Ý nghĩa của đề tàiThành công của đề tài sẽ góp phần cho các nghiên cứu về quy hoạch vùng nuôi,định hướng chiến lược phát triển nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ninh.. Mặc dù tôm chân trắng
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Mã số: 60.62.70
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Anh Tuấn
Nha Trang, 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫnkhoa học của thầy giáo TS Ngô Anh Tuấn Các số liệu và kết quả nghiên cứu trongluận văn này là trung thực và chưa được công bố hay bảo vệ trong một học vị nào
Tác giả luận văn
Ngô Văn Đạt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tới ban Giám hiệu trường Đại học Nha Trang,
Phòng Đào tạo Đại học và sau Đại học, Khoa Nuôi trồng Thuỷ sản cùng quý các thầy
cô trong và ngoài Trường đã giảng dạy và tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên
cứu trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cám ơn Chương trình hỗ trợ phát triển ngành Thủy sản giaiđoạn II (FSPSII), Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản tỉnh Quảng Ninh,
Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện tốt nhất
trong quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sĩ nuôi trồng thủy sản!
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Ngô Anh Tuấn, người
đã định hướng và tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Lời cảm ơn xin được gửi tới các Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê Thành phố
Móng Cái và Ủy Ban nhân dân các xã, phường: Vạn Ninh, Trà Cổ, Hải Hoà, Hải
Xuân, Ninh Dương, Bình Ngọc, Hải Yên, Hải Tiến, Hải Đông, Quảng Nghĩa đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập Xin được gửi lời cảm ơn tới các hộgia đình đã sắp xếp thời gian và cung cấp thông tin trong luận văn này!
Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình cùng các bạn đồng nghiệp đã đóng góp
những ý kiến chia sẻ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua
Nha Trang, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn
Ngô Văn Đạt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT vii
MỞ ĐẦU 1
Cơ sở khoa học và thực tiễn 1
Ý nghĩa của đề tài 2
Mục tiêu nghiên cứu 2
Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới 3
2.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam 8
2.3 Tình hình nuôi tôm chân trắng và một số vấn đề kinh tế xã hội Quảng Ninh 12
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 18
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.2 Thời gian và đối tượng nghiên cứu 18
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp 19
2.2.1.2 Thu số liệu sơ cấp 19
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 19
2.2.2.1 Xử lý số liệu 19
2.2.2.2 Phân tích số liệu 19
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU 22
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 22
3.1.1.1 Vị trí địa lý 22
3.1.1.2 Khí hậu 22
Trang 63.1.1.3 Địa hình và đất đai 22
3.1.1.4 Hệ thống sông ngòi 23
3.1.1.5 Đặc điểm thuỷ triều 23
3.1.1.6 Các tài nguyên thiên nhiên 24
3.1.2 Kinh tế - xã hội 27
3.1.2.1 Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Móng Cái 27
3.1.2.2 Dân số và lực lượng lao động 27
3.1.2.3 Cơ cấu kinh tế 28
3.1.2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng 31
3.2 HIỆN TRẠNG NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG TẠI MÓNG CÁI 32
3.2.1 Tình hình chung 32
3.2.1.1 Diện tích 32
3.2.1.2 Sản lượng 33
3.2.1.3 Năng suất 34
3.2.1.4 Khả năng cung ứng con giống 36
3.2.1.5 Dịch bệnh 37
3.2.1.6 Cơ cấu mùa vụ nuôi 37
3.2.2 Hiện trạng nuôi tôm chân trắng ở cấp hộ 39
3.2.2.1 Hệ thống ao nuôi 39
3.2.2.2 Hệ thống cấp thoát nước 40
3.2.2.3 Phương thức nuôi 41
3.2.2.4 Cải tạo ao 41
3.2.2.5 Vôi và việc sử dụng vôi trong nuôi tôm 41
3.2.2.6 Nguồn giống, cỡ giống thả và, mật độ nuôi 42
3.2.2.7 Thức ăn 43
3.2.2.8 Thuốc, hoá chất sử dụng 43
3.2.2.9 Quản lý chăm sóc ao nuôi 44
3.2.2.10 Các bệnh thường gặp 44
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NGHỀ NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG QUY MÔ NHỎ TẠI MÓNG CÁI - QUẢNG NINH 45
3.3.1 Thông tin chung về chủ hộ 45
3.3.1.1 Số nhân khẩu, năm kinh nghiệm 45
Trang 73.3.1.2 Thông tin về độ tuổi 45
3.3.1.3 Thông tin về giới tính 46
3.3.1.4 Trình độ văn hoá, học vấn và chuyên môn của hộ nuôi 46
3.3.1.5 Đất đai của hộ nuôi 47
3.3.2 Những khó khăn thường gặp, kiến nghị và hướng phát triển của hộ nuôi 48 3.3.2.1 Những khó khăn thường gặp của các hộ nuôi tôm chân trắng 48
3.3.2.2 Kiến nghị của hộ nuôi 50
3.3.2.3 Hướng phát triển của hộ nuôi 51
3.3.3 Kết quả kinh tế trong nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại Móng Cái 51
3.3.3.1 Các khoản chi phí trong nuôi tôm 51
3.3.3.2 Doanh thu từ hoạt động nuôi tôm chân trắng 54
3.3.3.3 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 55
3.3.4 Hiệu quả xã hội 55
3.3.4.1 Đánh giá về lao động 55
3.3.4.2 Đánh giá về môi trường 56
