proteintrong hạt của loài thực vật này nhưng chúng vẫn lớn hơn hàm lượng protein củanhiều loài thực vật khác [6] Protein được dự trữ trong bào quan có chức năngcung cấp nguồn amino acid và nitơ hoặc là các enzyme tham gia vào quá trìnhnảy mầm của hạt Loại potein được dự trữ chủ yếu ở hạt đậu tương là globulin
Dựa vào hệ số lắng, người ta chia protein của hạt đậu thành 3 loại: 11S
- legumin, 7S - vixilin, 2S - albumin Những loại protein chính trong hạt đậutương là: protein dự trữ (chiếm 70% tổng số protein), các enzyme, các chất ứcchế protease và lectin Thành phần của protein gồm có albumin (9,5%),
globulin tan trong nước (75,8%), globulin tan trong NaCl là 3%, glutelin protein tan trong NaOH 0,2M là 11,7%
-Protein dự trữ trong hạt đậu tương bao gồm hai thành phần:
conglyxinin (7,9S) và glyxinin (12,2S) Conglyxinin là vixilin của đậu tương,
Trang 16có hệ số lắng là 7,9S, là protein dự trữ phổ biến trong hạt Conglyxinin táchbiệt ra trong các thể protein và được dự trữ trong suốt quá trình phát triển củahạt Nó được thuỷ phân sau khi hạt nảy mầm để cung cấp nguồn carbon vànitơ cho hạt phát triển.-conglyxinin là một trong những cấu tử của
conglyxinin, có khối lượng phân tử là 140 - 180 kDa.-conglyxinin gồm cónhiều tiểu phần khác nhau, trong đó có 3 tiểu phần chính là (76 kDa),’(72 kDa), (53 kDa) Ngoài ra, còn có các tiểu phần nhỏ khác hiếm hơn đãđược mô tả là’,, [94] Thành phần thứ hai là glyxinin với hệ số lắng12,2S và là dạng legumin của đậy tương Glyxinin là protein chứa nhiều nhấttrong đậu tương Glyxinin là một hexamer protein gồm 5 tiểu phần Mỗi tiểuphần bao gồm một chuỗi polypeptide có tính acid (trọng lượng phân tử xấp xỉ
31 - 45 kDa) ký hiệu là A1a, A1b, A2, A3, A4 và chuỗi polypeptide có tínhkiềm (khối lượng phân tử xấp xỉ 18 - 20 kDa) ký hiệu là B1b, B1a, B2, B3,B4, được nối với nhau bằng cầu nối disulfide [114] Các giống đậu tươngkhác nhau cũng khác nhau về thành phần các chuỗi polypeptide cấu tạo nênglyxinin Glyxinin của các giống khác nhau đã được chứng minh là khác nhau
về thành phần amino acid, trọng lượng phân tử và điểm đẳng điện (isoelectric
point-pI) Tỷ lệ giữa glyxinin và-conglyxinin là 1,6: 1,0 (biến thiên từ tỉ lệ
3,0: 1,0 đến 1,0: 1,0 tuỳ giống) Glyxinin là nguồn dự trữ carbon và nitơ vàđược tích trữ trong quá trình hình thành phôi
Protein của cây họ đậu nói chung và cây đậu tương nói riêng được coi
là có chất lượng tốt nhất trong các loại protein của thực vật, bởi vì chúng chứatất cả các amino acid không thay thế và cần thiết cho cơ thể Hơn nữa proteincủa cây họ đậu còn có hàm lượng lysine rất cao so với protein từ các loại ngũcốc khác Tuy vậy, hàm lượng các amino acid chứa gốc SH như methionine,cysteine vẫn còn thấp [3]
Trang 171.1.2.2 Lipid, vitamin và một số chất khác trong hạt đậu tương
Lipid là hợp chất hữu cơ có trong tế bào sống, không có khả năng hoàtan trong nước, nhưng tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực nhưete, benzen, toluen, ete, dầu hoả Lipid còn là thành phần quan trọng củamàng sinh học, là nguồn năng lượng cung cấp cho cơ thể Ở đậu tương, hàmlượng lipid chiếm từ 12-25% khối lượng khô Chất lượng lipid của hạt đậutương rất tốt, cho nên nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp chế biếnthực phẩm Hạt đậu tương còn có các loại vitamin tan trong lipid, đặc biệt làvitamin E (200 mg/100g lipid) Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn chứa một
số chất khác như carbohydrade, muối khoáng, nucleic acid, kích thích sinhtrưởng [3] Nói chung, hạt đậu tương có giá trị dinh dưỡng rất cao Giá trị của
nó được đánh giá đồng thời cả về hàm lượng protein và lipid, trong đó hàmlượng protein dự trữ và chất lượng của chúng là yếu tố quyết định, làm chohạt đậu tương trở thành nguồn thực phẩm quan trọng cho người và làm thức
ăn cho gia súc Hạt đậu tương có thể chế biến ra 600 sản phẩm khác nhau.Bên cạnh đó, đậu tương còn được dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt, nhất làhạt đậu tương có màu đen
1.1.2.3 Protein lá và hệ protein lá đậu tương
Protein là các đại phân tử có ở lượng lớn trong tất cả các loại tế bào vàcác bào quan Protein lá đậu tương rất đa dạng, có hàng nghìn loại với kíchthước phân tử khác nhau, từ những peptide nhỏ đến những phân tử với khốilượng lớn Protein có nhiều vai trò khác nhau về chức năng sinh học, nhưngchủ yếu đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp giúp tổng hợp chấtdinh dưỡng từ nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời
Hệ protein (Proteome) là phần bổ trợ của hệ gen (Genome), hệ protein
lá đậu tương bao gồm tất cả các protein có mặt trong tế bào lá ở một thờiđiểm nhất định Trong lá có các protein liên quan đến chu trình quang hợp,
Trang 18các protein tham gia vào phản ứng quang hóa, các protein dự trữ, các enzyme,các chất đề kháng, chất oxi hóa Ở các mô khác nhau, các giai đoạn khácnhau hệ protein lại có sự khác nhau Vì hệ protein lá rất phong phú, đa dạng
và không ổn định như hệ gen của cây đậu tương cho nên nghiên cứu hệ
protein lá không hề đơn giản và đòi hỏi sự kết hợp của rất nhiều công nghệ và
có liên quan đến các quá trình trao đổi và chuyển hóa của các amino acidhoặc các protein liên quan đến tính kháng bệnh, stress như ascorbate
peroxidase, catalase
1.1.2.4 Một số nghiên cứu về hệ protein lá đậu tương
Gần đây, các nghiên cứu về hệ protein thực vật sử dụng phương phápđiện di 2 chiều (Two dimension electrophoresis-2DE) đã được công bố [33],[58], [74], [86], [92] Một số nghiên cứu tập trung vào hệ protein của các bàoquan như lục lạp [47], [72], ty thể [33], một số lại tập trung vào các mô thựcvật như lá ngô [92], lá đào [101] Các nghiên cứu trên rễ đậu tương [116]
Trang 19hoặc trên hạt đậu tương đã thu được một số kết quả đáng kể [58], [83], [86],tuy nghiên các nghiên cứu về protein ở lá đậu tương vẫn đang ở mức sơ khai.Trong nghiên cứu của Sarma và cộng sự, các tác giả đã thành công trong việcphân tách hàng trăm các protein của các mô như lá, hạt và rễ đậu tương khi sửdụng phương pháp tách chiết protein và điện di 2 chiều [100] Trong khi đó,Krishnan và cộng sự đã nghiên cứu hệ protein lá đậu tương bằng phương phápđiện di 2 chiều và khối phổ, các tác giả đã phát hiện được 28 loại
phosphoprotein trong lá [68] Tương tự trong nghiên cứu của Xu và cộng sự,bằng phương pháp điện di và khối phổ các tác giả đã phân tách được 119
điểm protein trong đó đã nhận diện được 71 protein ở lá đậu tương [113] Đây
