BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN VĂN THẢO NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ LÓC BÔNG Channa mi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ
SỐNG CỦA CÁ LÓC BÔNG (Channa micropeltes Cuvier, 1831)
NUÔI THƯƠNG PHẨM BẰNG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG - 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN THẢO
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN TỐC ĐỘ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ
SỐNG CỦA CÁ LÓC BÔNG (Channa micropeltes Cuvier, 1831)
NUÔI THƯƠNG PHẨM BẰNG GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT TẠI
BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành
Mã số
: :
Nuôi trồng thủy sản 60.62.70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LẠI VĂN HÙNG
NHA TRANG - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chính tácgiả đã trực tiếp thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làhoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng công bố trong bất cứ công trìnhkhoa học nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được tác giả cảm ơn vàcác thông tin trích dẫn trong luận văn đều được trích rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Văn Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Nha Trang, SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk, Dự án Hợp phần SUDA, Chi cụcThủy sản Đắk Lắk, Chương trình Hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II (FSPS II) ĐắkLắk đã tạo điều kiện cho tác giả được tham gia khóa đào tạo Thạc sĩ về Nuôi trồngthủy sản này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến Thầy giáo PGS.TS Lại VănHùng đã tận tình giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu
để tác giả hoàn thành luận văn này
Xin được gửi lời biết ơn chân thành đến Ban Chủ nhiệm Khoa Nuôi trồngthủy sản, phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nha Trang, quý thầy cô trong
và ngoài trường đã truyền đạt nhiều kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuậnlợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin được gửi lời biết ơn đến toàn thể anh, em ở Trại sản xuất cá giống ĐạiThu (nay là Công ty TNHH một thành viên An Trang), Lãnh đạo UBND xã HòaKhánh, Ban giám đốc Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Miền Trung đãtạo mọi điều kiện thuận lợi, đặc biệt sinh viên Hàn Thị Yến lớp Nuôi trồng thủy sảnkhóa 48 đã có những hỗ trợ quý báu cho tác giả trong suốt thời gian thực hiệnnghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các anh chị em và các bạn học viên lớp SUDA đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ trong quá trình học tập và trong thời gianthực hiện luận văn tốt nghiệp này
CHNT2009-Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tác giả hoànthành chương trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
Chương I TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan tình hình nghề nuôi trồng thủy sản 3
1.1.1 Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Việt Nam 3
1.1.3 Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Đắk Lắk 4
1.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắk Lắk 4
1.2.1 Vị trí địa lý 4
1.2.2 Đặc điểm khí hậu 4
1.2.3 Chế độ thủy văn 5
1.3 Đặc điểm sinh học cá lóc bông 5
1.3.1 Đặc điểm phân loại và phân bố 5
1.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng 9
1.3.3 Đặc điểm sinh trưởng 10
1.3.4 Đặc điểm sinh học sinh sản 10
1.4 Sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc bông 11
1.4.1 Hiện trạng sản xuất giống cá lóc bông ở Việt Nam 11
1.4.2 Tình hình nuôi cá lóc bông trên thế giới và Việt Nam 12
1.4.3 Thức ăn cho cá lóc ở Việt Nam 13
1.5 Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc và một số loài cá ăn động vật 13
Trang 61.5.1 Nhu cầu protein 13
1.5.2 Nhu cầu năng lượng 15
1.5.3 Nhu cầu chất bột đường 16
1.5.4 Thay thế bột cá bằng bột đậu nành làm thức ăn cho cá lóc bông 16
1.6 Vai trò dinh dưỡng các thành phần trong thức ăn 17
1.6.1 Vai trò dinh dưỡng của protein 17
1.6.2 Vai trò dinh dưỡng của lipid 19
1.6.3 Vai trò dinh dưỡng của carborhydrate (đường) 20
1.6.4 Vai trò dinh dưỡng của vitamin 21
1.7 Vai trò dinh dưỡng của chất khoáng 23
1.7.1 Vai trò của các nguyên tố đa lượng 24
1.7.2 Vai trò của các nguyên tố vi lượng 25
Chương II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.2 Bố trí thí nghiệm 27
2.2.1 Thí nghiệm I 27
2.2.2 Thí nghiệm II 28
2.3 Phương pháp chế biến thức ăn 29
2.3.1 Xay, nghiền nguyên liệu 29
2.3.2 Cân nguyên liệu 29
2.3.3 Chế biến thức ăn 29
2.4 Quản lý hệ thống thí nghiệm 29
2.5 Các công thức để xác định thông số thí nghiệm 30
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 32
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Các số liệu về môi trường trong thí nghiệm 33
3.1.1 Nhiệt độ 33
Trang 73.1.2 Oxy hòa tan 34
3.1.3 pH nước 34
3.2 Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 35
3.2.1 Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ tăng trưởng cá lóc bông theo thời gian 35
3.2.2 Ảnh hưởng mật độ nuôi lên sự phân đàn của cá lóc bông theo thời gian 41
3.2.3 Ảnh hưởng mật độ nuôi lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 43
3.3 Ảnh hướng thức ăn lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 45
3.3.1 Ảnh hướng thức ăn lên tốc độ tăng trưởng cá lóc bông theo thời gian 45
3.3.2 Ảnh hưởng thức ăn lên sự phân đàn của cá lóc bông theo thời gian 51
3.3.3 Ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 54
3.4 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lóc bông ở các thí nghiệm 55
3.4.1 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 55
3.4.2 Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 58
1 Kết luận 58
2 Đề xuất 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Agriculture Organization)
: Hệ số chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio)
: Khối lượng
: Tỷ lệ gia tăng về chiều dài cá (Length gain)
: So sánh cặp giữa các nhóm có thể không bằng nhau (LeastSignificant Difference)
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các loài cá lóc (snakehead) trên thế giới 8
Bảng 1.2 Nhu cầu chất đạm trong thức ăn của một số loài cá 14
Bảng 1.3 Thành phần một số nguyên tố đa lượng, vi lượng trong cơ thể cá hồi và cá chép 23
Bảng 1.4 Khả năng tiêu hóa phospho (%) trong cá loại thức ăn khác nhau đối với cá hồi, cá chép và cá da trơn 25
Bảng 1.5 Nhu cầu khoáng chất trong thức ăn cho một số loài cá nước ngọt 26
Bảng 3.1 Các số liệu về môi trường thu được ở thí nghiệm I và II 33
Bảng 3.2 Khối lượng, chiều dài của cá ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 36
Bảng 3.3 Khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ (g) 37
Bảng 3.4 Tăng trửng về khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ (g) 38
Bảng 3.5 Chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ (cm) 39
Bảng 3.6 Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ (cm) 40
Bảng 3.7 Hệ số phân đàn của của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ (%) 41
Bảng 3.8 Tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 43
Bảng 3.9 Khối lượng, chiều dài cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn 45
Bảng 3.10 Khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn (g) 47
Bảng 3.11 Tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn (g) 48
Bảng 3.12 Chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn (cm) 49
Trang 10Bảng 3.13 Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm
ảnh hưởng thức ăn (cm) 50Bảng 3.14 Hệ số phân đàn của cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng
thức ăn (%) 52Bảng 3.15 Tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn (%) 54Bảng 3.16 Hệ số chuyển hóa thức ăn cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng mật độ 56Bảng 3.17 Hệ số chuyển hóa thức ăn cá lóc bông ở thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn 56
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá lóc bông 6
Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá lóc bông trên thế giới 7
Hình 1.3 Ruột và các cơ quan tiêu hóa của cá lóc 10
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí giai nuôi cá lóc bông trong ao 28
Hình 2.2 Kiểm tra giai nuôi trong thời gian triển khai thí nghiệm 30
Hình 2.3 Đo chiều dài cá 31
Hình 2.4 Cân xác định khối lượng cá 31
Hình 3.1 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên khối lượng, chiều dài cá lóc bông 36
Hình 3.2 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ gia tăng về khối lượng, chiều dài cá lóc bông 37
Hình 3.3 Đồ thị ảnh hưởng mật độ lên khối lượng cá lóc bông theo thời gian 38
Hình 3.4 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên sự tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông theo thời gian 39
Hình 3.5 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên chiều dài cá lóc bông theo thời gian 40
Hình 3.6 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên sự tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông theo thời gian 41
Hình 3.7 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên sự phân đàn cá lóc bông về chiều dài theo thời gian 42
Hình 3.8 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên sự phân đàn cá lóc bông về khối lượng theo thời gian 42
