Khu hệ cá sông Lam cũng rất đa dạng về sinh thái học, có nhiều loài có kích thước lớn trên 30kg như cá ghé, cá bọp, cá măng; nhiều loài kích thước nhỏ nhưng mật độ lớn như cá đục, cá mươ
Trang 1TRẦN XUÂN QUANG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
CÁ SỈNH GAI (Onychostoma laticeps Günther, 1868)
TẠI KHU VỰC SÔNG GIĂNG - NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Nha trang, tháng 10 năm 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN XUÂN QUANG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN
CÁ SỈNH GAI (Onychostoma laticeps Günther, 1868)
TẠI KHU VỰC SÔNG GIĂNG - NGHỆ AN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên những kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả này chưa được dùng trong bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thành với sự giúp về tài chính của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông qua Chương trình Hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II (FSPS II) - Hợp phần Hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (SUDA);
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Đình Mão đã định hướng, hướng dẫn trực tiếp và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt thời gian thực hiện đề tài; Tôi xin cám ơn PGS TS Hoàng Xuân Quang đã có những lời khuyên chi tiết và bổ ích giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này; Xin chân thành cám ơn Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An, Chi cục Nuôi trồng thủy sản Nghệ An đã động viên, tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa học và thực hiện đề tài;
Xin cám ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Nha Trang, Khoa Nuôi trồng thủy sản, Phòng Đào tạo đã tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ trong suốt thời gian qua
Lời cám ơn xin được gửi tới các thầy cô giáo đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, chuyên sâu, các phương pháp nghiên cứu khoa học là hành trang rất quan trọng cho tôi trong thời gian tới;
Gia đình, bạn bè, người thân đã động viên, giúp đỡ về tinh thần, vật chất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi xin được bày
tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I TỔNG LUẬN 5
1.2 Một số đặc điểm về vùng nghiên cứu cá sỉnh gai: 8
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.2.2 Nguồn lợi thủy sản của Nghệ An 10
1.2.3 Địa điểm nghiên cứu 12
1.3 Tình hình nghiên cứu về cá sỉnh gai trong nước và trên thế giới: 12
1.3.1 Định danh trong hệ thống phân loại: 12
1.3.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sống: 13
1.3.3 Đặc điểm hình thái: 14
1.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng: 15
1.3.5 Đặc điểm sinh trưởng: 16
1.3.6 Đặc điểm sinh sản: 17
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.3 Phương pháp thu thập vật mẫu 19
2 4 Phương pháp định loại 19
2.5 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản 19
2.5.1 Tuổi và kích thước thành thục lần đầu 19
2.5.2 Làm tiêu bản, nhuộm 20
2.5.3 Xác định các giai đoạn của tuyến sinh dục 20
Trang 62.5.4 Hệ số thành thục 22
2.5.4 Sức sinh sản tuyệt đối 22
2.5.5 Sức sinh sản tương đối 23
2.5.6 Mùa vụ sinh sản 23
2.6 Phương pháp nghiên cứu dinh dưỡng 23
2.7 Mối tương quan chiều dài trọng lượng 24
2.8 Phương pháp xử lý số liệu: 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Đặc điểm hình thái 25
3.2 Sơ bộ về môi trường và tập tính sống 26
3.3 Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá sỉnh gai 27
3.4 Đặc điểm dinh dưỡng của cá sỉnh gai 28
3.4.1 Cấu tạo cơ quan tiêu hóa 28
3.4.2 Thành phần thức ăn 29
3.4.3 Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài thân 29
3.4.4 Hệ số béo 30
3.5 Đặc điểm sinh sản của cá sỉnh gai 31
3.5.1 Xác định giới tính: 31
3.5.2 Tỷ lệ đực cái 33
3.5.3 Tuổi và kích thước thành thục lần đầu 34
3.5.4 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 36
3.3.5 Sức sinh sản của cá sỉnh gai 45
3.3.6 Hệ số thành thục sinh dục 46
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48
1 Kết luận 48
2 Đề xuất 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tần suất xuất hiện các nhóm kích thước của cá sỉnh gai 27
Bảng 3.2: Thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa cá sỉnh gai 29
Bảng 3 3: Tỷ lệ giữa chiều dài ruột trên chiều dài thân một số loài cá 30
Bảng 3.4: Tỷ lệ đực cái cá sỉnh gai qua các tháng thu mẫu 33
Bảng 3.5: Tỷ lệ đức cái cá sỉnh gai theo nhóm kích thước 33
Bảng 3.6: Tương quan thành thục của cá sỉnh gai theo kích thước 34
Bảng 3.7: Sức sinh sản của cá sỉnh gai theo nhóm kích thước 45
Bảng 3.8: Sức sinh sản của một số loài cá trong họ cá Chép 45
Bảng 3.9: Hệ số thành thục của cá sỉnh gai qua các tháng thu mẫu 46
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ Hình 3.1: Hình dạng bên ngoài cá sỉnh gai O laticeps Günther, 1869 25
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn tương quan chiều dài khối lượng cá sỉnh gai 27
Hình 3.3: Hình cơ quan tiêu hóa cá sỉnh gai 28
Hình 3.4: Đồ thị biểu thị hệ số béo Fulton và Clark của cá sỉnh gai 31
Hình 3.5: Cá sỉnh gai đực có kết hạch ở môi trên và vây hậu môn 32
Hình 3.6: Cá sỉnh gai cái 32
Hình 3.7: Đồ thị biểu diễn kích thước thành thục lần đầu 35
Hình 3.8: Tiêu bản tinh sào giai đoạn II 37
Hình 3.9: Tiêu bản tinh sào giai đoạn III 38
Hình 3.10: Tinh sào giai đoạn IV 38
Hình 3.11: Tiêu bản tinh sào giai đoạn IV 39