3.3.4.3 Một số vấn đề khác 57
3.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG BỀN VỮNG TẠI MÓNG CÁI 57
3.4.1 Giải pháp về chất lượng con giống 57
3.4.2 Mật độ nuôi 58
3.4.3 Ao chứa, xử lý nước 58
3.4.4 Vấn đề vốn 58
3.4.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 59
3.4.6 Công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền 59
3.4.7 Quy hoạch vùng nuôi 59
3.4.8 Kiểm soát, hạn chế dịch bệnh nâng cao chất lượng sản phẩm nuôi 60
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 61
4.1 Kết luận 61
4.2 Đề xuất ý kiến 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1: Phân bổ phiếu điều tra theo xã/phường 19
Bảng 3 1: Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Móng Cái 27
Bảng 3 2: Dân số và số hộ dân của TP Móng Cái 27
Bảng 3 3: Diện tích tôm chân trắng bị thiệt hại do dịch bệnh từ 2003 đến 2009 37
Bảng 3 4: Kết quả nuôi tôm chân trắng vụ Xuân Hè ở Móng Cái 2003 – 2009 38
Bảng 3 5: Kết quả nuôi tôm chân trắng vụ Thu Đông ở Móng Cái 2003 – 2009 38
Bảng 3 6: Trình độ văn hoá và học vấn của các chủ hộ nuôi tôm 47
Bảng 3 7: Những khó khăn gặp phải trong nuôi tôm chân trắng hiện nay 48
Bảng 3 8: Kiến nghị của hộ nuôi tôm chân trắng tại Móng Cái 50
Bảng 3 9: Hướng phát triển của các hộ nuôi tôm chân trắng 51
Bảng 3 10: Chi phí trung bình của một hộ nuôi tôm chân trắng 52
Bảng 3 11: Doanh thu từ hoạt động nuôi tôm chân trắng 54
Bảng 3 12: Lợi nhuận trong nuôi tôm chân trắng tại Móng Cái 55
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1 1: Diễn biến sản lượng tôm chân trắng nuôi trên thế giới 2001 – 2007 4
Biểu đồ 1 2: Diễn biến giá trị tôm chân trắng thế giới 2001 - 2007 4
Biểu đồ 1 3: Diễn biến diện tích nuôi tôm chân trắng cả nước 2003 - 2009 9
Biểu đồ 1 4: Diện tích nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh từ 2005 – 2009 13
Biểu đồ 1 5: Sản lượng tôm nuôi tại tỉnh Quảng Ninh từ 2005 – 2009 13
Biểu đồ 3 1: Diện tích tôm chân trắng nuôi ở Móng Cái từ 2003 - 2009 32
Biểu đồ 3 2: Diện tích nuôi tôm chân trắng năm 2009 theo các xã, phường 33
Biểu đồ 3 3: Sản lượng tôm nuôi ở Móng Cái từ 2003 - 2009 34
Biểu đồ 3 4: Năng suất tôm chân trắng vụ Xuân hè và Thu đông tại Móng Cái 34
Biểu đồ 3 5: Năng suất tôm bình quân từ 2003 - 2009 35
Biểu đồ 3 6: Số lượng giống tôm chân trắng thả nuôi tại Móng Cái từ 2003 - 2009 36
Biểu đồ 3 7: Sản lượng tôm chân trắng vụ Xuân hè và Thu đông từ 2003 - 2009 38
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp của Liên hiệp QuốcThu nhập quốc nội bình quân
Bệnh Parvovirus gan tuỵ tôm heHiệu quả
Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu ở tôm heKinh tế xã hội
Giá trị lớn nhấtGiá trị nhỏ nhấtNông nghiệp và Phát triển Nông thônNăng suất bình quân
Nuôi trồng thuỷ sảnPost Larvae
Sản lượngTrung bìnhThâm canhThành phốTriệu đồngTài sản cố địnhHội chứng bệnh virus taura trên tôm chân trắng
Đô la MỹHội chứng bệnh đốm trắng
Tổ chức thương mại thế giớiBệnh đầu vàng
Trang 10MỞ ĐẦU
Cơ sở khoa học và thực tiễn
Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931 hoặc Litopenaeus vannamei)
có nguồn gốc từ Nam Mỹ, không phân bố tự nhiên ở vùng biển các nước châu Á So
với tôm sú (Penaeus monodon), tôm chân trắng có nhiều ưu việt: tốc độ sinh trưởng
nhanh [63], có thể nuôi mật độ cao do có đặc tính phân bố đều trong cột nước; Tômchân trắng có tỷ lệ sống và sinh trưởng tốt hơn nhiều lần so với tôm sú ngay cả trongđiều kiện độ mặn biến động lớn; có khả năng chịu được nhiệt độ thấp (<15oC) [82],đặc biệt tôm chân trắng cũng đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein thấp hơn tôm súnên ngày càng được phát triển nuôi rộng [77]
Là đối tượng tôm nuôi được nhập nội vào Việt Nam năm 2001 [58] nhưng tômchân trắng hiện đang được nuôi rộng rãi tại các tỉnh ven biển nước ta Trong giai đoạn
từ năm 2007 đến 2009, diện tích nuôi tôm chân trắng đặc biệt phát triển nhanh trênphạm vi cả nước, từ 4.002 ha tăng lên 16.611 ha Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây,nghề nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn do ônhiễm môi trường, dịch bệnh và con giống kém chất lượng [21]
Quảng Ninh là tỉnh có nghề nuôi tôm chân trắng phát triển khá sớm, với hìnhthức nuôi chủ yếu là bán thâm canh và thâm canh năng suất cao Theo thống kê củaCục nuôi trồng Thuỷ sản, tính đến năm 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng của QuảngNinh là 4.050 ha, chiếm 24,4% diện tích nuôi tôm chân trắng cả nước và đồng thời làtỉnh có diện tích nuôi tôm chân trắng lớn nhất cả nước Tuy nhiên, việc mở rộng diệntích nuôi tương đối nhanh, trong khi trình độ kỹ thuật, khả năng đáp ứng con giống, cơ
sở hạ tầng và đặc biệt là vấn đề quy hoạch vùng nuôi, quản lý môi trường và dịch bệnhcòn nhiều bất cập, nghề nuôi tôm chân trắng đang bộc lộ tính thiếu bền vững [20]
Với câu hỏi nghiên cứu đặt ra là Hiện trạng nghề nuôi tôm chân trắng quy mô