Hình 3.9 Đồ thị ảnh hưởng mật độ nuôi lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 44
Hình 3.10 Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên khối lượng, chiều dài cá lóc bông 46
Hình 3.11 Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ gia tăng về khối lượng, chiều dài cá lóc bông 46
Hình 3.12 Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên khối lượng cá lóc bông theo thời gian 48
Hình 3.13 Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên sự tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông theo thời gian 49
Hình 3.14 Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên chiều dài cá lóc bông theo thời gian 50
Trang 12Hình 3.15 Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên sự tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông
theo thời gian 50
Hình 3.16 Đồ thị biểu diễn sự phân đàn cá lóc bông về chiều dài theo thời gian 52
Hình 3.17 Đồ thị biểu diễn sự phân đàn cá lóc bông về khối lượng theo thời gian 53
Hình 3.18 Đồ thị ảnh hưởng thức ăn lên tỷ lệ sống cá lóc bông theo thời gian 54
Trang 13MỞ ĐẦU
Cá lóc bông là loài cá giữ, phàm ăn, có khả năng chống chịu bệnh tốt, là loài
có giá trị kinh tế, được nuôi nhiều ở các nước Đông Nam và Nam Châu Á [34] Cá
có kích thước lớn, sinh trưởng nhanh, chịu được điều kiện khắc nghiệt của môitrường, chất lượng thịt thơm ngon Cá lóc bông có thể nuôi thích hợp trong giai,trong ao, trong bể lót bạt và nuôi trong lồng bè đạt năng suất cao Ngoài ra, cá lócbông còn là loài được ưa chuộng của những người câu cá thể thao
Trên thế giới, nghề nuôi cá lóc đã phát triển mạnh với nhiều mô hình nuôikhác nhau như: nuôi trong ao đất, lồng bè (Thái Lan, Hồng Kông …), nuôi ghép với
cá rô phi, cá chép … (Đài Loan) [5] Ở Việt Nam, nghề nuôi trồng thủy sản là mộttrong những ngành kinh tế thế mạnh, góp phần lớn trong việc cải thiện đời sống vànâng cao thu nhập người dân Nghề nuôi cá lóc nói chung, cá lóc bông nói riêng ngàycàng phát triển ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) như An Giang, ĐồngTháp … Ở Đắk Lắk, nghề nuôi cá nước ngọt đang phát triển mạnh làm tăng đáng kểnhu cầu cá tạp, cạnh tranh nhu cầu sử dụng cá với những người nghèo, người có thunhập thấp, đồng thời là tỉnh miền núi nên giá cá tạp cũng gia tăng Chính những điềunày đòi hỏi cần phát triển nhanh chóng thức ăn chế biến và thức ăn tổng hợp để vừahạn chế việc khai thác cá để nuôi cá, đồng thời tăng hiệu quả việc nuôi cá
Tuy cá lóc bông có thể sinh sản tốt ngoài tự nhiên nhưng sinh sản nhân tạorất quan trọng vì nó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc khai thác hợp lý, bảo vệ nguồnlợi cá tự nhiên cũng như thuần hóa trở thành đối tượng nuôi đạt hiệu quả cao
Trong những năm gần đây, dinh dưỡng của các loài cá nước ngọt nói chung,
cá lóc bông nói riêng được các nhà khoa học, nhà sản xuất thức ăn và người nuôi cáthương phẩm quan tâm Các nghiên cứu ở Việt Nam về cá lóc bông: Nghiên cứu vềhình thái và phân loại (Khoa và Hương, 1993); nghiên cứu các vấn đề về dinh
dưỡng, sinh sản nhân tạo (Dương Nhựt Long và ctv, 1996 và 1999; Phạm Văn
Khánh, 2000); nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến để ương nuôi ở giai đoạn cágiống (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004); nghiên cứu về nhu cầu đạm ở giai đoạn giống
(Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2005); tìm hiểu về hiện trạng sản xuất giống và kỹ
thuật kích thích sinh sản nhân tạo (Nguyễn Huấn, 2007); nghiên cứu về ảnh hưởngcủa mật độ đến tăng trưởng và tỷ lệ sống ở giai đoạn bột lên giống ương trong bể xi-
Trang 14măng (Bùi Minh Tâm và ctv, 2008); nghiên cứu thay thế bột cá bằng bột đậu nành trong khẩu phần thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2010).
Cần phải lưu ý chế độ dinh dưỡng, công thức cho ăn phù hợp để cá sinhtrưởng tốt nhất Đây là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng, phát triển,
tỷ lệ sống cũng như chất lượng thịt của cá trong quá trình nuôi
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng Thủy
sản, Trường Đại học Nha Trang, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau và mật độ nuôi lên tốc độ sinh
trưởng, tỷ lệ sống của cá lóc bông (Channa micropeltes Cuvier, 1831) nuôi
thương phẩm bằng giai đặt trong ao đất tại Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”.
Ý nghĩa của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Xác định nhu cầu dinh dưỡng, loại thức ăn, công thức
cho ăn và mật độ nuôi phù hợp để tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc bông
- Ý nghĩa thực tiễn: Giúp người nuôi lựa chọn loại thức ăn, công thức cho
ăn và mật độ phù hợp để nuôi thương phẩm cá lóc bông bằng giai đặt trong ao đấttại Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Mục tiêu của đề tài:
Tìm ra các chế độ dinh dưỡng, loại thức ăn, công thức cho ăn và mật độ nuôiphù hợp nhất cho sự sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc bông nuôi thương phẩmbằng giai đặt trong ao đất
Nội dung đề tài:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau (thức ăn viên hỗn
hợp hiệu Cá Vàng; thức ăn chế biến; thức ăn cá tạp) lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệsống của cá lóc bông nuôi bằng giai
- Nghiên cứu ảnh hưởng của của mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệsống của cá lóc bông nuôi bằng giai
Trang 15CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan tình hình nghề nuôi trồng thủy sản
1.1.1 Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thời gian qua Năm
2006, nuôi trồng thủy sản đóng góp 47% nguồn thực phẩm thủy sản của thế giới,đạt sản lượng 51,7 triệu tấn với giá trị là 78,8 tỷ USD Tốc độ tăng từ 2004 - 2006đạt 6,1% về khối lượng và 11% về giá trị [16]
Trung Quốc là nước có sản lượng nuôi trồng thủy sản cao nhất, chiếm tới67% (năm 2006) tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới và 49% về giá trị Cácnước ở châu Á và khu vực Thái Bình Dương chiếm 89% về khối lượng và 77% vềgiá trị Việt Nam vẫn tiếp tục đứng ở vị trí thứ 03 sau Trung Quốc và Ấn Độ về nuôithủy sản Trong số 10 nước đứng đầu, có 04 nước thuộc khối ASEAN theo thứ tự làViệt Nam (3), Thái Lan (4), Indonesia (5) và Philippin (10) [16]
Cá nước ngọt chiếm hơn một nửa sản lượng nuôi, đạt 27.800.000 tấn, giá trị
đạt 29,5 tỷ USD Trong đó, sản lượng cá rô phi vằn (O niloticus) tăng khá nhanh
đạt gần 2.000.000 tấn, giá trị đạt 2,2 tỷ USD (2006) [16]
1.1.2 Tình hình nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở Việt Nam
Năm 2005, diện tích nuôi trồng đạt 319.000 ha, sản lượng nuôi trồng đạt958.000 tấn, giá trị xuất khẩu đạt 1,63 tỷ USD
Theo chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 1999 - 2010 đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2010, diện tích nuôi trồng thủy sảnnước ngọt phải đạt 366.600 ha, nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng mặt nước ngọt sẵn có,phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt với nhiều hình thức nuôi trong các loại hìnhmặt nước, phát triển nhiều giống loài có giá trị kinh tế, tạo những bước tiến nhảy vọt
về sản lượng và hiệu quả sản xuất, nhằm góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thunhập ngoại tệ cũng như cung cấp nguồn thực phẩm cho tiêu dùng trong nước
Hiện nay, bên cạnh đối tượng nuôi chủ lực là cá tra, cá basa, còn có rất nhiềuđối tượng nuôi khác cũng đã đưa vào nuôi rất hiệu quả như cá rô phi, cá lóc, ba ba,
Trang 16ếch Ngoài ra, việc nuôi cá hồi thành công tại một số địa phương như Lào Cai, LaiChâu, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Sơn La đã đánh dấu một bước phát triển của nghề nuôi
cá nước ngọt, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nhiều vùng nông thôn và miền núi
Nhìn chung, ở Đắk Lắk chủ yếu các loài cá truyền thống (khoảng 6.189 ha,chiếm 98% tổng diện tích nuôi trên toàn tỉnh), cá rô phi chỉ đạt 11 ha, chiếm 0,2% vànhóm đặc sản như ếch, ba ba, lươn, cá lóc, rô đồng, cá lăng nha … khoảng 118 ha,chiếm 1,9% Trong đó, nhóm cá truyền thống được nuôi rất phổ biến ở hồ chứa; đốivới nhóm cá rô phi và thủy đặc sản nuôi chủ yếu ở các ao hồ nhỏ, vùng ruộng trũng
Giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua tăng từ 88,6 tỷ đồng(2003) lên đến 177,2 tỷ đồng (2009), tốc độ tăng bình quân năm 13,2%/năm [13]
1.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắk Lắk
1.2.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Đắk Lắk là một trong năm tỉnh khu vực Tây Nguyên, phía Bắc giáp tỉnhGia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phíaĐông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa và phía Tây giáp vương quốc Campuchia
Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính Có hệ thống giao thông huyết mạch củaquốc gia và của vùng Tây Nguyên như: tuyến Quốc lộ 14 nối liền thành phố Hồ ChíMinh với các tỉnh Tây Nguyên; quốc lộ 26 nối tỉnh Khánh Hòa và quốc lộ 27 nối tỉnhLâm Đồng; sân bay Buôn Ma Thuột phụ vụ các chuyến bay trong nước
1.2.2 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu mang đặc trưng của 2 kiểu khí hậu: nhiệt đới ẩm và gió Tây Namkhô nóng Khí hậu có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa từtháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau [16]
Trang 17Nhiệt độ không khí: Trung bình từ 23 - 24oC, cao nhất 37oC, thấp nhất 14oC [13], [16].