là hướng nghiên cứu đầy hứa hẹn, bằng việc áp dụng các kỹ thuật proteomics(kỹ thuật nghiên cứu, phân lập, tách chiết, phân tách và nhận diện cấu trúc,chức năng của hệ protein) các tác giả đã gợi ý các ứng dụng trong việc xácđịnh các protein kháng bệnh
Cho đến nay, các nghiên cứu về protein lá đậu tương còn rất hạn chế.Đặc biệt trong vấn đề phân tích, nhận dạng và lập bản đồ hệ protein lá đậu
tương còn ít được công bố [113] Từ thực tiễn đó, trong khuôn khổ luận ánnày chúng tôi mong muốn nghiên cứu tìm hiểu và lập bản đồ hệ protein của láđậu tương, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
1.2 Bệnh gỉ sắt và tính kháng bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương
1.2.1 Bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương
Bệnh gỉ sắt do nấm Phakopsora pachyrhizi gây ra là một trong những bệnh chính trên cây đậu tương (Glycine max) ở Châu Á và gây thiệt hại đáng
kể về năng suất ở các nước trồng đậu tương Hầu hết các nước nhiệt đới và cậnnhiệt đới đều ghi nhận có sự xuất hiện của bệnh gỉ sắt đậu tương địa phương.Bệnh gỉ sắt (soybean rust) được phát hiện đầu tiên vào năm 1902 ở Nhật Bản sau
đó lan nhanh sang hầu hết các nước châu Á, châu Phi, Nam Mỹ [80] và Mỹ
Trang 20[102] Các phát hiện về bệnh gỉ sắt ở Hawaii năm 1994 [67], Zimbabwe năm
1998 [69], Nigeria năm 1999 [28], Nam Mỹ năm 2001 [93], và Argentina năm
2002 [99] cho thấy nấm P pachyrhizi vẫn đang lan tràn sang các vùng địa lý
mới và ảnh hưởng nghiêm trọng đến mùa màng Bệnh gỉ sắt được coi là mối đedọa chính đối với năng suất đậu tương tại Mỹ [102] Ở Brazil, bệnh này gây thiệthại 1,2 tỷ đô la chỉ riêng trong năm 2003 [115] Tại các nước bệnh đã trở thànhdịch, năng suất đậu tương có thể giảm từ 10% đến 80% [90]
Về mầm bệnh, bệnh gỉ sắt ở đậu tương do hai loài nấm là P pachyrhizi
và P meibomiae gây ra Loài nấm gỉ sắt ở Châu Á P pachyrhizi Sydow là loài gây hại nhất cho đậu tương và có độc tính cao hơn loài P Meibomiae
(hình 1.2) Nấm gỉ sắt là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học trên toàn thếgiới cũng như ở Việt Nam Nấm gỉ sắt là loại nấm ký sinh phá huỷ lớp tế bàobao bọc làm cho cây bị thoát hơi nước mạnh, các bộ phận cung cấp nước
không thể tiếp tế đủ số nước bị mất đi, dẫn đến mất cân bằng giữa lượng nướchút vào và lượng nước thoát hơi, kết quả cây đậu tương bị héo
Hình 1.1 Mặt sau lá đậu tương bị nhiễm bệnh gỉ sắt (A) và hình ảnh bào tử
nấm gỉ sắt với độ phóng đại 400 lần (B) [118]
Trang 21Dấu hiệu và triệu chứng bệnh: Nấm gỉ sắt phát triển trên tế bào và có
mặt ở hầu hết các vụ cây trồng, nhưng bệnh chỉ phát sinh và phá hại nặngnhất trong vụ đậu tương xuân Bệnh gây hại nặng nhất ở lá, nhưng cũng cóthể ở trên thân, cành và quả Biểu hiện sớm nhất của bệnh là những chấm màutrong ở phiến lá, cỡ 1mm, sau lớn dần và chuyển màu vàng rồi nâu, đạt tớikích thước từ 2-5mm với hình đa dạng, có góc cạnh (Hình 1.1A) Các vếtbệnh có thể phát triển rộng và liên kết với nhau thành từng mảng, làm chophiến lá bị rách nát Ở mặt dưới phiến lá, nơi có vết bệnh, xuất hiện lớp bộtmàu nâu đó là các bào tử hạ của nấm Khi bị nấm tấn công, trong mỗi đốm lá
bị tổn thương có nhiều vết nứt, hoặc các ổ bào tử hạ (uredinia) màu nâu đỏbên trong chứa các bào tử hạ (urediniospore) hình oval, màu sẫm, bề mặt cónhiều gai nhỏ (hình 1.1B và 1.2) Các thể bào tử sẽ được giải phóng từ các lỗnhỏ hoặc vết nứt trên mặt lá Bệnh gỉ sắt phát sinh ở các lá già gần mặt đất, saulan lên các bộ phận khác ở phía trên của cây Tác hại của bệnh gỉ sắt là làm cho
lá cây đậu tương giảm hoặc mất khả năng quang hợp, gây rụng lá hàng loạt dẫnđến giảm năng suất quả, tỷ lệ hạt lép cao Từ khi cây đậu tương có 5-6 lá vànhất là khi bắt đầu ra hoa, bệnh xâm nhiễm mạnh nhất và sau đó phát triển kéodài tới khi thu hoạch Nấm xâm nhiễm cả vào quả làm cho hạt không thể pháttriển bình thường Do đó, năng suất và phẩm chất hạt đậu tương bị giảm sútnghiêm trọng Những ruộng bị bệnh nặng hầu như không cho thu hoạch Bệnh
gỉ sắt thường tập trung cao điểm vào tháng 3 và tháng 4 khi nhiệt độ đạt từ 20
-280C và cây đậu có từ 3 lá kép đến khi thu hoạch quả Đặc điểm này liên quantới sự tích luỹ và biến động hàm lượng protein và amino acid trong các giaiđoạn sinh trưởng ở các tuổi cây khác nhau [6]
Trang 22Hình 1.2 Hình ảnh nấm gây bệnh gỉ sắt ở đậu tương P pachyrhizi chụp dưới
kính hiển vi điện tử [118]
Vòng đời và quá trình nhiễm bệnh: Ở loài nấm P Pachyrhizi có hai
dạng bào tử là bào tử hạ (urediniospore) và bào tử đông (telliospore) [37].Bào tử hạ là dạng phổ biến được phát hiện thấy ở các mùa vụ, chúng pháttán, lây lan trên đồng ruộng Giai đoạn bào tử hạ có thể lặp lại nhiều lầntùy thuộc vào điều kiện ngoại cảnh Khi gặp điều kiện không thuận lợi hoặcvào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây, trên vết bệnh có thể hình thành ổbào tử đông màu đen Bào tử đông đơn bào, hình oval hoặc hình cầu cónúm, vỏ dày, kích thước 24-35µm x 20-29µm Bào tử đông đóng vai trò lànguồn bệnh bảo tồn cho vụ sau Quá trình nhiễm bệnh bắt đầu khi bào từ hạnảy mầm để hình thành một ống mầm phát triển trên bề mặt lá (đường kính5-400 µm) cho đến khi sợi áp (appressorium) hình thành Ổ bào tử hạ
thường phát triển từ 5-8 ngày, tối đa lên đến 4 tuần sau khi lây nhiễm, quátrình sinh bào tử có thể kéo dài đến 3 tuần Từ khi lây nhiễm cho đến khihình thành bào tử có thể kéo dài đến 15 tuần Thậm chí dưới điều kiện khôhạn, quá trình này còn diễn ra dài hơn
Trang 231.2.2 Tính kháng bệnh gỉ sắt của cây đậu tương
Bản chất của hiện tượng kháng là sự tương tác giữa cây trồng và vậtgây hại trong môi trường sống Sự tương tác giữa vật chủ và vật ký sinh theo
mô hình tương tác gen đối gen (gen for gen) [49] Theo đó, để xuất hiện tínhkháng bệnh ở cây cần có gen trội hoặc bán trội ở cây (dominant resistancegene) và cả gen không gây hại cũng mang tính trội (dominat avirulence gene)
ở vật ký sinh Tuy nhiên cho đến nay, cơ chế kháng bệnh gỉ sắt và sự tươngtác giữa mầm bệnh và cây chủ vẫn cần nhiều nghiên cứu để làm sáng tỏ
Theo giả thiết, sau khi bị nhiễm bệnh gỉ sắt, cây đậu tương sẽ có cácphản ứng tự vệ Hiện tượng tự vệ có thể do hệ thống SAR (Systemic acquiredresistance) với sự tham gia của nhiều nhóm protein liên quan đến mầm bệnh(Pathogenesis-related protein - protein PR) hoặc protein kháng (Resistant
protein - protein R) đảm nhận [44] Cụm gen R đã được phát hiện ở nhiều loài như lúa [105], Arabidopsis [34], [78], ngô [60], và đậu tương [51], [54], [66].
