1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798) NUÔI TRONG bể

85 463 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 14,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các số liệu trình bày trong luận văn đã được sự cho phép của đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh học ấu trùng tôm hùm bông Panulirus ornatus làm cơ sở cho việc tạo công nghệ sản xuất giốn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gởi đến Ban Giám Hiệu, khoa Nuôi trồng Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang sự kính trọng, lòng tự hào đã được làm việc, học tập và nghiên cứu tại trường trong những năm qua

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy hướng dẫn PGS-TS Lại Văn Hùng và TS Nguyễn Thị Bích Thúy đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn Đảng Ủy, Ban Giám Đốc đặc biệt là TS.Nguyễn Huy Điền

và toàn thể đồng nghiệp ở Trung Tâm Khuyến Nông Quốc Gia đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành đề tài

Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quí thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập ở lớp cao học Nuôi trồng thuỷ sản khoá 2009-2010 SUDA

Nhân đây tôi xin cảm ơn đến toàn thể ban lãnh đạo và cán bộ Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong khi tôi bố trí thí nghiệm của luận văn tại Viện

Tôi xin cảm ơn Ban quản lý dự án và các thành viên làm việc trong Hợp Phần Hỗ Trợ Phát Triển Nuôi Trồng Thủy Sản Bền Vững (SUDA) đã tạo điều kiện,

hỗ trợ kinh phí cho tôi hoàn thành tốt khóa học

Xin cảm ơn sâu sắc đến gia đình và tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành đề tài!

Nguyễn Quang Hạnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Các số liệu trình bày trong luận văn đã được sự cho phép của đề tài: Nghiên

cứu đặc điểm sinh học ấu trùng tôm hùm bông (Panulirus ornatus) làm cơ sở

cho việc tạo công nghệ sản xuất giống Mã số: KC.06.24/06-10, được thực hiện tại Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III

Nguyễn Quang Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục… iii

Ký hiệu, chữ viết tắt vi

Danh mục các hình vii

Danh mục các bảng ix

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 – TỔNG QUAN 3

1.1 Hệ thống phân loại và hình thái học 3

1.1.1 Vị trí phân loại 3

1.1.2 Hình thái cấu tạo 4

1.1.3 Đặc điểm sinh thái phân bố và chu kỳ sống 5

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 8

1.1.5 Đặc điểm sinh học sinh sản 9

1.2 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho Tôm Hùm 13

1.3 Tình hình nuôi Tôm Hùm 21

Chương 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23

2.2.1 Nguồn Tôm Hùm thí nghiệm 24

2.2.2 Nguồn nước thí nghiệm 24

Trang 6

2.2.3 Trang thiết bị thí nghiệm 25

2.2.4 Chăm sóc, quản lý 25

2.3 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của các công thức thức ăn lên sinh trưởng và phát dục của Tôm Hùm Bông 26

2.3.1 Các công thức thức ăn dùng trong thí nghiệm 26

2.3.2 Bố trí thí nghiệm 27

2.4 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của ánh sáng lên sinh trưởng và phát dục của Tôm Hùm Bông 28

2.4.1 Các chế độ ánh sáng trong thí nghiệm 28

2.4.2 Bố trí thí nghiệm 28

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 29

2.6 Phương pháp phân tích số liệu 36

Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Ảnh hưởng của các nhóm thức ăn khác nhau lên sự sinh trưởng và phát dục của Tôm Hùm Bông nuôi trong bể 37

3.1.1 Thành phần sinh hóa của các công thức thức ăn thí nghiệm 37

3.1.2 Môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm 38

3.1.3 Sinh trưởng của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn 39

3.1.3.1 Sinh trưởng chiều dài giáp đầu ngực của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn 39

3.1.3.2 Sinh trưởng khối lượng của Tôm Hùm Bông ở các nhóm thức ăn 42

3.1.4 Phát dục của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn 44

Trang 7

3.2 Ảnh hưởng của điều kiện chiếu sáng khác nhau lên sự sinh trưởng và

phát dục của tôm Hùm bông nuôi trong bể 47

3.2.1 Môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm 47

3.2.2 Sinh trưởng của Tôm Hùm Bông ở các điều kiện chiếu sáng 49

3.2.2.1 Sinh trưởng chiều dài giáp đầu ngực của Tôm Hùm Bông ở các điều kiện chiếu sáng 49

3.2.2.2 Sinh trưởng khối lượng của Tôm Hùm Bông ở các điều kiện chiếu sáng 51

3.2.3 Phát dục của Tôm Hùm Bông ở các điều kiện chiếu sáng 52

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 56

1 Kết luận 57

2 Đề xuất ý kiến 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 8

GHẸ-80: Nghiệm thức công thức thức ăn có 80% ghẹ, 10% sò, 10% mực

SÒ-80: Nghiệm thức công thức thức ăn có 80 % sò, 10% ghẹ, 10% mực

MỰC-80: Nghiệm thức công thức thức ăn có 80 % mực, 10% ghẹ,10% sò

CLđ: Chiều dài giáp đầu ngực của tôm lúc bắt đầu thí nghiệm

CLc: Chiều dài giáp đầu ngực của tôm lúc kết thúc thí nghiệm

Wđ: Khối lượng của tôm lúc bắt đầu thí nghiệm

Wc: Khối lượng của tôm lúc kết thúc thí nghiệm

GRCL, GRW: Sinh trưởng về chiều dài giáp đầu ngực và khối lượng của tôm

SGRCL, SGRW: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài giáp đầu ngực và khối lượng của tôm

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu 23

Hình 2.2 Quy trình xử lý nước để nuôi thí nghiệm 24

Hình 2.3 Hệ thống bể lọc sinh học 25

Hình 2.4 Chuẩn bị thức ăn cho Tôm Hùm nuôi thí nghiệm 26

Hình 2.5 Hệ thống bể composite nuôi tôm ở thí nghiệm thức ăn 27

Hình 2.6 Sơ đồ bố trí các bể nuôi tôm ở thí nghiệm thức ăn 27

Hình 2.7 Hệ thống bể ciment nuôi tôm ở thí nghiệm ánh sáng 29

Hình 3.1 Sinh trưởng chiều dài giáp đầu ngực Tôm Hùm bông ở các nhóm thức

ăn 40

Hình 3.2 Sinh trưởng khối lượng của Tôm Hùm bông ở các công thức thức ăn 42

Hình 3.3 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực (trước khi thí nghiệm về thức ăn) 44

Hình 3.4 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở công thức thức ăn MỰC-80 45

Hình 3.5 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở công thức thức ăn SÒ-80, GHẸ-80 45 Hình 3.6 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái (trước khi thí nghiệm về thức ăn) 46

Hình 3.7 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở công thức thức ăn MỰC-80 46

Hình 3.8 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở công thức thức ăn SÒ-80, GHẸ-80 47 Hình 3.9 Sinh trưởng chiều dài giáp đầu ngực của Tôm Hùm bông ở các điều kiện chiếu sáng khác nhau 49

Trang 10

Hình 3.10 Sinh trưởng khối lượng của Tôm Hùm bông ở các điều kiện chiếu sáng

khác nhau 51

Hình 3.11 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực (trước khi thí nghiệm về ánh sáng) 53 Hình 3.12 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái (trước khi thí nghiệm về ánh sáng) 54

Hình 3.13 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở nghiệm thức TỐI 54

Hình 3.14 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở nghiệm thức SÁNG 55

Hình 3.15 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở nghiệm thức TỐI 55

Hình 3.16 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở nghiệm thức SÁNG 56

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần sinh hóa của các công thức thức ăn thí nghiệm (%) 37 Bảng 3.2 Thành phần acid béo không no của các công thức thức ăn thí nghiệm (5) 38 Bảng 3.3 Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm về thức ăn 38 Bảng 3.4 Các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều dài giáp đầu ngực Tôm Hùm Bông ở

các công thức thức ăn 41 Bảng 3.5 Các chỉ tiêu sinh trưởng về khối lượng của Tôm Hùm Bông ở các công

thức thức ăn 43 Bảng 3.6 Kích thước tuyến sinh dục của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn 44 Bảng 3.7 Một số yêu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm về ánh sáng 47 Bảng 3.8 Cường độ chiếu sáng ở các bể thí nghiệm (Lux) 48 Bảng 3.9 Các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều dài giáp đầu ngực của Tôm Hùm Bông

ở các điều kiện chiếu sáng khác nhau 50 Bảng 3.10 Sinh trưởng về khối lượng của Tôm Hùm Bông ở các điều kiện chiếu

sáng khác nhau 52 Bảng 3.11 Kích thước tuyến sinh dục của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn 53

Trang 12

MỞ ĐẦU

Tôm Hùm Gai Palinuridae (spiny lobster) phân bố rộng ở vùng biển nhiệt đới

và á nhiệt đới, chúng thích nghi trong cả vùng biển sâu đến vùng triều cạn ven biển

Họ Palinuridae gồm trên 47 loài trong đó có khoảng 33 loài có giá trị kinh tế

Nghề nuôi biển trên thế giới nói chung coi Tôm Hùm là một trong những đối tượng nuôi quan trọng và có hiệu quả kinh tế cao Trong họ Palinuridae thì loài

Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus) được quan tâm chú trọng nhiều nhất vì chúng

có sự phát triển giai đoạn Larvae ngoài khơi ngắn nhất, sinh trưởng nhanh nhất, có giá thành hấp dẫn trên nhiều thị trường Từ trước đến nay nguồn giống Tôm Hùm nuôi hoàn toàn là khai thác từ tự nhiên, nhưng hiện nay trên thế giới rất quan tâm nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo nhằm chủ động đáp ứng lượng con giống cần thiết với chất lượng tốt, giảm áp lực lên khai thác tự nhiên

Ở Việt Nam nghề nuôi Tôm Hùm bắt đầu phát triển từ năm 1992 và hiện nay xác định đây là một đối tượng phát triển chủ lực trong nghành thủy sản do giá trị kinh tế và dinh dưỡng mà nó mang lại Nghề nuôi Tôm Hùm ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh ven biển miền Trung từ Bình Định đến Bình Thuận và đã đem lại nhiều lợi nhuận cho người nuôi Trong họ Tôm Hùm Gai ở Việt Nam có 7 loài phân bố và người nuôi cũng tập trung vào loài Tôm Hùm Bông

Sự phát triển nhanh rộng của nghề nuôi Tôm Hùm lồng đã làm rõ hơn vấn đề thiếu con giống một cách trầm trọng Sản lượng khai thác giống ngoài tự nhiên không thể đủ đáp ứng được nhu cầu của người nuôi thương phẩm Để phát triển lâu bền và có hiệu quả hơn đòi hỏi các nhà khoa học Việt Nam cần phải chung sức với thế giới tìm hiểu vấn đề sinh sản nhân tạo giống Tôm Hùm

Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc nghiên cứu chuyên sâu hơn về điều kiện môi trường sống, nhu cầu dinh dưỡng và các loại thức ăn của Tôm Hùm Bông ở

Trang 13

từng giai đoạn phát triển là vấn đề hết sức cấp thiết Nó sẽ là cơ sở để hoàn thiện qui trình sinh sản nhân tạo giống Tôm Hùm

Được sự cho phép của trường Đại học Nha Trang và sự đồng ý của Viện Nghiên Cứu NTTS III, tôi thực hiện đề tài:

“Ảnh hưởng của các loại thức ăn, điều kiện chiếu sáng khác nhau lên

sinh trưởng, phát dục của Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus, Fabricius, 1798)

nuôi trong bể.”

Với các nội dung nghiên cứu sau:

1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau lên sinh trưởng, phát dục của Tôm Hùm Bông nuôi trong bể

2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện chiếu sáng khác nhau lên sinh trưởng, phát dục của Tôm Hùm Bông nuôi trong bể

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm dữ liệu khoa học về đặc điểm môi trường sống, đặc điểm dinh dưỡng của Tôm Hùm Bông và là một cơ sở để hoàn thiện qui trình sinh sản nhân tạo giống Tôm Hùm

Trang 14

Chương 1 – TỔNG QUAN 1.1 Hệ thống phân loại và hình thái học

George và Holthuis (1965) nghiên cứu các đặc điểm hình thái, giải phẫu và

phân loại trên một số loài tiêu biểu của giống Panulirus và Jasus, đã chính thức đưa

ra khóa phân loại của họ Palinuridae và Nephropidae, công trình được hầu hết các

nhà phân loại học cùng nhất trí về những đặc điểm chung của các loài Tôm Hùm trong cùng một giống Các kết quả đã được kiểm chứng và làm cơ sở cho nghiên cứu về Tôm Hùm [31]

Đến những năm 1980 Phillips và Williams đã khẳng định họ Tôm Hùm Gai

(Palinuridae) gồm có 49 loài được phân chia thành 8 giống, nhưng chỉ có 33 loài thuộc 3 giống (Panulirus, Palinurus và Jasus) có ý nghĩa quan trọng trong công

nghiệp khai thác Tôm Hùm của thế giới Các giống loài thường gặp trong họ này được chia thành 3 nhóm theo vùng sinh thái rõ rệt: vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và

ôn đới [44], [51]

Trang 15

Theo nhóm tác giả trên Tôm Hùm được phân loại như sau:

Họ Tôm Hùm gai Palinuridae

Giống Panulirus Palinurus

Jasus Justitia Palinutrus Linuparus Puerulus Projasus

Loài Panulirus ornatus (Fabricius,1789)

Tên thường gọi: Tôm Hùm Bông, Tôm Hùm Sao

1.1.2 Hình thái cấu tạo

Dựa trên các kết quả nghiên cứu hình thái học Tôm Hùm thì Kensler (1967)

và Holthuis (1991) đã đưa ra kết luận Tôm Hùm Gai là nhóm có kích thước lớn nhất

trong lớp Giáp Xác; chiều dài toàn thân đã đạt tới 60cm (như loài Jasus verreauxi)

Chiều dài phần bụng tương đương với chiều dài phần giáp đầu ngực và dài khoảng

24 cm Do những đặc điểm riêng của loài, Cobb và Wang (1985) đã có lập luận khoa học để quy định phương pháp xác định chiều dài cơ thể Tôm Hùm bằng cách

đo từ chân gai hốc mắt đến mép cuối của giáp đầu ngực

Cơ thể Tôm Hùm Gai được chia thành 2 phần rõ rệt là phần đầu ngực và phần bụng Phần đầu ngực là sự hợp lại của đầu và ngực gồm 14 đốt hợp lại với nhau, mỗi đốt có 1 đôi phần phụ ngực Trong đó 6 đốt trên tạo thành phần đầu và 8

Trang 16

đốt sau tạo thành phần ngực Trên phần đầu ngực gồm có: 2 đôi anten , đôi thứ nhất phân nhánh và đôi thứ 2 rất dài có chứa nhiều gai nhỏ, anten là cơ quan cảm giác cơ học và hóa học giúp tìm mồi, phát hiện và trốn tránh kẻ thù 1 đôi mắt có thể cử động tương đối linh hoạt và ở dạng kép; 5 đôi chân bò; phần miệng của Tôm Hùm

có hàm trên hàm dưới và các mảnh chân hàm

Vỏ đầu ngực của Tôm Hùm kéo dài từ đốt ngực cuối đến mắt, phần vỏ đầu ngực bao bọc các nội quan của của phần đầu ngực, 2 phần bên của vỏ đầu ngực là khoang mang làm nhiệm vụ bảo vệ mang, phía dưới phần đầu ngực là xương ức ngực Tại gốc đôi chân bò thứ 3 của con cái và gốc đôi chân bò thứ 5 của con đực

có 1 lỗ sinh dục

Phần bụng gồm có 6 đốt được bọc bởi lớp vỏ citin cả ở phần lưng bên và bụng, phần lưng có màu sắc đặc trưng cho loài Đốt bụng đầu tiên ở Tôm Hùm không có chân bơi còn từ đốt thứ 2 đến thứ 5 có 4 đôi chân bơi Chân bơi của con đực có dạng nhánh đơn và 2 đôi chân bơi đầu tiên tạo thành cơ quan giao cấu, nó trở lên nhám khi con đực thành thục Chân bơi của con cái có dạng phân nhánh đôi hình lá, nhánh trong chân bơi có những lông cứng, cấu tạo này tạo thuận lợi cho con cái ôm trứng trong giai đoạn thành thục sinh dục và giữ trứng khi đẻ [39] Đốt 6 ở phần thân Tôm Hùm tạo thành chân đuôi và telson rất cứng và chắc chắn Theo Holthuis (1991) telson của Tôm Hùm là phần phụ trung gian của đốt bụng thứ 6 hoặc có thể là đốt bụng thứ 7 Hệ thống cơ bắp phần bụng rất rắn chắc, kết hợp với phần chân đuôi như một mái chèo giúp Tôm Hùm vận động dễ dàng trong nước, Tôm Hùm có đặc tính giật mạnh về phía sau khi gặp kẻ thù [33]

1.1.3 Đặc điểm sinh thái phân bố và chu kỳ sống

* Sinh thái phân bố

Nghiên cứu về sinh thái học, nhiều tác giả như Herrnkind (1980), Cobb (1981), Lipciuc (1983), William & Dean (1989), MacDiarmind (1991) đã kết luận

Trang 17

Tôm Hùm Gai sống được cả ở vùng biển ôn đới và nhiệt đới, tuy nhiên các giống có thành phần loài phong phú đều tập trung ở vùng biển nhiệt đới

Môi trường sống của Tôm Hùm có quan hệ với hoạt động của sóng, dòng chảy gần hay xa bờ, chế độ thủy triều cũng như vật chất từ lục địa đổ ra biển Tổng hợp các mối quan hệ trên tạo ra khu vực sinh thái riêng cho từng loài Tôm Hùm, chúng thường sống từ vùng triều đến vùng biển sâu tới 300 m trong các hang hốc và

vùng đáy là đá, bùn cát hay thảm thực vật Ví dụ như loài P penicillatus thường gặp ở vùng rạn xa bờ nơi có sóng biển đập vỗ mạnh, hay P Longipes thì lại thích sống trên mặt rạn nơi có nhiều ánh sáng và oxy hòa tan cao, còn P Vercicolor chỉ được tìm thấy dưới những lớp đá ngầm nơi có dòng chảy mạnh và P Interruptus

thường ưa những vùng có đáy đá sỏi có thảm tảo bẹ phân bố [14]