Tổng nhiệt: Ở độ cao < 800 m tổng nhiệt độ năm đạt 8.000 - 9.500oC, độ cao
> 800 m có tổng nhiệt độ giảm xuống chỉ còn 7.500 - 8.000oC Biên độ nhiệt trong
ngày lớn, có ngày biên độ nhiệt là 20oC [16]
Lượng mưa và số ngày mưa: Chế độ mưa của vùng tương đối cao và đạt
bình quân năm 1.600 - 2.000 mm Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm 84%
lượng mưa trong năm, mùa khô lượng mưa chiếm 16% Các tháng có lượng mưa
lớn là tháng 8, 9 [16]
1.2.3 Chế độ thủy văn
Do lượng mưa phân bố không đều Trung bình hàng năm có tổng lượng nước trêntoàn tỉnh 38,8 tỷ m3 nước Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình thủy lợi, là tiền đề cho
nuôi trồng thủy sản nhằm phát triển kinh tế và nâng cao đời sống cho người dân [16]
1.3 Đặc điểm sinh học cá lóc bông
1.3.1 Đặc điểm phân loại và phân bố
Cá lóc bông là tên gọi địa phương ở Việt Nam, tên thương mại tiếng Anh gọi
chung giống channa là cá lóc (snakehead) và cá lóc bông là giant snakehead Tên
khoa học được xếp theo phân loại của Cuvier (1831) như sau [34], [36]:
Ngành
Ngành phụ
LớpBộHọGiốngLoài
:::::::
ChordataVerterbrataActinopterygiiPerciformesChannidaeChanna
Channa micropeltes (Cuvier, 1831)
Trang 18Hình 1.1: Cá lóc bông [20]
Hiện nay, họ cá Channidae được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu do giá
trị kinh tế cao, thịt ngon, dễ nuôi Theo FAO (2004) thì họ channidae gồm có 2
giống: giống Parachanna và giống channa
Một số loài có kích thước khá lớn, thịt ngon, tăng trưởng nhanh, được nuôi
nhiều nước trong khu vực Đông Nam châu Á (Pillay, 1990) [7], có thể dài đến
180cm, nặng trên 30kg, đôi khi chúng rất hung dữ, tấn công gây hiểm họa cho con
người, khi tiếp cận với con của chúng (Kottelat và ctv, 1993), ví dụ như các loài:
Channa marulius, Channa micropeltes (cá lóc bông).
Về đặc tính phân bố cho thấy đa phần các loài sống trong các thủy vực nước
ngọt nội địa, một số loài có khả năng sống ở thủy vực nước lợ Các loại hình thủy
vực có dòng chảy chậm hoặc thủy vực nước tĩnh như sông, hồ, kênh rạch, ao, đầm
là nơi thích hợp cho các loài phân bố (Rainboth, 1996) [7]
Giống Channa ở Đồng bằng sông Cửu Long có 4 loài gồm đã được định loại
(Khoa và Hương, 1993) [7] như sau:
Trong đó 2 loài được xem là có giá trị kinh tế cao là cá lóc bông (Channa
micropeltes) và cá lóc đen (Channa striatus).
Trang 19Tuy cùng hệ thống sông Mê Kông nhưng theo Rainboth (1996) định loạigiống Channa ở Campuchia có 6 loài, trong đó có 2 loài theo Trương Thủ Khoa vàTrần Thị Thu Hương (1993) không thấy định loại ở Đồng bằng sông Cửu Long là:
Channa marulius (Hamilton, 1822) và Channa melasoma (Blocker, 1851) [7].
Cá phân bố tự nhiên trên các sông, kênh rạch, đồng ruộng … ở một số nướcthuộc khu vực Đông Nam và Nam Châu Á Ở Việt Nam, cá lóc bông phân bố rấtnhiều ở các lưu vực đầu nguồn sông Mê Kông, nơi giáp với biên giới Campuchia[12] Ngoài tự nhiên, cá lóc (snakehead) có sự phân bố, phân biệt rõ ràng Ở lưu vựcsông Mê Kông gồm: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Malaysia [5]
Sự mô tả của bản đồ dưới đây đã chỉ ra rằng từ Kerala State, India, có sựphân biệt của các loài và có lẽ đã được mô tả rất sớm từ vùng nước tự nhiên Đó lànhững điều chính xác có thể tin tưởng (Rainboth, 1996) [7]
Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá lóc bông trên thế giới [22]
Theo các tài liệu nghiên cứu hiện nay trên thế giới có 30 loài cá lóc đã được
Trang 20Bảng 1.1 Các loài cá lóc (snakehead) trên thế giới [5]
1 C amphibeus (McClellant, 1845) Bonrna snakehead
C argus argus (Cantor, 1842)
C argus warpachowski (Berg, 1909)
Bangka snakeheadBarca snakeheadRainbow snakeheadBluespottedsnakehead
Dwarf snakeheadBurmese snakeheadSplendid snakeheadBlotched snakeheadGeat snakeheadEmperor snakehead
Black snakeheadGiant snakehead
Walking snakehead
Ocellated snakeheadSpotted snakeheadAssamese snakeheadSnakehead murrl
85cm;6,1kg80cm; 7,0kg20cm19,08cm23,5cm90cm
17,6cm
20cm18,5cm40cm20cm183cm; 30kg27cm65cm30cm130cm; 20kg65cm20cm17,1cm40cm31cm25cm100cm
32cm41cm34,1cm; 1kg
Trang 21Trên thế giới, cá lóc được nuôi với nhiều phương thức khác nhau như: nuôithâm canh trong ao hay ghép với các loài cá Rô phi, Chép (Lo Chai Chen, 1990)[5], [32] Ở Việt Nam, kết quả khảo sát tình hình nuôi cá lóc bông trong bè ở haitỉnh An Giang và Đồng Tháp cho thấy cá lóc bông phát triển rất tốt trong mô hìnhnuôi lồng, bè nước chảy, năng suất dao động 42,5 - 116 kg/m3 [5] Cá giống nuôichủ yếu được sinh sản bán tự nhiên và sinh sản nhân tạo Ở giai đoạn cá giống, cá
sử dụng thức ăn chế biến có hàm lượng đạm từ 34% trở lên vẫn phát triển tốt [5]
Nguyễn Anh Tuấn và ctv (2004) đã nghiên cứu khá chi tiết về các đặc điểm
dinh dưỡng, sinh trưởng, nhu cầu chất đạm của cá giống, thử nghiệm kích thích sinhsản … Các kết quả này là cơ sở quan trọng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo
trên đối tượng cá lóc bông (Channa mcropeltes) [5].
1.3.2 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc bông là loài cá dữ điển hình, cá rất thích ăn là động vật tươi sống như:
cá, tép, ếch nhái, bọ gạo … (Pillay, 1990; Lee, 1991) [7], [31]
Cá lóc bông có miệng cận trên và to, nhờ vậy cá có thể ăn được mồi có kíchthước lớn Răng hàm, răng lá mía và răng khẩu cái khá to, sắc Hàm dưới có răngchó cho thấy cá lóc bông thuộc nhóm cá ăn động vật kích thước lớn và bắt đượcmồi sống [5]
Lược mang có dạng múm gai (dạng lược mang điển hình của các loài cá dữ)giống như cá lóc đen (Channa striatus) Ở cung mang thứ nhất có 23 - 29 núm gaixếp thành hai hàng so le nhau [5]
Thực quản cá lóc bông ngắn, có vách dày, mặt trong thực quản có nhiều nếpgấp nên co giãn được do đó cá có thể nuốt được mồi to và có thể cá lóc bông thuộcnhóm cá có nhịp dinh dưỡng thưa [5]
Trang 22Hình 1.3 Ruột và các cơ quan tiêu hóa của cá lóc [15]
Dạ dày cá có dạng túi, vách ruột dày (Hình 1.3) Đây là dạng ruột thường gặp
ở loài cá ăn động vật kích thước lớn Cá lóc bông có hai manh tràng hạ vị giống như
cá lóc đen Cá lóc bông trưởng thành có ruột gấp khúc, ngắn [5]
Kết quả phân tích thức ăn hiện diện trong ống tiêu hóa của các mẫu cá lócbông đánh bắt ngoài tự nhiên hoàn toàn phù hợp với đặc điểm hình thái giải phẩucác cơ quan thuộc ống tiêu hóa của chúng Kết quả trên cho thấy ngoài tự nhiên cálóc bông trưởng thành là loài cá dữ và lúc trưởng thành thường ăn với khối lượngthức ăn lớn là các loại cá con, tạp [12]
1.3.3 Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của cá là quá trình gia tăng về kích thước và tích lũy khối lượngcho cơ thể [5]
Kích thước cá lóc bông có thể dài trên 1m và nặng trên 20 kg [31]; Channa
micropeltes và Channa marulius là hai loài lớn nhất của họ cá lóc [33] Ở giai đoạn
nhỏ, cá tăng trưởng nhanh về chiều dài, từ 3 tháng tuổi trở đi cá tăng trưởng nhanh
về khối lượng hơn chiều dài [7] Trong điều kiện tự nhiên do sự cạnh tranh thức ănnên cá tăng trưởng không đều và tỷ lệ hao hụt lớn Trong điều kiện nuôi, cá có thểđạt 1 - 1,5 kg/con/năm [12]
Cá lóc bông là loài ăn động vật nên nhu cầu chất đạm rất cao [7]
1.3.4 Đặc điểm sinh học sinh sản
Sinh sản là sự tái sản xuất của chủng quần và bảo vệ loài Tuổi và kích thướcthành thục của cá được coi là đặc điểm thích nghi với điều kiện sinh sản (Mai ĐìnhYên, 1992) [5]
Trang 23Cá lóc bông thành thục vào 23 - 24 tháng tuổi, mùa vụ phát dục và sinh sảnkéo dài từ tháng 4 - 10, tập trung vào tháng 6 - 7 dương lịch [12] Cá sinh sản táiphát dục 3 - 4 lần trong năm [5], [32].