Cho đến nay, có nhiều nhóm protein PR với các chức năng khác nhau đã đượcphát hiện [73] Các protein này thường xuất hiện trong mô tế bào sau khi lâynhiễm bệnh từ vài phút đến vài giờ, chúng đều là các chất kháng khuẩn,
kháng nấm và tham gia vào bảo vệ tế bào thực vật khỏi các tác động của mầmbệnh [10], [44] Khi có sự tương tác giữa nấm và tế bào thực vật, các proteinAvr (avirulence protein) được hình thành từ sợi nấm và từ giác mút sẽ đượcchuyển vào nguyên sinh chất của tế bào thực vật bằng các con đường khácnhau [44],[64], [73] Protein Avr có nhiều loại và là các protein nhỏ có tronggiác mút của sợi nấm được tiết vào tế bào thực vật cùng với các protein khácqua các màng giác mút Protein R trong nguyên sinh chất của cây chủ nhậnbiết protein Avr và hoạt hóa hệ thống tín hiệu bảo vệ của tế bào thực vật [39]
Ở cây lanh (Linum usitatissimum) kháng nấm gây bệnh gỉ sắt, protein
AvrL567 của nấm gây bệnh được nhận biết bằng các protein kháng của cây
Trang 24chủ như protein L4, protein L6 và protein L7, hoặc các protein AvrM, AvrP4của nấm được nhận biết bằng các protein M và P4 của cây chủ [46] Ngoài ra,
từ sợi nấm, protein Avr cũng có thể xâm nhập vào nguyên sinh chất và tươngtác với protein R theo các cách khác nhau như hình 1.3
Hình 1.3 Mô hình hoạt động của protein kháng bệnh ở nấm
Tại Trung tâm phát triển Rau màu Châu Á (AVRDC), việc xác địnhtính kháng bệnh gỉ sắt của cây đậu tương là một mục tiêu quan trọng với
hơn 9000 dòng đậu tương đã được sàng lọc Cả tính kháng làm giảm tốc độphát triển, tính kháng chuyên biệt và tính chống chịu đều xuất hiện trên chấtmầm (germ plasm) của cây đậu tương [79]
Đặc tính kháng bệnh gỉ sắt của đậu tương là không ổn định và khá phứctạp [79] Chúng có thể do một hoặc một số gen trội quyết định và được ditruyền cho thế hệ sau theo các quy luật di truyền cơ bản hoặc có thể là ditruyền theo qui luật tương tác đa gen Ví dụ, trong 3 cặp lai (UPSL 13 x
Brogg, UPSL 85 x Harelec, UPSL - 3 x Clacrk 63), các giống làm mẹ lànhững giống kháng cả bệnh gỉ sắt và bệnh virus gây vàng lá, các giống làm bố
là các giống năng suất cao và mẫn cảm với bệnh Sự phân ly ở F2 cho kết quả
có một quần thể tuân theo tỷ lệ 3:1 (3 kháng: 1 nhiễm), hai quần thể khác
Trang 25không theo tỷ lệ lưỡng gen Một số thí nghiệm khác lại chỉ ra rằng các cây lai
ở F1 đều có khả năng kháng bệnh, còn các cây lai ở F2 phân ly theo tỷ lệ 9kháng: 7 nhiễm Điều này chứng tỏ rằng có 2 gen trội tác động qua lại cùngquyết định tính kháng bệnh Do đó, có thể nói, việc xác định tính kháng củacây đậu tương với bệnh gỉ sắt là khá phức tạp và cần thêm nhiều công trìnhnghiên cứu để làm sáng tỏ
1.2.2.1 Tính kháng bệnh gỉ sắt chuyên biệt ở đậu tương
Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện thấy có năm gen chính liên
quan đến tính kháng bệnh gỉ sắt ở đậu tương bao gồm: gen Rpp1 [56], [57] [76]; gen Rpp2 [59]; gen Rpp3 [37]; gen Rpp4 [56]; gen Rpp5 [52] Các phản ứng kháng qua trung gian ở các locus Rpp2, Rpp3, Rpp4 và locus Rpp5
làm hạn chế sự sinh trưởng, phát triển của bào tử nấm thông qua sự hình thànhcác thể tổn thương màu nâu đỏ [36], [37], [52], [56] Trong khi đó, phản ứng
kháng của gen Rpp1 là hình thành các phản ứng miễn dịch ở cây chủ [36] Các phản ứng kháng bệnh của gen Rpp2 đã được nghiên cứu rộng rãi bằng kỹ
thuật microarray [107] Theo đó mức độ biểu hiện của các gen tăng mạnhtrong vòng 12 tiếng sau khi gây nhiễm ở cả thực vật kháng bệnh và nhiễmbệnh Sau đó mức độ biểu hiện trở lại trạng thái bình thường sau khoảng 72giờ Các phản ứng này được phát hiện ở cả các giống nhiễm và giống kháng
Ở ba dòng đậu tương Tainung-4, PI459024, PI459025 và một dòng G soja
(PI 339871) được ghi nhận là có thêm các gen kháng chuyên biệt khác [58]
Tính kháng chuyên biệt cũng đã được xác nhận ở các loài Glycine spp.