nhỏ tại Quảng Ninh đem lại hiệu quả kinh tế- xã hội như thế nào? Và nhằm có một cái
nhìn tổng quát, đánh giá đúng mức về hiện trạng và vai trò của nuôi tôm chân trắng
quy mô nhỏ, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: Điều tra hiện trạng kỹ thuật và
đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nghề nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại Móng Cái - Quảng Ninh
Trang 11Ý nghĩa của đề tài
Thành công của đề tài sẽ góp phần cho các nghiên cứu về quy hoạch vùng nuôi,định hướng chiến lược phát triển nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ninh
Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển các mô hình nuôi tôm chân trắng quy
mô nhỏ tại Móng Cái - Quảng Ninh
Nội dung nghiên cứu
Điều tra hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại Móng Cái
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới
Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931 hoặc Litopenaeus vannamei)
phân bố tự nhiên ở vùng tây Thái Bình Dương của châu Mỹ La tinh từ phía nam Peru đếnphía bắc Mexico nơi có nhiệt độ trung bình 200C Chúng có tên thường dùng trong các tàiliệu nước ngoài là: pacific white shrimp, West Coast white shrimp, Camaron blanc,
langostino; Tổ chức FAO thường dùng trong tài liệu của mình là: Whiteleg shrimp,
Crevette pattes blanches, Camaron patiblanco Trong tài liệu của Việt Nam viết bằng tiếnganh là Whiteleg shrimp [55] Từ những thập niên 70 - 80 thế kỷ XX tôm chân trắng đượcnuôi ở Hawaii, phía nam Caroline, Texas và ở phía nam Brazil [29], sau đó được nuôi mởrộng sang các quốc gia khác, đặc biệt phát triển mạnh ở các nước châu Á Các nước nuôinhiều tôm chân trắng hiện nay là Thái Lan, Trung Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Philippin,Êcuađo, Mêhicô, Panama, Hundurat, Braxin, Mỹ, Columbia [97,75,80]
Do có khả năng kháng bệnh cao nên loài tôm này đã được phát triển nuôi mạnh
ở châu Mỹ từ cuối thập kỷ 80, nhưng đến năm 1989 dịch bệnh IHHNV bùng phát trêntôm chân trắng ở các nước Nam Mỹ, gây thiệt hại lớn cho các quốc gia này [82,83] Tớinhững năm 90 tôm chân trắng đã chiếm ưu thế với trên 70% tổng sản lượng tôm nuôi tạicác quốc gia châu Mỹ Cũng trong thập kỷ 90 ngành nuôi tôm chân trắng ở châu Mỹphải trải qua hai đợt dịch bệnh đó là dịch Taura và đại dịch đốm trắng, trong đó hội
chứng Taura đã gây thiệt hại cho ngành nuôi tôm chân trắng ở châu Mỹ Latinh trongthập niên 1999 khoảng 1 - 1,3 tỷ USD [70]; Ecuador thiệt hại khoảng 30% sản lượngtôm chân trắng nuôi năm 1992 [73] Tới năm 2002, tình hình nuôi tôm chân trắng ởchâu Mỹ dần ổn định trở lại và đã đem lại sản lượng đạt 213.000 tấn [70]
Ở châu Á, tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) được đưa vào nuôi trên cơ sở thử nghiệm vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước [23], đến năm 1996 L.vannamei
được nhập vào Châu Á để nuôi thương phẩm, bắt đầu là tại Trung Quốc đại lục, ĐàiLoan và sau đó được mở rộng tới các quốc gia khác [25] Tổng sản lượng tôm chân
trắng năm 2002 của châu Á đạt xấp xỉ 316.000 tấn Năm 2003, chỉ tính riêng quốc giaTrung Quốc sản lượng tôm chân trắng là 605.259 tấn [4, 64] Đến năm 2004 tôm chântrắng đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở những quốc gia châu Á và đã đưa tổng sảnlượng tôm chân trắng thế giới tăng lên nhanh chóng, đạt 1.297.935 tấn Đến năm 2006đạt trên 2.090.935 tấn [87] Sản lượng tôm chân trắng của Thái Lan là 500.000 tấn
Trang 13(2006) và 700.000 tấn (2007) Theo FAO năm 2007, 85% sản lượng tôm chân trắng
nuôi thế giới tập trung ở các nước Đông Nam Á [4]
Qua các năm phát triển nuôi sản lượng tôm chân trắng trên thế giới không ngừngtăng, đến nay đã trở thành đối tượng nuôi phổ biến đưa tổng sản lượng tôm chân trắng
tăng từ 267.953 tấn năm 2001 lên 2.296.630 tấn vào năm 2007 (chiếm 80% sản lượng
tôm nuôi) đứng đầu sản lượng tôm nuôi thế giới [68]
Nguồn: Fao 2007 Fishery and Aquaculture Statistics)
Biểu đồ 1 1: Diễn biến sản lượng tôm chân trắng nuôi trên thế giới 2001 – 2007
Thống kê của tổ chức FAO [68] qua các năm cho thấy giá trị tôm chân trắng nuôitrên thế giới có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với thời gian Năm 1999 đạt 954.308 USD, tớinăm 2001 đạt 1.451.039 USD và đạt giá trị 8.815.854 USD vào năm 2007 với tốc độ
tăng trưởng bình quân15%/năm So sánh giá trị thu được giữa các đối tượng thuỷ hải
sản nuôi thì tôm chân trắng tạo ra giá trị cao nhất [65]
Giá trị (USD) 10000000
(Nguồn: Fao 2007, Fishery and Aquaculture Statistics)
Biểu đồ 1 2: Diễn biến giá trị tôm chân trắng thế giới 2001 - 2007
Trang 14Mặc dù tôm chân trắng không phải là loài tôm bản địa ở các nước trong khu vựcchâu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, …song các quốc gia này cũng đã có rấtnhiều tiến bộ trong lĩnh vực phát triển công nghệ, kỹ thuật nuôi và đạt được nhữngthành tựu đáng kể như thu được sản lượng, năng suất cao, ổn định và đang hướng tớisản xuất các sản phẩm an toàn, thân thiện với môi trường hơn:
Tại Indonesia Tôm chân trắng đã được nuôi lần đầu tiên từ năm 1999, nhưng chotới năm 2001 Indonesia mới chính thức cho phép nhập khẩu nuôi, trong thời gian nàytôm chân trắng cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về bệnh dịch, môi trường và thịtrường Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển nuôi tôm chân trắng, songsản lượng từ nuôi tôm chân trắng của Indonesia vẫn không ngừng tăng lên qua cácnăm Năm 1999 đạt 48.222 tấn, 50.274 tấn (2000 ); 57.700 tấn (2001) và đạt 56.370tấn vào năm 2003 [78] Năm 2004 tôm chân trắng ở Indonesia đạt 87.337 tấn chiếmdưới 15% tổng sản lượng tôm nuôi của Indonesia cho đến năm 2008 sản lượng tômchân trắng của Indonesia đạt khoảng 300.000 tấn và nước này đặt mục tiêu sẽ đạt mứcsản lượng tương đương với Thái Lan trong tương lai không xa [90]
Thái Lan cũng là quốc gia nuôi tôm chân trắng khá sớm trong khu vực Từ năm
1999 tôm chân trắng được đưa vào nuôi và đến năm 2002 Thái lan đã chính thức banhành quy định về nhập khẩu tôm chân trắng Sản lượng tôm chân trắng từ nuôi trồngtăng rất nhanh từ năm 2002 với khoảng 30.000 tấn đã tăng lên 170.000 tấn năm 2003
và 300.000 tấn năm 2004, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng tôm biển nuôi [78] Tớinăm 2006, sản lượng tôm chân trắng của Thái Lan chiếm 98% tổng sản lượng tômnuôi của cả nước [94] Sau nhiều năm nuôi tôm chân trắng trên cơ sở thử nghiệm, TháiLan hiện nay đã kiểm soát được quy trình kỹ thuật nuôi tôm chân trắng họ đã nuôithành công tôm chân trắng cỡ lớn, chất lượng ổn định Tôm chân trắng cũng có ưu thếvượt trội về năng suất, đạt 25 - 30 tấn/ha/vụ [93]
Năm 1996 tôm chân trắng chính thức được nhập vào nuôi ở quy mô thương mạitại Trung Quốc và Đài Loan [23] và cho đến năm 2000, tôm chân trắng nhanh chóngtrở thành một đối tượng nuôi phổ biến ở cả 2 loại hình mặt nước: ngọt và lợ, bắt đầumột thời kỳ mới cho nghề nuôi tôm chân trắng ở quốc gia này với sự mở rộng và pháttriển nhanh chóng của diện tích và sản lượng Công nghệ và hình thức nuôi tôm chântrắng của Trung Quốc cũng có những thay đổi đáng kể theo các giai đoạn tương ứngtrải qua giai đoạn bị ảnh hưởng của bệnh dịch công nghệ nuôi đã được cải tiến và thay
Trang 15đổi để quản lý môi trường ao nuôi tốt hơn, nhằm hạn chế dịch bệnh Ngoài ra các quốcgia khác cũng đang phát triển nuôi tôm chân trắng như Malaysia, Ấn độ, Philippin, Tuy nhiên, các quốc gia châu Á này vẫn luôn cảnh giác với các vấn đề về môi trường,dịch bệnh, con giống, thức ăn,…và thực tế nhiều nước đã và đang phải đối phó, giảiquyết những vấn đề đó nhằm xây dựng và phát triển lĩnh vực sản xuất, nuôi tôm chântrắng bền vững.
Cùng với nghề nuôi tôm chân trắng phát triển một cách nhanh chóng, hoạt độngchế biến tôm chân trắng trên thế giới cũng đạt mức khá cao Nếu như năm 1993, tổngsản lượng tôm chân trắng chế biến của thế giới chỉ đạt 109.397 tấn thì đến năm 2003con số này là 723.858 tấn, trong đó châu Á đóng vai trò quan trọng đối với sự tăngtrưởng này Những quốc gia có sản lượng tôm chân trắng chế biến lớn nhất phải kể đến
là Trung Quốc, Thái Lan, Brazil và Ecuador [80] Mặc dù tôm chân trắng mang lại hiệuquả cao cả về mặt kinh tế và xã hội trên toàn cầu, song để đạt được điều này nhiều quốcgia đã phải đối mặt với không ít khó khăn các vấn đề về môi trường nuôi, thiên tai vàbệnh dịch Đặc biệt, những năm 90 của thế kỷ trước, khi tôm sạch bệnh (SPF) chưa rađời, bệnh dịch đã tràn lan gây thất thu nghiêm trọng [29]
Trước năm 2000-2002, nhiều nước châu Á đã tìm cách hạn chế phát triển nuôitôm chân trắng do lo sợ lây bệnh cho tôm sú Nhưng sau đó, lợi nhuận cao và những
ưu điểm rõ ràng nên các nước đều phát triển nuôi tôm chân trắng tự phát và rồi mớichính thức cho phép Một số bệnh nguy hiểm chủ yếu đã gây thiệt hại lớn đối với tômchân trắng như: Hội chứng Taura (TSV), bệnh được phát hiện đầu tiên tại các trại nuôitôm chân trắng dọc bờ sông Taura (Ecuador) năm 1992, tại Peru năm 1993; Colombia,Honduraz, El Salvadoz, Hawaii, Florida and Brazil năm 1994; Mexico, Texas, và NamCarolina năm 1995-96 [61,72] và tại một số nước vùng Châu Á như Trung Quốc năm1999; Đài Loan, Thái Lan và Indonesia năm 2003; Malaysia và Việt Nam năm 2004[69] Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu (IHHNV) được phát hiện đầu tiên trên tôm chântrắng tại khu vực Châu Mỹ năm 1981, ở Châu Á-Thái Bình Dương bệnh đã xuất hiệntại Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Philippine, Thái Lan, Malaysia, và Indonexia[65] Bệnh đốm trắng cũng đã gây thiệt hại cho nghề nuôi tôm khu vực Châu Á từnhững năm 1992 và khu vực Châu Mỹ La Tinh từ những năm 1999 Tôm chân trắngnuôi ở Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Thái lan đều đã phát hiện bị bệnh đốm trắng
Trang 16và gây thiệt hại không nhỏ Bệnh đốm trắng xuất hiện ở tất cả các giai đoạn phát triểncủa tôm, đặc biệt giai đoạn PL 50-70, tỷ lệ tử vong lên tới 90-100%.