Lượng trứng cá lóc bông có thể đạt từ 7.000 - 14.000 trứng/kg cá cái; cá lóc
có chiều dài 35 cm có thể sinh sản 10.000 trứng [12] Khi sinh sản cá đực và cá cái
tự bắt cặp, sinh sản trứng trong tổ, chúng bảo vệ trứng rất kỹ, cho đến khi cá con đã
có thể sống độc lập và chủ động bắt mồi [5]
Cá lóc bông là loài sinh sản trứng nổi, thụ tinh ngoài, có tập tính giữ trứng[12] Mùa vụ sinh sản của cá trong thủy vực tự nhiên chủ yếu xảy ra từ tháng 5 - 8dương lịch, mùa mưa cá sẽ bắt cặp làm tổ, tham gia sinh sản và cá con sinh trưởng,phát triển cho đến mùa nước rút vào tháng 11 dương lịch [5]
Cho đến nay rất ít tài liệu viết về dinh dưỡng và thức ăn cho cá lóc bông Tuynhiên cá lóc bông có nhiều đặc điểm sinh học gần giống với nhiều loài cá lóc khác
như: cá lóc đen (Channa striatus) ở Việt Nam nên những lược khảo về tính ăn cũng
như nhu cầu dinh dưỡng được xem là những kiến thức cơ sở cho việc nghiên cứunuôi thương phẩm cá lóc bông [7] Cá lóc bông là một loài cá dữ điển hình, tínhthích thức ăn có nguồn gốc từ động vật, vì vậy nhu cầu đạm cao cho quá trình nuôithương phẩm là yêu cầu quyết định [12] Cá lóc bông giai đoạn giống tăng trưởngtốt nhất phải có hàm lượng đạm 40% trở lên [7] Nghiên cứu đặc điểm sinh học chothấy cá lóc bông ăn thức ăn là cá, ếch nhái trực tiếp nên cần phối trộn thêm các chấtvitamin C và E để tăng cường sức đề kháng [5]
1.4 Sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc bông
1.4.1 Hiện trạng sản xuất giống cá lóc bông ở Việt Nam
Trước đây nguồn giống cá lóc bông thường vớt ngoài tự nhiên và các hộ nuôichủ yếu dựa vào nguồn cá giống khai thác từ Campuchia [12] Hiện nay, nguồngiống tự nhiên giảm đáng kể (do đánh bắt, bãi sinh sản và sinh trưởng bị tàn phá, ônhiễm …) do vậy nguồn giống sản xuất từ các trại giống trở nên quan trọng và kỹthuật sản xuất giống từ đây cũng phát triển nhanh và trở thành điều kiện tiên quyếtcho phát triển các hệ thống nuôi [5]
Trang 24Các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học: dinh dưỡng, sinh trưởng, sinhsản và ương nuôi cá giống Tuy nhiên về kỹ thuật kích thích sinh sản, ngoài nhữngloại kích thích bằng não thùy thể cá chép kết hợp HCG đã cho sinh sản cá Lóc bôngthành công, có tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn sản xuất thì vẫn cần nhữngnghiên cứu tiếp tục bổ sung, về các biện pháp kỹ thuật nuôi vỗ thành thục sinh dục
cá đực và các loại kích thích khác trong kích thích sinh sản cá Lóc bông, góp phầnchủ động nguồn giống cho nhu cầu ngày càng cao của người nuôi
Sức sinh sản của cá lóc bông không cao, thường dao động từ 6.125 - 13.248trứng/kg cá cái Cá càng lớn thì sức sinh sản của cá tăng dần, chưa có cá lóc bông
bố mẹ nào thành thục có khối lượng cơ thể nhỏ hơn 800 g/con [12] Điều này chứng
tỏ rằng cá lóc bông là loài cá có kích thước lớn trong họ cá lóc Thông tin của
những hộ nuôi cá lóc bông trên bè còn cho biết thêm cá lóc bông lần đầu tiên mangtrứng khi đã nuôi được 14 - 18 tháng và khối lượng thường không dưới 2 kg/con[5] Riêng đối với những hộ nuôi cá lóc bông và cho sinh sản trong ao đất thì khẳngđịnh rằng cá lóc bông phải hơn 2 năm tuổi mới có thể tham gia sinh sản và mỗi lần
cá sinh sản như vậy có thể thu được từ 20.000 - 30.000 trứng/cá tùy theo kích
thước, khối lượng cá [5]
Khi tuyến sinh dục chưa thành thục (giai đoạn I - II) hệ số thành thục của cálóc bông rất thấp (0,04 ± 0,0%) [12] Tuy nhiên khi tuyến sinh dục của cá đạt tớigiai đoạn chín muồi (giai đoạn IV) thì hệ số thành thục của cá cũng không vượt quá2,5%, thực tế chỉ đạt 2,11% [12]
Chính vì những lý do trên, công tác nghiên cứu về sinh học, sinh sản, các loạithức ăn thay thế thức ăn truyền thống của đối tượng này đang được nhiều ngườiquan tâm để từng bước hoàn thiện quy trình sản xuất
1.4.2 Tình hình nuôi cá lóc trên thế giới và Việt Nam
Cá lóc bông có thể nuôi ở nước ngọt và có khả năng sống ở nước lợ mặn cónồng độ muối thấp và chúng được phân bố rộng rãi ở nhiều nước trong khu vựcĐông Nam và Nam Châu Á [5], [32]
Hiện nay, trên thế giới nghề nuôi cá lóc phát triển ở một số nước như: Ấn
Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia, Việt Nam … Ở
Trang 25Việt Nam và Campuchia là 2 nước có nghề nuôi cá lóc trong bè phát triển Năngsuất nuôi bè ở trong ao, tối ưu là 160 kg/m3 và tối đa đạt ≥ 600 kg/m3 ở hồ chứanghèo dưỡng chất [5].
Cá lóc bông là loài tương đối dễ nuôi, có thể nuôi trên nhiều thủy vực khácnhau và có thể tận dụng được nguồn phụ phẩm trong khai thác, chế biến thủy sảncũng như trong nông nghiệp với một tỷ lệ phối trộn thích hợp [7], [33]
1.4.3 Thức ăn cho cá lóc ở Việt Nam
Thức ăn nuôi cá lóc hiện nay, các hộ sử dụng chủ yếu là nguồn cá tạp [4],ngoài ra người nuôi còn sử dụng thêm các loại thức ăn tươi sống khác như ốc, cuađồng và các phụ phẩm từ nông nghiệp do giá cá tạp tăng cao và ngày càng khanhiếm, nên một số ít hộ chuyển sang cho ăn xen kẽ thức ăn tự chế biến, thức ăn viênhỗn hợp trong quá trình nuôi
Đứng trước tình hình nuôi trồng thủy sản ngày càng phát triển mạnh về diệntích cũng như mức độ thâm canh của một số đối tượng nuôi khác thì việc nuôi cá Lócvới nguồn thức ăn chủ yếu là cá tạp, ảnh hưởng đến sự suy giảm nguồn lợi thủy sản.Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đóng góp đáng kể trong việc thay thế thức ăn cá tạpcủa cá lóc nuôi bằng thức ăn chế biến, phụ phẩm từ nông nghiệp, hạn chế việc sửdụng cá tạp trong nuôi trồng thủy sản, góp phần bảo vệ nguồn thủy sản là điều rất cầnthiết Các nghiên cứu về thức ăn chế biến, ngoài việc tìm ra những công thức thức ănphù hợp tính ăn, nhu cầu dinh dưỡng cho cá Lóc, giảm giá thành như sử dụng bột đậunành, cám gạo có bổ sung các vitamin, chất tạo mùi để thay thế bột cá, với tỷ lệ thaythế phù hợp, vẫn đảm bảo tỷ lệ sống và tốc độ tăng tưởng cá Lóc nuôi [4]
1.5 Sơ lược nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc và một số loài cá ăn động vật
1.5.1 Nhu cầu protein
Protein là vật chất hữu cơ chủ yếu xây dựng lên các tổ chức mô của cá cũngnhư của động vật, protein chiếm khoảng 60 - 75% tổng số vật chất khô của cơ thể
Cá sử dụng protein để đáp ứng nhu cầu amino acid Protein sau khi được các
enzyme proteasa thực hiện quá trình tiêu hóa hóa học giải phóng các amino acid tự
do Các amino acid này sẽ được hấp thụ qua thành ống tiêu hóa đi vào máu, được
Trang 26máu vận chuyển đến các tổ chức cơ quan, các tổ chức mô khác nhau, ở đó chúng sẽtham gia vào quá trình tổng hợp protein mới.