Hình 3.12: Tiêu bản tinh sào giai đoạn V 39
Hình 3.13: Tiêu bản buồng trứng giai đoạn II 40
Hình 3.14 Buồng trứng giai đoạn III 41
Hình 3.15: Tiêu bản buồng trứng giai đoạn III 41
Hình 3.16: Buồng trứng giai đoạn IV 42
Hình 3.17: Tiêu bản buồng trứng giai đoạn IV 43
Trang 8Hình 3.18: Tiêu bản buồng trứng giai đoạn V 43 Hình 3.19 Tiêu bản buồng trứng giai đoạn VI 44 Hình 3.20: Đồ thị biến động hệ số thành thục của cá sỉnh gai 46
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Lt : Chiều dài thân tính từ mút mõm đến hết vây đuôi
Lr : Chiều dài ruột
K : Hệ số thành thục
Sss tuyệt đối : Sức sinh sản tuyệt đối
Sss tương đối : Sức sinh sản tương đối
Q : Độ béo Fullton
Qo : Độ béo Clark
TB : Trung bình
Wg : Khối lượng toàn thân
Wo : Khối lượng đã bỏ nội quan
Wtsd : Khối lượng tuyến sinh dục
Trang 9MỞ ĐẦU
Nghệ An được xem là địa phương có nguồn lợi cá tự nhiên phong phú Các loài cá ở đây đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sản lượng cá tự nhiên, thuần hoá để nuôi và làm tăng sự đa dạng sinh học các loài thuỷ sinh Nguồn lợi cá nước ngọt của Nghệ An khá đa dạng, phân bố tự nhiên dọc theo các hệ thống sông suối Khu hệ cá sông Lam gồm có 157 loài và phân loài thuộc 52 họ và phân họ nằm trong 17 bộ Khu hệ cá sông Lam cũng rất đa dạng về sinh thái học, có nhiều loài có kích thước lớn trên 30kg như cá ghé, cá bọp, cá măng; nhiều loài kích thước nhỏ nhưng mật độ lớn như cá đục, cá mương, cá chiệc; những loài được nhân dân tuyển chọn làm cá nuôi truyền thống như cá chép, cá mè, cá trôi; có những loài cá quí như cá chình; có nhiều loài có thể làm cá cảnh và cá làm đồ dùng dạy học như cá ép, cá ngần; có những loài cá có giá trị trên thị trường xuất khẩu như cá trê, lươn; nhiều loại
ăn thực vật phù du hay thực vật thượng đẳng như cá mè, cá bóp, cá ních, có chuỗi thức ăn ngắn nên hiệu suất sinh học cao
Những năm gần đây, việc gia tăng các phương tiện khai thác, số lượng người đánh bắt cá tăng và trình độ khai thác của nhân dân được nâng lên đã dẫn đến hiện tượng nguồn lợi bị suy giảm trên hầu hết các vực nước tự nhiên, khai thác quá khả năng khôi phục của các quần thể cá đã làm giảm sút sản lượng cá tự nhiên Dưới áp lực khai thác đó, một số loài cá đã bị tiêu diệt, nhiều loại cá khác trở nên khan hiếm, khó bắt gặp và đang ở trong tình trạng báo động mức V và E (Vulnerable và Endangred) Trong đó có loài cá sỉnh gai
(Onychostoma laticeps Günther,1896) được ghi trong sách đỏ Việt nam với
mức độ có nguy cơ bị tuyệt diệt loại V
Do vậy việc nghiên cứu sự phân bố, các đặc điểm sinh học, tình hình khai thác, đánh giá các tác động bất lợi và đề xuất các giải pháp bảo vệ, tái tạo nguồn lợi các loài cá ở hệ thống sông Nghệ An là hết sức cần thiết
Trang 10Xuất phát từ nhu cầu khoa học và thực tiễn, được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng Thuỷ Sản Trường Đại Học Nha Trang Tôi chọn thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản cá sỉnh gai (Onychostoma laticeps Günther, 1869) ở lưu vực sông Giăng - Nghệ An” Bước đầu xây
dựng cơ sở khoa học bảo tồn và phát triển nguồn lợi loài cá này đồng thời làm
cơ sở để nghiên cứu sản xuất giống phục vụ cho mục tiêu đa dạng hóa đối tương nuôi ở Nghệ An
- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu về các đặc điểm sinh học dinh dưỡng, sinh sản, sinh trưởng của cá sỉnh gai tạo cơ sở để nghiên cứu sâu hơn việc gia hóa, sinh sản nhân tạo, nuôi thương phẩm cá Sỉnh gai, góp phần đa dạng hóa đối tương nuôi, duy trì và phát triển nguồn lợi, bảo vệ quỹ gen, bảo tồn đa dạng sinh học
ở hệ thống sông Nghệ An nói riêng và Việt nam nói chung
- Mục tiêu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá sỉnh gai trên lưu vực sông Giăng – Nghệ An và đề xuất các biện pháp duy trì và phát triển nguồn lợi cá sỉnh gai ở Nghệ An
- Nội dung nghiên cứu chính:
Tuổi, kích thước và khối lượng thành thục;
Đặc điểm sinh học của tế bào sinh dục;
Hệ số thành thục và sức sinh sản;
Mùa sinh sản trong năm;
Một số chỉ tiêu về đặc điểm dinh dưỡng;
Một số chỉ tiêu về sinh trưởng
Trang 11CHƯƠNG I TỔNG LUẬN 1.1 Nguồn lợi thuỷ sản và nghề cá nước ngọt ở Việt Nam:
Lãnh thổ Việt Nam được chia thành 9 vùng sinh thái với 33 tiểu vùng (Le Quy An et al.,1995) do sự phân hóa cao của lãnh thổ, về điều kiện khí hậu thủy văn và sự tồn tại của các nhóm loài động thực vật đặc trưng: Vùng núi phía Bắc và Trung tâm Bắc; Vùng trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ; Vùng Đồng bằng sông Hồng; Vùng Trung bộ; Vùng cao nguyên Trung bộ; Vùng Đông nam bộ; Vùng châu thổ Nam bộ; Thành phố hà Nội; Thành phố Hồ Chí Minh [15]
Thành phần nguồn lợi thủy sản nước ta khá đa dạng, gồm nhiều nhóm đối tượng như cá, giáp xác, thân mềm Trong đó cá đóng vai trò quan trọng bậc nhất, phân bố ở các sông, suối, ao hồ từ miền núi, trung du đến đồng bằng, các hệ đầm phá ven biển và các thủy vực thuộc các hải đảo thềm lục địa Theo kết quả hiện có, số lượng các loài động vật và tảo đơn bào (trừ vi sinh vật và thực vật bậc cao) sống trong các thủy vực nội địa có trên 2.740 loài
và dưới loài, trong đó tảo đơn bào và khuẩn Lam (Cyanophyta) có 1.403 loài
và dưới loài, giáp xác (Crustacea) 292 loài, trùng bánh xe (Rôtatria) là 109 loài, giun nhiều tơ (Polychaeta) là 30 loài, giun ít tơ (Oligochaeta) là 47 loài, đỉa (Hyrudinae) là 9 loài, thân mềm (Mollusca) là 147 loài, động vật nguyên sinh (Protozoa) là 157 loài và cá nước ngọt (Pisces) là 547 loài Thực vật bậc cao khá đa dạng, có thể từ vài chục loài đến vài ba trăm loài [15]