Ở Việt Nam có 7 loài tôm hùm thuộc giống Panulirus (P.ornatus; P.homarus; P.longipes; P.stimpsoni; P.penicillatus; P.versicolor; P.polyphahus)có

giá trị kinh tế, chúng thường phân bố ở khu vực ven bờ từ Vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, đó là các loài đặc trưng cho tôm Hùm nhiệt đới [10,12]

Loài P.ornatus có kích thước lớn nhất trong 7 loài hay gặp ở Việt Nam, kích

thước đạt được từ 4 – 6 kg và thường sống ở độ sâu 25 – 30 m nước trong các rạn

đá hay san hô xa bờ Rạn đá nơi Tôm Hùm thường cư trú là rạn ghềnh và rạn ngầm, Tôm Hùm con thường bắt gặp nhiều tại các ghềnh rạn, vì đây là các rạn đá nằm ở các mũi chắn sóng chân các đảo, các cù lao hay chân các mỏm đá từ đất liền nhô ra biển Vùng ven biển miền Trung Việt Nam là nơi phân bố chủ yếu của các loài Tôm

Hùm, ví dụ như loài P Longipes thường bắt gặp nhiều ở vùng biển Bình Cang (Nha

Trang) và Vịnh Phan Rang [1]

Theo Nguyễn Thị Bích Thúy (1994) nghiên cứu về phân bố của Tôm Hùm

Panulirus trong thời kỳ thành thục sinh dục cho thấy hiện tượng di cư sinh sản ra những vùng rạn xa bờ có độ sâu 10 m nước, loài P.ornatus di cư ra sâu hơn các loài

khác là trên 30 m nước [7]

Trang 18

Có thể nói giai đoạn trưởng thành của Tôm Hùm Gai là bước ngoặt đáng chú

ý trong đặc tính phân bố, đó là sự di chuyển có định hướng của chúng từ vùng rạn nông ven bờ đến những vùng rạn sâu xa bờ, liên quan đến quá trình lột xác, cặp đôi

và thụ tinh Theo McKoy & Leachman (1982), MacDiarmid (1985), Lipcius & Herrnind (1987) các tiến trình sinh sản có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố môi trường như chu kỳ ánh sáng và nhiệt độ làm thay đổi khả năng cặp đôi và sự phát triển buồng trứng của các cá thể Đặc biệt nhiệt độ cao làm tăng đáng kể tỷ lệ lột xác ở con trưởng thành Hơn nữa, ở giai đoạn này các điều kiện sinh thái còn ảnh hưởng đến thời gian cặp đôi, có thể vài ngày, hoặc 1 – 2 tháng sau khi lột xác như ở

loài P.homarus, P.cygnuns; hay ảnh hưởng đến cả sự thụ tinh cho trứng ở các con

cái Đẻ trứng và ấu trùng nở ra rộ nhất vào mùa xuân và mùa hè, đa số các loài nở vào ban đêm, ở vùng biển có dòng thủy triều khá mạnh để ấu trùng dễ dàng phân tán nhanh ra vùng khơi [39]

trùng phyllosoma trôi nổi tự do trên biển nhờ sóng gió và dòng chảy của đại dương

Max & Hermkind (1985) và Hermkind & Butler (1986) đã thống nhất phân chia chu kỳ sống của Tôm Hùm theo 5 giai đoạn: giai đoạn tiền trưởng thành

(immature), giai đoạn thành thục (manute), giai đoạn ấu trùng phyllosoma, giai đoạn

ấu trùng puerulus và giai đoạn tôm con (juvenile) [26]

Giống tôm Hùm Panulirus thuộc nhóm có tuổi thọ cao nhất có thể đạt tới 15

tuổi (Phillips,1975), giai đoạn phát triển từ ấu trùng đến con non được chia làm 9

giai đoạn đương tương với 2 thời kỳ: ấu trùng phyllosoma và giai đoạn puerulus Thời kỳ ấu trùng phyllosoma bao gồm 5 giai đoạn từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 5 với

Trang 19

khoảng thời gian cần thiết từ 3 đến 4 tháng, thời kỳ puerulus từ giai đoạn 6 đến giai

đoạn 9 với khoảng thời gian cần thiết từ 6 – 7 tháng Như vậy, thời gian cần thiết cho quá trình phát triển từ khi trứng nở đến khi con non ước tính khoảng 9 – 11

tháng, thời kỳ ấu trùng phyllosoma và con non (juveline) - đều có hình thức sống

phù du trong trong môi trường nước Khi đã là Tôm Hùm con chúng cũng có 2 giai đoạn tách biệt là bắt đầu sống đáy ở độ sâu từ 10 m trở vào bờ và sau đó chuyển sang sống trong môi trường như tôm trưởng thành Trong quá trình sinh trưởng và phát triển Tôm Hùm dần ra sâu hơn và có thể ra đến độ sâu 150 m nước, đặc điểm phân bố của Tôm Hùm là sự di chuyển có định hướng từ vùng rạn đá khu vực nước nôngven bờ đến vùng rạn đá sâu xa bờ Chính vì vậy con non thường hay gặp ở những khu vực rạn nông gần bờ [1]

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Sự tăng trưởng của Tôm Hùm là một quá trình liên tục và được xác định bằng sự tăng lên về chiều dài giáp đầu ngực (CL) hoặc khối lượng cơ thể (W),

giống như đặc điểm chung các loài giáp xác nó được biểu hiện qua quá trình lột xác

Quá trình sinh trưởng ở các loài giáp xác, sự tăng kích thước cơ thể thường ngay sau lột xác, biểu hiện bên trong với sự phân chia tế bào và tổng hợp protein Przibram & Megusar (1912) đã tính được khối lượng Tôm Hùm tăng lên gấp đôi và kích thước tăng 1,26 mm sau mỗi lần lột xác trong điều kiện thuận lợi (môi trường, thức ăn)

Theo Nguyễn Thị Bích Thúy (2004), một số yếu tố môi trường và sinh thái cũng có liên quan mật thiết đến sự sinh trưởng, phát triển của Tôm Hùm như là nhiệt

độ, ánh sáng, độ muối, oxy hòa tan, thức ăn, tập tính sống bầy đàn và sự tái tạo các phần phụ Ví dụ như nhiệt độ nước thay đổi khoảng 3 – 50C có thể gây tử vong cho tôm con và trong điều kiện không có ánh sáng, chu kỳ lột xác của tôm kéo dài, hoạt động bắt mồi giảm, màu sắc tự nhiên mất dần, tôm phát triển không bình thường Còn

Trang 20

khi giảm độ muối đột ngột từ 8 – 10 ppt, tôm con sẽ bị chết hàng loạt, ở độ muối 20 –

25 ppt kéo dài 3 – 5 ngày gây hiện tượng chết tôm từ từ ở tôm con [5, 8]

Tôm Hùm Bông đạt kích thước 8 – 13 mm CL có chu kỳ lột xác là 8 – 10 ngày, nhóm kích thước 63 – 68 mm CL thì chu kỳ lột xác khoảng 40 ngày và đồng thời qua mỗi lần lột xác kế tiếp thì tỷ lệ phần trăm tăng chiều dài giáp đầu ngực giảm xuống [8]

1.1.5 Đặc điểm sinh học sinh sản

* Tỷ lệ giới tính

Tỷ lệ giới tính của đa số các loài thủy sản ở giai đoạn nhỏ gần như là 1: 1 nhưng các nghiên cứu về tỷ lệ này cho thấy sự khác nhau đối với từng loài, từng vùng phân bố và khác 1

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thúy (1994) cho thấy tỷ lệ đực/cái của Tôm Hùm tại các vùng phân bố của Việt Nam như sau: vùng Cù Lao Chàm (1:0,062), Cù Lao Ré (1:1,150) và vùng Ninh Thuận – Bình Thuận (1:1,173) [8]

Sutcliffe (1953) nghiên cứu loài P.guttatus ở vùng biển Bermuda cho thấy tỷ

lệ đực/cái ở quần thể nhỏ và trưởng thành là 10:1 Cũng đối với loài P.guttatus thì

Newman (1971) lại thu được kết quả ở vịnh Eland là 3:7 còn ở vịnh Musel chỉ là 2:1 [46]

Những nghiên cứu trên P.ornatus ở vùng biển Daru của MacFarlane (1980)

cho thấy, trong quần thể tôm nhỏ với chiều dài giáp đầu ngực từ 10 – 20 mm, cho đến quần thể tôm trưởng thành với giáp đầu ngực dài 150 – 160 mm luôn gặp con đực nhiều hơn con cái và tỷ lệ này giao động trong khoảng 1:0,5; 1:0,39; 1: 0,16; 1: 0,04; 1:0,01 [41]

Trang 21

Chittlebrough (1974), David (1977) và Channells (1986) đã nghiên cứu bổ

sung thêm về tỷ lệ giới tính ở P.ornatus trong vịnh Torres Strait thấy rằng tỷ lệ con

đực luôn lớn hơn con cái phổ biến chiếm khoảng 60 – 80% trong vùng biển này [24]

* Dấu hiệu thành thục

Theo Aiken & Waddy (1980), để xác định thành thục sinh dục ở Tôm Hùm đực thì có 2 cách: dựa vào yếu tố sinh lý, tức là các cá thể đực có thể sản xuất ra tinh trùng nhưng chưa có khả năng cặp đôi; hoặc dựa vào yếu tố chức năng, nghĩa là

có khả năng cặp đôi và phóng tinh sang cá thể cái [13]