Người ta chia nhu cầu protein của cá làm hai loại: nhu cầu duy trì và nhu cầusản xuất [8] Nhu cầu protein phụ thuộc vào việc sử dụng các amino acid để xây
dựng nên các protein mới hoặc để thay thế các protein già cũ Thức ăn thiếu protein
sẽ làm tốc độ sinh trưởng của cá cũng như động vật giảm vì chúng phải huy động
các nguồn protein từ các tổ chức trong cơ thể để đáp ứng nhu cầu amino acid
Ngược lại nếu thức ăn quá dư thừa protein thì chỉ một phần từ protein thức ăn sẽ
được sử dụng để tổng hợp nên các protein mới trong cơ thể, phần còn lại sẽ được
chuyển hóa thành năng lượng hoặc bài tiết ra ngoài Protein là thành phần có giá
thành cao nhất trong thức ăn vì vậy, nếu hàm lượng protein trong thức ăn quá cao sẽgây ra lãng phí làm giảm hiệu quả nuôi [2], [6], [7]
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu chất đạm của cá bao gồm loài, kích cỡ
cá, nhiệt độ nước, mật độ cá thả, khẩu phần ăn, năng lượng không phải từ chất đạmtrong thức ăn và chất lượng chất đạm trong thức ăn … (Garling và Wilson, 1976;
Jauncey, 1982; De Silva et al., 1989) [6], [7], [27]
Bảng 1.2 Nhu cầu chất đạm trong thức ăn của một số loài cá (Lall, 1991) [7]
Loài
Cá mú cửa sông
Nguồn đạmBột cá ngừ
Nhu cầuđạm (%)40-50
Tham khảoTeng et al (1978)
Cá vược miệng rộng Casein và chất đạm cá 40 Andersonm et al (1981)
Bột cáBột cá và cá chình cát
55455255
Yone (1076)Andersonm et al (1981)Wee and Tacon (1982)Takeda et al (1975)
Khi nghiên cứu dinh dưỡng cá chẽm giống thì Aquacop (Curon and Fuch, 1988)cho rằng mức đạm tối ưu là 45 - 55% cho sinh trưởng cao nhất Trong khi Sakaras(1988) làm thí nghiệm trên cá chẽm giống với các mức chất đạm 45, 50 và 55% và 2mức chất béo là 10% và 15% cho mỗi mức chất đạm (cho ăn thỏa mãn) nhận thấy rằngvới mức chất đạm trong thức ăn của cá con cao hơn giai đoạn trưởng thành Wong và
Trang 27Chou (1989) báo cáo rằng mức đạm tối ưu trong thức ăn của cá chẽm trưởng thành là
40 - 45% ở mức 12% chất béo trong thức ăn (Boonyaratpalin, 1991) [7]
Mohanty và Samantaray (1996) đã sử dụng 6 nghiệm thức thức ăn nuôi thínghiệm cá lóc đen giai đoạn có cùng mức năng lượng dựa trên bột cá và bánh dầu đậuphộng và chứa 350 - 600 g đạm/kg thức ăn (mỗi mức cách nhau 50 g đạm/kg thức ăn)cho ăn với khẩu phần ăn 10% khối lượng thân/ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm
để xác định ảnh hưởng của các mức chất đạm trong thức ăn khác nhau lên tăng trưởngcủa cá [7] Trên cơ sở tăng trưởng, sự tích lũy chất đạm trong mô hàng ngày thì nhucầu chất đạm trong thức ăn của cá bột được xác định là 550 g đạm/kg thức ăn khi bột
cá được sử dụng như nguồn đạm chính Có sự tăng đáng kể chất đạm trong cơ thể cákhi chất đạm trong thức ăn tăng dần Cá ăn thức ăn chứa đạm cao thì hàm lượng chấtbéo trong thịt cá có khuynh hướng thấp hơn và độ ẩm cao hơn [7]
Kết quả nghiên cứu về nhu cầu đạm của cá lóc bông giai đoạn giống chothấy: hàm lượng đạm từ 30,7 - 36,8% (giống nhỏ) và 27,8 - 32,8% (giống lớn) làkhoảng thích hợp cho sự tăng trọng của cá và giảm giá thành sản xuất [3]
1.5.2 Nhu cầu năng lượng
Dos Santos và Jobling (1988) cho rằng năng lượng trong thức ăn có ảnhhưởng đến tăng trưởng của cá Daniels và Robinson (1986), Prather và Lovell (1974)cũng cho rằng nếu năng lượng trong thức ăn quá cao sẽ làm cá giảm tăng trưởng, đặcbiệt là ở thức ăn có hàm lượng đạm cao [7]
Theo Cruz (1975); Smith (1976) và Popma (1982) thì cả chất đạm và chấtbéo là những nguồn năng lượng cao có sẵn cho cá, còn chất bột đường được xemnhư là nguồn năng lượng rẻ tiền có giá trị khác nhau giữa các loài Cá ăn tạp (rô phi,
cá nheo) tiêu hóa hơn 70% năng lượng thô ở tinh bột chưa nấu chín, trong khi cá hồilưng đỏ (một loài cá ôn đới ăn động vật) có thể tiêu hóa ít hơn 50% [7]
Khi nghiên cứu tỷ lệ P/E thì thấy khả năng sinh trưởng của cá lóc đen giống(Channa striatus) cao nhất thu được khi cho ăn thức ăn chứa 40% đạm với tỷ lệ P/E
là 90.9 mg đạm/kcal Hiệu quả sử dụng chất đạm (PER) bị ảnh hưởng bởi việc tăngnăng lượng 400 đến 480 kcal/100 g (thức ăn) ở tất cả các mức đạm, ngoại trừ 40%(khẩu phần với năng lượng 440 kcal/100 g cho thấy PER cao nhất) Hệ số chuyển
Trang 28hóa thức ăn (FCR) thấp nhất thu được ở tỷ lệ P/E là 90,9 mg đạm/kcal (Samantaray
và Mohanty, 1997) [6], [7]
1.5.3 Nhu cầu chất bột đường
Theo nghiên cứu của một số tác giải thì khi chất bột đường vượt quá nhu cầu
có thể làm giảm tiêu thụ thức ăn hoặc làm giảm việc sử dụng tối ưu các thành phầnkhác trong thức ăn (Lovell 1989; Wilson, 1994) [7]
Theo Shimeno (1974) thì cá chép ăn chứa 3 - 47% tinh bột và 28 - 63% đạmthì khả năng tiêu hoá chất bột đường và chất đạm trong thức ăn hầu như không đổi(lần lượt là 87 - 91% và 88 - 89%) Khả năng tiêu hóa CH-10 trong thức ăn chứa9% tinh bột chỉ đạt 57% và có khuynh hướng giảm khi tăng chất bột đường trongthức ăn Khi cá ăn thức ăn chứa 10 - 20% chất bột đường là dextrin và tinh bột thìviệc tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn có khuynh hướng thấp hơn một ít sovới thức ăn đối chứng là chất bột đường tự do (CH-O) Thức ăn chứa 40% chất bộtđường làm giảm sự chịu đựng đường hoạt động của một số men và khả năng tiêuhóa chất bột đường và chất đạm và kết quả làm chậm sinh trưởng [7]
1.5.4 Thay thế bột cá bằng bột đậu nành làm thức ăn cho cá lóc bông
Trong chế biến thức ăn thủy sản, bột cá được xem là nguồn protein tốt nhất.Tuy nhiên, sản lượng bột cá ngày càng khan hiếm, giá thành ngày càng tăng nên giáthành thức ăn cũng tăng cao, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi.Kết quả nghiên cứu cho thấy khi sử dụng bột đậu nành hoặc kết hợp bột nành vớicác nguồn protein khác có thể thay thế bột cá dao động từ 30 - 75% khi làm thức ăn
cho một số loài cá Đối với cá lóc giống (Channa striata) khi thay thế protein bột cá
bằng protein bột đậu nành trong công thức thức ăn thì khả năng thay thế đạt 30%(Trần Thị Thanh Hiền, 2008) [7]
Nghiên cứu được tiến hành để xác định khả năng thay thế protein bột cá bởiprotein bột đậu nành, có bổ sung enzym phytase làm thức ăn cho cá lóc bông Sau 8tuần thí nghiệm, thì cá nuôi ở các nghiệm thức không có sự khác biệt về tỷ lệ sống(từ 77,3% đến 80%) Kết quả cũng cho thấy rằng không có sự khác biệt về thànhphần protein trong cơ thể cá ở các thí nghiệm khi tăng mức bột đậu nành Về mặtkinh tế, ở mức thay thế 40% bột đậu nành cho bột cá làm thức ăn cho cá lóc bông
Trang 29thì giảm chi phí thức ăn/1kg và chi phí thức ăn/1 kg cá tăng trọng lần lượt là 10,8%
và 4,83% [4]
1.6 Vai trò dinh dưỡng các thành phần trong thức ăn
1.6.1 Vai trò dinh dưỡng của protein
Protein là thành phần rất quan trọng của thức ăn, được coi là “vật chất xâydựng” để xây dựng nên các tổ chức mô, cơ quan trong cơ thể động vật và để hìnhthành nên các vật chất có hoạt tính sinh học cao hay các sản phẩm khác [6]
Protein ngoài vai trò cấu trúc còn có những vai trò quan trọng khác như: tạochất xúc tác (enzyme), hormone; vận chuyển như hemoglobin; tham gia chức năng
cơ giới như calogen; chức năng bảo vệ như kháng thể; chức năng thông tin nhưprotein thị giác và tạo năng lượng [8]
Protein là vật chất cao phân tử Tất cả protein đều chứa các nguyên tố C, H,
O và N Một số khác chứa một lượng nhỏ S Ngoài ra, một số protein còn chứa mộtlượng rất nhỏ các nguyên tố như: Fe, P, Mg, Ca … Đơn vị cấu trúc của protein làcác amino acid Trong protein tự nhiên tồn tại khoảng trên 200 loại amino acidnhưng phổ biến khoảng 20 loại Trong đó 10 amino acid không thay thế mà cákhông có khả năng tự tổng hợp, phải được cung cấp cho cá qua thức ăn bao gồm:methionine, arginine, threonine, tryptophan, histidine, isoleucine, lysine, leucine,valine and phenylalanine Trong số này thì lysine và methionine thường thiếu vàcần được bổ sung nhiều hơn [6], [24]
Thức ăn được chế biến từ nguyên liệu protein có nguồn gốc thực vật (khô đỗtương) thường thiếu methionine, vì vậy cần bổ sung thêm methionine khi phối trộnnhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng và sức khoẻ của cá nuôi Để chế biến được thức