Tôm chân trắng được nuôi trên phạm vi rộng, đơn vị đầu tư nuôi có thể làdoanh nghiệp (tổ chức), hoặc hộ gia đình Đây là loài tôm nuôi có nhiều đặc điểm ưuviệt và khác với một số loài tôm nuôi khác, có thể phát triển tốt trong điều kiện mật độcao, thời gian nuôi ngắn, có khả năng chống chịu với bệnh tật, có tỷ lệ sống cao và chonăng suất cao, nên công nghệ nuôi tôm chân trắng ở hầu hết các quốc gia chủ yếuđược nuôi theo hình thức bán thâm canh hoặc thâm canh để thuận lợi cho công tácquản lý, chăm sóc và tăng hiệu quả canh tác, chỉ có một số ít nuôi tôm chân trắng theohình thức quảng canh cải tiến mà bản chất của công nghệ này là nuôi sinh thái hoặcnuôi hữu cơ Tuỳ theo các cơ sở nuôi có thể là công ty, hoặc hộ gia đình mà có quy mônuôi lớn, vừa, nhỏ khác nhau [22]
Nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ có lịch sử lâu dài ở một số vùng của châu Á,châu Phi, phía nam sa mạc Sahara và Mỹ Latinh Tuy nhiên ở châu Á đã phải đối mặtvới nhiều vấn đề phức tạp: khó khăn trong việc truyền tải thông tin khoa học côngnghệ cho nông dân, nhiều ao nuôi bỏ hoang hoặc không được quản lý, năng suất thấp,các dự án phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản cho các hộ nghèo được trợ giúp từbên ngoài thường chậm và cuối cùng dừng lại [88]
Ở Thái Lan, nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ chủ yếu theo hình thức bán thâmcanh và thâm canh, mỗi trang trại có từ hai đến ba ao Trong đó những ao nuôi bán thâmcanh thường có kích cỡ trung bình 0,50-1,0 ha/ao, còn những ao nuôi thâm canh có kích
cỡ trung bình 0,2-1,0 ha/ao Đây là kích cỡ phù hợp để việc quản lý ao nuôi có hiệu quả
và giảm được chi phí đầu tư ban đầu Theo thống kê của Văn phòng quốc gia Thái Lancho thấy 37% hộ nuôi tôm là ở quy mô nhỏ với diện tích nuôi nhỏ hơn 0,8 ha, 28% códiện tích từ 0,8 - 1,6 ha, 24% là 1,6 - 4,8 ha và trên 4,8 ha chiếm 11% [78]
Ở Indonesia nuôi tôm chân trắng bán thâm canh và thâm canh được tiến hành ở
cả 3 dạng quy mô: nhỏ, vừa và quy mô lớn Quy mô nhỏ với diện tích trang trại trungbình khoảng 5 ha/trang trại Mỗi trang trại trung bình chỉ có 3 ao và đa số được quản
lý bởi một số người chung vốn với nhau Những người chủ thực sự của trang trại nuôithường là người ở nơi khác Đa số các trang trại nuôi bán thâm canh sẽ có một số diệntích nuôi theo công nghệ thâm canh Đối với quy mô vừa có diện tích ao khoảng 5-40ha/trang trại Các ao nuôi thâm canh trong trang trại thường được thả giống ở mật độ
Trang 17trên 25 PL/m2 và quá trình nuôi đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ môi trường nước ao, mật
độ động vật phù du, thực vật phù du và lượng thức ăn để đảm bảo môi trường nuôi tối
ưu nhất nhằm giảm tối đa các yếu tố bất lợi cho động vật nuôi Thức ăn công nghiệpđược sử dụng ngay sau khi thả giống và ban đêm có sục khí Tuy nhiên, việc đầu tưbài bản và khép kín từ khâu sản xuất và ương giống, cung ứng thức ăn và mua sắmtrang thiết bị cho các trang trại nuôi thâm canh và bán thâm canh thường chỉ được tiếnhành ở các trang trại quy mô vừa và lớn còn với các trang trại quy mô nhỏ ít có điềukiện để đầu tư [61]
2.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng tại Việt Nam
Tôm chân trắng là loài tôm he ngoại lai duy nhất được nhập vào Việt Nam,lần đầu tiên nhập từ Đài Loan vào nuôi thử ở Bạc Liêu từ tháng 1 năm 2001 Năm
2003 diện tích tôm chân trắng cả nước đạt 691 ha [54], năm 2004 là 1.600 ha, sảnlượng đạt được khoảng 5.000 tấn [55], cho tới năm 2006 diện tích nuôi đối tượng này
đã đạt 5.446 ha [22] Tôm chân trắng được nuôi ở một số địa phương, có nơi dânnuôi tự phát [55] Do đây là một đối tượng mới nhập vào Việt Nam nên Bộ Thuỷ Sản
đã chỉ đạo kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất tôm chân trắng từ khâu giống đến nuôithương phẩm và tiến hành thực hiện nuôi khảo nghiệm Đồng thời chưa cho phépnuôi tôm chân trắng ở các tỉnh khu vực miền Đông Nam Bộ và ĐBSCL do lo ngại vềdịch bệnh, môi trường sinh thái và các vấn đề khác[8]
Mặc dù ngành thuỷ sản đang rất thận trọng trong việc phát triển các mô hìnhnuôi tôm chân trắng vì sợ không kiểm soát được môi trường tự nhiên, nhưng khoảngthời gian từ năm 2002 đến 2005, nhiều địa phương nuôi tôm chân trắng đã thu đượckết quả tốt như tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Nghệ An [54] Đối với các tỉnh venbiển miền Trung nói chung, nuôi tôm chân trắng vẫn hấp dẫn nông ngư dân, vì chonăng suất cao [84] Năm 2005 các tỉnh miền Trung nuôi tôm chân trắng trên diện tích
498 ha, đạt sản lượng 3.268 tấn, trong đó tỉnh Quảng Ngãi nuôi trên diện tích 180 hathu được sản lượng 1.905 tấn, Phú Yên thu nuôi trên 100 ha thu sản lượng 500 tấnnăng suất bình quân 5 tấn/ha/vụ [19] Tới năm 2006, Bộ Thuỷ Sản đã cho phép nuôi