Nghiên cứu của Berry (1970) cũng xác định hầu hết những con đực luôn có kích thước lớn hơn con cái khi đạt đến giai đoạn thành thục sinh dục và cá thể đực

có đôi chân bò dài hơn hẳn cá thể cái giúp cho việc giao cấu đạt hiệu quả khi chúng kết đôi với nhau [16]

Đối với Tôm Hùm cái nhận biết sự thành thục sinh dục có thể dễ dàng hơn Nhiều tác giả như Fielder (1964), Chittleborough (1974), Juinio ( 1987)… đều cho rằng cơ sở để xác định sự thành thục sinh dục của đa số các loài thuộc giống

Panulirus được dựa vào sự xuất hiện các lông cứng ở nhánh trong của chân bụng,

nơi trứng có thể bám dính vào khi đẻ Ngoài ra cũng có thể biết được con cái thành thục dựa vào sự xuất hiện của túi tinh trùng ( Tar – spot) trên ức ngực [35]

* Kích thước tham gia sinh sản

Kích thước tham gia sinh sản lần đầu của các loài khác nhau cũng khác nhau

rõ rệt : Chubb (1991) cho biết với P.cygmus kích cỡ thành thục lần đầu của loài khi

có chiều dài giáp đầu ngực là (CL) bằng 75 mm ở con cái, nhưng cá thể nhỏ nhất tham gia sinh sản chỉ khoảng 48,9 mm; Herrnkind & Olsen (1971) lại xác định ở

loài P.argus là 120 mm với con đực và 103 mm với con cái, nhưng sinh sản lần đầu

ở con cái khoảng 90 – 95 mm; còn George và Morgan (1976) đã xác định với loài

P.vercicolor là 66 mm với con cái và 72 mm với con đực [32]

Trang 22

Riêng với P.ornatus – loài duy nhất trong giống Panulirus có tập tính di cư

sinh sản thì MacFarlane và Moore (1984) đã bắt gặp con cái nhỏ nhất thành thục có chiều dài CL là 78,6 mm , nhưng phần lớn thường có chiều dài 110 mm [41] Tiếp

theo Bell và Chanells (1987) nghiên cứu di cư đẻ trứng của P.ornatus ở Torres Strait và ở vùng đông bắc Queensland Các tác giả đã chứng minh được P.ornatus

luôn luôn di cư khi buồng trứng đạt đến giai đoạn I và II, khi di chuyển đến địa điểm cuối cùng là đảo Yale thì 100% tôm cái đều đã được thụ tinh và kích cỡ tôm cái ôm trứng dao động từ 88,0 mm CL đến 114,3 mm ở độ sâu từ 15 – 23 m [15]

Chiều dài thân (chiều dài thân bé nhất bắt gặp khi mang trứng) của một số loài tôm Hùm ở Việt Nam khi tham gia sinh sản lần đầu phụ thuộc từng loài Ví dụ

như chiều dài thân của loài P.versicolor là 19,7 cm, P.longipes là 14,4 cm, P.stimpsini – 16,0 cm, P.ornatus – 22,9 cm, P.homarus – 17,4 cm, P.penicillatus –

19,7 cm [1]

* Mùa sinh sản

Một số chuyên gia tại phòng thí nghiệm Florida cho rằng nhóm Panulirus chỉ

có một lần giao phối vào mùa xuân trong năm [13]

Chittleborough (1976) nghiên cứu về hiện tượng lột xác và giao phối; đẻ

trứng trong điều kiện tự nhiên và điều kiện nuôi loài P.cynus, nhận thấy chỉ có 12%

con cái trong đàn tự nhiên sinh sản 2 lần một năm, nhưng trong điều kiện nuôi có tới 77% con cái mang trứng 2 lần trong năm và ông còn ghi nhận được một số cá thể có tới 6 lần đẻ trứng trong năm [25]

Mac Farlane và Moore (1986) có kết luận về con cái P.ornatus di cư đẻ 3 lần

trong mùa sinh sản; ông cho rằng nhóm di cư đầu tiên là cuối tháng 10, nở ấu trùng vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12 ở vùng đảo Yale, đẻ lần 2 vào đầu tháng 1 ở vùng biển có hệ đá ngầm, và lần thứ 3 vào khoảng đầu đến giữa tháng 2 Các nhóm

Trang 23

di cư sinh sản tiếp theo đã khiến cho mùa sinh sản kéo dài đến cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4 [42]

Kancirut và Herrnkind (1976) nghiên cứu mức độ sinh sản của Tôm Hùm ở các nhóm kích cỡ CL khác nhau đã sử dụng 3 thông số đưa vào tính toán là:

A: Tỷ lệ con cái trong nhóm kích thước/ tổng số con cái

B: Tỷ lệ con cái mang trứng trong nhóm kích thước

C: Số lượng trứng trung bình của các con cái trong nhóm kích thước

D: Hằng số chỉ mức độ sinh sản = A x B x C

Đồng thời các tác giả cũng đã tính được hằng số D đối với loài P.argus vùng

Bimini ở nhóm kích thước 70 – 100 mm CL (chiếm 3,6% quần đàn) là 13,9% tổng

số trứng; nhóm kích thước 70 – 75 mm CL (chiếm 14,9% quần đàn) nhưng chỉ có 2,3% tổng số trứng [37]

Ven biển miền Trung quanh năm đều bắt gặp Tôm Hùm cái mang trứng, trong 7 loài Tôm Hùm kinh tế của Việt Nam, mùa vụ sinh sản chính bắt đầu từ

tháng 3 đến tháng 10 hàng năm, loài P.ornatus con cái thường ôm trứng từ tháng 3

đến tháng 10, mùa đẻ chính từ tháng 7 đến tháng 9 (bắt gặp 50% tôm mẹ mang

trứng ngoài); P.homarus con cái mang trứng từ tháng 12 đến tháng 9 năm sau, mùa

vụ đẻ chính từ tháng 4 đến tháng 7; loài P.longipes ôm trứng từ tháng 3 đến tháng

10, mùa sinh sản chính là tháng 4 đến tháng 9 và rộ nhất vào tháng 9 Cá thể mẹ ôm trứng ngoài thu được trong mùa đẻ chính cho thấy một kết luận là Tôm Hùm đẻ ít nhất 2 lần trong năm Theo Nguyễn Thị Bích Thúy (1994), Tôm Hùm Bông

(P.ornatus ) mùa vụ sinh sản có 2 vụ/năm, tháng 1 đến tháng 5 là vụ 1 và đỉnh sinh

sản là tháng 4, mùa vụ 2 từ tháng 8 đến tháng 10 và đỉnh sinh sản là tháng 9 [7]

Trang 24

* Các giai đoạn phát triển của buồng trứng

Berry (1971) đã nghiên cứu trên loài P.homarus cho rằng buồng trứng có 5

giai đoạn phát triển là:

Giai đoạn 1 (buồng trứng non): buồng trứng mỏng nhỏ và có màu trắng Giai đoạn 2 (buồng trứng đang phát triển): buồng trứng đã căng lên và có màu hồng sáng

Giai đoạn 3 (giai đoạn tiền thành thục): thể tích buồng trứng tăng lên rõ rệt

và có màu vàng cam Các tế bào trứng tương đối căng tròn

Giai đoạn 4 (giai đoạn chín): buồng trứng căng cực đại, có mầu cam sáng; các tế bào trứng căng tròn rất dễ rời nhau

Giai đoạn 5 (sau khi thải trứng): buồng trứng xẹp xuống, có nhiều đốm màu khác nhau, bao gồm những tế bào trứng non, tế bào trứng chín còn xót lại Thường

có màu vàng nhạt đục

Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để đi sâu về sinh lý – sinh học sinh sản của Tôm Hùm [17]

1.2 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn cho Tôm Hùm

* Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng

Tôm Hùm là loài ăn tạp, trong tự nhiên chúng có thể ăn các loài như tôm, ghẹ, cua, cá, thân mềm, cầu gai, nhuyễn thể…Ngoài thức ăn chính là động vật, đôi khi chúng còn ăn các loại thực vật như rong…Tôm Hùm có tập tính bắt mồi tích cực vào ban đêm và tờ mờ sáng Tùy vào từng giai đoạn phát triển mà nhu cầu dinh dưỡng của Tôm Hùm có sự khác nhau

Trang 25

Nhu cầu dinh dưỡng của một sinh vật được hiểu theo nhiều nghĩa, nhưng hầu hết trong thực nghiệm về khẩu phần ăn cho sinh vật thì nhu cầu dinh dưỡng là nhu cầu tối ưu cho sinh trưởng, phát triển của sinh vật Đến nay các nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cho Tôm Hùm Gai nói chung trong đó có Tôm Hùm Bông còn rất hạn chế

Có nhiều nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của Tôm Hùm Châu Mỹ của các tác giả như: Kanazawa (1980), Conklin (1980), Conklin &ctv (1983)… Kanazawa (1980) nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và khẩu phần ăn của Tôm Hùm Gai trong mối liên quan hiểu biết về Tôm Hùm châu Mỹ D Abramo & ctv (1997) đưa ra thông tin về dinh dưỡng của một số loài giáp xác, trong đó có Tôm Hùm Bông