ăn cho cá điều quan trọng là phải nắm được nhu cầu protein và nhu cầu về cácamino acid của mỗi loài cá nuôi [6]
Hàm lượng protein trong thức ăn thuỷ sản trong khoảng 28 - 32% cho cá datrơn, 22 - 30% đối với cá rô phi, 38 - 40% đối với cá hồi vân Yêu cầu proteinthường thấp hơn ở cá ăn thực vật và ăn tạp so với cá ăn thức ăn động vật, và nhucầu protein cao hơn đối với cá nuôi ở mật độ cao (nuôi trong bể, lồng) so với cánuôi ở mật độ thấp (nuôi trong ao, đầm) [6], [27]
Trang 30Nhu cầu protein ở cá nhỏ cao hơn so với cá trưởng thành vì cá lớn thì nhucầu protein thường giảm Nhu cầu protein cũng chịu ảnh hưởng bởi hệ thống nuôi,nhiệt độ và chất lượng nước, chất lượng di truyền của cá giống và cách cho ăn.Protein trong thức ăn sẽ được sử dụng cho sinh trưởng cơ thể khi hàm lượng
carbonhydrate và lipid được cung cấp đầy đủ Khi dinh dưỡng không được cấp đủthì một phần protein trong thức ăn sẽ được chuyển hoá tạo năng lượng và hỗ trợ cáchoạt động sống của cơ thể [6]
Thành phần protein thường chứa 50% carbon, 16% nitrogen, 21,5% oxygen
và 6,5% hydrogen [6], [25] Cá có thể sử dung thức ăn có hàm lượng protein cao,tuy nhiên đến 65% thì protein có thể bị mất do cá thải ra ngoài môi trường Hầu hếtprotein không hấp thụ được cá thải ra dưới dạng NH3 qua mang, chỉ khoảng 10%được thải dưới dạng chất thải rắn [26] Sự tăng hàm lương protein không được cáhấp thụ ra môi trường gây hiện tượng phú dưỡng là vấn đề ngày càng được nhiềungười quan tâm Biện pháp quản chất lượng thức ăn và cách cho ăn là nhằm hạn chế
sự ô nhiễm nguồn nước thải ra từ nuôi trồng thuỷ sản là rất cần thiết [6]
Để sản xuất thức ăn cho một đối tượng nuôi thì phải biết thành phần dinhdưỡng (protein, lipid …) của nguyên liệu sử dụng để sản xuất thức ăn và nhu cầudinh dưỡng của đối tượng nuôi Có thể bằng cách phân tích hóa học các nguyên liệuhoặc coi tỷ lệ phần trăm các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn cần đạt được
để cho tốc độ tăng trưởng tối đa Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến số lượng thức ăn,
vì lượng thức ăn khác nhau thì lượng protein mà cá tiếp nhận sẽ khác nhau Do đó,
để đánh giá đầy đủ nhu cầu protein thì cần phải xác định nhu cầu protein tương đối
và protein tuyệt đối Nhu cầu protein tương đối được xác định là tỷ lệ protein cótrong thức ăn và nhu cầu protein tuyệt đối là lượng protein cá tiếp nhận từ thức ăntrên một đơn vị thể trọng cá (gram protein trong thức ăn/kg cá/ngày) [7]
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein như: Kích thước và độ tuổi, nhiệt
độ nước, năng lượng trong thức ăn, chất lượng thức ăn, loại thức ăn được sử dụng
và các yếu tố sinh thái [6]
Vai trò dinh dưỡng của amino acid:
- Vai trò dinh dưỡng của protein phụ thuộc vào thành phần và tỷ lệ cácamino acid được phân giải từ quá trình tiêu hóa protein Căn cứ vào khả năng tổng
Trang 31hợp, amino acid phân thành 2 nhóm: amino acid cần thiết (không thể thay thế) vàamino acid không cần thiết (có thể thay thế); Các amino acid cần thiết không thểtổng hợp được trong cơ thể động vật chúng phải bắt buộc cung cấp từ thức ăn; Cácamino acid không cần thiết là những amino acid mà cơ thể có thể tự tổng hợp được,chúng không nhất thiết phải được cung cấp từ thức ăn Giá trị dinh dưỡng của
protein trong thức ăn phụ thuộc chủ yếu vào thành phần amino acid của chúng Đa
số các nguyên liệu sử dụng để sản xuất thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, vànuôi trồng thủy sản có khả năng tiêu hóa cao, có đầy đủ các amino acid, tỷ lệ cácamino acid cần thiết và không cần thiết thường là 1:1; Thành phần amino acid củathức ăn protein chất lượng cao từ thực vật không có sự khác biệt so với protein độngvật Tuy nhiên, protein thực vật thường thiếu hụt một hoặc một vài amino acid cầnthiết Sự thiếu hụt này có thể khắc phục bằng cách phối hợp hai hay nhiều thức ănprotein thực vật với nhau [6]
- Nhu cầu amino acid: Có khoảng 20 amino acid thường gặp trong thức ănprotein và trong cơ thể động vật, trong đó có khoảng 10 amino acid cần thiết Cácamino acid cần thiết nhất thiết phải được cung cấp từ thức ăn Nhu cầu của cácamino acid cần thiết đối với cá và động vật thủy sản khác như: arginine, histidine,isoleucine, leucine, valine, lysine, threonine, tryptophan, các amino acid mạch vòng
và các amino acid có chứa lưu huỳnh [6]
1.6.2 Vai trò dinh dưỡng của lipid
Lipid là nhóm hợp chất hữu cơ tự nhiên có trong tổ chức mô của động vật vàthực vật, có tính chất chung là không hòa tan trong nước mà hòa tan trong các dungmôi hữu cơ (ete, benzen …) Lipid là hợp phần cấu tạo quan trọng của các màng sinhhọc, là nguồn cung cấp năng lượng, nguồn cung cấp các vitamin hòa tan trong mỡnhư: vitamin A, D, E, K [6]
Lipid đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật Chúng có bốn chứcnăng chính như: cung cấp năng lượng cho các chức năng duy trì và sản xuất, nguồn
dự trữ, khi bị oxy hóa sinh ra năng lượng cao gấp 2,25 lần so với carbohydrate vàprotein; là nguồn cung cấp acid béo thiết yếu; là chất vận chuyển các vitamin tantrong dầu, vận chuyển điện tử và các cơ chất trong các phản ứng của enzyme; thànhphần quan trọng của màng tế bào [8]
Trang 32Sự tiêu hóa, hấp thụ lipid khác với protein và carbohydrate vì lipid khônghòa tan trong nước Quá trình tiêu hóa hóa học của lipid do emzyme lipasa thựchiện Trong quá trình tiêu hóa, gan đóng vai trò quan trọng vì gan sản sinh ra mật cótác dụng làm tăng diện tích tiếp xúc nước-dầu, hoạt hóa lipasa và kích thích ruộtvận động; pH của dịch mật một số loài cá trong khoảng từ 6,1 - 8,4 Mật sau khiđược tế bào gan sản sinh ra được cất trong túi mật, khi cá tiếp nhận thức ăn, muốimật được máu dẫn đến ống tiêu hóa để tham gia vào quá trình tiêu hóa thức ăn; Khảnăng tiêu hóa lipid trong thức ăn của động vật thủy sinh còn phụ thuộc vào nhiệt độcủa nước, lượng thức ăn trong ống tiêu hóa Khi thức ăn trong ống tiêu hóa lớn, khảnăng di chuyển của thức ăn, khả năng thấm các enzyme vào thức ăn sẽ giảm dẫnđến giảm khả năng tiêu hóa; So với các thành phần khác trong thức ăn như protein
và carbohydrate, thành phần lipid trong thức ăn có khả năng tiêu hóa được từ 85 90% Những lipid được cấu trúc từ các acid béo no thì khả năng tiêu hóa thấp.Những nghiên cứu về khả năng tiêu hóa lipid trên nhiều loài cá cho thấy acid béokhông no có số lượng carbon trong mạch carbon càng nhiều càng dễ tiêu hóa [6]
-Nhu cầu acid béo cần thiết: Các acid béo tồn tại ở dạng tự do trong nguyênliệu sản xuất thức ăn với số lượng rất nhỏ mà phần lớn chúng tồn tại ở dạng kết hợpvới lipid khác; Để phân biệt các acid béo khác nhau và có thể đánh giá được giá trịdinh dưỡng của chúng, người ta dựa vào số nguyên tử carbon có trong mạch, sốlượng nối đôi và vị trí nối đôi đầu tiên; Cá có vảy có nhu cầu acid béo họ n-3 và n-6nhưng nhu cầu họ n-6 lớn hơn, khoảng 1% Thức ăn giàu acid béo là dầu cá, dầumực, dầu động vật thân mềm, dầu đậu nành và dầu thực vật; Các yếu tố ảnh hưởngđến thành phần acid béo của động vật thủy sinh như: độ mặn, nhiệt độ, thức ăn [6]
1.6.3 Vai trò dinh dưỡng của Carbohydrate (đường)
Carbohydrate là nhóm hợp chất hữu cơ rất phổ biến trong cơ thể thực vật,động vật và vi sinh vật, chúng được sử dụng chủ yếu vào mục đích năng lượng Ởngười, động vật không có khả năng tổng hợp carbohydrate trong cơ thể mà phải sửdụng nguồn từ thực vật Các nguyên tố chủ yếu cấu tạo nên carbohydrate là C, O,
H Carbohydrate chia thành 3 nhóm : Monosachride (đường đơn); Oligosachride (có
từ 2-8 đường đơn); Polysachride (có số lượng lớn các đường đơn) [6]
Carbohydrate có chức năng quan trọng là:
Trang 33- Cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể (khoảng 60% năng lượng cho hoạtđộng sống của động vật được cung cấp từ carbohydrate).
