1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn châu tỉnh nghệ an

126 737 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An
Tác giả Hoàng Ngọc Thắng
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hiển
Trường học Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành Cao học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do đó, tác giả chọn vấn đề "Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An" làm đề tài luận văn

Trang 1

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Cao đẳng nghề Du lịch- Thương mại Nghệ An

và trường Đại học Nha Trang

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến qúy thầy cô trường Đại học Nha Trang, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiển

đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang cùng qúy thầy cô trong khoa kinh tế đã tạo nhiều điều kiện để tôi học tập và hoàn thành khóa học

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn qúy anh, chị và Ban lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Diễn Châu, Chi cục Thống kê Diễn Châu, Ban điều tra lao động và việc làm huyện Diễn Châu, Cục Thống kê Nghệ An, Liên Minh hợp tác xã Nghệ An… đã tạo điều kiện cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệu viết luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thành luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp qúy báu của quý thầy cô và các bạn

Nghệ An, tháng 7 năm 2012

Học viên

Hoàng Ngọc Thắng

LỜI CẢM ƠN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong luận văn này

do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện

Học viên thực hiện luận văn

Hoàng Ngọc Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5

7 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

1.1 Bản chất và nội dung Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn 6

1.1.1 Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn 6

1.1.2 Những nội dung cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 13

1.2 Tác động và yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 20

1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực 20

1.2.2 Nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn 23

1.2.3 Tác động và yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 26

1.2.3.1 Tác động của nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn 26

Trang 4

nông thôn về nguồn nhân lực 27

1.3 Kinh nghiệm phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở một số tỉnh trong nước 28

1.3.1 Kinh nghiệm của Sơn La 28

1.3.2 Kinh nghiệm của Thanh Hóa 29

1.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Thuận 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 33

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN HUYỆN DIỄN CHÂU 34

2.1 Những nhân tố tác động đến phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Diễn Châu 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34

2.1.2 Về sự phát triển kinh tế 36

2.1.3 Về nguồn vốn đầu tư phát triển 38

2.1.4 Về phát triển làng nghề 40

2.1.5 Về văn hóa, xã hội 42

2.2 Thực trạng nguồn nhân lực và xu hướng vận động nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn Diễn Châu hiện nay 44

2.2.1 Sự phát triển của lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn Diễn Châu 44

2.2.2 Chất lượng của lực lượng lao động nông thôn huyện Diễn Châu 46

2.2.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn huyện Diễn Châu từ năm 2001 đến nay 51

2.2.3.1 Sự chuyển dịch lao động theo ngành kinh tế 51

2.2.3.2 Sự chuyển dịch lao động trong các thành phần kinh tế 53

2.2.3.3 Sự di chuyển lao động trong và ngoài huyện 54

2.2.4 Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa huyện Diễn Châu 55

Trang 5

2.2.4.2 Năng suất và thu nhập của người lao động ở nông thôn

huyện Diễn Châu 56

2.3 Đánh giá khái quát thực trạng nguồn nhân lực nông thôn huyện Diễn Châu trong thời kỳ 2001 – 2011 59

2.3.1 Kết quả đạt được 59

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 61

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP NÔNG HUYỆN DIỄN CHÂU 66

3.1 Mục tiêu tổng quát và định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (2010 - 2015) và tầm nhìn đến năm 2020 của huyện Diễn Châu 66

3.1.1 Mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế - xã hội 66

3.1.1 Mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế - xã hội 66

3.1.3 Những yêu cầu đặt ra đối với việc phát triển và sử dụng nguồn lực nông thôn Diễn Châu trong giai đoạn hiện nay 69

3.2 Những giải pháp cơ bản để phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở huyện Diễn Châu 73

3.2.1 Phát triển mạnh nền nông nghiệp hàng hóa theo hướng toàn diện, sản phẩm hàng hóa đa dạng, chất lượng tốt, gắn với lợi thế từng vùng và gắn với thị trường 74

3.2.2 Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 76

3.2.3 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời khôi phục, phát triển các ngành nghề truyền thống và mở thêm nghề mới cho nông dân 80

Trang 6

dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn và tạo việc làm cho người lao động 82

3.2.5 Tăng cường công tác đào tạo người lao động nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng dạy nghề cho nông dân 85

3.2.6 Hoàn thiện một số chính sách nhằm phát triển khả năng tạo việc làm và nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn 89

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 100

Trang 7

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

HDI Chỉ số phát triển con người

VA Chỉ số tăng giá trị sản xuất theo giá trị tăng thêm

CN- TTCN Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp

NSLĐ Năng suất lao động

THCN Trung học chuyên nghiệp

THPT Trung học phổ thông

Trang 8

Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Diễn Châu 2005 - 2011 38 Bảng 2.2: Phân bố các làng nghề của huyện Diễn Châu 41 Bảng 2.3: Quy mô dân số huyện Diễn Châu đến 31/12/2011 phân theo các xã và thị trấn 44 Bảng 2.4: Trình độ học vấn lao động nông thôn Diễn Châu 47 Bảng 2.5: Cơ cấu lao động nông thôn huyện Diễn Châu phân theo trình

độ chuyên môn kỹ thuật 48 Bảng 2.6: Cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế 52 Bảng 2.7: GDP nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp huyện Diễn Châu thời kỳ 2005 – 2010 giá so với năm 1994 57

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ tiến trình của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chính quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn không chỉ tạo đà cho sự phát triển kinh tế nông thôn, mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn, theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá Sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phụ thuộc vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Diễn Châu là một huyện thuộc tỉnh Nghệ An, với diện tích tự nhiên: 304,924 km2, dân số khoảng trên 300.000 người

Từ năm 2001 đến nay, kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao, tương đối toàn diện, cơ cấu chuyển dịch nhanh theo hướng tích cực trong từng khu vực, từng địa phương và các thành phần kinh tế Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng bình quân hàng năm 15,75%, tỷ trọng GDP của khu vực công nghiệp xây dựng tăng nhanh từ 16,4%, khu vực nông - lâm - thủy sản giảm từ 38% xuống còn 25% năm 2008 Tuy nhiên, Diễn Châu vẫn còn mang nặng dấu ấn của một huyện nông nghiệp, lao động nông nghiệp ở nông thôn Diễn Châu hiện nay vẫn đang chiếm 82,71% lao động xã hội và một trong những thách thức lớn nhất trong khu vực này là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm của người lao động đang có xu hướng gia tăng Điều đó, trong chừng mực nhất định đang cản trở bước tiến của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của huyện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Diễn Châu lần thứ 29 (nhiệm kỳ 2010 - 2015) đã chỉ rõ: "Phát huy mọi nguồn lực, khai thác tốt tiềm năng lợi thế của huyện, xây dựng Diễn Châu trở thành một huyện thuộc tốp đầu của Tỉnh về mọi mặt, đẩy nhanh phát triển đô thị Chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, coi trọng

Trang 10

phát triển nông nghiệp, nâng cao thu nhập bình quân đầu người, phát triển một

xã hội lành mạnh, ổn định, trong đó quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực " [60]

Để thực hiện chủ trương trên, một trong những vấn đề quan trọng là phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực - nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Diễn Châu nói riêng Với

những lý do đó, tác giả chọn vấn đề "Phát triển nguồn nhân lực trong quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An" làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành Quản

trị kinh doanh

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã có nhiều công trình khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận

và thực tiễn Kết quả nghiên cứu của các công trình này là:

+ Làm rõ quan niệm, nội dung và biện pháp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

+ Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở các vùng khác nhau trong nước

+ Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta nói chung

Các công trình tiêu biểu mà tác giả được biết:

- Nguyễn Văn Bích: "Đổi mới và phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996

- Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng (chủ biên): "Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam", Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998

- GS.TS Nguyễn Đình Phan, GS.TS Trần Minh Đạo và TS Nguyễn

Văn Phúc (đồng chủ biên): "Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng" Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

Trang 11

Vấn đề con người - nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng

đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở các góc độ khác nhau Một số công trình, tác phẩm nghiên cứu mà tác giả được biết đó là:

- Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ

của Trần Kim Hải

- Vai trò Nhà nước trong tạo tiền đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Quý Tình

- Đề án chiến lược về lao động và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1999 - 2020) của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1999

- Chương trình khoa học cấp nhà nước KX 04-04(1995): "Luận cứ khoa học cho giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần"

- PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc "Vấn đề giải quyết việc làm và dạy nghề cho nông dân", Tạp chí Con số và Sự kiện, 8/1999

- Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ kinh tế của Trần Kim Long, 2005

- TS Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (chủ biên): "Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam" Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997

Các công trình trên được các tác giả nghiên cứu ở tầm vĩ mô trong phạm vi cả nước hoặc từng vùng tiêu biểu Tuy nhiên, một đề tài riêng về nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Diễn Châu thì còn ít tác giả nghiên cứu một cách tổng thể dưới góc độ Quản trị kinh doanh Vì vậy, đề tài luận văn này là cần thiết và có ý nghĩa lý luận - thực tiễn đối với huyện Diễn Châu

Trang 12

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu:

Phân tích và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Diễn Châu và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Diễn Châu

* Nhiệm vụ:

Để thực hiện mục tiêu trên luận văn có nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; về nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đối với nguồn nhân lực

- Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Diễn Châu

- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Diễn Châu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trang 13

+ Xem xét mối quan hệ tương tác giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vấn đề sử dụng lao động và tạo việc làm cho người lao động

+ Mốc thời gian để lấy số liệu, tư liệu minh họa chủ yếu từ năm 2001 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng

Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm, những tổng kết kinh nghiệm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài

- Về phương pháp nghiên cứu: vận dụng phương pháp chung của quản trị kinh doanh như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc với lịch sử, kết hợp lý luận với thực tiễn; đồng thời khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa vấn đề, rút ra kết luận

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, hoạch định chính sách, chỉ đạo thực tiễn, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện Diễn Châu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

- Chương 1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nước ta

- Chương 2 Thực trạng nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn huyện Diễn Châu

- Chương 3 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn huyện Diễn Châu

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Bản chất và nội dung Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

1.1.1 Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

Sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước đã được Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội lần thứ III (năm 1960) Đến Đại hội lần thứ VII và VIII, Đảng ta nhấn mạnh thêm nội dung hiện đại hóa và coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu của sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta từ một nước nông nghiệp là chủ yếu thành một nước công nghiệp Đó cũng là con đường cơ bản để thực hiện mục tiêu: "Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ

và văn minh" Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và X, nhất là Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 1/2011 tiếp tục khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa vẫn là nội dung cơ bản của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Trên 30 năm đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước

ta đã bước vào giai đoạn phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức Đây là sự tiếp nối đường lối và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng Chỉ có đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức mới có thể đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản đã trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tuy vậy, trong những năm đầu thế kỷ XXI, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trước hết và chủ yếu là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

và nông thôn

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là vấn đề rộng lớn và phức tạp, vì thế cho đến nay vẫn còn có những quan niệm ít nhiều chưa thống nhất

Trang 15

* Một số nhà nghiên cứu cho rằng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông

nghiệp và nông thôn là vấn đề khoa học bao gồm 4 nội dung khác nhau nhưng

có quan hệ mật thiết với nhau Đó là: Công nghiệp hóa nông nghiệp; công nghiệp hóa nông thôn; hiện đại hóa nông nghiệp; hiện đại hóa nông thôn

Công nghiệp hóa nông nghiệp, theo tác giả Chu Hữu Quý và Nguyễn

Kế Tuấn là:

Quá trình chuyển biến từ nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán sang nền nông nghiệp sản xuất lớn với trình độ chuyên canh và thâm canh cao, tiến hành sản xuất và quản lý sản xuất - kinh doanh với trình độ trang bị công nghiệp và công nghệ tiên tiến, áp dụng rộng rãi thủy lợi hóa, cơ khí hóa, hóa học hóa, điện khí hóa, sinh học hóa cao hơn và bước đầu áp dụng cả tin học hóa, tự động hóa [54, tr 26]

Cũng theo các tác giả trên thì phạm vi, tính chất của công nghiệp hóa nông thôn sâu rộng hơn nhiều, thể hiện qua ba điểm:

Thứ nhất, nó là quá trình biến đổi không phải trong từng ngành sản

xuất hay từng lĩnh vực xã hội đơn lẻ, mà là một quá trình biến đổi toàn diện trong một khu vực xã hội rộng lớn là nông thôn, bao quát mọi hoạt động kinh

tế, xã hội, văn hóa, chính trị tại đó

Thứ hai, nó phải phát triển một nền nông nghiệp dồi dào làm nền tảng,

một nền sản xuất công nghiệp ngày càng tiên tiến, một hệ thống dịch vụ đầy đủ

và hữu hiệu

Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cùng

với các ngành kinh tế phát triển, một hệ thống hạ tầng cơ sở kinh tế và xã hội dần dần được hoàn chỉnh theo hướng hiện đại hóa, các lĩnh vực hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế được nâng cấp, các quan hệ xã hội được hoàn thiện, tạo ra một lối sống công nghiệp năng động, cởi mở, văn minh [54, tr 26-27]

Nhóm các nhà nghiên cứu khác, về cơ bản tán đồng với quan điểm trên

và nhấn mạnh trong ba mặt biểu hiện (đặc trưng điển hình) của công nghiệp hóa nông thôn nêu dưới đây đã bao hàm cả yếu tố hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn:

Trang 16

Công nghiệp hóa nông thôn phản ánh sự biến đổi toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của một vùng xã hội nông thôn Nó khác với công nghiệp hóa nông nghiệp ở chỗ công nghiệp hóa nông nghiệp phản ánh sự biến đổi chỉ đối với một ngành cụ thể - ngành nông nghiệp (bao gồm cả nông - lâm - thủy sản) Tất nhiên nói như vậy cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi lẽ khi nông nghiệp được công nghiệp hóa chắc chắn sẽ động tới các mặt khác của xã hội nông thôn

Công nghiệp hóa nông thôn phản ánh sự thay đổi một cách căn bản kết cấu kinh tế - xã hội nông thôn Kết cấu kinh tế của một vùng nông thôn được công nghiệp hóa phản ánh một cơ cấu ngành tích cực, trong đó có một nền nông nghiệp đa dạng đã được công nghiệp hóa ở trình độ cao là nền tảng, một nền sản xuất công nghiệp ngày càng tiên tiến và một hệ thống dịch vụ hiệu quả Về kết cấu xã hội, đặc biệt là kết cấu lao động cũng có sự thay đổi: Tỷ trọng lao động nông nghiệp ngày càng giảm và tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng

Công nghiệp hóa nông thôn còn được phản ánh qua sự phát triển bằng một hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng ngày càng hiện đại; đồng thời các lĩnh vực hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế có sự biến đổi rõ nét về chất, các quan hệ xã hội được hoàn thiện, một lối sống công nghiệp văn minh được hình thành [51, tr 14-16]