hoang dại và một vài trong số đó đã được dùng làm cây ký chủ để xác địnhcác kiểu gây bệnh gỉ sắt Việc xác định các giống kháng bệnh đã được tiếnhành từ nhiều năm nay ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên số giống khángđược phát hiện chưa nhiều [52]
Nhiều nhà khoa học đã tìm cách phân lập các gen kháng bệnh để
nghiên cứu tính chất sinh hóa và chức năng của những protein tương ứng
Trang 26[58], [79], [106] Trên thực tế, việc phát hiện các gen kháng bệnh và các hệthống bảo vệ là rất phức tạp do có sự tham gia của nhiều gen khác nhau Một
số nghiên cứu sàng lọc giống đã được tiến hành để phát hiện các giống đậu
tương có khả năng kháng/chống chịu với nấm gây bệnh P pachyrhizi [58], [79] Các nghiên cứu về gen cho thấy năm gen Rpp1, Rpp2, Rpp3, Rpp4 và
Rpp5 đã được phát hiện và mô tả là có khả năng liên quan đến tính kháng đối
với một số chủng nấm P pachyrhizi Tuy nhiên chưa có một giống đậu tương nào có phổ kháng rộng với tất cả các chủng nấm P pachyrhizi và hiện nay
phần lớn các giống đậu trên thị trường được trồng ở Mỹ đều khá mẫn cảm vớibệnh gỉ sắt [102]
1.2.2.2 Tính kháng một phần bệnh gỉ sắt ở đậu tương
Các dòng mang tính kháng một phần hoặc các dòng chậm bị bệnh gỉsắt đã được xác định và mô tả dựa trên thời gian ủ bệnh và số lượng cụm bào
tử hạ có trong phần thương tổn [58] Đánh giá khả năng kháng bệnh bằng sựtheo dõi, quan sát, liệt kê một số dòng mang tính kháng một phần được xácđịnh dựa trên số lượng nốt Trở ngại chính trong phát triển các dòng đậutương mang tính kháng là làm thế nào để đánh giá được các dòng này từ cácquần thể phân ly hoặc từ các dòng có tính trưởng thành khác nhau
Ngoài những khác biệt sinh lý khi cây trưởng thành, các điều kiệnmôi trường cũng có thể gây ảnh hưởng khi cây trưởng thành trong các
khoảng thời gian khác nhau
1.2.2.3 Tính chống chịu bệnh gỉ sắt ở đậu tương
Tính chống chịu ở đây được hiểu là khả năng cây cho năng suất tươngđối dưới áp lực của bệnh gỉ sắt Để so sánh năng suất tương đối, người ta sosánh một dòng được trồng trên ô được và không được bảo vệ bằng thuốc trừnấm Mặc dù cần có thêm diện tích ruộng, tính chống chịu cần được đánhgiá vào mỗi mùa vụ
Trang 27Ở Đài Loan và Thái Lan, nhiều dòng đã được chọn và sàng lọc thửnghiệm tính chống chịu bệnh gỉ sắt [88] Dựa trên phần trăm gia tăng
năng suất khi so sánh giữa các dòng, người ta đã xác định được các dòngmang tính chống chịu cao hoặc có thể kháng một phần Thiệt hại năngsuất của các dòng chống chịu này thường ít hơn so với các dòng có năngsuất cao khác Xu hướng tương tự cũng xảy ra ở những dòng bị giảm sút
ở chỉ tiêu trọng lượng 100 hạt Các dòng mang khả năng chống chịu bệnh
gỉ sắt có diện tích lá bị bệnh nhỏ nhất hoặc có tính kháng một phần dựatrên số lượng vết bệnh trên mắt lá Gần đây, cùng với m ức độ phần trămtăng năng suất thì chỉ tiêu chống chịu stress đã được áp dụng trong đánhgiá tính chống chịu bệnh gỉ sắt bằng cách sử dụng các ô ba chiều để chiacác nguyên liệu khảo nghiệm ra thành bốn nhóm Mặt phẳng X-Y (X:
tính độc bệnh, Y: năng suất phần trăm) được chia thành bốn đoạn bằngcách vẽ các đường phần cắt tại điểm chính giữa của trục X và trục Y
Trục Z thể hiện mức độ chống chịu stress mà một dòng có được ở bất kỳnhóm nào trong bốn nhóm
1.3 Các phương pháp phân tích đa dạng di truyền ở cây đậu tương
Trong phân tích tính đa dạng di truyền của thực vật người ta có thểtiến hành thực hiện ở các cấp độ và phương pháp khác nhau, từ các đặcđiểm hình thái, sinh lý và hoá sinh đến đặc điểm của phân tử DNA, protein.Phân tích đa dạng di truyền ở đậu tương dựa trên một số phương pháp nhưchỉ thị hình thái, chỉ thị hoá sinh và chỉ thị phân tử DNA
1.3.1 Phương pháp sử dụng chỉ thị hình thái
Chỉ thị hình thái là một chỉ thị đồng trội, thường được biểu hiện dướidạng một tính trạng được kiểm soát bởi một locus đơn lẻ như các gen quyđịnh màu sắc hoa và hình dạng của hạt, vỏ Mặc dù chỉ thị hình thái được
sử dụng như một chỉ thị di truyền, song khả năng ứng dụng của nó trong
Trang 28chọn giống gặp phải nhiều hạn chế bởi chúng luôn chịu ảnh hưởng của cácnhân tố di truyền như sự tương tác giữa các sản phẩm của gen Các nhân tốmôi trường như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm cũng có tác động qua lại giữakiểu gen và kiểu hình, gây ảnh hưởng không nhỏ đến các giai đoạn pháttriển của thực vật.
Biểu hiện khả năng kháng và nhiễm bệnh về mặt hình thái ở thực vậtđược xác định theo các tiêu chí nhất định Đây là chỉ thị quan trọng để tìmkiếm và tạo giống kháng bệnh Ví dụ như bệnh gỉ sắt được xác định trên cơ
sở đánh giá vết bệnh trên lá, mức độ tạo quầng, mức độ tạo bào tử, từ đó cóthể phân biệt được các giống đậu tương kháng tốt, kháng trung bình và mẫncảm với bệnh
Hơn nữa, một số tính trạng trội được tạo ra theo ý muốn của con ngườithông qua đột biến Các tác nhân này gây ra một số hiện tượng như lùn, bạchtạng có hại cho cơ thể của thực vật Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của các chỉthị phân tử DNA và chỉ thị hoá sinh học, những khó khăn trên đang từng bướcđược giải quyết
1.3.2 Phương pháp sử dụng chỉ thị hoá sinh học
Các chỉ thị hoá sinh có trong hầu hết các protein đa hình như isozyme
và các protein dự trữ (stograge protein) Các isozyme có thể được phân táchtheo trọng lượng, kích thước phân tử và các chất mang Nhờ vậy, bằng kỹthuật điện di trên gel tinh bột hoặc gel polyacrylamide, người ta có thể pháthiện ra các biến dạng khác nhau của phân tử enzyme, ví dụ như isozymeamylase, esterase… Các biến dạng này có thể cung cấp thông tin như là mộtloại chỉ thị đồng trội
Trang 29C hi ều
2 S D S- P A
Thanh gel Mẫu protein
Chiều 1 IEF
Cân bằng mẫu
-+
Hình 1.4 Sơ đồ phân tách protein bằng điện di 2-DE
Phương pháp phân tích isozyme tiết kiệm về mặt kinh tế, kỹ thuật vàđơn giản hơn phân tích DNA Tuy nhiên, isozyme là sản phẩm của gen, sốlượng của chúng có hạn và chúng chỉ thể hiện ở những giai đoạn nhất địnhtrong quá trình phát triển của cá thể Vì vậy, loại chỉ thị này chỉ phản ánhchính xác một phần bản chất di truyền
Hiện nay, các nghiên cứu về hệ gen (genomics) và hệ protein
(proteomics) thực vật đang được quan tâm và ngày càng phát triển mạnh[40] Kỹ thuật điện di 2 chiều (2-DE, two-dimensional electrophoresis) là kỹthuật phân tách protein theo điểm đẳng điện (chiều thứ nhất) và theo trọnglượng phân tử (chiều thứ hai) (hình 1.4) Kỹ thuật này ngày càng trở thànhmột công cụ được ứng dụng rộng rãi nhằm phân tách các phức hợp proteintrong tế bào, mô và cơ thể [53], [55] Phương pháp điện di hai chiều, thủyphân protein trong gel, sau đó nhận dạng bằng khối phổ đang là cách tiếpcận proteomics thường được sử dụng nhất [27], [35], [48], [50], [55] Tùy
Trang 30thuộc vào kích thước gel và dải gradient pH sử dụng, điện di 2-DE có thểphân tách hàng ngàn protein (lên đến 5000 điểm protein), và có thể phát hiệnvệt protein với lượng <1ng có mặt trong mẫu cùng một lúc, đồng thời sosánh mức độ biểu hiện khác nhau của chúng ở các mẫu phân tích để tìm cácchỉ thị liên quan đến bệnh [84].