- Carbohydrate có vai trò tạo cấu trúc, tạo hình (vai trò của cellulose)
- Carbohydrate góp phần tạo cho tế bào có được tương tác đặc hiệu
Khả năng tiêu hóa, hấp thu carbohydrate: Khả năng tiêu hóa carbohydratephụ thuộc vào cấu trúc, hệ thống tiêu hóa và thành phần của thức ăn Trong quátrình tiêu hóa carbohydrate, chất xơ thô không được tiêu hóa sẽ di chuyển từ ruộttrước ra ruột sau, chúng sẽ trở thành chất nền cho quá trình lên men của vi sinh vậtsống trong ống tiêu hóa Sự lên men của vi sinh vật làm giải phóng ra các acid béo
dễ bay hơi và các sản phẩm khác được động vật hấp thu Chất xơ thô làm chất nềncho sự phát triển của vi sinh vật và chính các vi sinh vật trở thành nguồn dinh
dưỡng quan trọng của động vật Ngoài vai trò là chất nền, trong chất xơ tồn tại mộtlượng nước nhất định, chính lượng nước này có tác dụng duy trì dịch ruột làm tăngquá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, đặc biệt là làm cho sự di chuyển của thức ăn
từ ruột trước ra ruột sau được dễ dàng [6]
1.6.4 Vai trò dinh dưỡng của vitamin
Cá được nuôi hàng nghìn năm nay nhưng những biểu hiện thiếu vitamin chỉđược phát hiện gần đây Bổ sung vitamin cho cá trong điều kiện nuôi không nhữngthúc đẩy được tăng trưởng của cá mà còn ngăn chặn được những rối loạn bệnh lý dothiếu vitamin Thông thường, vitamin bổ sung trong thức ăn chỉ chiếm 1 - 2%,nhưng chi phí lại chiếm đến 15% tổng chi phí thức ăn [8]
Vitamin là những chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau, cơ thể độngvật có nhu cầu một lượng nhỏ trong thức ăn để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triểnbình thường Vitamin có vai trò như là chất bổ dưỡng, giữ gìn sức khỏe cho độngvật Một số vitamin được tạo thành trong cơ thể động vật từ những vật chất trongthức ăn là thực vật Một số mô động vật như gan, lá lách hoặc lòng đỏ trứng cũng lànguồn cung cấp vitamin quan trọng [6]
Để xác định nhu cầu vitamin, người ta sử dụng các phương pháp tương tựnhư các phương pháp xác định nhu cầu amino acid cần thiết hoặc đo lượng vitamintích lũy trong gan [6]
Trang 341.6.4.1 Vai trò dinh dưỡng của các vitamin tan trong nước
Các vitamin tan trong nước gồm các vitamin thuộc nhóm B và một số
vitamin khác như vitamin C (ascorbic acid), inositol, choline … [6]
- Vitamin B6: Thức ăn của cá khi thiếu vitamin B6 thì cá sẽ bị rối loại thầnkinh, biểu hiện cá không có phản ứng khi có tiếng động và khi cá chết, hiện tượng
tê cứng cứng diễn ra rất nhanh [6]
- Biotin (Vitamin B8, Vitamin H): Thiếu biotin thì chậm lớn, màu sắc cá nhạthơn, cá rất nhạy cảm với tiếng động, nếu thức ăn thiếu biotin thời gian dài thì cá bịthoái hóa mang cá, gan xanh nhạt và sưng to Biotin có trong thức ăn động vật vàthực vật như cám gạo, bột mì, bột ngũ cốc, bột thịt, bột cá, bánh dầu các loại Nhucầu biotin trong thức ăn của cá khoảng 1 - 1,2 mg/kg thức ăn [6]
- Vitamin B12: Khi thức ăn thiếu vitamin B12 cá sẽ bị lượng tiểu cầu và hồngcầu giảm, xuất hiện hiện tượng thiếu máu Tuy nhiên, đối với một số loài cá như cáchình biển, cá rô phi thì các vi sinh vật sống trong ống tiêu hóa có khả năng tổng hợpđược vitamin B12 đủ đáp ứng nhu cầu của chúng [6]
1.6.4.2 Vai trò dinh dưỡng của các vitamin tan trong chất béo
Các vitamin tan trong chất béo gồm: vitamin A, D, E, K
- Vitamin A: Trong thức ăn nếu thiếu vitamin A lâu dài, cá sẽ có dấu hiệuthiếu máu, nắp mang xoắn lại, xuất huyết mắt, chậm lớn, mắt lồi và sưng lên, xuấthuyết thận Tuy nhiên, nếu trong thức ăn dư thừa vitamin A cũng gây nên nhữngphản ứng phụ bất lợi như cá tăng trưởng chậm, thiếu máu, biến dạng cống đuôi.Vitamin có nhiều trong dầu cá, lòng đỏ trứng, ở trong thực vật có chứa tiền chất củavitamin A là caroten Hàm lượng vitamin A trong nguyên liệu và trong thức ăn thayđổi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kho bãi, bảo quản Các chất chống oxy hóa cótác dụng bảo quản tốt vitamin A [6]
- Vitamin D: Vai trò dinh dưỡng quan trọng nhất của vitamin D là tăngcường khả năng hấp thu canxi từ thức ăn của ruột Nếu thức ăn thiếu vitamin D thì
cá tăng trưởng chậm Ngược lại, thừa vitamin D trong thức ăn thì không ảnh hưởngđến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Nhu cầu vitamin D ở cá nước ngọt là 900UI/1kg thức ăn Nguồn nguyên liệu giàu vitamin D là dầu cá, mỡ cá, dầu mực [6]
Trang 35- Vitamin E: là chất lỏng không màu, hòa tan trong dầu thực vật, dung môihữu cơ, bền vững với nhiệt nhưng bị phá hủy rất nhanh dưới tác dụng của tia cựctím Vitamin E có tác dụng như những chất chống oxy hóa do đó nó có tác dụng bảo
vệ các chất dễ bị oxy hóa như caroten, vitamin A, các acid béo không no Nhu cầuvitamin E đối với động vật, cá tùy thuộc vào hàm lượng và tính chất của chất béotrong thức ăn, khả năng hấp thu vitamin E của cá Vitamin E có nhiều trong câyxanh, rau, cỏ, hạt ngũ cốc, hạt mầm, dầu thực vật, lòng đỏ trứng … [6]
- Vitamin K: Cần cho quá trình sinh tổng hợp các yếu tố làm đông máu
Thiếu vitamin K máu chậm đông Hiện tượng này thường gặp trong nuôi trồng thủysản khi người nuôi cá sử dụng thuốc kháng sinh một cách bừa bãi Biểu hiện bệnh
lý khi thức ăn thiếu vitamin K trong thời gian dài là hiện tượng xuất huyết ở mang
và mắt cá, thời gian đông máu kéo dài [6]
1.7 Vai trò dinh dưỡng của chất khoáng
Chất khoáng là những nguyên tố hóa học cần thiết để xây dựng nên cơ thể vàtham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể động vật Chất khoáng có vai trònhư chất xúc tác đối với các enzyme, hormon và protein [6]
Bảng 1.3 Thành phần nguyên tố đa lượng, vi lượng trong cơ thể cá hồi và cá chép [6]
Cá hồi
Khối lượng từ 10 - 1.800 g
Cá chép
Khối lượng từ 70 - 115 gCác nguyên tố đa lượng (g/kg khối lượng cá tươi)
6,15,00,252,10,85Các nguyên tố vi lượng (mg/kg khối lượng cá tươi)Fe
Cu
Mn
Zn
12,01,21,825,0
20,01,10,763,0
Trang 361.7.1 Vai trò của các nguyên tố đa lượng
- Canxi (Ca): Vai trò quan trọng của Ca là để tạo nên bộ xương vững chắccho cơ thể động vật, có tác dụng tương hỗ về đặc tính kết dính giữa màng tế bào vàcác chất bên trong tế bào Canxi là chất hoạt hóa một số enzyme như trypsin, đồngthời có vai trò quan trọng trong hoạt động thần kinh Canxi cũng đóng vai trò quantrọng trong các hoạt động cơ và quá trình đông máu, quá trình trao đổi vitamin, đặcbiệt là vitamin D và ảnh hưởng lên tính thẩm thấu của màng tế bào; một số loài cá,ngoài xương thì Ca và P còn có nhiều ở vảy Lượng canxi được cá chép và cá hồihấp thu từ môi trường nước bằng lượng canxi mà chúng lấy từ thức ăn Lượng canxihấp thu phụ thuộc vào một số yếu tố sinh thái và lượng phospho có trong thức ăn Ở
cá chép và cá hồi sống trong môi trường nước có hàm lượng canxi thấp chúng vẫn