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa nông thôn ở nước ta, cần chú ý một số điểm sau:

Một là, công nghiệp hóa nông thôn tất yếu phải kéo theo sự phát triển

công nghiệp nông thôn và do đó phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nội dung quan trọng của công nghiệp hóa nông thôn, mặt khác công nghiệp hóa nông thôn bao hàm cả công nghiệp hóa nông nghiệp Mặc dù vậy cũng không nên chỉ dùng thuật ngữ công nghiệp hóa nông thôn và mà không nói đến công nghiệp hóa nông nghiệp Vì trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn thì vấn đề công nghiệp hóa nông nghiệp vừa là quan trọng, vừa như

là một thách thức

Trang 17

Hai là, công nghiệp hóa nông thôn đúng hướng tất yếu phải góp phần

thúc đẩy các chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn vùng tăng với tốc độ ngày càng nhanh và cao hơn so với vùng nông thôn đó trong điều kiện không được công nghiệp hóa Đồng thời làm thay đổi cơ cấu về tỷ lệ đóng góp của các ngành vào GDP và thu nhập GDP của các vùng nông thôn được công nghiệp hóa phải có tỷ trọng cao của phần đóng góp từ công nghiệp

và dịch vụ, do đó phần đóng góp của nông nghiệp ngày càng giảm đi về tỷ lệ, nhưng quy mô tuyệt đối ngày càng tăng về cơ cấu và thu nhập của dân cư cũng

có kết quả tương tự

Hiện đại hóa nông nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động có liên quan đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng, đồng thời thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu của

xã hội, của thị trường về các sản phẩm nông nghiệp Đặc trưng nổi bật của hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp Đây cũng

là quá trình cần được thực hiện một cách liên tục vì luôn có những tiến bộ kỹ thuật mới xuất hiện và được ứng dụng trong sản xuất

Hiện đại hóa nông thôn là quá trình liên tục nâng cao trình độ khoa học

- kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn, tạo ra một nền sản xuất trình độ ngày càng cao, cuộc sống ngày càng văn minh và tiến bộ Hiện đại hóa nông thôn không chỉ bao gồm công nghiệp hóa, nâng cao trình độ

kỹ thuật công nghệ và tổ chức trong các lĩnh vực khác trong sản xuất vật chất ở nông thôn mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống văn hóa - tinh thần, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội: Hệ thống giáo dục đào tạo, y tế và các dịch vụ phục vụ đời sống nông thôn Về bản chất, hiện đại hóa

là quá trình phát triển toàn diện có kế thừa ở nông thôn Hiện đại hóa hoàn toàn không có nghĩa là xóa bỏ toàn bộ những gì đã tạo dựng trong quá khứ, càng không có nghĩa là phải đưa toàn bộ công nghệ, thiết bị tiên tiến và hiện đại vào nông thôn ngay một lúc mà là tận dụng, cải tiến, hoàn thiện, từng bước nâng

Trang 18

cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ và tổ chức quản lý nền sản xuất và đời sống xã hội ở nông thôn lên ngang tầm với trình độ thế giới

Từ những phân tích trên, ta thấy vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn liên quan đến 4 khía cạnh có nội dung khác nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau, đó là: công nghiệp hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn, hiện đại hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn Bốn khái niệm trên có quan hệ mật thiết với nhau: ở công nghiệp hóa nông thôn bao hàm công nghiệp hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn bao hàm hiện đại hóa nông nghiệp và giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng có quan

hệ mật thiết với nhau Công nghiệp hóa đã phần nào phản ánh trình độ nhất định của hiện đại hóa và ngược lại Hiện đại hóa là yêu cầu đối với công nghiệp hóa nhất là trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới đang phát triển nhanh như vũ bão; xu thế toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi công nghiệp hóa phải là quá trình hiện đại hóa

* Quan niệm của Đảng ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Trong văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khóa VII Đảng ta đã xác định: Từ nay đến cuối thập kỷ, phải rất quan tâm đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Có thể nói đây là lần đầu tiên trong các văn kiện của Đảng đã đưa ra phạm trù công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Đại hội lần thứ VIII của Đảng (năm 1996) đã bổ sung cụ thể hóa thêm những quan điểm chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Trong văn kiện lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: "Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu" [43, tr 87]

Trang 19

Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) đã cụ thể hóa, bổ sung và phát triển những quan điểm, đường lối về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta và chủ trương đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Để tiếp tục hoàn thiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

đã ban hành nghị quyết về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 Nghị quyết đã nêu lên những nội dung tổng quát, quan điểm, mục tiêu phát triển, những chủ trương và giải pháp lớn

để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Về quan điểm cần quán triệt để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 là:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

- Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hóa quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững

- Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc; phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn

- Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống

Trang 20

vật chất và văn hóa của người dân nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa và thuần phong mỹ tục

- Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của các ngành, các địa phương Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, ổn định dân cư các vùng xung yếu, vùng biên giới, cửa khẩu, hải đảo phù hợp với chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh quốc gia [45, tr125]

Để thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng

xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu “phấn đấu đưa Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 8 năm 2008) đã thông qua Nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Nghị quyết khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo kế hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt” [ 47 tr 124]

Những quan điểm trên không chỉ đảm bảo cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững mà còn góp phần quan trọng cho sự phát triển hài hòa giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa kinh tế và xã hội, an ninh, quốc phòng, môi trường, tăng cường khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đảm bảo cho nước ta phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 21

1.1.2 Những nội dung cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trong văn kiện Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã nêu:

Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh Đảm bảo an toàn về lương thực quốc gia, tạo ra nông sản hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới và thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, ứng dụng thành tựu sinh học, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế,

xã hội, xây dựng nông thôn mới văn minh và hiện đại [43, tr 87-88]

Tháng 11/1998, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 06/NQ-TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn

đã khẳng định:

Đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực

kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Sau 5 năm thực hiện, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã được cụ thể hóa từng bước Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng nêu rõ:

Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa; quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn Phát triển công nghiệp, dịch vụ các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm

Trang 22

mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân

cư ở nông thôn [44, tr 92-93]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX

đã xác định nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn

- Về nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, Nghị quyết chỉ rõ:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường [45, tr 42]

- Nội dung tổng quát của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh

tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn [45, tr 43]

Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ:

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương

Trang 23

Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp Sớm khắc phục tình trạng manh mún về đất canh tác của các hộ nông dân, khuyến khích xã viên dồn điền đổi thửa, cho thuê, góp vốn cổ phần bằng đất; phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các ngành nghề, làng nghề, hợp tác xã, trang trại, tạo ra những sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao

Thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng; đổi mới chính sách giao đất, giao rừng, bảo đảm cho người làm nghề rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện Phát triển rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản có công nghệ hiện đại

Phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Coi trọng khâu sản xuất và cung cấp giống tốt, bảo vệ môi trường, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu

Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thú y bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở nông thôn Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến

Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh Hình thành các khu dân cư, đô thị hóa với kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đồng bộ như: thủy lợi, giao thông, điện, nước sạch, cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình

độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan; đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội

Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động

Trang 24

làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn kể cả ở nước ngoài Đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số [46, tr 88-90]

Văn kiện Đại hội lần thứ XI (tháng 1 năm 2011) của Đảng đã chỉ rõ:

Thứ nhất: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu

quả, bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn

Trong điều kiện hiện nay, “phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững” theo quan điểm của Đảng cần được hiểu

đó là nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài; sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao, có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; đồng thời, phát triển nông nghiệp cũng tính tới những yếu tố bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự hài hòa về kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nông thôn Sản xuất các mặt hàng nông sản nhiệt đới từ trước tới nay vẫn là một thế mạnh của Việt Nam Nghị quyết của Đảng chỉ rõ:

“Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao”[ 48, tr.113] Theo đó, việc tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp phải theo các quy hoạch, các chương trình, đề án được phê duyệt; tập trung phát triển vùng sản xuất hàng hóa cho từng cây, con, từng vùng, nhằm mục tiêu nâng tỷ trọng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng hóa xuất khẩu Muốn đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại và sản xuất hàng hóa lớn, đất đai là yếu tố quyết định và quan trọng hàng đầu, do đó quan điểm của Đảng là “khuyến khích tập trung ruộng đất, phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng”[48, tr.114]; “Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hoá, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh

Trang 25

học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, vùng chuyên môn hoá, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn”[48, tr.195-196] Trong sản xuất nông nghiệp toàn diện, lúa gạo là mặt hàng quan trọng đối với an ninh lương thực quốc gia và đem lại giá trị xuất khẩu cao, quan điểm của Đảng: “Giữ vững diện tích đất trồng lúa theo quy hoạch”[48, tr.196]; “Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích khác

đi đôi với việc bảo đảm lợi ích của người trồng lúa và địa phương trồng lúa”[48, tr.196] Đối với các loại rau, màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế khác cũng cần mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng Đối với ngành chăn nuôi cần mở rộng theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp với công nghệ tiên tiến Một yếu tố quan trọng khác đối với sản xuất nông nghiệp toàn diện, hiện đại và sản xuất hàng hóa lớn là sự

hỗ trợ và đầu tư đối với nông nghiệp, Đảng ta xác định: “Thực hiện gắn kết chặt chẽ nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước; phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở khu vực nông thôn; phát triển các hiệp hội nông dân; tiếp tục đổi mới, xây dựng mô hình tổ chức để phát triển kinh tế hợp tác phù hợp với cơ chế thị trường; phát triển các hình thức bảo hiểm phù hợp trong nông nghiệp; đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất”[48, tr.196]

Thứ hai: Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể

của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong toàn bộ quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay, nông dân giữ vị trí là “chủ thể”, đây

là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết nhằm khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời nhằm bảo đảm những quyền lợi chính đáng của nông dân Vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn thể hiện ở chỗ: trực tiếp tham gia phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông

Trang 26

thôn; chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội ở nông thôn; tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới; xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá- xã hội, môi trường ở nông thôn; đảm bảo an ninh trật tự xã hội ở nông thôn, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở Để phát huy vai trò của nông dân hiện nay, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp”[48, tr.241] Quan điểm đó của Đảng thực sự là những giải pháp quan trọng để khơi dậy và phát huy vai trò chủ thể của người nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới ở nước ta

Thứ ba: Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp,

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân Nhằm khắc phục những hạn chế và bất cập trong phát triển nông thôn nước ta hiện nay, Đảng ta xác định: “Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp, đi đôi với nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân”[48, tr.39], đồng thời nêu rõ: “Quy hoạch phát triển nông thôn và phát triển đô thị và bố trí các điểm dân

cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường”[48, tr.197] Khi triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, Đảng ta nhấn mạnh: đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt Nam; đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu

tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động Mặt khác, xây dựng nông thôn mới văn minh,

Trang 27

giàu đẹp phải gắn với việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân Trong giai đoạn hiện nay cần tập trung triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm; thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ; bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven sông, ven biển [48, tr.197] Những quan điểm về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng là sự khẳng định, bổ sung và tiếp tục phát triển chủ trương, đường lối lãnh đạo đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đặt ra từ Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng Quán triệt sâu sắc

và vận dụng hiệu quả những quan điểm chỉ đạo trên của Đảng là cơ sở vững chắc để nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta có những bước phát triển mới

Từ những trình bày trên, theo chúng tôi, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một quá trình bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

* Đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh doanh theo quan điểm của kinh tế thị trường, từ đó thúc đẩy quá trình biến đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ

sở khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản nhằm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế nông thôn, cơ cấu lao động, quy mô và cơ cấu thu nhập

* Thực hiện phân công mới lao động xã hội trong nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở phát triển các ngành nghề, nghề tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống và dịch vụ theo phương châm "rời đồng, không rời làng" (ly nông, bất ly hương) và "tiểu công nghiệp hiện đại, thủ công nghiệp tinh xảo", từng bước xác lập cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trên địa bàn nông thôn, thúc đẩy phát triển nông nghiệp sinh thái và tạo nên bộ mặt nông thôn mới theo diện mạo của công nghiệp và đô thị

* Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và khoa học quản lý trong sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tiến độ thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện

Trang 28

khí hóa, tự động hóa, tin học hóa và ứng dụng các thành tựu hiện đại của công nghệ sinh học, thay đổi căn bản phương thức quản lý sản xuất kinh doanh ở nông thôn theo hướng lấy cơ cấu, quy mô nhu cầu thị trường làm căn cứ quyết định cơ cấu quy mô sản xuất và đổi mới cơ cấu sản phẩm nhằm kết hợp tốt sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngay từ trong từng phương án sản xuất kinh doanh

* Nâng cao chất lượng nhân lực, kể cả nhân lực quản lý và đặc biệt là người lao động sản xuất nông nghiệp có trình độ cao

* Từng bước hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông nghiệp

và nông thôn, nâng cao trình độ văn minh của xã hội nông thôn, chuyển mạnh lối sống ở nông thôn sang lối sống công nghiệp

Đây là những điểm căn bản nhất phản ánh nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Trong đó có điểm phản ánh quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có điểm phản ánh quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (hiện đại hóa không chỉ về phương diện

kỹ thuật và công nghệ, mà cả về phương diện quản lý kinh doanh) và có những điểm phản ánh các điều kiện kinh tế - xã hội để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.2 Tác động và yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực

Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực Do cách tiếp cận khác nhau, nên có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực:

Thứ nhất, theo thuyết lao động xã hội thì nghĩa rộng của nguồn nhân

lực, có thể hiểu là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội Theo nghĩa hẹp, là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội Theo quan điểm của Tổ chức Lao động thế giới (IL0): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong

độ tuổi quy định, thực tế có việc làm và những người thất nghiệp Hiện nay ở Việt Nam tuổi lao động được quy định là từ 15 - 60 (đối với nam) và từ 15 - 55 (đối với nữ) Trên thực tế khi tính toán, thống kê lực lượng lao động, người ta thường quy định: Lực lượng lao động là những người trong độ tuổi lao động có

Trang 29

việc làm và những người ngoài tuổi lao động vẫn tham gia làm việc (thường tính cho những người trên tuổi lao động) Như vậy, ở đây lực lượng lao động cũng đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế Nguồn lao động được hiểu là toàn bộ những người có khả năng lao động dưới dạng tích cực và tiềm tàng, có thể biểu diễn nguồn lao động qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.1: Nguồn lao động