Nhìn chung, các nghiên cứu về thành phần loài thực vật, động vật tập trung ở vùng đồng bằng Nhiều ngọn nguồn sông suối, nơi giàu các loài đặc hữu còn chưa được khảo sát đầy đủ Hơn nữa, nhiều nhóm loài còn chưa được nghiên cứu sâu Ngay số lượng các loài cá nước ngọt cũng không dừng ở 546 loài Theo công bố của Nguyễn Văn Hảo (2000, 2005), riêng họ cá Chép (Cyprinidae) thống trị trong thủy vực nước ngọt đã có trên 300 loài và phân loài, còn số lượng cá trong thủy vực nội địa, gồm những loài cá nước ngọt
Trang 12điển hình và những loài cá có nguồn gốc biển thích ứng với môi trường nước
lợ, nước ngọt ở vùng thấp hạ lưu các sông lên đến 1.027 loài thuộc 427 giống,
98 họ của 22 bộ cá, gồm 79 loài đặc hữu của 32 giống thuộc 8 phân họ, trong
đó có 2 giống và 40 loài được ghi nhận là những loài mới cho khoa học
Theo Nguyễn Văn Hảo (2000, 2005), 1.027 loài cá nội địa đã được giám định tên, phân bố như sau: Khu vực Cao-Bắc-Lạng có 104 loài (chiếm 10,12% toàn khu hệ), khu vực Việt Bắc 226 loài (22,0%), khu vực Tây Bắc 192 loài (18,7%), trong đó riêng khu Điện Biên Phủ 110 loài (10,7%), khu vực đồng bằng Bắc bộ 316 loài (30,77%), khu vực Bắc Trung bộ 372 loài (36,22%), khu vực Nam Trung bộ 251 loài (24,44%), khu vực Tây Nguyên 189 loài (18,40%), khu vực Đông Nam bộ 277 loài (26,97%) và khu vực đồng bằng sông Cửu Long 388 loài (37,78%) [15]
Cá nước ngọt được khai thác trong các sông suối, đầm, hồ, ao, ruộng và đầm phá ven biển Trong khoảng thời gian 15 năm (1981 - 1995) sản lượng cá đánh bắt được dao động từ 26 đến gần 33%, trung bình là 30,11% tổng sản lượng khai thác chung của cả nước (934.708 tấn) Đến năm 2005, giá trị đó giảm đi đáng kể, chỉ đạt 185.700 tấn (chiếm 9,3 % tổng sản lượng cá khai thác) và trong 5 năm lại đây (2001 - 2005) sản lượng cá nội địa giảm so với năm 2000 là 22% với tốc độ giảm trung bình gần 6,6%/năm (Nguyễn Xuân Lý
và nnk., 2005) [15]
Nuôi trồng thủy sản ở nước ta nói chung hay nuôi nước ngọt nói riêng đang phát triển theo hướng đa dạng hoá đối tượng và đa dạng hoá các loại hình nuôi thả, song so với các nước trên thế giới, tập đoàn nuôi còn nghèo, mặc dù số lượng các đối tượng nuôi trồng có thể lên đến 100-150 loài Trong khi đó, tính đến năm 1999, Pháp đã đưa vào nuôi 52 loài, Đài Loan nuôi 49 loài, Mỹ 32 loài, Trung Quốc 26 loài, chúng đều là những loài có sản lượng cao đáng kể (FAO – Yearbook, 1999)
Trang 13Trong Nuôi trồng thủy sản, tốc độ sản lượng tăng nhanh là dựa vào kỹ thuật nuôi ngày một cải thiện, công nghệ sản xuất con giống ngày một tiến bộ
và các cơ sở sản xuất giống ngày một gia tăng, mặc dù dịch bệnh thương hay bùng phát, chất lượng con giống nhiều cơ sở chưa đảm bảo tiêu chuẩn ngành
và những rủi ro gây ra bởi sự biến động của điều kiện thời tiết khí hậu và sự cố môi trường còn là những thách thức to lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản [15] Nuôi trồng thủy sản nước ngọt đã chủ động sản xuất nguồn giống nhờ phương pháp dục đẻ nhân tạo và cho cá đẻ nhân tạo, không còn phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên vớt trên sông Hầu như các tỉnh đồng bằng cũng như một số tỉnh miền núi đã có trại sản xuất giống cho hầu hết các đối tượng thông thường như cá mè, trắm, trôi, [15]
Những thuỷ vực miền núi và trung du phân bố trong các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên với diện tích chung 88,2 nghìn ha, chiếm 9,3% diện tích mặt nước Nuôi trồng thủy sản nội địa cả nước (Tổng cục Thống kê, 2003), trong đó diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản lớn nhất tập trung ở Đông bắc Bắc Bộ (39,6 nghìn ha) và Bắc Trung Bộ (38,4 nghìn ha) Các loài cá sông suối là những đối tượng có tầm quan trọng nhất trong các thuỷ vực trung du và miền núi Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), khu vực Việt Bắc có 226 loài (22% khu hệ cá nội địa), Tây Bắc 192 loài (18,7%), trong
đó, riêng khu Điện Biên Phủ 110 loài (10,7%); Bắc Trung bộ 372 loài (36,22%), Tây Nguyên 189 loài (18,40%)
Nhìn chung, các loài cá thuộc khu vực miền núi thường là những loài có kích thước nhỏ, song một số loài có kích thước khá lớn như các đại diện của Bagridae, Cyprinidae (cá Lăng, cá Anh vũ, cá Bỗng ) Cá sống trong sông suối là những loài ưa oxy (Oxyphil), chủ yếu ăn Periphyton, côn trùng và ấu trùng côn trùng sống trong nước, giun, ốc, cá cỡ nhỏ; nhiều loài ăn tạp, trong thành phần thức ăn của chúng gồm mảnh vụn thực vật, nhưng thiên về thức ăn động vật, một vài loài ăn cả thực vật bậc cao (cá Bỗng) Hầu hết các loài đều
Trang 14đẻ trứng vùi ở đáy (Psammophil, pelophil, agrilophil) hay bám vào giá thể hoặc thực vật thủy sinh (Littophi, phytophil), thậm chí đẻ trứng vào xoang áo thân mềm (Ostracophil) [15]
Nghề đánh cá ở các sông suối miền núi thường là những nghề mang truyền thống địa phương, đơn giản và lạc hậu Những phương tiện đánh bắt huỷ diệt như sử dụng thuốc nổ, hoá chất, kích điện hiện nay cũng được du nhập vào, trở thành nhân tố nguy hại đối với đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản
Nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh miền núi được đẩy mạnh trong vài thập niên qua không chỉ bổ sung nguồn đạm động vật, nâng cao đời sống, trực tiếp tham gia xoá đói giảm nghèo cho các cộng đồng dân cư miền núi mà còn nâng cao tỷ trọng thủy sản trong cơ cấu của nền kinh tế địa phương Nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh miền núi ngày càng được coi trọng và phát triển nhờ vào