1.3.3 Các phương pháp sử dụng chỉ thị phân tử DNA
Chỉ thị phân tử DNA trong thời gian đầu chủ yếu là RFLP, dựa trên cơ
sở mẫu dò đặc hiệu Sau khi phát minh ra PCR, người ta phát triển tiếp cácchỉ thị dựa trên phương pháp này như RAPD, AFLP, SSR, SNP, Bên cạnh
đó, QTL (Quantitative Trait Loci) - bản đồ locus các tính trạng số lượng xácđịnh mối liên kết giữa các chỉ thị phân tử với một số tính trạng số lượng cũngđang được các nhà khoa học quan tâm
1.3.3.1 Chỉ thị RAPD
Kỹ thuật RAPD là phương pháp khuếch đại ngẫu nhiên DNA để phântích sự đa dạng di truyền, kỹ thuật này được phát hiện vào năm 1990 bởiWelsh và cộng sự [112] RAPD đã được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu sựđang dạng di truyền của cùng một loài hoặc sự khác biệt di truyền của nhữngloài khác nhau [15], [25] Mồi được sử dụng trong kỹ thuật RAPD là nhữngsợi oligonucleotide gồm 10 cặp nucleotide có trình tự sắp xếp ngẫu nhiên.Các sản phẩm RAPD được phân tách bằng cách điện di trên gel agarose Hệgen của các đối tượng khác nhau hoặc của hai loài sẽ cho sự khác nhau vềnhững phân đoạn DNA, từ đó có thể so sánh sự đa dạng sinh học của các đốitương nghiên cứu
Về nguyên tắc, kỹ thuật RAPD dựa trên phản ứng PCR (PolymeraseChain Reaction), bằng cách sử dụng những mồi ngắn có trình tự biết trước, bắtcặp và nhân bản ngẫu nhiên những đoạn DNA có trình tự bổ sung với trình tựcủa các mồi Mồi (primer) là những đoạn oligonucleotide ngắn, một mạch
Trang 31(khoảng 10 nucleotide) được tổng hợp một cách ngẫu nhiên, có hàm lượngG+C cao (từ 60-70%) và không có đầu tự bổ sung Các mồi dùng trong RAPDthường ngắn vì vậy dễ dàng tìm được các đoạn tương đồng trên mạch đơnDNA của hệ gen Việc sử dụng chỉ thị RAPD trong việc nghiên cứu đa dạng vàlập bản đồ di truyền của các locus đặc trưng bao gồm các bước sau: (i) Thiết kếmồi; (ii) Chuẩn bị mẫu DNA và chạy PCR; (iii) kiểm tra sản phẩn nhân bảntrên gel agarose; (iv) Phân tích kết quả bằng phần mềm chuyên dụng; (v) Xácđịnh hệ số đồng dạng di truyền và thiết lập sơ đồ quan hệ di truyền của các đốitương nghiên cứu.
Các sinh vật cùng loài có kiểu gen hoàn toàn giống nhau thì các đoạnDNA được khuếch đại sẽ có kích thước giống nhau, khi sử dụng bất kỳ mồingẫu nhiên nào trong phản ứng PCR-RAPD Với các sinh vật khác loài, khi
sử dụng các mồi ngẫu nhiên trong phản ứng PCR-RAPD, các đoạn DNAđược khuếch đại sẽ có kích thước khác nhau Để tìm sự khác biệt giữa cácloài, người ta thường sử dụng các mồi ngẫu nhiên với số lượng lớn
Ứng dụng của chỉ thị RAPD
Kỹ thuật RAPD được ứng dụng phổ biến trong nghiên cứu tính đa dạng
di truyền các giống, phát hiện khả năng di truyền liên quan đến một tính trạnghoặc thiết lập bản đồ di truyền [43], [70], [96], [110] Trong chương trình cảithiện giống, nhà chọn giống thường quan tâm đến những tính trạng mà nóbiểu hiện bên ngoài (phynotype) Các tính trạng đó có thể là tính kháng sâubệnh, tính chống chịu phèn, mặn hoặc stress… Nhưng nếu việc phân tích ditruyền chỉ dựa trên kiểu hình thường kết quả dễ bị sai lệch, do kiểu hình là kếtquả của sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường Chính vì thế, nhà chọngiống cần phải biết tính trạng đó liên kết với kiểu gen như thế nào và phươngpháp RAPD sẽ trợ giúp phát hiện được điều này
Trang 32Sử dụng kỹ thuật RAPD để nghiên cứu đa dạng sinh học của giống cây
có múi ở huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Hữu Hiệp và nhóm
nghiên cứu đã sử dụng các mồi ngẫu nhiên, kết quả có 49 dấu phân tử đượcghi nhận Từ đó vẽ được giản đồ phả hệ của các giống cây này [5] Barakat vàcộng sự ứng dụng kỹ thuật RAPD đã phân tích và nhận dạng được các chỉ thịliên quan đến tính kháng bệnh đốm trắng ở lá ngô [32] Trong khi đó, Paulo(2004) đã sử dụng 32 mồi để xác định mối quan hệ di truyền của 81 giốngngô Brazil, kết quả thu được 225 phân đoạn DNA được nhân bản, trong đó có
184 phân đoạn DNA thể hiện tính đa hình (chiếm 72,2%) [91] Năm 2003,Jorge và cộng sự đã đánh giá sự tương đồng di truyền giữa 7 giống chè ở HyLạp nhờ kỹ thuật RAPD Sử dụng 25 mồi ngẫu nhiên các tác giả đã nhân bảnđược 282 phân đoạn DNA, trong đó có 195 phân đoạn thể hiện tính đa hình[65] Ngoài ra, Dey và cộng sự (2005) nghiên cứu tính đa dạng di truyền của
38 dòng lúa thơm và 2 dòng đối chứng bằng kỹ thuật RAPD, kết quả khuếchđại được 44 phân đoạn DNA và có 41 phân đoạn thể hiện tính đa hình [43].1.3.3.2 Chỉ thị SSR
Kỹ thuật SSR (Simple Sequence Repeat - trình tự lặp lại đơn giản) do
Litt và Luty (1989) phát hiện lần đâu tiên trên đối tượng người [71] Nghiêncứu này đã chỉ ra rằng, ở người trình tự lặp lại đơn là TG với tần số lặp lại là10-60 lần, chúng phân bố rải rác trong hệ gen tạo nên có khoảng 50.000 bảnsao Bằng kỹ thuật PCR, người ta đã phát hiện ra trình tự SSR ở gen tổng hợpactin của người và xác định được 12 alen trên 37 kiểu gen được nghiên cứu vànhận thấy các SSR này là những yếu tố trội di truyền theo quy luật của Mendel
SSR là một đoạn DNA có sự lặp lại của một trật tự nucleotide nào đó.Hiện tượng tồn tại các SSR trong cơ thể sinh vật nhân chuẩn là khá phổ biến.Tuy nhiên, tuỳ từng loài mà số lượng nucleotide trong mỗi đơn vị lặp lại cóthể thay đổi từ 1 đến hàng chục và số lượng đơn vị lặp lại có thể biến động từ