Nguồn: Phạm Thị Vân Anh (2006), phát triển làng nghề ở Bắc Ninh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Luận văn thạc sĩ

kinh tế, Hà Nội

Thứ hai, theo thuyết tăng trưởng kinh tế, thì nguồn nhân lực chính là

nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển

Thứ ba, theo thuyết về vốn con người, thì nguồn nhân lực được hiểu

như nguồn lực con người (Human Resonsrces), được huy động, quản lý cùng với các nguồn lực khác (tài chính, tài nguyên ) để thực hiện những mục tiêu phát triển đã định

Thứ tư, theo định nghĩa của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là: "Trình

độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện

có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng"

Nội trợ

Các ngành phi sản xuất

Thất nghiệp

Các ngành sản xuất

(trong đó có

nông nghiệp)

Trang 30

Thứ năm, theo một số nhà khoa học Việt Nam, nguồn nhân lực được

hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khỏe, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc

Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lượng lao động của xã hội, đang và sẽ được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất để phục vụ cho nhu cầu xã hội

• Nguồn nhân lực trước hết phản ánh qua số lượng lao động trong độ tuổi lao động và chất lượng của nó Chất lượng nguồn nhân lực là trình độ, khả năng của năng lực thể chất và tinh thần cấu thành nguồn nhân lực của xã hội

Có nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Đó là: (1) Trí lực của nguồn nhân lực; (2) Chỉ số phát triển con người (HDI); (3) Thể lực nguồn nhân lực; (4) Phẩm chất, đạo đức, nhân cách, truyền thống văn hóa nguồn nhân lực

• Những nhân tố tác động đến chất lượng nguồn nhân lực:

Một là, trình độ phát triển kinh tế - xã hội Đây là cơ sở nền tảng để

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ phát triển nguồn nhân lực của nước đó, vì tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ đưa đến kết quả là nâng cao mức sống, cải thiện tình hình sức khỏe của dân cư, sẽ tăng vốn đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo, do đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Hơn nữa, trình độ phát triển kinh tế sẽ quyết định mức độ hiện đại hóa nền kinh tế, mức độ áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống, do đó, thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Và khi chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Hai là, giáo dục và đào tạo đóng vai trò trực tiếp quyết định đến chất

lượng nguồn nhân lực Chúng ta đều biết: Trí tuệ và năng lực sáng tạo là nhân

tố chủ yếu của chất lượng nguồn nhân lực Giáo dục và đào tạo giúp cho người lao động nâng cao trình độ học vấn, sự hiểu biết nói chung, trình độ nghề nghiệp, tay nghề, năng lực tư duy sáng tạo, phát huy tài năng của họ để tăng

Trang 31

năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh Do đó, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực còn có các yếu tố khác tác động, như: phát triển dân số, yếu tố văn hóa, truyền thống dân tộc và chính sách kinh

tế vĩ mô của Nhà nước

1.2.2 Nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn

Nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận cấu thành của nguồn nhân lực xã hội Nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn (theo nghĩa hẹp là nguồn lao động) là tổng thể sức lao động trong khu vực nông nghiệp nông thôn, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động

và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn

Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn với quan điểm là một tiềm lực kinh tế thể hiện ở hai mặt: số lượng và chất lượng

- Số lượng nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn là tổng số những người trong độ tuổi lao động (từ 15 - 55 đối với nữ, từ 15 - 60 đối với nam) có khả năng lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn và những người trên tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động Số lượng này phụ thuộc vào 2 yếu tố: Sự tăng giảm tự nhiên và tăng giảm cơ học do sự di cư từ nông thôn ra thành thị hoặc ngược lại

- Chất lượng của nguồn nhân lực nông nghiệp nông thôn nói chung là khả năng về sức sản xuất của thể lực, trí lực của người lao động Khả năng này được phản ánh qua trình độ văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật, năng suất lao động, kinh nghiệm sản xuất cũng như hành vi và giá trị của người lao động Chất lượng của nguồn lao động là nhân tố có tính quyết định đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một nước Chất lượng nguồn lao động nông thôn nói riêng và nguồn lao động xã hội nói chung tất yếu sẽ biến đổi theo xu hướng không ngừng tăng lên do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và

vì vậy năng suất lao động ngày càng nâng cao Mặt khác, khi nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện chăm sóc tốt hơn sức khỏe con người, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động Chất lượng nguồn nhân lực sẽ được

Trang 32

nâng cao thông qua sự đầu tư và các chính sách phát triển của Nhà nước vào các lĩnh vực y tế, giáo dục và văn hóa

Những đặc trưng của nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn:

Một là, nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong nguồn nhân lực xã hội

Nước ta là một nước nông nghiệp, có khoảng 70% dân số sinh sống ở các vùng nông thôn và đại bộ phận dân cư và lao động làm ăn sinh sống bằng nghề nông Dân số nước ta thuộc loại dân số trẻ, tỷ lệ tăng tự nhiên đã giảm khá nhanh từ 1,43% năm 2000 xuống còn 1,2% năm 2010, tuy nhiên lao động trong khu vực nông nghiệp nông thôn năm 2010 vẫn chiếm tới 50% lao động xã hội [65, tr78]

Hai là, lao động nông nghiệp mang tính thời vụ cao

Một trong những nguyên nhân khiến cho việc trồng lúa nước cũng như các cây rau màu khác cần một lực lượng lao động lớn là do tính thời vụ cao (gieo trồng, thu hoạch) Những công việc cần nhiều lao động như vậy lại chỉ diễn ra trong một số tháng trong năm Tính chất thời vụ của việc canh tác lúa nước đã dẫn đến tình trạng nông nhàn cao trong nông nghiệp Tính chất đặc thù của sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến lượng "cầu" về lao động nông nghiệp

có biên độ dao động rất lớn giữa các kỳ thu hoạch Kết quả là một lượng lao động làm nông nghiệp trở nên nhàn rỗi trong những tháng mùa khô hoặc trước

và sau vụ thu hoạch Chính đặc điểm này đã ảnh hưởng lớn đến mức độ sử dụng lao động trong khu vực này

Ba là, điều kiện làm việc của lao động nông nghiệp nước ta còn vất vả

Trang 33

công việc nặng nhọc, nên tốn nhiều sức lực của người lao động Công cụ tuy

đã được cải tiến nhưng vẫn còn lạc hậu, vấn đề đặt ra là các Viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, các nhà khoa học phải nghiên cứu, cải tiến chế tạo các loại công cụ cơ khí vừa và nhỏ phù hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp của từng vùng và phù hợp với khả năng kinh tế của nông dân, trên cơ sở đó từng bước giảm bớt các khâu nặng nhọc, độc hại đồng thời nâng cao năng suất lao động trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, vấn đề cơ giới hóa nông nghiệp ở nước ta vẫn đang trong tình trạng mâu thuẫn giữa yêu cầu của hiện đại hóa với lực lượng lao động dư thừa quá lớn ở nông thôn, cần phải có giải pháp hữu hiệu từng bước khắc phục

Bốn là, chất lượng lao động nông thôn

Do những nguyên nhân lịch sử, kinh tế sâu xa cùng với phương thức sản xuất lúa nước đã liên kết những người dân sống ở nông thôn thành một cộng đồng gắn kết nhau với truyền thống đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau,

có phẩm chất cần cù, chịu khó, thông minh Đó là những tố chất quan trọng của nguồn lực con người ở nông thôn Tuy nhiên, nguồn nhân lực ở nông thôn cũng còn có nhiều hạn chế chưa đáp ứng được với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện ở một số nét chủ yếu sau:

- Trình độ văn hóa, dân trí và chuyên môn kỹ thuật của người lao động

ở nông thôn còn thấp, ví dụ: Năm 2006 ở nước ta tỷ lệ lao động chưa biết chữ

ở nông thôn vẫn còn gần 1,5 triệu người chiếm 4,9% tổng số lao động nông thôn, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm xấp xỉ 8% còn lại là lao động phổ thông chưa qua đào tạo Lực lượng lao động chất xám vừa

ít lại phân bố không đều, chưa gắn bó với sản xuất và phát triển kinh tế xã hội nông thôn Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý ở nông thôn còn yếu kém, số

có trình độ đại học chỉ chiếm 3,5%, trung cấp 12,8%, sơ cấp 48% tổng số cán

bộ quản lý Rõ ràng với trình độ như vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hóa, đây là yếu tố gây trở ngại lớn đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp [50, tr 22]

- Thể lực của người lao động ở nông thôn đã được cải thiện nhưng còn thấp so với yêu cầu Tình trạng dinh dưỡng của người lớn tính theo chỉ số cơ

Trang 34

chế (BMI) của khu vực nông thôn cho thấy chỉ có 36,44% nam giới đạt mức bình thường, còn lại 62,5% ở mức gầy và quá gầy [50, tr 23]

- Thu nhập của nông dân còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn Vẫn còn khoảng gần 15% dân nông thôn bị nghèo về lương thực, thực phẩm và khoảng 1/3 còn phải sống ở mức nghèo chung Bên cạnh đó các điều kiện khác

ở nông thôn còn kém xa so với thành thị Ví dụ về nhà ở, về phương tiện, về hưởng thụ văn hóa

1.2.3 Tác động và yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.2.3.1 Tác động của nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Nguồn nhân lực như đã nói ở trên, trước hết phản ánh qua số lượng lao động trong độ tuổi lao động Yếu tố về số lượng lao động tác động tới tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn mang tính đặc thù, đặc biệt là khi xét nó trong mối tương quan với quy mô và tốc độ tăng dân số Nếu lao động quá ít thì không đủ đáp ứng cho nhu cầu lao động của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhưng ngược lại nếu lao động quá lớn, và đằng sau đó là quy mô dân số quá đông và tốc độ tăng dân số nhanh thì đây là khó khăn, thách thức đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Xét về mặt này, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn

Khía cạnh thứ hai có liên quan đến nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đó là chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm cả chất lượng nguồn nhân lực lao động trực tiếp và nguồn lao động quản

lý Trong thời đại của tiến bộ khoa học - công nghệ diễn ra nhanh chóng, chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ta thấy hệ thống giáo dục và đào tạo ở nước ta trong những năm qua đã có bước phát triển khá trên nhiều phương diện Tuy nhiên, so với nhiều quốc gia khác, chất lượng đào tạo của nước ta

Trang 35

còn chưa ngang bằng, hơn thế nữa các cơ sở đào tạo người lao động có tay nghề, kỹ năng bậc cao, nhất là việc đào tạo kỹ thuật và kỹ năng cho những người lao động trực tiếp trong nông nghiệp, công nghiệp cũng như dịch vụ phục vụ nông nghiệp còn chưa được chú ý đầy đủ Mặt khác, tính thủ cựu trong lối tư duy, làm ăn của nông dân nước ta nói chung còn mang nặng dấu ấn của người tiểu nông do cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa tập trung còn là thách thức lớn đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.2.3.2 Yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

về nguồn nhân lực

Như trên đã phân tích, nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, góp phần quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta Chính vì vậy, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi phải được thực hiện bằng đội ngũ những người lao động đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, hợp lý về cơ cấu và hiệu quả trong sử dụng

- Về số lượng: Căn cứ vào mục tiêu phát triển và cơ cấu các ngành để

có kế hoạch sử dụng lao động, đảm bảo đủ số lượng lao động tham gia, phấn đấu giảm dần sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động trong điều kiện nguồn nhân lực nông thôn vẫn có xu hướng gia tăng

- Về chất lượng: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa Thế giới đang từng bước phát triển nền kinh tế tri thức Chính vì vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng đòi hỏi một đội ngũ những người lao động có chất lượng cao, tinh thông nghề nghiệp, sáng tạo và có tác phong công nghiệp

- Về cơ cấu nguồn nhân lực: Đảm bảo sự hợp lý trong phân bố nguồn nhân lực giữa các ngành và các vùng Trong mỗi ngành, mỗi địa phương cũng phải tính đến tỷ lệ hợp lý giữa các trình độ chuyên môn kỹ thuật giữa các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách, các nhà quản lý và người trực tiếp sản xuất

Trang 36

1.3 Kinh nghiệm phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở một số tỉnh trong nước 1.3.1 Kinh nghiệm của Sơn La

Sơn La là một tỉnh miền núi phía tây bắc nước ta, có diện tích 1.405,5 km2, với dân số 906.800 người Trong đó, người trong độ tuổi lao động chiếm 46% dân số Tỷ lệ lao động khu vực nông thôn chiếm 78,88% số lao động của tỉnh

Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động còn thấp mới đạt 68 - 70% Như vậy 1/4 thời gian nông nhàn cần các ngành nghề, dịch vụ tạo nguồn thu nhập cho bà con nông dân Sơn La Vấn đề này đặt ra cho tỉnh Sơn La một bài toán khó cần phải giải quyết Mặt khác, mỗi năm Sơn La có khoảng 7.000 học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở chỉ có 1700 - 2000 em vào học tiếp các trường trung học phổ thông còn khoảng 5.000 em cần được đào tạo nghề, hướng nghiệp Hàng ngàn học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp ra trường, bộ đội xuất ngũ bổ sung cho lực lượng lao động trong tỉnh hàng năm

Trong 10 năm qua (2001 - 2010) đặc biệt là 5 năm gần đây tình hình kinh tế xã hội ở tỉnh Sơn La có nhiều khởi sắc; chuyển dịch cơ cấu kinh tế đi đúng hướng, nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá, GDP đạt mức trung bình 9,6%/năm, tổng sản phẩm quốc dân tăng gấp đôi, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 31,4% xuống còn xấp xỉ 15% Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở Sơn La có thể rút ra một số bài học về giải quyết việc làm, sử dụng nguồn nhân lực nông nghiệp nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau:

- Hạ thấp tỷ lệ tăng dân số, góp phần giảm áp lực gia tăng về dân số và lao động đối với việc làm

- Tổ chức cân đối lại lực lượng lao động giữa các khu vực thị xã, thị trấn với khu vực nông nghiệp, giữa công nghiệp, dịch vụ với sản xuất nông nghiệp Nhờ đó đã tạo ra hàng vạn việc làm giúp cho hàng chục nghìn hộ gia đình sản xuất ổn định, thu nhập ngày một cải thiện

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất hàng hóa, phá thế độc canh, du canh du cư, tự cung tự cấp, hình thành mô hình kinh tế trang trại cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc, gia súc và gia cầm đang

Trang 37

được nhân rộng và phát triển ở các vùng, tạo thêm nhiều việc làm cho nông dân vùng cao