sự tuyển chọn các đối tượng nuôi thích hợp, sự phát triển của công nghệ sản xuất giống và khả năng vận chuyển giống để cung cấp cho các tỉnh miền núi, Nuôi trồng thủy sản ở đây được triển khai trên các ao hồ, sông suối với phương thức nuôi nước tĩnh hay nước chảy Sản lượng chung tuy chưa cao, nhưng đã đem lại những lợi ích thực sự, nhiều nơi còn tạo ra hàng hóa thủy sản có giá trị giao lưu trong nước và cho xuất khẩu.[15]
1.2 Một số đặc điểm về vùng nghiên cứu cá sỉnh gai:
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí, địa hình
Tỉnh Nghệ An thuộc khu vực bắc trung bộ Việt Nam, toạ độ địa lý từ
18o33'10" đến 19o24'43" vĩ độ Bắc và từ 103o52'53" đến 105o45'50" kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá với đường biên dài 196,13 km Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với đường biên dài 92,6 km Phía Tây giáp nước bạn
Trang 15Lào với đường biên dài 419 km Phía Đông giáp với biển Đông với bờ biển dài 82 km
Diện tích đất tự nhiên 1.648.729 ha Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh.[24]
- Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông
Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau).[24]
là tháng 11 ( chiếm 20% dòng chảy cả năm) Cường suất lũ lên tương đối lớn, khoảng 30cm/h ở trung lưu và 10cm/h ở hạ lưu, biên độ mực nước lớn nhất trong năm khoảng 10m Mùa cạn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau Lượng dòng chảy chiếm 25-35 % lượng dòng chảy cả năm Điểm nổi bật của địa hình thuộc hệ thống sông Cả là địa hình núi thấp, đồng bằng chỉ chiếm 13% tổng diện tích Độ cao bình quân toàn lưu vực 290m, địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam.[24], [22]
Ngoài ra còn một số hệ thống sông khác như: Sông Cấm (đổ ra biển qua Cửa Lò) gồm hệ thống 3 sông, trong đó sông chính là sông Cấm dài 52 km Tổng diện tích lưu vực là 184 km2, chiều dài lưu vực là 31 km;Sông Bùng (đổ
ra biển ở cửa lạch Vạn) có 5 phụ lưu cấp I và 1 phụ lưu cấp II với tổng diện tích lưu vực là 753 km2, chiều dài sông 48 Km, chiều dài lưu vực 35 Km; Sông Hoàng mai ( đổ ra biển ở cửa lạch Cờn) có chiều dài khoảng 35,5km,
Trang 16chiều dài lưu vực là 38 km, diện tích lưu vực 365 km2 ; Sông ông Độ (đổ ra biển ở cửa Lạch Quèn) có chiều dài 21 Km, diện tích lưu vực là 114 km2, chiều dài của lưu vực 14,7 km; Sông Dừa đổ ra cửa lạch Thơi có diện tích lưu vực là 140 km2, dài 27 km, chiều dài lưu vực của sông là 17,5 km [24]
- Biển, bờ biển
Hải phận rộng 4.230 hải lý vuông, từ độ sâu 40 m trở vào nói chung đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao
Bờ biển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa sông, lạch đổ ra biển và thông với vịnh như Lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi (thuộc Quỳnh Lưu), lạch Vạn (thuộc Diễn Châu), Cửa Lò, Cửa Hội (thuộc Cửa Lò), trung bình cứ 14
km bờ biển có 01 cửa lạch, nên nó cũng bị ảnh hưởng nguồn nước từ đại dương xâm nhập vào hàng năm [24]
1.2.2 Nguồn lợi thủy sản của Nghệ An
Nghệ An được xem là địa phương có nguồn lợi cá tự nhiên phong phú Các loài cá ở đây đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sản lượng cá tự nhiên, thuần hoá để nuôi và làm tăng sự đa dạng sinh học các loài thuỷ sinh Tài nguyên biển Nghệ An được đánh giá là khá phong phú, theo các tài liệu nghiên cứu, nguồn lợi hải sản khu vực biển Nghệ An có trên 267 loài cá thuộc 91 họ, trong đó có 62 loài có giá trị kinh tế cao, có thể chia thành 2 nhóm sau: Nhóm gần bờ có 121 loài chiếm 45,3% (trong đó cá nổi có 20 loài bằng 7,5%, cá đáy và gần đáy 101 loài, tương ứng 37,8%) Nhóm xa bờ 146 loài chiếm 54,7% (trong đó cá nổi 39 loài bằng 14,6%, cá đáy và gần đáy 107 loài bằng 40,1%) Trữ lượng cá biển trên 80.000 tấn, trong đó cá xa bờ khoảng 50.000 tấn chiếm gần 62,0%, cho phép khai thác từ 30.000-35.000 tấn, có nhiều loại cá có giá trị kinh tế cao như: cá chim; cá thu; cá hồng, nục Có 20 loài tôm thuộc 8 giống và 6 họ trong đó có tôm he, tôm rảo, tôm bộp, tôm
Trang 17vàng, tôm sắt, tôm đất, tôm sú và tôm hùm Trữ lượng 610 - 680 tấn, phân bố tại các bãi tôm chính như: Bãi tôm từ cửa Lạch Bạng đến Lạch Quèn (huyện Quỳnh Lưu): 250 ÷ 300 tấn Bãi tôm Diễn Châu: 360÷380 tấn, trong đó tôm
he từ 100÷150 tấn Tôm hùm là loại tôm có giá trị xuất khẩu cao, có trữ lượng
từ 20÷25 tấn, tập trung tại các vùng rạn đá ven các đảo và các vùng có đá ngầm trong vùng biển Nguồn lợi mực cũng mang lại giá trị kinh tế cao cho nghề khai thác của tỉnh Mực phân bố khắp vùng biển và khá đa dạng về thành phần loài, nhưng qua thực tế khai thác chỉ có một số nhóm loài đạt sản lượng cao (mực cơm, mực ống và mực nang) Khả năng khai thác mực ở vùng biển Nghệ An khoảng 1.200÷1.500 tấn/năm (Viện NCHS,1998; UBND tỉnh Nghệ
An, 2006) Mặt khác, Nghệ An nằm trong khu vực Vịnh Bắc Bộ, nơi có nghề
cá phát triển lâu đời với nhiều ngư trường trọng điểm như Bạch Long Vỹ, Cô
tô, Hòn Mê, Hòn Mát Tổng trữ lượng hải sản khu vực Vịnh Bắc Bộ (phần biển Việt Nam) khoảng 543.269 tấn, khả năng khai thác khoảng 256.308 tấn (Chu Tiến Vĩnh, 2006) [24]