bổ sung tôm chân trắng tại các tỉnh, thành phố từ Quảng Ninh đến Bình Thuận nhưngvẫn cấm nuôi đối tượng này ở các tỉnh, thành phố khu vực ĐBSCL Tuy nhiên trongbối cảnh thế giới có nhiều biến động, thị trường tiêu thụ sản phẩm tôm nuôi của ViệtNam gặp nhiều khó khăn Ở trong nước, diện tích nuôi tôm sú bị nhiễm bệnh ngày
Trang 18càng nhiều làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Do vậy đầu năm 2008, Bộ
NN&PTNT đã cho phép các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ và ĐBSCL nuôi tôm chân
trắng theo hình thức từ bán thâm canh trở lên [6] Đây là chủ trương nhằm đa dạng hoá
đối tượng nuôi và sản phẩm xuất khẩu trong thời kỳ hội nhập của Bộ NN&PTNT
[93,96] Tuy nhiên cũng có nhiều nơi nuôi tôm chân trắng không đạt hiệu quả kinh tế
hoặc hiệu quả kinh tế thấp đã làm cho hoạt động nuôi loài tôm này đã giảm hẳn như
Ninh Bình, Cà Mau [55,86]
Diện tích (ha) 18000
Biểu đồ 1 3: Diễn biến diện tích nuôi tôm chân trắng cả nước 2003 - 2009
Kể từ khi du nhập tôm chân trắng vào nuôi thương phẩm tại Việt nam cho tới năm
2007 nuôi tôm chân trắng phát triển chủ yếu tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung [56]
Tuy nhiên, bước sang năm 2008 tôm chân trắng được phép nuôi trên phạm vi cả nước
[2,3] đã làm diện tích nuôi tôm chân trắng tăng lên nhanh chóng và đạt 16.611 ha vào
năm 2009 [21]
Tính trong năm 2009, Quảng Ninh là địa phương có diện tích thả nuôi tôm chân
trắng nhiều nhất cả nước với 4.050 ha, chiếm 24,4% diện tích tôm chân trắng cả nước
Đứng thứ hai là tỉnh Phú Yên (1.596 ha), tiếp đến là các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận,
Long An, Quảng Ngãi, Quảng Bình và Quảng Nam [21,55,54]
Cùng với sự gia tăng về diện tích thì sản lượng nuôi cũng tăng từng năm Tổng
sản lượng tôm chân trắng ở Việt Nam từ năm 2002 mới chỉ đạt khoảng 10.000 tấn, năm
2004 là 30.000 tấn nhưng sang năm 2008 đã đạt 73.590 tấn, tốc độ bình quân tăng
trưởng về sản lượng qua các năm đạt 15%/năm [56] Trong năm 2009, Bình Thuận và
Trang 19Phú Yên là hai tỉnh có sản lượng tôm chân trắng nhiều nhất với 6.590 và 6.196 tấn, tiếptheo là các tỉnh Ninh Thuận: 4.774 tấn, Quảng Ngãi: 4.124 tấn, Quảng Nam và Bà Rịa -Vũng Tàu mỗi tỉnh đạt hơn 3.000 tấn Theo Cục Chế biến, thương mại nông lâm thủysản và nghề muối, tính cuối năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu được 670 tấn tôm hechân trắng, tương đương 1.400 tấn tôm nguyên liệu, đạt giá trị 3.361.652 USD [21].
Qua gần chục năm du nhập, phong trào nuôi tôm chân trắng đã và đang phát triểnmạnh mẽ cả về diện tích và sản lượng, kết quả khảo nghiệm của các cơ quan nghiên cứukhoa học cho thấy tôm chân trắng có khả năng thích nghi khá tốt ở điều kiện khí hậuViệt Nam Tới nay, tôm chân trắng đã được nuôi ở 30 tỉnh thành ven biển trên cả nướcvới loại hình rất đa dạng và tuỳ theo từng vùng miền: nuôi trên vùng đất cát (Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, PhúYên) [19] hay nuôi tại các ao đầm nội địa Nhưng xét về hình thức, nuôi tôm chân trắng
ở Việt Nam hiện nay phổ biến là mô hình nuôi công nghiệp với mật độ cao Diện tích aonuôi phổ biến từ 2.000-5.000 m2/ao [54] Vấn đề hiệu quả kinh tế và các khó khănthường gặp của các cơ sở nuôi tôm chân trắng cũng là tâm điểm của nhiều cuộc hộinghị, hội thảo Theo kết quả báo cáo khoa học đề tài đánh giá và phân tích cơ sở khoahọc của phát triển nuôi bền vững tôm chân trắng ở Việt Nam [26] cho thấy vốn đầu tư,chất lượng con giống và kỹ thuật nuôi là khó khăn lớn nhất người nuôi gặp phải
Đánh giá về trình độ công nghệ nuôi tôm ở Việt Nam so với các nước trongkhu vực như trung Quốc, Thái Lan, Indonesia Báo cáo của Cục NTTS (2009) chorằng, trình độ công nghệ nuôi tôm (bao gồm các tiêu chí như: cơ sở hạ tầng, thiết bịcông nghệ, quy trình công nghệ, nhân lực, hiệu quả kinh tế) của các địa phương mới ởmức trung bình, và trung bình khá Tuy nhiên, để nâng cao năng suất tôm nuôi, nhiềudiện tích nuôi tôm sú kém hiệu quả đã chuyển sang nuôi tôm chân trắng [22] Từ
những thông tin trên cho thấy, tôm chân trắng đang dần trở thành đối tượng tôm nuôichủ lực xuất khẩu ở Việt Nam, điều này cũng phù hợp với nhu cầu phát triển của thịtrường trong khu vực và quốc tế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tại các khu vực nuôi tôm chân trắng vẫnluôn phải đối phó với những khó khăn trong việc quản lý môi trường, dịch bệnh BộThuỷ Sản (trước đây) cảnh báo từ năm 2004 khi nuôi tôm chân trắng sẽ có thể mắc hộichứng Taura và các bệnh thường gặp ở tôm sú như WSSV, YHV, MBV… và có thể lây