* Nhu cầu Protein và năng lượng

Nhu cầu protein là lượng protein tối thiểu có trong thức ăn nhằm thỏa mãn nhu cầu các amino acid để đạt tăng trưởng tối đa Các loài động vật thủy sản thường

có nhu cầu protein rất cao so với gia súc và gia cầm trên cạn, một trong những nguyên nhân đó là do các loài động vật thủy sản đa phần có tập tính ăn mồi là động vật sống trong tự nhiên Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein bao gồm: năng lượng trong thức ăn, chất lượng và loại thức ăn sử dụng, trạng thái sinh lý của động vật, môi trường nuôi dưỡng, lượng thức ăn hàng ngày của chúng

Mức protein tối ưu cho Tôm Hùm châu Mỹ đã được báo cáo ở nhiều mức rất khác nhau là: 60%, 53% và 30,5% [19]

Kết quả nghiên cứu của Boghen và Castell (1982) cho biết, tốc độ tăng

trưởng tốt nhất của con giống Homarus americanus ở mức 18% protein đối với

khẩu phần kết hợp casein và bột đuôi tôm, hoặc 23% khi casein là nguồn protein

[18] Tuy nhiên đối với loài Hormarus gammarus sẽ sinh trưởng bình thường với

khẩu phần chứa ít nhất 35% protein [28]

Trang 26

Qua một số nghiên cứu cho thấy, có thể dựa trên khẩu phần ăn của Tôm He (45% protein thô, trong đó protein tiêu hóa 35 – 40%, năng lượng 19,5 – 20 MJ/kg)

để làm cơ sở nghiên cứu công thức thức ăn cho Tôm Hùm [23]

*Nhu cầu Lipid

Lipid tổng số chứa trong một khẩu phần là tổng lượng phospholipid, sterol

và lipid trung tính

Một thành phần quan trọng nhất của lipid trong dinh dưỡng của động vật là triacylglycero (TAG) hay triglycerides và phospholipid (PL) Đối với các động vật thủy sinh sống trong môi trường nước mặn ngoài 2 thành phần trên sterol (hay steroid) đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng cho giáp xác

Nguồn lipid trong thức ăn cung cấp cho cá và giáp xác cung cấp các acid béo (FA), đặc biệt là các acid béo cần thiết (EFA) Các acid béo cần thiết (EFA), là những acid béo mà cơ thể không tự tổng hợp được phải lấy từ thức ăn; EFA rất cần cho trao đổi chất tế bào (để tổng hợp các prostaglandins và các thành phần tương tự), để duy trì cấu trúc màng tế bào Lipid cũng có vai trò như là dung môi để hòa tan và hấp thu một số vitamin tan trong chất béo (A, D, K, E ) và carotenoid (sắc tố) Lipid đóng vai trò là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể

Các động vật sống trong môi trường nước được đặc trưng bởi hàm lượng các acid béo không no bậc cao (PUFA) và HUPA Đặc biệt quan trọng trong dinh dưỡng của cá và giáp xác là các acid béo không no n-3 PUFA và n-3 HUFA

Các acid béo không no PUFA có khả năng tiêu hóa tốt, có thể tới 90 - 98% Các lipid được hình thành từ các acid béo no khả năng tiêu hóa được thấp hơn, và khả năng tiêu hóa sẽ giảm cùng với việc kéo dài mạch carbon; có thể từ 70% xuống 50% Cùng với việc giảm khả năng tiêu hóa thành phần lipid trong thức ăn, tốc độ sinh trưởng của cá hay giáp xác cũng giảm

Các sản phẩm tiêu hóa lipid sau khi được vận chuyển đến gan và được sinh tổng hợp lại bởi gan sẽ kết hợp với protein, cholesterol tự do để hình thành dạng lipoprotein Lipoprotein là thành phần chính của noãn hoàng vì vậy vào thời kỳ phát

Trang 27

dục, đặc biệt vào thời kỳ sinh sản lipoprotein được huy động để hình thành buồng trứng [3]

Khẩu phần 5% lipid được coi là quá thấp đối với H.americanus, trong khi

10% lipid thì tôm sẽ tăng trưởng nhanh hơn nhiều [18] Smith & cộng sự (2003) đã

sử dụng thức ăn viên của tôm He Nhật Bản Penaeus japonicus (chứa khoảng 12%

lipid) làm thức ăn cho Tôm Hùm Bông thì thấy tôm sinh trưởng rất tốt

* Phospholipid

Conklin & ctv (1980) đã chỉ ra rằng tỷ lệ sống của con giống H.americaus

được nâng cao đáng kể khi bổ sung 7,5% lecithin đậu lành trong khẩu phần ăn Thiếu lecithin trong khẩu phần thức ăn cho Tôm Hùm thì tỷ lệ chết của tôm cao vì tôm sẽ lột xác không hoàn toàn [27] Tuy nhiên, Tôm Hùm có thể tự tổng hợp phospholipid khi trong khẩu phần ăn của chúng có các acid béo thiết yếu và nguồn protein không tinh khiết [18] Teshima & ctv (1983) đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lecithin lên sự sinh trưởng của Tôm He Nhật Bản, kết quả cho thấy tốc

độ tăng trưởng và hiệu quả thức ăn sẽ giảm khi thức ăn được bổ xung dưới 3% lecithin [47] Hiệu quả của lecithin ảnh hưởng bởi nguồn protein trong thức ăn, khi nguồn protein cung cấp cho tôm tương ứng với protein của cơ thể tôm thì lecithin sẽ thể hiện rõ tác dụng thúc đẩy tăng trưởng của tôm [28]

* Sterol

Sterol trong khẩu phần ăn là nhu cầu thiết yếu đối với nhóm giáp xác vì nhóm này không tổng hợp được chất này Castell và ctv (1976) cho rằng nhu cầu

cholesterol trong khẩu phần ăn của con giống H.americanus là 0,5% [21] Nhưng

D’Abramo & ctv (1984) lại cho rằng với khẩu phần chứa 0,12% là thích hợp cho tôm sinh trưởng bình thường, tỷ lệ sống cao [29]

Bordner & ctv (1986) lại cho rằng 0,2% cholesterol trong khẩu phần ăn sẽ

nâng cao sinh trưởng đối với con giống Homarus sp [19]

Trang 28

Trong khi đó hàm lượng cholesterol tối ưu cho một số loài tôm He dao động trong khoảng 0,2 – 2,0% [36]

* Acid béo thiết yếu

Theo Zandee (1967) thì hai loài Homarus gammarus và Panulirus japonicus

không có khả năng tái tổng hợp linolenic acid, linoleic acid, eicosapentaenoic và docosahexanoic từ acetate Do vậy, những acid béo này là những chất cần thiết bổ sung vào khẩu phần ăn của Tôm Hùm

Castell và Covey (1976) cho rằng dầu gan cá Tuyết có mức acid béo không

no bão hòa đa (n – 3) và acid béo không no bão hòa cao phân tử cao hơn dầu ngũ cốc, kết quả là Tôm Hùm châu Mỹ được ăn thức ăn có bổ sung dầu gan cá Tuyết và tôm cũng sinh trưởng tốt hơn Ngoài ra ông cũng cho rằng bổ sung 5% dầu gan cá Tuyết vào khẩu phần cho ăn của tôm sẽ có lợi hơn 10% [21]

Tuy nhiên số lượng về nhu cầu acid béo thiết yếu chưa được trình bày Nhu cầu này đối với tôm He đã được nghiên cứu chi tiết và có thể được sử dụng để làm

cơ sở nghiên cứu nhu cầu acid béo thiết yếu cho tôm Hùm Theo D’Abramo & cộng

sự (1997), thức ăn chứa 6% lipid tổng số có nguồn gốc từ biển đã cung cấp số lượng acid béo thiết yếu tương xứng nhu cầu của Tôm Hùm [28]

* Khoáng

Nhu cầu chất khoáng đối với Tôm Hùm chưa được nghiên cứu xác định rõ ràng Còn đối với tôm He thì nhu cầu này trong khẩu phần ăn là: Cu: 40 mg/kg; Selen: 0,001 mg/kg; Zn: 20 mg/kg; Mg: 10 mg/kg [28] Có thể lấy đây là một trong những căn cứ nghiên cứu tiến hành cho Tôm Hùm

* Vitamin

Một lượng hỗn hợp vitamin chiếm 0,62% và vitamin C (Stay C) chiếm 0,1% chất khô sẽ đảm bảo lượng mất đi tối thiểu của vitamin này trong suốt quá trình sản

Trang 29

xuất thức ăn viên [36] Kết quả này có thể dùng làm dự đoán tốt để bổ sung vitamin cho khẩu phần ăn của Tôm Hùm

* Caroteniod

Nhiều loại carotenoid được tìm thấy trong bộ vỏ của Panulirus japonicus, bao gồm: β – carotene, echinenone, canthaxanthin, astaxanthin Astaxanthin là carotenoid đặc trưng và phổ biến nhất trong giáp xác Giáp xác không thể tổng hợp được carotenoid nên chúng cần được cung cấp vào trong thức ăn Carotenoid được Tôm Hùm hấp thụ một cách hiệu quả [29] Trong nuôi tôm He bằng việc cung cấp một khẩu phần gồm 30 – 70 ppm astaxanthin trong suốt quá trình nuôi thì màu sắc bình thường có thể được duy trì [40] Đối với Tôm Hùm chưa có dữ liệu về nhu cầu hàm lượng carotenoid thiết yếu