Nguồn lợi cá nước ngọt của Nghệ An khá phong phú, phân bố tự nhiên dọc theo các hệ thống sông suối Khu hệ cá sông Lam gồm có 157 loài và phân loài thuộc 52 họ và phân họ nằm trong 17 bộ Khu hệ cá sông Lam cũng rất đa dạng về sinh thái học, có nhiều loài có kích thước lớn trên 30kg như cá ghé, cá bọp, cá măng,… ; nhiều loài tuy kích thước nhỏ nhưng mật độ lớn như
cá đục, cá mương, cá chiệc; có những loài được nhân dân tuyển chọn làm cá nuôi truyền thống như cá chép, cá mè, cá trôi; có những loài cá quí như cá chình; có những loài cá có ý nghĩa phòng dịch do ăn bò gậy như cá rô, cá cờ,
cá sóc; có nhiều loài có thể làm cá cảnh và cá làm đồ dùng dạy học như cá ép,
cá ngần; có những loài cá có giá trị trên thị trường xuất khẩu như cá trê, lươn; nhiều loại ăn thực vật phù du hay thực vật thượng đẳng như cá mè, cá bóp, cá ních, có chuỗi thức ăn ngắn nên hiệu suất sinh học cao [20]
Những năm gần đây, việc gia tăng các phương tiện khai thác, số lượng người đánh bắt cá tăng và trình độ khai thác của nhân dân được nâng lên đã
Trang 18dẫn đến nguồn lợi bị suy giảm trên hầu hết các vực nước tự nhiên, khai thác quá khả năng khôi phục của các quần thể cá đã làm giảm sút sản lượng cá tự nhiên và là nguyên nhân chính dẫn đến nguồi lợi cá tự nhiên đang dần bị cạn kiệt Dưới áp lực khai thác đó, một số loài cá đã bị tiêu diệt, nhiều loại cá khác trở nên khan hiếm, khó bắt gặp và đang ở trong tình trạng báo động mức V và
E (Vulnerable và Endangred) Trong đó có loài cá sỉnh gai (Onychostoma
laticeps Gunther,1896) được ghi trong sách đỏ Việt nam với mức độ có nguy
cơ bị tuyệt diệt mức V [13]
1.2.3 Địa điểm nghiên cứu
Sông Giăng là phụ lưu cấp I của Sông Cả (tên khác: Sông Lam, Ngàn Cả), bắt nguồn từ vùng núi Cao Vều (cao 1.343 m), chảy theo hướng tây bắc - đông nam, qua các huyện Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương tỉnh Nghệ An, nhập vào bờ phải Sông Cả tại La Mạc Dài 77 km, diện tích lưu vực 1.050
km2, cao trung bình 492 m, độ dốc trung bình 17,2%; mật độ sông suối 0,5 km/km2 Tổng lượng nước năm 0,93 km3 ứng với lưu lượng nước trung bình năm 28 m3/s [22]
Sông Giăng rất đa dạng về thành phần động thực vật thủy sinh, có nhiều loài có giá trị kinh tế như cá sỉnh, cá lăng, cá ngạnh, Sông Giăng chảy qua Vườn Quốc gia Pù Mát là một kho tàng về các nguồn gen hoang dã, quý hiếm,
là một trong số ít khu bảo tồn đa dạng sinh học lớn nhất nước ta.[44]
1.3 Tình hình nghiên cứu về cá sỉnh gai trong nước và trên thế giới: 1.3.1 Định danh trong hệ thống phân loại:
Theo Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2001) [6], cá sỉnh gai được định danh như sau:
Tổng bộ cá chép CYPRINIMORPHA
Bộ cá chép CYPRINIFORMES
Trang 19Họ Cá chép Cyprinidae
Phân họ cá Bỗng Barbinae
Giống cá sỉnh Varicorhinus Rüppell, 1836
Phân giống cá sỉnh Onychostoma Günther, 1869
Loài Onychostoma laticeps Gunther,1869 Tên chính thức Varicorhinus (Onychostoma.) laticeps Gunther,1869 Tên đồng vật: Onychostoma laticeps Gunther,1869 Am Mus Zool St
Peterbuorg part 1:211,Pl.1, (Giang tô – Trung quốc); Ling, 1933 Lingn Sci Jour Canton Vol 12, 2, p 203 (Kansu, S-zechwan, Kweichow); Chevey & Lemasson, 1937, p 33, fig 13; Nichols, 1943 Fishes of China Nat Hist Centr Asia, Vol 9, p 119; Trương Xuân Lâm, 1959 Trung Quốc hệ thống Lý loại chí, trang 51, hình 43 Tứ Xuyên, Vân Nam – Trung Quốc); Mai Đình Yên, 1978 Cá nước ngọt các tỉnh phía bắc Việt Nam, trang 40÷42, hình 16; Nguyễn Văn Hảo 1993 Ngư loại học tập II, trang 131-132, hình 70
Type danh pháp Varicorhinus (Onychostoma) laticeps Gunther,1869
Tên tiếng Việt: cá sỉnh, cá phao, cá sỉnh gai
Tên tiếng Thái: Pa Khỉnh
Tên tiếng Tày: Pia Lon
Tên tiếng H’Mong: Rề Dớ
Trang 20Trên thế giới: Trung Quốc (Giang Tô, Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam)
Cá sỉnh gai sống ở tầng giữa và tầng đáy, thích sống nơi nước trong, nước chảy và đáy đá có nhiều cát sỏi đá Cá sống thành từng đàn, thích ngược nước và sâu trong ngòi để kiếm ăn Mùa đông ra sông và tới các vực sâu tránh rét [6],[25]
1.3.3 Đặc điểm hình thái:
Thân dài, hơi thon, dẹp bên Viền lưng hình thoi, từ mõm đến khởi đầu vây điểm vây lưng là đường xiên thẳng sau đó giảm dần theo đường thẳng Viền bụng hình cung nông Bụng tròn Cán đuôi thót Đầu ngắn, tầy hơi vểnh lên Trước mũi có rãnh nông làm cho mõm thấp và nhô cao Da mõm và môi trên phân cách bằng rãnh sâu Da mõm chỉ trùm vào thân môi trên, còn ở phía trên của môi hở hoàn toàn Mút mõm kết hạch nhỏ Lỗ mũi ở phía trên đường viền của mắt Lỗ mũi tới mút mõm bằng tới góc miệng Mỗi bên mõm có một rãnh nông đi xuống phía góc hàm kéo thẳng thành rãnh cằm và quặt theo hàm dưới tạo thành rãnh sau môi Hai rãnh này tương đương nhau, rất ngắn chỉ bằng ¼ đường kính mắt Cằm phằng và hơi ngắn Không có râu Miệng dưới, rộng ngang, chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng đầu ở đó Môi trên và môi dưới liền nhau ở góc miệng Hàm dưới phủ chất sừng sắc cạnh và màu nâu Rãnh sau môi dưới chỉ hạn chế ở góc miệng Mắt tròn to, nằm phía trên đường trục
và hơi thiên về phía trước của đầu Khoảng cách hai mắt rộng, hơi bằng Đỉnh đầu nhẵn Lỗ mang rộng, màng mang liền với eo mang Eo mang chỉ rộng bằng ¾ đường kính mắt
Vây lưng có khởi điểm trước khởi điểm vây bụng, gần mút mõm hơn gốc vây đuôi, viền sau lõm sâu Tia đơn cuối vây lưng gốc to cứng, mút mềm, phía sau có răng cưa chắcvà chiều cao tương đương hoặc nhỏ hơn chiều dài đầu Vây ngực nhọn, dài hơn chiều dài đầu, mút cách vây bụng 6 vẩy Vây bụng có khởi điểm tương ứng tia phân nhánh thứ 2 vây lưng hoặc vẩy đường bên thứ