1.3.2 Kinh nghiệm của Thanh Hóa

Thanh Hóa là một tỉnh nông nghiệp, dân số đông đúc, nguồn lao động dồi dào (hơn 1,8 triệu) nhưng chất lượng lao động thấp: năm 2001 tỷ lệ lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học là 13,26%, tốt nghiệp tiểu học

và THCS là 70,11%, tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ có 16,63% Lao động

có trình độ chuyên môn kỹ thuật mới đạt 12,1%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng đại học trở lên là 2,01%, trung cấp chuyên nghiệp là 5,12%, công nhân kỹ thuật là 5,05% Nguồn lao động phân bố không đều, chủ yếu tập trung cho các ngành nông - lâm - ngư nghiệp (trên 83%), lao động làm việc trong các ngành thương mại dịch vụ chỉ chiếm 4% Hàng năm toàn tỉnh có trên 3 vạn người đến tuổi lao động chưa có việc làm, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn là phổ biến, thời gian lao động trong năm mới sử dụng đạt khoảng 70%

Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều cố gắng tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến như: cây thuốc lá, cây mía, cây dứa Đẩy mạnh trồng, khoanh nuôi, chăm sóc

và bảo vệ rừng, phát triển khai thác hải sản xa bờ, nuôi trồng thủy sản, thành lập các cơ sở sản xuất mới, mở mang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, mở rộng diện tích cây vụ đông

Trong 3 năm 2005 - 2008 Thanh Hóa đã tạo thêm việc làm mới cho hơn 9 vạn lao động và hàng vạn lao động có việc làm đầy đủ hơn, nâng hệ số

sử dụng lao động ở nông thôn từ 66,7% năm 2001 lên 74,2% năm 2008

Kinh nghiệm sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn được thể hiện như sau:

- Tăng cường đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, đồng thời gắn các chương trình kinh tế xã hội với chương trình giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là lao động nông nghiệp nông thôn

Trang 38

- Đẩy mạnh đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, từng bước thay đổi cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực, tăng tỷ lệ đào tạo công nhân kỹ thuật, đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, cơ khí, dịch vụ Khôi phục các ngành nghề thủ công truyền thống ở nông thôn, khuyến khích các cơ sở tư nhân mở trường lớp dạy nghề nhất là truyền nghề truyền thống của địa phương

- Tăng cường các hoạt động dịch vụ việc làm trên cơ sở củng cố và tăng cường các trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh nhằm tư vấn cho người lao động chọn nghề học, hình thức học, nơi làm việc và tư vấn về pháp luật lao động Đồng thời cung cấp thông tin về thị trường lao động và người sử dụng lao động, tổ chức cung ứng lao động theo quy định của luật pháp lao động

- Hỗ trợ trực tiếp cho người lao động, tạo thêm việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ Thành lập Quỹ

hỗ trợ giải quyết việc làm của tỉnh và Ban chỉ đạo giải quyết việc làm ở ba cấp tỉnh, huyện, xã

- Có chính sách ưu tiên phát triển sản xuất như: tạo điều kiện thuận lợi cho thuê mướn địa điểm sản xuất, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, miễn giảm thuế trong thời gian đầu cho các mặt hàng mới, nhất là các mặt hàng sử dụng nguyên liệu, lao động tại địa phương Củng cố quan hệ sản xuất mới để thúc đẩy mọi thành phần kinh tế mới theo hướng đầu tư → sản xuất → thu mua → chế biến → tiêu thụ sản phẩm Thiết lập các mối quan hệ hợp tác trên cơ sở hoạt động kinh tế, điều hòa lợi ích thỏa đáng giữa người sản xuất nguyên liệu với người chế biến ra thành phẩm

1.3.3 Kinh nghiệm của tỉnh Ninh Thuận

Ninh Thuận là một tỉnh nhỏ so với các tỉnh phía nam của vùng kinh tế duyên hải miền Trung Diện tích tự nhiên 3.358km2 dân số 557 nghìn người Tỉnh có 6 huyện, 1 thành phố

Trang 39

Xét về góc độ kinh tế Ninh Thuận nằm xa trung tâm kinh tế trọng điểm phía nam Tiềm năng đất đai, tài nguyên, khoáng sản không nhiều Hơn nữa,

do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ bé, kinh tế thuần nông, cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật còn đơn sơ, trình độ dân trí chưa cao nên tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh còn thấp so với các tỉnh lân cận cũng như trên toàn quốc

Để có bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo đà cho sự phát triển toàn diện, vững chắc Ninh Thuận chú trọng chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó là chuyển dịch cơ cấu lao động, đồng thời xây dựng nguồn lao động có chất lượng phục vụ quá trình chuyển dịch đó

Trong tổng số 557 nghìn dân, số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 244.466 người, trong đó trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng 24.870 người (chiếm 10,17%), dịch vụ du lịch là 46.819 người (chiếm 19,47%), còn lại 70,68% (172.777 người) hoạt động trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản [51, tr 76]

Số liệu tổng hợp của Ban Chỉ đạo điều tra lao động và việc làm năm

2008 của tỉnh Ninh Thuận cho thấy: Số người hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật như sau:

- Đã qua đào tạo từ trung cấp chuyên nghiệp trở xuống: 26.046 người (10,65%)

- Trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học là 10.200 người (4,17%)

- Lao động chưa qua đào tạo là 208.220 người (85,18%) [56, tr 77] Như vậy, số lượng chưa qua đào tạo của tỉnh chiếm tỷ lệ rất cao, số này tập trung chủ yếu là ở khu vực nông thôn Để có bước chuyển cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tỉnh Ninh Thuận tập trung chú trọng công tác đào tạo nghề bằng nhiều hình thức theo phương châm đa dạng hóa các loại hình đào tạo Trong đó, các cơ sở dạy nghề của nhà

Trang 40

nước đóng vai trò trung tâm vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương vừa đáp ứng nhu cầu lao động ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động; Phát triển mạnh mẽ cơ sở dạy nghề liên doanh liên kết với các thành phần kinh

tế trong và ngoài tỉnh để tiếp thu phương pháp và kinh nghiệm dạy nghề tiên tiến, khai thác triệt để nguồn lực từ bên ngoài Đi đôi với việc huy động tối đa nguồn lực trong công tác đào tạo, phổ cập nghề Ninh Thuận thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo như: Dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại nhà máy, phân xưởng; tổ chức theo lớp học; chuyển giao công nghệ; phổ biến kiến thức khoa học, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh; bồi dưỡng nâng bậc nghề, bồi dưỡng tập huấn; bổ túc hoàn thiện, mở rộng nâng cao kiến thức nghề nghiệp; dạy nghề kèm bổ túc văn hóa

Đối tượng đào tạo chủ yếu là đội ngũ lao động ở nông thôn, nhất là độ tuổi thanh niên để học biết ít nhất là một nghề đề họ tự tạo việc làm và góp phần thực hiện các dự án phát triển kinh tế ở địa phương; Chú trọng chuyển giao công nghệ trong nông - lâm - ngư nghiệp, hỗ trợ làng nghề, các trung tâm bảo vệ thực vật, thú ý, giống cây trồng vật nuôi phối hợp với Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên tổ chức hướng dẫn cho nông dân kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi theo mô hình công nghiệp tập trung

Từ những kinh nghiệm thực tế trong việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của ba tỉnh trên, chúng tôi thấy, Nghệ An nói chung và huyện Diễn Châu nói riêng nên nghiên cứu và có thể vận dụng một số kinh nghiệm sau:

Một là, tập trung tổ chức, cân đối lại lực lượng lao động giữa khu vực

thành thị và nông thôn, đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa để từng bước kéo theo sự chuyển dịch lao động và phân công lại

lao động trong khu vực nông nghiệp và nông thôn

Hai là, tăng cường đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn tạo

điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển, đồng thời gắn các chương trình kinh tế - xã hội với mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động nhất là đối với nông dân