Acid amin tự do và một số các phân tử peptide có tác dụng như chất dẫn dụ Những chất này phổ biến trong bột cá, bột tôm, bột mực và bột các loại động vật thân mềm khác Chất dẫn dụ thiên nhiên này có thể bổ sung từ 1 – 5% lượng thức

ăn [2]

* Những nghiên cứu về thức ăn cho Tôm Hùm

Nguồn thức ăn tươi được sử dụng cho nuôi Tôm Hùm bao gồm những động vật không xương sống khác nhau hoặc kết hợp các loại động vật không xương sống này (Vẹm, Bào ngư, Ghẹ, Cua…) với thịt cá [45] Theo Jame và cộng sự (1997),

Trang 30

Vẹm là một loại thức ăn tốt cho Tôm Hùm trong điều kiện nuôi nhốt ở New Zealan [34] Theo D’Abramo (1997) thức ăn tự nhiên của Tôm Hùm giống các loài

H.americanus, P.homarus là Artemia salina, Cua (Cancer irroratus), Vẹm, Cầu gai,

cá và một số loài rong biển [28]

Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thức ăn tươi cho

Tôm Hùm Bông Panulirus ornatus Tuấn và cộng sự (2000), nghiên cứu về thức ăn

và khẩu phần ăn cho Tôm Hùm lồng Những loại thức ăn ưa thích của Tôm Hùm bao gồm: động vật có vỏ giáp, động vật thân mềm Trong số những loài cá tạp thì Tôm Hùm thích ăn các loài cá Mối, cá Liệt, cá Sơn Hệ số thức ăn là 28 – 29 Đối với tôm nhỏ cho ăn 3 – 4 lần/ngày, cho ăn nhiều vào ban đêm, cá được cắt thành nhiều miếng nhỏ, động vật thân mềm thì bỏ vỏ Đối với tôm có kích thước lớn (>400 g/con) thì cho ăn 2 lần/ngày, không cần cắt nhỏ cũng như loại bỏ vỏ động vật thân mềm Cho tôm ăn nhiều trước khi lột xác, trong vài tháng cuối của chu kỳ nuôi, khẩu phần giáp xác và động vật thân mệm được tăng lên trong khi cá tạp giảm xuống [48]

Nghiên cứu ảnh hưởng của các chủng loại thức ăn khác nhau (đơn hoặc kết hợp) đến tỷ lệ sống của Tôm Hùm giống cho thấy: đối với thức ăn đơn, sau 150 ngày ương nuôi, lô thí nghiệm cho ăn thịt giáp xác có tỷ lệ sống cao hơn (88,89%)

lô cho ăn thịt động vật thân mềm (78,89%) và lô cho ăn thịt cá (60,00%) Đối với thức ăn kết hợp cũng sau 150 ngày ương nuôi, lô thí nghiệm cho ăn giáp xác + thân mềm cho tỷ lệ sống cao nhất (96,66%) tiếp theo là lô cho ăn giáp xác + thân mềm +

cá (92,22%) và đến lô cho ăn giáp xác + cá ( 90,00%) [36]

Du & ctv (2004), nghiên cứu mô hình nuôi kết hợp Tôm Hùm và Vẹm Kết quả là Tôm Hùm cho ăn Vẹm sống có tỷ lệ sống cao hơn Tôm Hùm cho ăn các loại thức ăn tươi được đánh bắt [30]

Trang 31

Nghiên cứu về thức ăn tổng hợp cho Tôm Hùm Bông nói riêng và Tôm Hùm nói chung còn rất hạn chế Một số nghiên cứu gần đây chủ yếu là trên các loài

P.jponicus, P.cygnus, P ornatus, H.gammarus, Jasus edwardsii

Thức ăn tổng hợp chứa bột đậu nành được bổ sung chất dẫn dụ đã được sử dụng cho Tôm Hùm ăn trong điều kiện nuôi thả ở Bahamas và Caribe [20]

Matsumo và ctv (1973) nghiên cứu cho Tôm Hùm Nhật Bản P.japonicus ăn thức

ăn viên ẩm của cá Hồi, kết quả đạt được đã cho tôm sinh trưởng tốt sau hơn 8 tháng nuôi

Theo Jones (2001), Bertra và cộng sự (1988) công thức thức ăn viên cho tôm

He Nhật Bản P.japonicus có thể sử dụng để thử nghiệm cho Tôm Hùm Bông P.ornatus và Tôm Hùm châu Âu H.gammarus Khẩu phần này chứa khoảng 55%

protein thô, 12% lipid tổng số, 19,5 MJ/kg năng lượng thô Tuy nhiên, so sánh tốc

độ tăng trưởng của Tôm Hùm cho ăn bằng thức ăn này và thức ăn tươi không được công bố Trong dự án phát triển thức ăn viên cho Tôm Hùm của Viện nghiên cứu

biển CSIRO, các nghiên cứu viên đã thử nghiệm cho Tôm Hùm Bông P.ornatus ăn

thức ăn viên với các mức protein và lipid khác nhau Kết quả cho thấy Tôm Hùm cho ăn khẩu phần 50% protein cho tăng trưởng nhanh nhất, có sự khác nhau không đáng kể về tốc độ tăng trưởng của Tôm ở các mức lipid 6% và 10% Thí nghiệm khác so sánh tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm cho ăn khẩu phần tối ưu ở trên (50% protein : 10% lipid) và tôm cho ăn thức ăn viên của tôm He Nhật Bản (64% protein : 12,2% lipid ) Kết quả là lô cho ăn thức ăn của tôm He Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng (2,0%/ngày) và tỷ lệ sống 100% cao hơn lô cho ăn thức ăn tổng hợp tự chế biến (tốc độ tăng trưởng 1,0%/ngày và tỷ lệ sống 80%) [50]

Những nguyên liệu chính đã được dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp cho Tôm Hùm trong điều kiện nuôi trong bể gồm: bột tôm hoặc bột đầu tôm: 1 – 30%, bột cá tổng hợp: 8 – 12%, bột cá Thu: 4 – 19%, bột đậu nành: 3%, lecithin đậu nành: 1 – 10%, cám gạo: 6 – 20%, bột mì: 5% [28]

Trang 32

Ở Việt Nam nghiên cứu của Đinh Tấn Thiện (2004) đã cho Tôm Hùm Bông

P.ornatus giai đoạn giống ăn thức ăn tổng hợp của tôm Sú (thức ăn CP), kết quả là

sau 60 ngày nuôi tôm đã chết hoàn toàn [6]

Kích cỡ và hình dạng thức ăn tổng hợp cho tôm Hùm được sử dụng ở dạng viên cứng như là thức ăn trong nuôi tôm He, hoặc dạng viên ẩm [36] Tính chất vật

lý của thức ăn ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi và lượng thức ăn được sử dụng của Tôm Hùm chưa được nghiên cứu Brown & ctv (1995) đã sử dụng bánh đậu nành

đã được nén có kích thước 30 mm x 75 mm x 300 mm để làm thức ăn cho Tôm

Hùm nuôi ở Caribben Thức ăn viên được thiết kế cho tôm He Nhật bản P.japonicus

nhìn chung có kích thước là đường kính 3 mm, dài 6 mm còn chưa có thông tin nào công bố về hình dạng và kích cỡ viên thức ăn tối ưu cho Tôm Hùm [20]

1.3 Tình hình nuôi tôm Hùm

Nghiên cứu Tôm Hùm trên thế giới được bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, khi nghề khai thác Tôm Hùm phát triển mạnh, thời gian đầu hướng nghiên cứu tập trung vào mô tả các đặc điểm hình thái, phân loại và phân bố của một số loài phổ biến ở các vùng biển Ấn Độ Dương [11]

Từ những năm 60 của thế kỷ XIX do sự phát triển kinh tế, nhu cầu xã hội ngày càng tăng đã thúc đẩy các nhà sinh học chú trọng đến các nghiên cứu bảo vệ nguồn lợi và nuôi Tôm Hùm

Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu sản xuất giống Tôm Hùm Mỹ

(Homarus spp) và đã đáp ứng được nhu cầu nuôi thương phẩm loài Tôm Hùm này

Tùy nhiên, chúng còn chiếm tỷ lệ rất thấp về sản lượng so với khai thác ngoài tự nhiên Một trong những nguyên nhân chính là nhu cầu về dinh dưỡng, công nghệ chế biến thức ăn cho tôm Hùm, dịch bệnh và các quy trình nuôi thương phẩm còn chưa đáp ứng được Cho đến nay các vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu dần dần giải quyết [22]

Trang 33

Đối với các loài thuộc họ Tôm Hùm Gai (Palinuridae), khó khăn lớn nhất cho nghề nuôi thương phẩm trên thế giới là nguồn cung cấp giống còn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Một trong những nguyên nhân khó khăn trong sản xuất giống nhân tạo là thời gian phát triển của ấu trùng Tôm Hùm Gai rất dài, từ 306 đến

391 ngày [22]

Hiện nay các nhà khoa học Nhật Bản đã nghiên cứu ương nuôi thí nghiệm

thành công đến giai đoạn Puerulus các loài Jasus lalandii, J.edwardsii và Panulirus elphas; Panulirus japonicus cũng ương nuôi thành công tất cả các giai đoạn ấu

trùng tôm Ngoài ra, Illingworth & ctv (1997) tại Niu - di - lan cũng ương nuôi

thành công các giai đoạn ấu trùng loài J.edwardsii [22]