có khả năng hấp thu đủ nhu cầu canxi từ môi trường nếu thức ăn có đủ phospho;nhu cầu tối ưu về tỷ lệ Ca/P trong thức ăn cho cá là 1/1 đến 2/1 Tuy nhiên, tỷ lệCa/P trong thức ăn không gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sống của cá Ngoàicanxi trong nước, hàm lượng canxi trong thức ăn cũng rất cần thiết có sự khác biệt
về khả năng sử dụng canxi trong thức ăn giữa các loài tùy thuộc vào sự có mặt củaphospho trong thức ăn và hàm lượng canxi trong nước nhưng rất khó xác định chínhxác nhu cầu canxi đối với cá [6]
- Phospho (P): Cùng với canxi, phospho là chất khoáng quan trọng cấu tạonên bộ xương của động vật (gồm 37% canxi và 16% phospho) Ngoài ra, phosphocòn tồn tại trong acid nucleic; các phân tử cao năng Adenosin triphosphat (ATP).Phospho được hấp thu từ nước qua mang nhưng tỷ lệ hấp thu phospho từ nước rấtthấp, chỉ bằng 1/400 so với số lượng canxi Vì vậy nhu cầu phospho của cá đượcđáp ứng chủ yếu qua con đường thức ăn Nhu cầu phospho của cá phụ thuộc vàocấu trúc bộ máy tiêu hóa và chất lượng thức ăn Sự dư thừa phospho trong thức ănđược cá bài tiết ra ngoài dưới dạng hòa tan trong nước Ở những loài cá có dạ dày,khả năng tiêu hóa và hấp thu phospho từ thức ăn tốt hơn so với những loài cá không
có dạ dày Vì với những loài cá có dạ dày trong quá trình tiêu hóa thức ăn dịch dạdày mà chủ yếu là HCl được tiết ra để duy trì pH thấp trong dạ dày có tác dụng hòatan phospho hữu cơ thành các dạng phospho vô cơ để hấp thu [6]
Trang 37Bảng 1.4 Khả năng tiêu hóa phospho (%) trong các loại thức ăn khác nhau
đối với cá hồi, cá chép và cá da trơn [6]
Monobasic calcium phosphat
Dibasic calcium phosphat
Tribasic calcium phosphat
Cá hồi
60 - 72
70 - 819119 -58947164
Cá chép
10 - 26
13 - 339325 -57944613
Cá da trơn
40 -
29 - 542528-9465-Phospho và canxi rất phong phú trong thức ăn có nguồn gốc từ động vật vàthực vật như: trong bột cá, bột thịt, nấm men, các hạt đậu [6]
- Magiê (Mg): Magiê đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng phosphorinhóa trong một số hệ thống enzyme nhất định Hàm lượng magiê trong nước ngọt rấtthấp, vì vậy để đáp ứng nhu cầu magiê của cá cần phải bổ sung một lượng magiê
nhất định vào thức ăn Việc dư thừa magiê trong thức ăn sẽ được cá bài tiết ra ngoàiqua thận Đối với cá biểu hiện của sự thiếu hụt Mg là cá chậm lớn, hiệu quả sử dụngthức ăn kém Có thể sử dụng các muối Mg như MgSO4 bổ sung vào thức ăn cho cá.Khi bổ sung Ca, P vào thức ăn cần lưu ý cân đối hàm lượng Mg cho phù hợp [6]
- Kali (K): Kali thường có quan hệ chặt chẽ với Ca và Mg trong phối hợp
kích thích hoạt động của hệ thống cơ và hệ thống thần kinh Kali giữ vai trò quan
trọng trong điều hòa hệ thống áp suất thẩm thấu và cân bằng acid-bazơ trong tinh
thể Các loại cá nước ngọt không có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu kali bằng hấp thu
từ môi trường nước qua mang mà phải hấp thu rất nhanh qua ống tiêu hóa [6]
1.7.2 Vai trò của các nguyên tố vi lượng
- Sắt (Fe): Sắt là thành phần quan trọng của hồng cầu Sắt có vai trò quan
trọng đối với hệ thống enzyme xúc tác cho hoạt động hô hấp và các phản ứng oxyhóa khử bên trong cơ thể có mối quan hệ chặt chẽ giữa vitamin C và việc vận
Trang 38chuyển Fe trong cơ thể Sắt có thể được cá hấp thu từ môi trường qua mang Tuy
nhiên, việc bổ sung sắt vào thức ăn là rất cần thiết Một số biểu hiện của sự thiếu sắt
là lượng hồng cầu trong máu cá giảm, thiếu máu nhưng không ảnh hưởng nhiều đến
tốc độ sinh trưởng [6]
- Mangan (Mn): Mangan là thành phần của nhiều enzyme, là chất khoáng
cần thiết cho sinh trưởng của động vật Có thể đáp ứng nhu cầu Mn cho cá từ thức
ăn và từ môi trường nước Nếu thiếu hụt Mn thì làm suy giảm tốc độ sinh trưởng,
vây của cá ngắn lại Khi bổ sung Mn vào thức ăn ở mức độ hợp lý sẽ làm tăng quá
trình sinh tổng hợp protein và chống lại quá trình tổng hợp mỡ ở gan Mangan rất
phong phú ở bột cá trắng, ngoài ra có thể sử dụng các muối kẽm để bổ sung vào
thức ăn cho cá như: MnSO4 hoặc MnCl2 [6]
- Bổ sung chất khoáng cho thức ăn: Nhiều khoáng chất rất cần thiết cho việc
duy trì trạng thái sinh lý và hoạt động sống của cá Đa số các nguyên liệu để sản
xuất thức ăn trong nuôi trồng thủy sản đều không đầy đủ, không cân bằng và không
đáp ứng đủ nhu cầu các chất khoáng đa lượng và vi lượng cho đối tượng nuôi Vì
vậy, việc bổ sung khoáng chất vào thức ăn là rất cần thiết Tuy nhiên việc bổ sung
phải dựa trên các thành phần hòa tan trong nước và loài cá nuôi [6]
Bảng 1.5 Nhu cầu khoáng chất trong thức ăn cho một số loài cá nước ngọt
(mg/kg hoặc g/khối lượng khô của thức ăn) (nguồn Steffens, 1987) [6]
Chất
Cá chình (nhật bản) Cá da trơn
Cá rô phi (tilapia)
300 mg - 3g6g
300 mg-3 g6g
4,54,2 - 4,5 g
7g4,2 - 6 g
30 mg
2 - 3 mg
-
Trang 39-Nghiệm thức 1 2 3 Ghi chú
3
CHƯƠNG II
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: Cá lóc bông (Channa micropeltes Cuvier, 1831).
hướng cấp và thoát nước Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn (RCD) Tất
cả các yếu tố phi thí nghiệm khác được bố trí hoàn toàn giống nhau
2.2.1 Thí nghiệm I: Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ nuôi lên tốc độ sinh trưởng
và tỷ lệ sống của cá lóc bông nuôi thương phẩm bằng giai đặt trong ao
Thí nghiệm trong hệ thống giai đặt trong ao, có nước trong sạch, ao có độ
sâu trung bình 1,5 m với các mật độ thí nghiệm khác nhau, thức ăn như nhau Mỗi
mật độ nuôi là một công thức nghiệm, bố trí 03 lần lặp lại
Mật độ thí nghiệm:
Chọn ngẫu nhiên 1.620 con cá giống cỡ 5 - 10 g/con trong số 4.000 con cá lócbông giống được mua từ Trại sản xuất cá giống ở Đồng Tháp và được thả nuôi trong 9giai theo các mật độ thí nghiệm, mỗi giai có thể tích 3 m3 (2 m x 1,25 m x 1,2 m)
Sơ đồ bố trí các giai thí nghiệm như sau:
Giai 2 Giai 9 Giai 3 Giai 1 Giai 7 Giai 4 Giai 5 Giai 8 Giai 6Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn viên hỗn hợp dùng cho cá lóc
Trang 402.2.2 Thí nghiệm II: Nghiên cứu ảnh hưởng các loại thức ăn lên tốc độ sinh
trưởng và tỷ lệ sống của cá lóc bông nuôi thương phẩm bằng giai đặt trong ao
Phương pháp tiến hành bố trí thí nghiệm II giống như thí nghiệm I, kể cả các
điều kiện chăm sóc, quản lý, chế độ cho ăn và theo dõi các yếu tố về môi trường,
thời gian thu mẫu định kỳ kiểm tra tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống
Thí nghiệm được bố trí với cùng mật độ cá nuôi là 60 con/m3, các loại thức ănkhác nhau Mỗi loại thức ăn là một nghiệm thức, lặp lại 03 lần Số lượng cá nuôi
trong thí nghiệm là 1.620 con, cỡ 5 - 10 g/con được bố trí trong 9 giai, mỗi giai có
thể tích 3 m3
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Giai 9 Giai 5 Giai 1 Giai 8 Giai 2 Giai 3 Giai 6 Giai 7 Giai 4Thức ăn và thành phần các loại thức ăn trong thí nghiệm:
Loại thức ăn Nghiệm