Trang 332 đến hàng ngàn lần hoặc nhiều hơn [20] Các đoạn lặp lại hai, ba, bốn
nucleotide như (CA)n, (AAT)n và (GATA)n phân bố rộng rãi trong hệ gen củacác loài động và thực vật Phương thức lặp lại được phân thành 3 loại chính:lặp lại hoàn toàn (các đơn vị lặp lại sắp xếp nối tiếp nhau); lặp lại không hoàntoàn (xen kẽ vào các đơn vị lặp lại là một số nucleotide khác); lặp lại phức tạp(sự xen kẽ giữa những đơn vị lặp lại khác nhau)
Việc sử dụng các chỉ thị SSR trong lập bản đồ di truyền của các locusđặc trưng bao gồm các bước sau: (i) Phân lập đoạn SSR từ thư viện hệ gen;(ii) Xác định trình tự của vùng có SSR; (iii) Xác định các cặp mồi đặc trưng làcác trình tự DNA bảo thủ giới hạn hai đầu của đoạn SSR; (iv) Nhân vùng gentương ứng bằng PCR sử dụng các mồi đặc trưng; (v) Phân tích kích thước củasản phẩm PCR nhằm xác định được sự có mặt của các alen SSR
Phản ứng PCR - SSR với mồi được thiết kế dựa trên hệ gen của từngloài, nên chỉ thị SSR cho kết quả đa hình cao hơn là các chỉ thị phân tử khác
Kỹ thuật này chỉ đòi hỏi một lượng nhỏ DNA mẫu nhưng lại cho phép pháthiện nhanh sự khác biệt DNA giữa các cá thể trong cùng một giống Phản ứngkhông mất nhiều thời gian Hầu hết các locus SSR ở thực vật có sự đa hìnhcao hơn các chỉ thị phân tử khác và cho kết quả nhanh và đáng tin cậy hơn chỉthị RAPD Chỉ thị SSR với các locus đặc trưng, đa alen và cung cấp nhiềuthông tin nên chúng hết sức có ích trong việc thay đổi trình tự hiếm [67] Đâychính là những ưu điểm chính của kỹ thuật SSR Nói chung, chỉ thị SSRtương đối đơn giản hơn so với chỉ thị RFLP hay AFLP Vì vậy, chỉ thị nàyđược quan tâm hơn trong ứng dụng vào chọn giống thực vật [95]
Hạn chế của kỹ thuật SSR là tốn kém về tiền của và công sức trong việcthiết lập cặp mồi đặc hiệu cho mỗi locus đa hình Ngoài ra, việc xây dựng cáccặp mồi đặc hiệu đòi hỏi phải tách dòng và đọc trình tự một số lượng lớn cácđoạn DNA bộ gen chứa SSR [74] Vì vậy, số lượng các mồi chưa được pháttriển ở nhiều loại thực vật
Trang 34Ứng dụng của kỹ thuật SSR
Trong nghiên cứu đa dạng di truyền, SSR được áp dụng để nghiên cứu
đa dạng trên cả đối tượng động vật và thực vật vì nó cho độ đa hình cao vàđáng tin cậy Ở thực vật, tần số và số lượng SSR đã được xác định trên một sốloài cây như lạc, mơ, lúa mì [32], [75] và đang phát triển ở các giống câytrồng khác như đậu tương [111] Trong việc nghiên cứu tạo giống mới, chỉ thịSSR liên quan đến một số tính trạng đã được xác định như chọn giống nhờ chỉthị (marker-assisted selection) Các chỉ thị SSR đã được dùng để chọn dòngkháng bệnh khảm do virus ở cây đậu tương [29], chọn các dòng lúa có năngsuất cao và hàm lượng protein dự trữ cao hoặc để xác định mối quan hệ họhàng giữa các giống cây trồng ở một số đối tượng như lúa, mía, đậu tương, càchua hoặc xây dựng bản đồ di truyền liên kết tính trạng ở cà chua và lúa vàxác định giới tính thực vật trên đối tượng đu đủ
1.3.3.3 Các chỉ thị RFLP và AFLP
Các chỉ thị phân tử như RFLP (Restriction Fragment length
Polymorphism) và AFLP (Amplified Fragment Length Polymorphism) cũng
được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu đa hình DNA
Nguyên lý của kỹ thuật RFLP dựa trên cơ sở sử dụng mẫu dò đặc hiệu(trình tự DNA đã biết) để xác định sự thay đổi trong locus đặc hiệu đó ở bộgen của các cá thể cần nghiên cứu Kỹ thuật RFLP được tiến hành như sau:các endonuclease cắt giới hạn được sử dụng để cắt DNA bộ gen ở trình tựnhận biết đặc trưng, tạo ra hàng loạt các phân đoạn nhỏ có kích thước khácnhau Số lượng các phân đoạn này phụ thuộc vào điểm nhận biết trong bộgen Sản phẩm của quá trình cắt sẽ được điện di, sau đó được chuyển nguyên
vị và cố định trên màng lai Đa hình độ dài các đoạn cắt giới hạn sẽ được pháthiện bằng sự kết hợp giữa mẫu dò đã được đánh dấu (bằng phóng xạ hoặcbằng phương pháp hoá học) và các đoạn DNA của mẫu cần phân tích (đượctạo ra từ cùng một locus theo nguyên tắc bổ sung)
Trang 35Trong khi đó, AFLP là một kỹ thuật đánh dấu phân tử dựa vào nguyên
lý của PCR để nhân các đoạn được cắt hạn chế bởi enzyme giới hạn Cũngnhư các chỉ thị phân tử khác, AFLP khám phá hiện tượng đa hình qua sự khácnhau về độ dài của các đoạn DNA được nhân Kỹ thuật này gồm 3 bước: cắtDNA bộ gen bằng enzyme giới hạn và gắn các đoạn oligonucleotide tiếp hợp(adapter), nhân một cách chọn lọc các đoạn giới hạn và phân tích trên gel cácđoạn DNA được nhân lên
Chỉ thị AFLP ít phức tạp hơn RFLP, với ưu điểm là độ đa hình caonhận dạng tới cá thể, thông qua đó có thể tìm được những chỉ thị liên kết rấtchặt và vì thế là một kỹ thuật hữu ích trong nghiên cứu di truyền [103]
Các công trình nghiên cứu đa dạng di truyền phân tử ở đậu tương sửdụng chỉ thị RAPD đôi khi cho kết quả tính đa hình thấp Vì thế, gần đây việcthiết kế mồi SSR chuyên dụng cho đậu tương đã và đang được một số Việnnghiên cứu trên thế giới tiến hành [62] Ở Việt Nam, việc nghiên cứu sử dụngchỉ thị SSR trong nghiên cứu tính chịu nóng, chịu hạn ở thực vật nói chung vàđậu tương nói riêng còn rất hạn chế, đặc biệt là trên đối tượng đậu tương cóphản ứng khác nhau với bệnh gỉ sắt Tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triểnđậu đỗ, Viện Cây lương thực và cây thực phẩm Việt Nam, hàng trăm mẫugiống đậu tương nhập nội và giống đậu tương địa phương đã được đánh giá