16, ở giữa mút mõm và gốc vây đuôi, mút sau cách vây hậu môn 3 vẩy Vây
Trang 21hậu môn có khởi điểm gần gốc vây đuôi hơn khởi điểm vây bụng, mút nhọn tương đương chiều dài đầu Vây đuôi phân thùy sâu, 2 thùy tương đương nhau
và mút nhọn
Vẩy vừa phải Gốc vây lưng có một hàng vẩy bao phát triển Gốc vây hậu môn có một hàng vẩy bao kém phát triển Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ, dài, mút không nhọn, dài bằng 2/3 chiều dài vây bụng
Màu sắc: Lưng xám, bụng màu trắng nhạt hoặc da cam Các vẩy có viền mép đậm hơn Các vây xám [6]
1.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng:
Tập tính bắt mồi: Cá sỉnh gai kiếm ăn cả ban ngày và ban đêm, ở những nơi nước trong Cá kiếm ăn mạnh vào ban ngày và đi theo đàn (kiếm
ăn mạnh nhất vào những ngày trời nắng) [25]
Cá sỉnh gai dinh dưỡng bằng các loại tảo bám nhờ có môi sừng sắc để gặm và ăn các mảnh vụn hữu cơ lắng đọng là chủ yếu Trong ống tiêu hóa của
cá còn gặp một số loài động vật nhỏ thuộc Crustaceae (Cyclops,
Ostrracoda ), ấu trùng côn trùng Cá còn ăn vẩn cặn hữu cơ, nguyên sinh
động vật và ấu trùng giáp xác [6]
Theo Võ Văn Phú (2008) [9], thành phần thức ăn của cá sỉnh gai rất đa dạng gồm 33 loại, địa diện cho 5 nhóm khác nhau, bao gồm các ngành tảo, động vật không xương sống nước ngọt và mùn bã hữu cơ Có thể nói cá sỉnh gai là loài ăn tạp, thành phần thức ăn có cả thực vật lẫn động vật Trong ssó những loại thức ăn phân tích được, các ngành tảo chiếm ưu thế hơn về số lượng loại thức ăn với 74,02%, còn động vật chỉ chiếm 22,8% cho thấy cá sỉnh gai thích ăn thực vật hơn động vật Trong số các nhóm thức ăn trên thì Bacillariophycophyta chiếm tỷ lệ cao nhất (41,56%), có lẽ đây là thành phần thức ăn chính của cá sỉnh gai Cá có kích thước nhỏ bắt mồi chủ yếu là những loại tảo, rất ít loại thức ăn động vật, nhóm cá kích thước lớn ngoài thức ăn là
Trang 22tảo còn sử dụng các loại động vật không xương sống nước ngọt khác làm thức
ăn nhiều hơn so với cá nhỏ Có thê rnói phổ thức ăn của cá sỉnh gai được mở rộng dần theo sự phát triển của cá thể, đặc điểm này phù hợp với các loài cá đa thực Cá có kích thước lớn thường mở rộng phổ thức ăn để đảm bảo nguồn thức ăn cho những cá nhỏ, hạn chế sự cạnh tranh trong loài
Theo Ngô Sỹ Vân (2005) [25], Cá sỉnh gai có cấu tạo miệng, hàm dưới phủ chất sừng (chất kitin) sắc cạnh có thể thích hợp cho việc gặm và ăn các loài thực vật sống bám Cá có chiều dài ruột gấp gần 3 lần chiều dài thân Thành phần thức ăn trong ruột của cá sỉnh gai gồm: tảo Khuê Bacillariophyta chiếm ưu thế về số lượng loài, tảo Lục Chlorophyta, vi khuẩn Lam Cyanobacteria, tảo Mắt Euglenophyta, ấu trùng côn trùng, động vật phù du: loài Nauplius và Copepoda Ngoài ra còn gặp một số loài động vật nhỏ thuộc Crustaceae (Cyclops, Ostrracoda ), ấu trùng côn trùng, nguyên sinh động vật,
ấu trùng giáp xác và mùn bã hữu cơ
1.3.5 Đặc điểm sinh trưởng:
Cá cỡ nặng nhất có thể tới 2 kg Cá khai thác được tập trung chủ yếu cỡ
200 ÷ 500 g Tuổi cá thể hiện trên vẩy bằng những đường cắt chéo các vòng khâu Cá 1 năm dài 130 mm, 2 năm dài 170 mm, 3 năm dài 242 mm [6] Theo Ngô Sỹ Vân (2005) [25], Cá sỉnh gai thường thu được có kích thước từ 74 ÷ 378 mm, khối lượng từ 4 ÷ 778 g, trong đó các cá thể có kích thước dưới 170 mm chiếm đa số Đây là nhóm cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh và chưa thành thục sinh dục Tốc độ tăng trưởng của cá sỉnh gai tăng nhanh trong năm đầu (đạt 15,8 cm) Năm tiếp theo, tốc độ tăng trưởng chiều dài giảm, năm thứ hai đạt 5,3 cm, năm thứ ba đạt 4 cm và năm thứ tư đạt 3 cm
So với năm thứ nhất thì tốc độ tăng trưởng năm thứ hai đạt 36,25%; năm thứ
ba đạt 28,73% và năm thứ tư đạt 29,07% Sinh trưởng chiều dài có liên quan đến sự biến động của độ béo Fulton và độ béo Clark Độ béo của cá sỉnh gai
Trang 23tăng khi chiều dài cá tăng và đạt lớn nhất ở nhóm tuổi 5+, ngoài ra còn phụ thuộc các mùa trong năm Thường tháng 1-3 và tháng 8-9 cá béo nhất
1.3.6 Đặc điểm sinh sản:
Cá thành thục vào năm thứ 2 (1+ tuổi) có chiều dài 154mm, cá đẻ vào mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Sức sinh sản của cá không cao, Cá dài 390 mm, nặng 575 g tuyến sinh dục giai đoạn IV, nặng 34 g, chứa 9.050 trứng Trứng màu vàng, đường kính cỡ 1,8 mm, chiếm 77,6%, đường kính 1,15 mm chiếm 22,4% Cá đẻ ở các bãi sỏi cát trong các ngòi, suối nước chảy xiết Trứng bám vào đáy đá và nở thành cá con Trong mùa phát dục, cá đực thường có các chấm sao màu trắng ở mõm và vây hậu môn [6], [7]
Theo Ngô Sỹ Vân (2005) [25], Tuổi phát dục của cá sỉnh gai ở tuổi 1+(Năm tuổi thứ 2) khi kích thước đạt 135÷174 mm khối lượng đạt 33,5÷44,5 g
Hệ số thành thục của cá sỉnh gai ở giai đoạn IV-V của tuyến sinh duc giao động từ 0,93- 2,87% trung bình đạt 1,81%% khối lượng cá bỏ nội quan Sức sinh sản tuyệt đối của cá sỉnh gai giao động 3.308÷13.447 trứng trung bình đạt 8.272 trứng Sức sinh sản tương đối trung bình 329,8 trứng/100g khối lượng cơ thể Mùa cá sỉnh gai sinh sản từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Nơi cá sỉnh đẻ là những nơi nước trong, chảy xiết, đáy cát sỏi hoặc trên đá ngầm, đá cuội ở sông Bành Trạch, ngòi Pó Lù và ngòi Cốc Tộc
Các nghiên cứu về cá sỉnh gai chỉ mới dừng lại ở phân loại và mô tả đơn thuần trong các sách phân loại về khu hệ cá Gần đây có một số công trình như