Các nghiên cứu về sản xuất giống Tôm Hùm trên thế giới đã thấy được triển vọng sản xuất giống Tôm Hùm Gai cung cấp cho nghề nuôi thương phẩm Nhưng

kết quả thu được tỷ lệ sống cao nhất đạt được ở loài J.ereauxi khi ương nuôi qua

giai đoạn ấu trùng là 10% [22]

Trang 34

Chương 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus), thu mua tại

các lồng nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa

* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2010 đến tháng 06/ 2010

* Địa điểm nghiên cứu: Viện nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III

2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ khối phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Các chỉ tiêu theo dõi:

- Điều kiện môi trường bể nuôi

- Sinh trưởng về chiều dài giáp đầu ngực, khối lượng

- Thay đổi tuyến sinh dục

Thí nghiệm Thức ăn

Thí nghiệm Ánh sáng

MỰC-80:

10% Ghẹ 10% Sò 80% Mực

TỐI:

Che sáng

SÁNG:

Không che sáng

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN

Trang 35

2.2.1 Nguồn Tôm Hùm thí nghiệm

Tôm Hùm thí nghiệm được mua ở các lồng nuôi của ngư dân Các chỉ tiêu lựa chọn dựa vào hình thái ngoài: tôm khỏe, cơ thể cân đối, màu sắc sáng và đầy đủ các phần phụ, không bị mòn đuôi, hay đen mang, bụng tôm trắng trong

Kích thước tôm thí nghiệm: 450 – 600 g/con

Tôm được nhốt trong bể để theo dõi trong khoảng 12 – 15 ngày trước khi đưa vào bố trí thí nghiệm

2.2.2 Nguồn nước thí nghiệm

Nước biển được bơm lên bể chứa, bể lắng, lọc qua hệ thống lọc thô có sử dụng lớp than hoạt tính, xử lý chlorine 25 – 30 ppm, sục khí 2 - 3 ngày, trung hòa bằng thiosulfat Nước được cấp vào bể thí nghiệm có lọc qua túi siêu lọc

Hình 2.2: Qui trình xử lý nước để nuôi thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí với hệ thống lọc sinh học tuần hoàn với mức trao đổi trong khoảng 250 – 300%/ngày Trong quá trình thí nghiệm nước chỉ được bổ sung

do lượng nước bị mất từ hao hụt tự nhiên và quá trình vệ sinh bể

Bể lọc sinh học: sử dụng san hô vụn 1 – 2 cm để làm giá thể, đặt trong bể composite có hệ thống sục khí và luân chuyển sinh học là: Sanolife PRO–W (của

INVE Co., ltd; thành phần gồm Bacillus subtilis và Bacillus licheniformis, mật độ

tối thiểu 5x1010 CFU/g); liều lượng sử dụng 5 ppm, định kỳ hàng tuần

Bể lắng

Trang 36

Hình 2.3: Hệ thống bể lọc sinh học

2.2.3 Trang thiết bị thí nghiệm

Kính hiển vi quang học có bố trí hệ thống chụp hình trên màn hình vi tính, kính lúp, nhiệt kế, khúc xạ kế, máy đo pH, Test-kit: nitrite, nitrat, ammoniac

Các dụng cụ cân đo: cân điện tử, thước kẹp, cân loại 2 kg Các loại xô, chậu

và các dụng cụ vệ sinh bể Hệ thống máy bơm và sục khí

Thí nghiệm được bố trí trong các bể Composite thể thích 1 m3 và bể ciment thể tích 8 m3

2.2.4 Chăm sóc, quản lý

Cho tôm ăn 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 17 giờ Siphon sau khi cho tôm ăn 4 giờ để loại bỏ toàn bộ thức ăn thừa và chất thải Cấp nước đã qua xử lý để bù vào lượng nước bị mất đi trong quá trình siphon

Tất cả các thao tác trong quản lý và chăm sóc tôm thí nghiệm cần phải đảm bảo vệ sinh, đúng kỹ thuật và độc lập lẫn nhau giữa các nghiệm thức thí nghiệm vì điều này sẽ có ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả của thí nghiệm

Trang 37

2.3 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của các công thức thức ăn lên sinh trưởng và phát dục của Tôm Hùm Bông

2.3.1 Các công thức thức ăn dùng trong thí nghiệm

Hiện nay ở Việt Nam, thức ăn sử dụng để nuôi thương phẩm Tôm Hùm Bông chủ yếu là thức ăn tươi sống: ghẹ, sò, mực, cá tạp… Do đó trong thí nghiệm thức ăn này, chúng tôi thử nghiệm phối trộn các loại thức ăn tươi sẵn có trên thị trường, đã được người nuôi sử dụng rộng rãi tạo thành các công thức thức ăn

Giữa các công thức thức ăn sẽ có sự đồng nhất về một số yếu tố sinh hóa, chúng tôi sẽ xem xét sâu hơn đến sự khác biệt do các yếu tố sinh hóa khác nhau giữa các nhóm mang lại

Trong thí nghiệm sử dụng các loại thức ăn tươi mua từ chợ, bao gồm các loại: sò, ghẹ và mực Thức ăn sau khi mua về được sơ chế: sò tách vỏ chỉ lấy nhân; ghẹ và mực được cắt thành từng miếng kích cỡ khoảng 3 – 4 cm; sau đó thức ăn được rửa sạch bằng nước ngọt, loại bỏ hết các mảnh vụn, để ráo nước, đóng gói, cho vào tủ đông để bảo quản Trước khi cho ăn, thức ăn được rã đông, cân phối trộn theo tỷ lệ của từng công thức thức ăn rồi mới cho tôm ăn (hình 2.4)

.Hình 2.4: Chuẩn bị thức ăn cho Tôm Hùm nuôi thí nghiệm

Trang 38

Phân tích thành phần sinh hóa của các công thức thức ăn thí nghiệm: Mẫu thức ăn được gởi phân tích tại Viện Công Nghệ Sinh học - Đại Học Nha Trang bao gồm các chỉ tiêu: protien, lipid và acid béo không no

Trong đó, acid béo không no đặc biệt quan tâm phân tích thành phần 5 acid béo không no có ảnh hưởng nhiều nhất đến sinh trưởng và phát dục của giáp xác là : Acid Linoleic C18H32O2 (18:2n-6), acid Linolenic C18H30O2 (18:3n-3), Arachidonic

C20H32O2 (20:4n-6), acid Eicosapentaenoic C20H30O2 (20:5n-3) và acid Docosahexaenoic C22H32O2 (22:6n-3)

Các mẫu thức ăn ghẹ, sò, mực được gởi riêng biệt đi phân tích thành phần sinh hóa Sau đó, tùy theo tỷ lệ phối trộn của từng công thức thức ăn để tính ra được thành phần sinh hóa của từng nhóm

2.3.2 Bố trí thí nghiệm

Hình 2.5: Hệ thống bể composite nuôi Tôm Hùm ở thí nghiệm thức ăn

Hình 2.6: Sơ đồ bố trí các bể nuôi tôm ở thí nghiệm thức ăn

Ghẹ: 80%

Sò: 10%

Mực: 10%

Bể 3 SÒ-80:

Ghẹ: 10%

Sò: 80%

Mực: 10%

Bể 4 SÒ-80:

Ghẹ: 10%

Sò: 80%

Mực: 10%

Bể 5 MỰC-80:

Ghẹ: 10%

Sò: 10%

Mực: 80%

Bể 6 MỰC-80:

Ghẹ: 10% Sò: 10% Mực: 80%

Trang 39

Thí nghiệm được bố trí thực hiện trên 6 bể nuôi: 1m3/bể Thí nghiệm có 3 nhóm thức ăn, mỗi công thức thức ăn sử dụng để nuôi tôm trong 2 bể, với số lượng tôm: 3 con/bể (tỷ lệ đực/cái : ½) Tôm trước khi đưa vào thí nghiệm được đánh số thứ tự để thuận tiện theo dõi, cân đo Như vậy, ở thí nghiệm này mỗi nghiệm thức được lặp lại 6 lần, tính trên từng cá thể

Tôm Hùm nuôi ở các công thức thức ăn đều được cho ăn hàng ngày theo khẩu phần: 4 - 10% trọng lượng thân Tuy nhiên, thực tế khi cho tôm ăn thì khẩu phần thức ăn thay đổi tùy theo khả năng bắt mồi của tôm, lượng thức ăn dư thừa được vớt ra, cân lại để tính được lượng thức ăn thực tế tôm sử dụng

Trước khi tiến hành thí nghiệm: chọn 1 con tôm đực và 1 con tôm cái trong cùng đàn tôm mua về thí nghiệm để mổ, quan sát tuyến sinh dục

Sau khi kết thúc thí nghiệm: tiến hành mổ ngẫu nhiên 1 con Tôm Hùm đực

và 1 con Tôm Hùm cái để quan sát tuyến sinh dục

2.4 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của ánh sáng lên sinh trưởng và phát dục của Tôm Hùm Bông