Trang 20nhiễm sang đối tượng tôm nuôi khác sẽ làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất thuỷ sản
và môi trường tự nhiên [10]
Năm 2004, dịch bệnh đốm trắng trên tôm chân trắng đã xảy ra và gây chết tômhàng loạt ở nhiều địa phương như: Quảng Nam (20 ha), Bình Định (20 ha), QuảngNgãi (16 ha), Phú Yên (49 ha) Năm 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng bị thiệt hại dobệnh là 2.196 ha, chiếm 13,2% tổng diện tích nuôi tôm chân trắng của cả nước, caohơn 9,5% so với cùng kỳ năm 2008 (470 ha, chiếm 3,7%) Qua đó đã gây thiệt hạikhoảng 243 triệu con giống với giá trị khoảng 7 tỷ đồng Trong đó Khánh Hòa và
Quảng Ninh là hai tỉnh bị thiệt hại nhiều nhất với 1.732 ha, chiếm 83,4 % tổng diệntích nuôi tôm chân trắng bị bệnh trên cả nước [21]
Một trong những nguyên nhân phát sinh dịch bệnh là do việc nhập lậu tôm chântrắng giống từ Trung Quốc đã vận chuyển và phát tán ra nhiều tỉnh trong cả nước Cácnghiên cứu khoa học và thực tế sản xuất cũng cho thấy, nếu không được quản lý chặtchẽ và kiểm soát nghiêm ngặt thì nguy cơ thiệt hại về kinh tế xã hội và môi trường rấtcao từ các hoạt động nuôi tôm chân trắng [55]
Nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam hiện đang tồn tại nhiều quy mô khác nhau,trong đó nuôi quy mô lớn thường gặp chủ yếu là các doanh nghiệp có thể là nhà nướchoặc tư nhân Ở quy mô này, việc đầu tư xây dựng công trình nuôi, trình độ tổ chức vàquản lý mang tính chất chuyên nghiệp Chẳng hạn như các cơ sở sản xuất lớn ở QuảngNinh, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Kiên Giang đầu tư xây dựng khu nuôi vài chục đếnhàng trăm ha, qui họach, thiết kế bài bản, cách ly an toàn sinh học nên ít xảy ra dịchbệnh, đạt năng suất nuôi cao và khá ổn định Diện tích ao nuôi phổ biến từ 2.000-5.000
m2/ao, ao lót bạt hoặc đổ bê tông, có hệ thống cấp thoát nước riêng; có hệ thống ao lắng
và xử lý Đối với cơ sở nuôi này, nguồn giống được thả nuôi thường có nguồn gốc xuất
xứ rõ ràng, con giống chất lượng Mật độ tôm thả nuôi từ 120-150 con/m2, cỡ giống thảPL10-12, nuôi 1-3 vụ/năm, kích cỡ tôm thu họach từ 40-80 con/kg, thời gian nuôi 3-3,5tháng/vụ Năng suất nuôi dao động từ 10-15 tấn/ha [54]
Đối với cơ sở nuôi quy mô nhỏ hiện nay thường là quy mô hộ gia đình, đa phần
bị hạn chế bởi việc thiếu tài chính và nhân lực để đầu tư sản xuất; hạn chế về kỹ thuậtnuôi, trình độ quản lý [19] Thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định và dễ bị ép giácủa các đầu nậu, nhất là trong trường hợp ao nuôi có sự cố về bệnh phải bán gấp Côngtác kiểm dịch, kiểm tra chất lượng giống ít được chú trọng Mật độ nuôi cao, dao động
Trang 21từ 150-300 con/m2, cỡ giống thả PL8-10, kích cỡ tôm thu hoạch 100-150 con/kg, hệ sốthức ăn (FCR) 1,2-1,4 Năng suất nuôi không ổn định, có thể đạt đến 18-20 tấn/ha/vụnhưng nhiều khi mất trắng, năng suất bình quân năm dao động từ 3,5-5,5 tấn/ha [54].Như vậy,nuôi trồng thủy sản quy mô nhỏ có thể được hiểu là các hệ thống nuôi
có mức đầu tư hạn chế về tài sản cũng như chi phí hoạt động, bao gồm ở đó phần lớn
là sử dụng lao động gia đình Các hệ thống nuôi thuỷ sản quy mô nhỏ là nguồn sốngchủ yếu của người dân Họ đã đã đầu tư phần tài sản, sinh kế đáng kể (về thời gian, laođộng, cơ sở hạ tầng và vốn) vào hệ thống nuôi tuy nhiên về phương diện quản lý chưađược tổ chức một cách chuyên nghiệp, chính thức như một doanh nghiệp
2.3 Tình hình nuôi tôm chân trắng và một số vấn đề kinh tế xã hội Quảng Ninh
* Tình hình nuôi tôm chân trắng ở tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc với 250 km bờ biển kéo dài từ MóngCái tới Yên Hưng, tạo ra hàng vạn ha diện tích vùng triều để phát triển nuôi trồng thuỷsản, đặc biệt là nuôi tôm vùng nước lợ
Nghề nuôi tôm nước lợ ở tỉnh Quảng Ninh bắt đầu phát triển từ những năm 90của thế kỷ trước Tuy nhiên, hình thức chủ yếu là quảng canh và quảng cải tiến với đốitượng nuôi chính là tôm Sú và tôm Rảo Đến năm 2000 nghề nuôi tôm đã phát triểnmạnh trên địa bàn toàn Tỉnh Cũng bắt đầu từ năm này đối tượng tôm chân trắng đãđược du nhập vào nuôi tự phát tại mô số hộ nuôi nhỏ ở khu vực Móng Cái sau đó tômchân trắng đã phát triển nhân rộng trong toàn tỉnh cho đến nay [20]
Trong khoảng thời gian từ năm 2002 - 2004, nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninhbước đầu có nhiều khởi sắc về năng suất, sản lượng, tuy nhiên cũng giống như nhiềuvùng nuôi tôm chân trắng trên cả nước, các cơ sở nuôi tại đây cũng gặp nhiều vấn đề
về vốn đầu tư, công nghệ kỹ thuật, hình thức nuôi, quy hoạch và thuỷ lợi cho vùngnuôi, Năm 2002 tổng diện tích nuôi tôm chung toàn tỉnh là 9.821 ha, nuôi tôm chântrắng lúc này mới chỉ khoảng trên 30 ha tập trung ở một số mô hình nuôi công nghiệpvới năng suất đạt từ 5 - 12 tấn/ha Đến năm 2003, các mô hình nuôi tôm chân trắngtiếp tục được phát triển nuôi mở rộng và cũng cho hiệu quả cao hơn với năng suất đạt