Ngày đăng: 16/08/2014, 03:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Vân Anh (2006), phát triển làng nghề ở Bắc Ninh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển làng nghề ở Bắc Ninh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Tác giả: Phạm Thị Vân Anh
Năm: 2006
2. Ban Chỉ đạo điều tra lao động việc làm huyện Diễn Châu (2005), Thực trạng lao động - việc làm huyện Diễn Châu năm 2005, Diễn Châu 3. Ban Chỉ đạo điều tra lao động việc làm huyện Diễn Châu (2006), Thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động - việc làm huyện Diễn Châu năm 2005", Diễn Châu 3. Ban Chỉ đạo điều tra lao động việc làm huyện Diễn Châu (2006)
Tác giả: Ban Chỉ đạo điều tra lao động việc làm huyện Diễn Châu (2005), Thực trạng lao động - việc làm huyện Diễn Châu năm 2005, Diễn Châu 3. Ban Chỉ đạo điều tra lao động việc làm huyện Diễn Châu
Năm: 2006
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1999), Đề án chiến lược về lao động và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1999 - 2000), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án chiến lược về lao động và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp và nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1999 - 2000)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 1999
11. Đỗ Thị Kim Chung (2000), "Thị trường đất đai trong nông nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng chính sách", Nghiên cứu kinh tế, 1(260), tr. 21-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường đất đai trong nông nghiệp ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng chính sách
Tác giả: Đỗ Thị Kim Chung
Năm: 2000
12. Chương trình khoa học cấp nhà nước KX 04-04 (1995), Luận cứ khoa học cho chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho chính sách giải quyết việc làm ở nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Tác giả: Chương trình khoa học cấp nhà nước KX 04-04
Năm: 1995
13. Chương trình khoa học cấp nhà nước KX 08, đề tài KX-04-01 (1995), Báo cáo tổng hợp hệ quan điểm phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp hệ quan điểm phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông thôn
Tác giả: Chương trình khoa học cấp nhà nước KX 08, đề tài KX-04-01
Năm: 1995
14. Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX 02-05 (1999), Báo cáo tổng hợp con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Tác giả: Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX 02-05
Năm: 1999
15. Nguyễn Sinh Cúc (1999) "Vấn đề giải quyết việc làm, dạy nghề cho nông dân", Con số và sự kiện, (8), tr. 18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giải quyết việc làm, dạy nghề cho nông dân
16. Chi cục thống kê Diễn Châu (2005), Niên giám thống kế năm 2005, Diễn Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kế năm 2005
Tác giả: Chi cục thống kê Diễn Châu
Năm: 2005
17. Chi cục thống kê Diễn Châu (2008), Niên giám thống kế năm 2008, Diễn Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kế năm 2008
Tác giả: Chi cục thống kê Diễn Châu
Năm: 2008
18. Chi cục thống kê Diễn Châu (2010), Niên giám thống kế năm 2010, Diễn Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kế năm 2010
Tác giả: Chi cục thống kê Diễn Châu
Năm: 2010
19. Chi cục thống kê Diễn Châu (2011), Niên giám thống kế năm 2011, Diễn Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kế năm 2011
Tác giả: Chi cục thống kê Diễn Châu
Năm: 2011
20. Cục Thống kê Nghệ An (2005), Niên giám thống kê năm 2005, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2005
Tác giả: Cục Thống kê Nghệ An
Năm: 2005
21. Cục Thống kê Nghệ An (2006), Niên giám thống kê năm 2006, Nghệ An . 22. Cục Thống kê Nghệ An (2007), Niên giám thống kê năm 2007, Nghệ An . 23. Cục Thống kê Nghệ An (2008), Niên giám thống kê năm 2008, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2006", Nghệ An . 22.Cục Thống kê Nghệ An (2007), "Niên giám thống kê năm 2007", Nghệ An . 23.Cục Thống kê Nghệ An (2008), "Niên giám thống kê năm 2008
Tác giả: Cục Thống kê Nghệ An (2006), Niên giám thống kê năm 2006, Nghệ An . 22. Cục Thống kê Nghệ An (2007), Niên giám thống kê năm 2007, Nghệ An . 23. Cục Thống kê Nghệ An
Năm: 2008
24. Cục Thống kê Nghệ An (2009), Niên giám thống kê năm 2009, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2009
Tác giả: Cục Thống kê Nghệ An
Năm: 2009
25. Cục Thống kê Nghệ An (2010), Niên giám thống kê năm 2010, Nghệ An . 26. Cục Thống kê Nghệ An (2011), Số liệu thống kê chủ yếu năm 2011, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2010", Nghệ An . 26. Cục Thống kê Nghệ An (2011), "Số liệu thống kê chủ yếu năm 2011
Tác giả: Cục Thống kê Nghệ An (2010), Niên giám thống kê năm 2010, Nghệ An . 26. Cục Thống kê Nghệ An
Năm: 2011
27. Cục Thống kê Sơn La (2000), Niên giám thống kê năm 2000, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2000
Tác giả: Cục Thống kê Sơn La
Năm: 2000
28. Cục Thống kê Sơn La (2001), Niên giám thống kê năm 2001, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2001
Tác giả: Cục Thống kê Sơn La
Năm: 2001
29. Cục Thống kê Sơn La (2004), Niên giám thống kê năm 2004, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2004
Tác giả: Cục Thống kê Sơn La
Năm: 2004
30. Cục Thống kê Sơn La (2005), Niên giám thống kê năm 2005, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2005
Tác giả: Cục Thống kê Sơn La
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế huyện Diễn Châu 2005 - 2011 - Phát triển  nguồn nhân lực trong quá  trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn  châu tỉnh nghệ an
Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế huyện Diễn Châu 2005 - 2011 (Trang 46)
Bảng 2.2: Phân bố các làng nghề của huyện Diễn Châu - Phát triển  nguồn nhân lực trong quá  trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn  châu tỉnh nghệ an
Bảng 2.2 Phân bố các làng nghề của huyện Diễn Châu (Trang 49)
Bảng 2.3. Quy mô dân số huyện Diễn Châu đến 31/12/2011   phân theo các xã  và thị trấn - Phát triển  nguồn nhân lực trong quá  trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn  châu tỉnh nghệ an
Bảng 2.3. Quy mô dân số huyện Diễn Châu đến 31/12/2011 phân theo các xã và thị trấn (Trang 52)
Bảng 2.4: Trình độ học vấn lao động nông thôn Diễn Châu - Phát triển  nguồn nhân lực trong quá  trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn  châu tỉnh nghệ an
Bảng 2.4 Trình độ học vấn lao động nông thôn Diễn Châu (Trang 55)
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động nông thôn huyện Diễn Châu phân theo trình độ  chuyên môn kỹ thuật - Phát triển  nguồn nhân lực trong quá  trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn  châu tỉnh nghệ an
Bảng 2.5 Cơ cấu lao động nông thôn huyện Diễn Châu phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (Trang 56)
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế - Phát triển  nguồn nhân lực trong quá  trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn  châu tỉnh nghệ an
Bảng 2.6 Cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế (Trang 60)
Bảng 2.7: GDP nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp huyện Diễn Châu  thời kỳ 2005 – 2010 giá so với năm 1994 - Phát triển  nguồn nhân lực trong quá  trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn huyện diễn  châu tỉnh nghệ an
Bảng 2.7 GDP nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp huyện Diễn Châu thời kỳ 2005 – 2010 giá so với năm 1994 (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w