về khả năng chịu nóng, chịu hạn, kháng sâu bệnh Việc chọn tạo giống chủyếu dựa trên những phương pháp thủ công truyền thống trên cơ sở phân tíchđặc điểm hình thái, sinh lý, nông sinh học mà chưa đi sâu vào chọn lọc dựatrên những đặc điểm di truyền phân tử Vì vậy, việc sử dụng chỉ thị phân tửvào nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương là rất cần thiết
1.3.3.4 Bản đồ QTL
Bản đồ các locus kiểm soát tính trạng số lượng QTL (Quantitative TraitLoci) xác định mối liên kết giữa các chỉ thị phân tử với một tính trạng số
Trang 36lượng đang được quan tâm Từ bản đồ QTL ta có thể xác định được nhữngvùng trên NST có liên quan đến một tính trạng hay không Các bước để lậpbản đồ QTL như: (i) xác định cặp lai có tính trạng đối kháng nhau; (ii) lai vàtạo quần thể cho lập bản đồ (300-600 cá thể); (iii) theo dõi sự phân ly của cácchỉ thị trong quần thể; (iv) xử lý thống kê và lập bản đồ.
Lập bản đồ QTL nhằm xác định vị trí gen, hiệu quả và hoạt động củacác locus liên quan trong mối tương tác giữa các sản phẩm của gen và tươngtác QTL với môi trường, từ đó chọn lọc được các dòng với tính trạng mongmuốn nhờ sự trợ giúp của chỉ thị phân tử (MAS - Marker Assisted Selection).Năm 2002, các nghiên cứu lập bản đồ QTL liên kết với tính trạng qui địnhkhối lượng [61] hoặc tính chịu hạn ở đậu xanh [103] đã được mô tả
1.4 Các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt ở cây đậu tương
Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về gỉ sắt [32], [52],[77], [81] Ở Đài Loan, bệnh gỉ sắt gây thiệt hại nghiêm trọng đến cây đậutương và làm hạn chế năng xuất đậu tương vụ xuân Trung tâm Rau màu Châu
Á (AVRCD) của Đài Loan đã tiến hành so sánh 1080 giống, kết quả có 9 mẫugiống kháng bệnh trung bình, trong đó có 4 mẫu giống có nguồn gốc từ TrungQuốc, 3 giống có nguồn gốc từ Nhật Bản, 1 giống có nguồn gốc từ Triều Tiên.Giống Tainung 4 có sức kháng bệnh nhiều hơn các giống khác trong điều kiệnđồng ruộng, số lượng vết bệnh ít hơn [6] Ở Mỹ, Bộ Nông nghiệp Mỹ kết hợpPhòng thí nghiệm Nghiên cứu bệnh thực vật và AVRCD đã khởi động một dự
án hợp tác nghiên cứu dịch tễ học của bệnh gỉ sắt đậu tương năm 1978 Dự ánnày kéo dài đến năm 1982 và các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt được tiếp tục tiếnhành cho đến năm 1992 Ở Thái Lan, chương trình quốc gia của Thái Lan đã vàđang tiến hành các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt đậu tương với các mục tiêu laigiống chủ động kéo dài hơn 10 năm qua [88] Ở Indonesia, phần lớn các giốngđậu tương đều bị nhiễm bệnh cho nên bệnh gỉ sắt được xem là loại bệnh
Trang 37nghiêm trọng nhất trên cây đậu tương và đã lan rộng cả ở mùa mưa và mùakhô Các hoạt động nghiên cứu ở Indonesia bao gồm cải thiện tính kháng cây
ký chủ, thử nghiệm thuốc trị nấm, quản lý bệnh gỉ sắt thông qua trồng thửnghiệm và các nghiên cứu về sự phát tán bào tử Trong khi đó ở Úc, bệnh gỉ sắt
đã được nghiên cứu sâu, tuy nhiên kinh phí bị giới hạn nên các nghiên cứu hiệnnay chủ yếu tập trung vào việc sàng lọc các quần thể hồi giao bằng cách lai
Glycine max và Glycine tomentella.
Bằng kỹ thuật phân tử, những biến đổi ở mức độ alen và tính di truyềnđược tìm thấy ở đậu tương [45] Verma và cộng sự (1996) đã công bố về
những biến đổi alen của SSR ở mức độ cao trong sinh chất mầm đậu tương[109] Theo ông, có 28 alen SSR được nhắc lại trong nhóm 96 kiểu gen đậutương Akkaya và cộng sự (1992) đã lập bản đồ 40 locus SSR ở đậu tươngcùng với 118 chỉ thị RFLP và RAPD Có 18 trong 29 nhóm liên kết chứa ítnhất một locus SSR được phân bố khá ngẫu nhiên trong hệ gen đậu tương[29] Năm 1995, Maughan nghiên cứu trên 94 giống đậu tương đã xác định đ-ược 79 alen trên 5 locus [74] Navel và cộng sự (2000) khi nghiên cứu 40giống đậu tương trong tập đoàn đậu tương và 39 giống cao sản đã sử dụng 74chỉ thị SSR và nhận được 379 alen trên 74 locus [85] Ngoài ra, Abe và cộng
sự (2003) đã phân tích 20 locus SSR của 131 giống đậu tương từ 14 nướcChâu Á và nhận thấy rằng trung bình trên mỗi locus SSR có đến 11,2 alen[26] Họ cũng đã nhận ra sự khác nhau về nguồn gốc di truyền giữa tập đoàngiống đậu tương ở Nhật Bản và Trung Quốc Các phát hiện của của nhómnghiên cứu này đã chỉ ra rằng các giống đậu tương của các nước Đông Nam
Á và Trung Á phần lớn bắt nguồn từ Trung Quốc Trong khi đó, Cregan vàcộng sự (1999) đã sử dụng đồng thời các chỉ thị SSR, RAPD, AFLP và thiếtlập được bản đồ gen với 20 nhóm gen liên kết ở đậu tương trên cơ sở ba quầnthể lai của các trường đại học Iowa, Utah và Nebraska [42]
Trang 38Để xác định gen kháng bệnh gỉ sắt trên các giống đậu tương của Mỹ vàBrazil, sử dụng phương pháp lập bản đồ liên kết chỉ thị phân tử (map-basedcloning) các nhà khoa học đã phát hiện một số chỉ thị SSR liên kết gần với
các gen từ Rpp1 đến Rpp5: Rpp1và Rpp4 thuộc nhóm liên kết G trên NST số 18; Rpp3 thuộc nhóm liên kết C2 trên NST số 6; Rpp3 thuộc nhóm J trên NST
số 16 và Rpp5 thuộc nhóm N trên NST số 3 [52], [63], [77], [81], [82], [104].