“Đánh giá nguồn lợi thuỷ sản hồ Ba Bể làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các qui định quản lí và tái tạo nguồn lợi”; Phan Nữ Phước Hồng (2004) với
“Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng và phân bố của một số loài cá có giá trị kinh
tế ở sông Hương, Thừa Thiên Huế” Võ Văn Phú, Bùi Minh Thắng (2008) với
“đặc tính dinh dưỡng của cá sỉnh gai (Onychostoma laticeps Gunther, 1896)
tại hồ Phú Ninh và vùng phụ cận tỉnh Quãng Nam” bước đầu hình thành các
cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học của cá sỉnh gai ở Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 5 năm 2010
Các hoạt động thu mẫu cá được tiến hành trên Sông Giăng ở các huyện Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương nơi thường xuất hiện cá sỉnh gai
(Onychostoma laticeps Günther,1869)
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu về đối tượng nghiên cứu, tình hình kinh tế xã hội đưa ra trong luận văn được thu thập từ các tài liệu đã có của các tác giả trong và ngoài nước
- Thu thập số liệu sơ cấp thông qua các hoạt động điều tra phỏng vấn tại địa bàn nghiên cứu
Huyện Con Cuông
Huyện Anh Sơn
Huyện Thanh Chương
Trang 252.3 Phương pháp thu thập vật mẫu
Tiến hành thu mẫu trên lưu vực của khu hệ mua từ ngư dân khai thác hoặc bến cá, chợ cá Các mẫu thu sau khi thu mẫu được cân bằng cân điện tử
và đo chiều dài cá bằng thước đo có độ chính xác đến mm
Tiến hành mổ cá ngay khi cá còn tươi để thu tuyến sinh dục Cá được mổ bụng theo hình vòng cung kéo dài từ hậu môn lên đến vây ngực Sau đó lấy tuyến sinh dục loại bỏ phần mỡ bám vào tuyến sinh dục và tất cả các phần khác rửa sạch máu và cân tuyến sinh dục bằng cân điện tử Tuyến sinh dục được cố định bằng dung dịch Bouin, tuyến tiêu hóa và phần cơ thể còn lại được bảo quản trong dung dịch formalin 10% hoặc cồn 70o, sau đó được chuyển về phân tích tại Trạm kiểm dịch Thành phố Vinh - Chi cục Nuôi trồng thủy sản Nghệ An Mẫu tuyến sinh dục được cố định trong dung dịch Buoin
và tiến hành nhuộm, cắt lớp tại Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An
2.5 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản
2.5.1 Tuổi và kích thước thành thục lần đầu
Tuổi cá được xác định bằng cách đếm các vòng sinh trưởng năm biểu hiện trên vẩy theo hướng dẫn nghiên cứu của Pravdin, 1963[52] Lấy từ mỗi con cá 5-10 vảy ở hai bên sườn phía trên đường bên cho vào
Trang 26phong bì có ghi số thự tự mẫu Xử lý sạch bằng NaOH 5-10%, dùng bàn chải mềm làm sạch chất nhờn trên vảy Dùng kính lúp có độ phóng đại 10-20 lần hoặc kính hiển vi quan sát
Kích thước thành thục lần đầu được biểu diễn bằng đồ thị trên đường cong của % số cá thể đang chín sinh dục, đã chín hoặc sau khi đẻ Điểm trên đường cong mà tại đó 50% số cá thể chín sinh dục được làm chỉ số cho sự chín sinh dục lần đầu
2.5.2 Làm tiêu bản, nhuộm
Xử lý mẫu tuyến sinh dục, làm tiêu bản nhuộm theo phương pháp Hematoxylin – sắt đối với tuyến sinh dục đực và Hematoxylin – eosin đối với tuyến sinh dục cái và phân tích tổ chức học được thực hiện tại Khoa giải phẫu bệnh – Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An với 7 bước sau:
- Cắt lọc và chọn mẫu tuyến sinh dục cần làm
- Chuyển mẫu tuyến sinh dục
- Đúc block sáp
- Cắt mẫu tuyến sinh dục trên block
- Dán mẫu lên trên lam kính
- Sấy khô, nhỏ dung dịch Bom Canada và dán lamen lên trên lam kính
2.5.3 Xác định các giai đoạn của tuyến sinh dục
Dựa vào hình dạng bên ngoài của buồng trứng và buồng tinh được phân chia làm 6 giai đoạn theo tài liệu của O.F Xakun và N.A Buskaia
Xác định theo K A Kixelevits (1923) (trong Pravdin, 1973) [30]
- Giai đoạn I Những cá thể chưa chín muồi sinh dục Tuyến sinh dục chưa phát triển, nằm sát vào phía trong của vách cơ thể (theo hai bên hông và dưới
Trang 27bóng hơi) và là những sợi dây dài, hẹp hoặc là những đường mà dùng mắt thường không thể phân biệt đực cái
- Giai đoạn II Những cá thể trưởng thành hoặc những sản phẩm sinh dục phát triển sau khi đẻ trứng Tuyến sinh dục bắt đầu phát triển và dày thêm ra tạo trứng hoặc tinh sào Hạt trứng nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được Có thể phân biệt được buồng trứng hay là tinh sào vì buồng trứng có mạch máu tương đối lớn, chạy dọc và hướng về giữa thân, đạp ngay vào mắt Tuyến sinh dục còn nhỏ và còn lâu mới chiếm hết xoang cơ thể
- Giai đoạn III Tuyến sinh dục mặc dù còn lâu mới chín nhưng tương đối phát triển Buồng trứng được tăng lên nhiều về kích thước, chiếm 1/3 đến ½ khoang bụng và chứa đầy đủ những hạt trứng nhỏ, đục, hơi xám mà mắt thường trông rõ Nếu cắt buồng trứng và nạo nó bằng đầu kéo để lấy ra những hạt trứng riêng, thì trứng khó tách ra khỏi những vách ngăn bên trong của buồng trứng và luôn luôn kết thành từng chùm một vài hạt Tinh sào có phần trước rộng hơn và
bị hẹp ở phần sau Bề mặt của nó màu hồng, ở một số cá màu hơi đỏ vì có nhiều mạch máu nhỏ Khẽ ấn vào tinh sào, không thấy sẹ lỏng chảy ra Khi cắt ngang tinh sào, các mép của nó không tròn mà sắc cạnh Cá giai đoạn này khá lâu: nhiều loài cá chép Cyprinus carpio, cá vền Abramis brama, cá Rutilus rutilus) từ mùa thu đến mùa xuân năm sau
- Giai đoạn IV Các tuyến sinh dục hầu như đạt đến mức phát triển cao nhất Buồng trứng rất lớn và chiếm khoảng 2/3 khoang bụng Hạt trứng lớn, trong suốt và khi ấn có sẹ chảy ra Khi cắt buồng trứng và nạo bằng kéo, trứng rời ra từng cái một Tinh sào màu trắng chứa đầy sẹ, rất dễ chảy ra khi ta ấn nhẹ vào bụng cá Nếu cắt nganh tinh sào, các mép của nó tròn lại ngay và chỗ cắt có dịch nhờn chảy ra Giai đoạn này ở một số cá không lâu và nhanh chóng chuyển sang giai đoạn sau