2.4.1 Các chế độ ánh sáng trong thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện với 2 chế độ ánh sáng là TỐI, ở đây bể được che kín bằng bạt nylon đen cả ngày, chỉ mở vào buổi tối (không thắp điện); và SÁNG,

bể không che bạt, để theo ánh sáng tự nhiên

Với điều kiện thí nghiệm như trên, hai nghiệm thức chỉ khác nhau về cường

độ ánh sáng vào ban ngày, còn về ban đêm thì cả 2 nghiệm thức đều như nhau

2.4.2 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hai nghiệm thức ứng với 2 chế độ ánh sáng, mỗi nghiệm thức lặp lại 6 lần trên cá thể Mỗi bể thả nuôi 6 con Tôm Hùm, được đánh số trước khi đưa vào thí nghiệm

Trang 40

Hình 2.7: Hệ thống bể ciment nuôi Tôm Hùm ở thí nghiệm ánh sáng Thí nghiệm được thực hiện trên 2 bể ciment có mái che, được lắp chung vào một hệ thống lọc sinh học Trong bể có các tấm lưới căng không chạm đáy bể, để tôm không bò trên mặt đáy trực tiếp Mỗi bể được chia thành 3 lô ngăn cách nhau bởi các tấm lưới, diện tích mỗi lô là 2,66 m2

Sử dụng các loại thức ăn tươi: ghẹ, sò, mực, cá để cho tôm ăn Khẩu phần thức ăn hàng ngày: 4 - 10% trọng lượng thân

Trước khi tiến hành thí nghiệm: chọn 1 con Tôm Hùm đực và 1 con Tôm Hùm cái trong cùng đàn tôm mua về thí nghiệm để mổ, quan sát tuyến sinh dục

Sau khi kết thúc thí nghiệm: tiến hành mổ ngẫu nhiên 1 con Tôm Hùm đực

và 1 con Tôm Hùm cái để quan sát tuyến sinh dục

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu mẫu nước mỗi ngày 2 lần lúc 6 giờ và 14 giờ, đo các yếu tố:

+ Nhiệt độ đo bằng nhiệt kế bách phân, độ chính xác 10C

+ pH nước đo bằng máy đo pH hiệu PINPOINT, độ chính xác 0,01

Ngày đăng: 16/08/2014, 03:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Thanh Hùng (2000) Dinh dưỡng và thức ăn thủy sản. Bài giảng tóm tắt. Đại học Nông Lâm Tp HCM. Trang 63 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và thức ăn thủy sản
3. Lại Văn Hùng (2006), Bài giảng Dinh dưỡng và thức ăn trong Nuôi trồng thủy sản. Đại học Nha Trang. 60 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Dinh dưỡng và thức ăn trong Nuôi trồng thủy sản
Tác giả: Lại Văn Hùng
Năm: 2006
4. Võ Văn Nha (2007) Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi Tôm Hùm. Báo cáo tổng kết Kh & KT. 153 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi Tôm Hùm
Tác giả: Võ Văn Nha
Nhà XB: Báo cáo tổng kết Kh & KT
Năm: 2007
5. Vũ Trung Tạng & Nguyễn Đình Mão (2006) Khai thác và sử dụng bền vững đa dạng sinh học thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản Việt Nam. NXB Nông Nghiệp TP Hồ Chí Minh. 146 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác và sử dụng bền vững đa dạng sinh học thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản Việt Nam
Tác giả: Vũ Trung Tạng, Nguyễn Đình Mão
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2006
6. Đinh Tấn Thiện (2004) Kỹ thuật ương nuôi tôm Hùm giống ở vùng biển Sông Cầu, Phú Yên. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ (1984 – 2004), Việ n NCNTTS 3. NXB Nông nghiệp – TpHCM. Trang 59 – 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật ương nuôi tôm Hùm giống ở vùng biển Sông Cầu, Phú Yên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp – TpHCM. Trang 59 – 72
7. Nguyễn Thị Bích Thúy (1993) Một số đặc điểm sinh học sinh sản Tôm Hùm Sỏi ( P.stimpsoni – Holthuis, 1963) ở vùng biển Quảng Trị, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ (1984 – 2004), NXB Nông nghiệp, 2004, 51 – 58. 653 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học sinh sản Tôm Hùm Sỏi ( P.stimpsoni – Holthuis, 1963) ở vùng biển Quảng Trị
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
8. Nguyễn Thị Bích Thúy (1994) Một số đặc điểm sinh học của Tôm Hùm trong thời kỳ thành thục sinh dục. Báo cáo khoa học. 23 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học của Tôm Hùm trong thời kỳ thành thục sinh dục
9. Nguyễn Thị Bích Thúy (1995). Một số đặc điểm sinh học sinh sản của Tôm Hùm Bông (Panulius ornatus Fabricius 1798) ở vùng biển Miền Trung.Luận án cao học ngành nuôi trồng thủy sản. Trường đại học Thủy Sản, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học sinh sản của Tôm Hùm Bông (Panulius ornatus Fabricius 1798) ở vùng biển Miền Trung
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thúy
Nhà XB: Trường đại học Thủy Sản
Năm: 1995
10. Nguyễn thị Bích Thúy (1998) Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi Tôm Hùm ở vùng biển miền Trung Việt Nam, Luận án tiến sĩ sinh học. 196 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi Tôm Hùm ở vùng biển miền Trung Việt Nam
11. Nguyễn Thị Bích Thúy (2004) Một số dẫn liệu về ảnh hưởng của các điều kiện môi trường lên sự sinh trưởng của tôm con (juvenile) Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus) ở vùng biển miền Trung, Việt Nam. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ (1984 – 2004), Viện NCNTTS 3. NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh. Trang 73 – 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dẫn liệu về ảnh hưởng của các điều kiện môi trường lên sự sinh trưởng của tôm con (juvenile) Tôm Hùm Bông (Panulirus ornatus) ở vùng biển miền Trung, Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thúy
Nhà XB: NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2004
12. Viện Hải Dương Học Nha Trang (2002) Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản vùng ven bờ Cù Mông – Xuân Đài ( Phú Yên) Giai đoạn 2001 – 2010, Sở Thủy sản, UBND tỉnh Phú Yên. 75 trang.* TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản vùng ven bờ Cù Mông – Xuân Đài ( Phú Yên) Giai đoạn 2001 – 2010
13. Aiken & Waddy (1980) Reproductive Biology. In the Biology and management of lobsters. Vol. 1: Physiology and behavior ( Ed. by J.S.Cobb and B. F. Phillips) Academic Press, New York. 215p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproductive Biology
Tác giả: Aiken, Waddy
Nhà XB: Academic Press
Năm: 1980
14. Barbara Somers (2007) A Mysterious Disease Afflicts Lobster Shells, The New England Lobster Research Initiative is managed by the national Marine Fisheries Service, the University of Rhode Island, and Rhode Island Sea Grant. Posted: October 18, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Mysterious Disease Afflicts Lobster Shells

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.3: Hệ thống bể lọc sinh học - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 2.3 Hệ thống bể lọc sinh học (Trang 36)
Hình 2.5: Hệ thống bể composite nuôi Tôm Hùm ở thí nghiệm thức ăn - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 2.5 Hệ thống bể composite nuôi Tôm Hùm ở thí nghiệm thức ăn (Trang 38)
Hình 2.7: Hệ thống bể ciment nuôi Tôm Hùm ở thí nghiệm ánh sáng - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 2.7 Hệ thống bể ciment nuôi Tôm Hùm ở thí nghiệm ánh sáng (Trang 40)
Hình 3.2: Sinh trưởng khối lượng của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.2 Sinh trưởng khối lượng của Tôm Hùm Bông ở các công thức thức ăn (Trang 53)
Hình 3.3: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực                                                                  (trước khi thí nghiệm về thức ăn) - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.3 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực (trước khi thí nghiệm về thức ăn) (Trang 55)
Hình 3.5: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở công thức thức ăn SÒ-80, GHẸ-80 - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.5 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở công thức thức ăn SÒ-80, GHẸ-80 (Trang 56)
Hình 3.4: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở công thức thức ăn MỰC-80 - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.4 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở công thức thức ăn MỰC-80 (Trang 56)
Hình 3.6: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái                                                                  (trước khi thí nghiệm về thức ăn) - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.6 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái (trước khi thí nghiệm về thức ăn) (Trang 57)
Hình 3.8: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở công thức thức ăn SÒ-80, GHẸ-80 - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.8 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở công thức thức ăn SÒ-80, GHẸ-80 (Trang 58)
Hình 3.11: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực                                                                (trước khi thí nghiệm về ánh sáng) - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.11 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực (trước khi thí nghiệm về ánh sáng) (Trang 64)
Hình 3.12: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái                                                                (trước khi thí nghiệm về ánh sáng) - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.12 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái (trước khi thí nghiệm về ánh sáng) (Trang 65)
Hình 3.13: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở nghiệm thức TỐI - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.13 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở nghiệm thức TỐI (Trang 65)
Hình 3.15: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở nghiệm thức TỐI - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.15 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở nghiệm thức TỐI (Trang 66)
Hình 3.14: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở nghiệm thức SÁNG - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.14 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm đực ở nghiệm thức SÁNG (Trang 66)
Hình 3.16: Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở nghiệm thức SÁNG - ẢNH HƯỞNG của các LOẠI THỨC ăn, điều KIỆN  CHIẾU SÁNG KHÁC NHAU lên SINH TRƯỞNG, PHÁT dục  của tôm hùm BÔNG(Panulirus ornatusfabricius, 1798)  NUÔI TRONG bể
Hình 3.16 Tuyến sinh dục của Tôm Hùm cái ở nghiệm thức SÁNG (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w