Ở nước ta, kết quả thí nghiệm của một số tác giả thuộc trường Đại họcNông nghiệp Hà Nội cho thấy các giống đậu tương trồng đều bị nhiễm bệnhvới các mức độ khác nhau Các giống ít bị bệnh hay bị nhiễm muộn trên đồngruộng hiện nay là M103, DT93, DT84, AK03, AK05, VX93, dòng 42 Cácgiống nhiễm bệnh nặng là V74 (DT74) và DH4 Trong nghiên cứu về mốiquan hệ di truyền của 19 giống đậu tương Việt Nam với 25 cặp mồi bằng chỉthị RADP, tác giả Đinh Thị Phòng và cộng sự cho thấy có 17/25 mồi có tính
đa hình với giá trị PIC (Polymorphic Information Content-Hàm lượng thôngtin đa hình) dao động từ 0,11 đến 0,6, trong đó có 3 mồi có tính đa hình cao(PIC>0,5) Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng các giống có tính chống chịu vớiđiều kiện bất lợi của môi trường như giống HL92 (kháng bệnh xoăn lá và thốiquả) và HL203 (chống chịu khá với sâu bệnh) đều nằm trong cùng nhóm phụIII và có hệ số sai khác di truyền 0,114 Hoặc hai giống M103 (chịu nóng) vàgiống DT84 (chịu lạnh và chịu úng) đều nằm trong nhóm phụ II và có hệ sốsai khác di truyền 0,082 [17]
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các nghiên cứu về bệnh gỉ sắt ởđậu tương đã được tiến hành và thu được một số thành tựu đáng kể: Trungtâm đậu đỗ Định Tường đã khảo sát 500 mẫu giống, trong đó giống G8587 cósức kháng khá, các giống 7608-25-4, SJ4, SJ5, DT78, Pand, Provar có thểhiện mức độ kháng bệnh Phạm Văn Biên và cộng sự thuộc Viện kỹ thuậtnông nghiệp Miền Nam khi nghiên cứu về nguồn gen kháng gỉ sắt đã cho thấy
Trang 39các giống Hoà An, MTD3, Prover, Cao quả địa hoa trắng, Đen Bắc Hà, ĐenCao Bằng, MTD4, Nhật 12, 13, 16, 17, 20 có tính kháng với bệnh gỉ sắt [1].Những năm gần đây, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ - Viện Câylương thực và cây thực phẩm đã nghiên cứu, lai tạo và kiểm định được một sốgiống có khả năng kháng với bệnh gỉ sắt như: DT2000, CBU8325, DT95.Giống DT2000 được công nhận là giống Quốc gia có khả năng kháng cao đốivới gỉ sắt ở các mùa vụ khác nhau Các nghiên cứu sử dụng chỉ thị SSR đểnghiên cứu tính đa dạng di truyền các giống đậu tương đã có kết quả bướcđầu khả quan [21], [22] Như vậy, do các đoạn SSR có mức độ đa hình cao vàphân bố ngẫu nhiên trong hệ gen đậu tương nên chúng có thể cung cấp nhữngdẫn chứng chính xác và tin cậy trong nghiên cứu sinh học phân tử, di truyềnhọc và lai tạo giống cây trồng.
1.5 Các nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương
Nhằm phát triển tăng năng suất và chất lượng đậu tương một cáchmạnh mẽ, hàng loạt các tổ chức, các mạng lưới nghiên cứu và cải tạo giốngđậu tương trên thế giới đã được thành lập như: Chương trình nghiên cứu đậutương Quốc tế ở Hoa Kỳ (INTSOY - International Soybean Program), ViệnNông nghiệp nhiệt đới ở Nigeria (IMA - Institute of Tropical Agriculture),Trung tâm phát triển rau màu Châu Á (AVRDC - Asian Vegetable ResearchDevlopment Center) ở Đài Loan, Viện nghiên cứu lúa quốc tế ở Philippin(IRRI - International Rice Research Institute) Trong đó, Trung tâm pháttriển rau màu Châu Á là nơi nghiên cứu và đánh giá tập đoàn gen đậu tươngsớm nhất thế giới Trung tâm này đã thiết lập được hệ thống đánh giá đậutương và đã chọn lọc thành công 24 giống đậu tương có năng suất cao, cókhả năng chống bệnh gỉ sắt và thích ứng với điều kiện canh tác và sinh thái
ở nhiều quốc gia
Trang 40Công tác nghiên cứu giống đậu tương trên thế giới hướng tới nhữngmục đích: (i) Nhập nội giống sau đó chọn lọc, thử nghiệm với điều kiện củacác vùng sinh thái; (ii) Khảo nghiệm các giống ở các vùng sinh thái khác nhau
để tìm ra giống có khả năng thích ứng với các vùng sinh thái đó; (iii) Tạo tínhtrạng mới bằng lai hữu tính và dùng các tác nhân vật lý, hoá học nhằm chọnlọc ra những dòng tốt nhất phục vụ cho sản xuất; (iv) Xác định các địa bàntrồng đậu tương trên thế giới và các nước trồng đậu tương đạt năng suất vàsản lượng cao Với những mục đích trên, công tác này được tiến hành theo haihướng chính:
(1) Thu thập và nghiên cứu nguồn gen đậu tương làm nguyên liệu cho lai tạo:
Tại Trung Quốc và Hoa Kỳ, người ta đã thu thập được tập đoàn giống đậutương lớn trên thế giới từ nhiều nước khác nhau như: Australia, Brazil, Đức,Nhật Bản, Ấn Độ, Thuỵ Điển, Nga… Tại Nhật Bản, từ năm 1960 một sốgiống đậu tương đã được lai tạo thành công, ví dụ như giống đậu tương
Norin-59 có chất lượng hạt tốt, chống chịu được tuyến trùng, chống đổ, năngsuất cao đã được lai tạo từ hai giống bố mẹ là Naugumitacodater và Tokokal
Ở Indonesia, các nhà nghiên cứu đã phân lập được một số giống có thời giansinh trưởng ngắn từ 70-80 ngày như giống Kerinei, Rinani, MLg 254,
B3334 Các giống này có thể trồng luân canh trên đất sau cây lúa trong điềukiện làm đất tối thiểu hoặc không làm đất vẫn đạt năng suất từ 1,5-1,7 tấn/ha.Ngoài ra, Rafalski và các tác giả cũng đã chọn được các giống cứng cây,chống đổ tốt và chọn lọc thành công một số giống như Will đang được trồngphổ biến ở Indonesia [95]
(2) Thiết lập bản đồ gen đậu tương: Dự án đậu tương lớn nhất tại Hoa Kỳ đã
thống kê được 72 bản đồ gen phân tử (molecular genetic maps) và bản đồgen cổ điển (genetic classical maps) [117] Các bản đồ gen này định vị
được 44.326 locus, 481 gen và nhiều QTL, một phần trong số đó đã được