Trang 28- Giai đoạn V Trứng và sẹ chín đến nỗi mà khi ta ấn nhẹ tay một cái xuống bụng cá, nó liền chảy ra ngay, không phải từng giọt mà từng tia Nếu cầm ngược cá lên và lắc nhẹ thì trứng và sẹ chảy tự do
- Giai đoạn VI Các cá thể sau khi đẻ Sản phẩm sinh dục được đẻ hết Xoang cơ thể rỗng Buồng trứng và tinh hoàn rất nhỏ, nhão, sưng lên, có màu
đỏ sẫm Thường thường trong buồng trứng còn lại một ít trứng nhỏ, Những trứng đó chuyển biến và thoái hóa đi Qua một vài ngày nó mọng lên và tuyến sinh dục chuyển sang giai đoạn II-III
2.5.4 Hệ số thành thục
K: hệ số thành thục (%)
Wo: Khối lượng cá bỏ nội quan (g)
Wtsd: Khối lượng tuyến sinh dục (g)
2.5.4 Sức sinh sản tuyệt đối
Để xác định số lượng trứng của buồng trứng, tiến hành đếm số lượng trứng trong 1 g ở ba phần khác nhau: đầu, giữa và cuối; sau đó lấy giá trị trung bình nhân với khối lượng của cả buồng trứng
Trong đó:
a: Số lượng trứng trung bình đếm được
n: Khối lượng 3 phần buồng trứng đem đếm (g)
Wtsd: Khối lượng buồng trứng (g)
Trang 292.5.5 Sức sinh sản tương đối
Xác định sức sinh sản tương đối, hạt trứng/gam (cơ thể cá)
Trong đó:
S1: Sức sinh sản tuyệt đối
Wg: Khối lượng toàn thân (g)
2.5.6 Mùa vụ sinh sản
Mùa vụ sinh sản và bãi đẻ được xác định dựa trên cơ sở chín muồi sinh dục và những khảo sát trực tiếp trên sông
2.6 Phương pháp nghiên cứu dinh dưỡng
- Mẫu cá thu được, tiến hành mổ lấy nội quan các cá thể, xác định thành phần thức ăn trong mẫu tươi hay mẫu được định hình trong formol 4% đưa về phòng thí nghiệm phân tích
Thức ăn được tách khỏi ruột và dạ dày cá sau đó làm tiêu bản và quan sát dưới kính lúp và kính hiển vi Sử dụng khóa phân loại thực vật bậc thấp, động vật không xương sống thủy sinh để định loại đến từng taxon (giống, họ, bộ) Đếm số lượng thức ăn để xác định tần số xuất hiện và mức độ tiêu hóa thức
Trang 30Trong đó:
Q: Độ béo Fullton
Qo: Độ béo Clark
Wg: Khối lượng toàn thân (g)
Wo: Khối lượng đã bỏ nội quan (g)
Lt: Chiều dài toàn thân (cm)
2.7 Mối tương quan chiều dài trọng lượng
Xác định mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng theo theo Laurence, 1951:
W = a.Lb
Trong đó:
Wg: khối lượng cá (g) L: Chiều dài cá (cm)
a, b: Là hệ số thực nghiệm
2.8 Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Excel và chương trình SPSS version 15.0
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hình thái
Hình 3.1: Hình dạng bên ngoài cá sỉnh gai O laticeps Günther, 1869
Quan sát, mô tả cá sỉnh gai tại lưu vực sông Giăng- Nghệ An như sau: Thân dài, dẹp bên Viền lưng hình thoi, từ mõm đến khởi đầu vây điểm vây lưng là đường xiên thẳng sau đó giảm dần theo đường thẳng Viền bụng hình cung từ đầu cho đến khởi điểm vây hậu môn Bụng tròn Cán đuôi có viền lưng và viền bụng thẳng, nhỏ dần về phía sau
Đầu ngắn Trước mũi có rãnh nông làm cho mõm thấp và nhô cao Da mõm và môi trên phân cách bằng rãnh sâu Da mõm phát triển trùm lên thân môi trên, còn ở phía trên của môi hở hoàn toàn Mút mõm kết hạch nhỏ Lỗ mũi ở phía trên đường viền của mắt Không có râu Miệng dưới, rộng ngang, chiều rộng nhỏ hơn chiều rộng đầu ở đó Hàm dưới phủ chất sừng sắc cạnh và màu nâu Mắt tròn to, nằm phía trên đường trục và hơi thiên về phía trước của đầu Khoảng cách hai mắt rộng, hơi bằng Đỉnh đầu nhẵn
Vây lưng có khởi điểm trước khởi điểm vây bụng Tia đơn cuối cùng của vây lưng to cứng, mút mềm, phía sau có răng cưa chắc Vây ngực, vây bụng nhọn, ngắn Vây hậu môn có khởi điểm gần gốc vây đuôi hơn khởi điểm vây bụng Vây đuôi phân thùy sâu, 2 thùy tương đương nhau và mút nhọn
Trang 32Vẩy vừa phải Gốc vây lưng có một hàng vẩy bao phát triển Gốc vây hậu môn có một hàng vẩy bao kém phát triển Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ, dài, mút không nhọn Đường bên đầy đủ kéo dài từ sau nắp mang đến hết phần đuôi phủ vảy, đường bên hơi võng về phía bụng Có 47÷ 49 vảy đường bên Lưng xám, bụng màu trắng nhạt hoặc da cam Các vẩy có viền mép đậm hơn Các vây xám
Các chỉ số đếm có một số sai khác so với các tác giả khác [6], [12]: Vây lưng: D = III-IV, 8; Vây hậu môn: A = II, 5; Vây ngực: P = 2, 15-
16; Vây bụng: V= 2, 8 ; Vảy đường bên: L.l = 47
V
43
86
49
3.2 Sơ bộ về môi trường và tập tính sống
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005) [6], Cá sỉnh gai sống ở tầng giữa và tầng đáy, thích sống nơi nước trong, nước chảy và đáy đá có nhiều cát sỏi đá Cá sống thành từng đàn, thích ngược nước và sâu trong ngòi để kiếm ăn Mùa đông ra sông và tới các vực sâu tránh rét Một số tác giả như Phan Nữ Phước Hồng (2004) [7], Ngô Sỹ Vân [25], Võ Văn Phú [9], [10], [11] cũng có các quan sát đánh giá tương tự
Ở Nghệ An, cá sỉnh gai phân bố ở thượng nguồn Sông Lam [20], sông Hiếu, sông Chu [12], ở các con suối nước chảy mạnh, độ trong lớn, có nhiều
đá, sỏi Các quan sát ở khu vực nghiên cứu cho thấy: sông Giăng có hệ thống suối khá dày song độ dài ngắn, dốc, lòng suối hẹp, nhiều đá sỏi Thống kê về tần suất xuất hiện cá sỉnh gai trong quá trình thu mẫu cho thấy: cá sỉnh gai sống ở các khe đá, nơi có nước chảy xiết, độ trong của thủy vực cao; cá sỉnh gai thường bơi kiếm ăn vào ban đêm; Từ chập tối trở đi cá bắt đầu theo nhau
đi tìm kiếm các loại côn trùng trên mặt nước, các loại rong tảo bám trên đá,