từ 8 - 12 tấn/ha Cho tới năm 2004, toàn tỉnh đã thả nuôi tôm với diện tích là 11.300
ha, trong đó tôm chân trắng 1.067,9 ha, tập trung ở các huyện thị: Móng Cái (815,4ha), Hải Hà (12 ha), Đầm Hà (90 ha), Vân Đồn (40 ha), Hoành Bồ (31 ha), Yên Hưng(59,5 ha) và khoảng vài chục ha tại các huyện, thị khác như Cẩm Phả, Hạ Long
Trang 22Từ năm 2005 - 2009 là giai đoạn nghề nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh phát
triển nhanh trên phương diện diện tích
2400
2000 0
1350
Tổng DT tômnuôi Diện tích TCT
Nguồn [24,48, 49, 50, 51]
Biểu đồ 1 4: Diện tích nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh từ 2005 – 2009
Qua việc tổng hợp số liệu báo cáo của ngành Thuỷ sản từ năm 2005 đến năm
2009 cho thấy diện tích nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh đã tăng lên rất nhanh so vớidiện tích nuôi tôm chung Nếu trong năm 2005 diện tích nuôi tôm chân trắng là 1.350 hachiếm 13,67% thì chỉ qua bốn năm, đến năm 2009 diện tích nuôi tôm chân trắng đã đạt
4.050 ha chiếm 42,9% diện tích tôm nuôi của toàn tỉnh Việc diện tích tôm chân trắng
tăng nhanh chóng trong khoảng thời gian ngắn do đã có nhiều hộ nuôi tôm sú và nhiều
ruộng đất cấy lúa kém hiệu quả được chuyển đổi sang nuôi tôm chân trắng [20]
Song song với việc mở rộng diện tích, sản lượng tôm chân trắng nuôi cũng liên
tục tăng lên qua các năm
Sản lượng (tấn) Tổng sản lượng tômnuôi Sản lượng TCT 8000
2000
1000
Năm 0
Nguồn [24,48, 49, 50, 51]
Biểu đồ 1 5: Sản lượng tôm nuôi tại tỉnh Quảng Ninh từ 2005 – 2009
Trang 23Từ kết quả biểu đồ 1.5 cho thấy trong thời gian từ năm 2005 đến 2009 mặc dùsản lượng tôm nuôi toàn tỉnh có biến động tăng giảm nhẹ nhưng sản lượng tôm chântrắng vẫn tương đối ổn định và tăng đều qua các năm, từ 2.500 tấn vào năm 200 đã đạtsản lượng 4.772 tấn năm 2009 chiếm 74,94% tổng sản lượng tôm toàn tỉnh Điều này
có thể cho phép khẳng định mức độ ổn định trong công nghệ kỹ thuật nuôi tôm chântrắng tại Quảng Ninh
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện có nhiều mô hình nuôi tôm nước lợ đangđược áp dụng, mỗi hình thức nuôi ngoài các đặc tính kỹ thuật chung thì còn có tínhđặc thù theo vùng sinh thái Hình thức bán thâm canh, thâm canh [20] và phát triểnmạnh ở các huyện Hoành Bồ, Vân Đồn, Hải Hà, Đầm Hà, Yên Hưng, thị xã Cẩm Phả,
và thành phố Móng Cái Quy mô nuôi tôm chân trắng tại Quảng Ninh hiện nay tậptrung chủ yếu hai quy mô chính: quy mô nhỏ (hộ gia đình) và quy mô lớn (doanh
nghiệp) Mặc dù chưa có nghiên cứu đánh giá chính thức, song nhìn chung nuôi tômchân trắng quy mô nhỏ ở Quảng Ninh cũng gặp phải nhiều vấn đề vướng mắc như ởnhững vùng miền khác trong cả nước Những vấn đề về quản lý, con giống, nguồnvốn, môi trường - bệnh và công nghệ kỹ thuật nuôi vẫn là vấn đề luẩn quẩn, là nguyênnhân của mọi kết quả không thành công Trong khi đó, nuôi tôm chân trắng quy môlớn thường giữ được sự ổn định về năng suất và sản lượng [20]
Nghề nuôi tôm chân trắng ở Quảng Ninh đã và đang phát triển nhanh mạnh,hàng năm tạo ra lượng sản phẩm lớn phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, giải quyếtviệc làm và tạo thu nhập cho nhiều lao động nông, ngư dân Song, bên cạnh ưu điểmđem lại lợi nhuận cao thì rủi ro trong nghề nuôi tôm chân trắng cũng rất lớn Do từ banđầu tôm chân trắng được du nhập vào Quảng Ninh nuôi thương phẩm đã phát triểntheo hướng tự phát, thiếu quy hoạch Các vấn đề về kỹ thuật nuôi, nguồn cung ứng congiống hạn chế chưa phù hợp; việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các vùng nuôi khôngđồng bộ, do đó nguồn nước thải không được xử lý triệt để Hậu quả môi trường bị ônhiễm, dịch bệnh xẩy ra làm cho năng suất và sản lượng không ổn định, hiệu quả sảnxuất bấp bênh, nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp nuôi bị thua lỗ kéo dài [20]
Năm 2004, do ở nhiều địa phương người dân thả giống sớm, gặp thời tiết lạnhnên tôm bị chết; một số vùng do hệ thống kênh mương cấp và thoát nước quá ít và bố tríchưa phù hợp nên đã xuất hiện dịch bệnh, chết hàng loạt (Tiên Yên 70 ha, Móng Cái
145 ha,…) Đến năm 2005, 2006, thời tiết diễn biến khá phức tạp: trời rét, nắng nóng và
Trang 24mưa lớn kéo dài làm ảnh hưởng các vùng nuôi gây chết tôm nuôi hàng loạt ở nhiều địaphương như Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Vân Đồn, nhiều hộ dân phải thuhoạch sớm trước thời gian, sản lượng thấp, năng suất nuôi bình quân đạt thấp, doanh thukém Năm 2006 theo số liệu thống kê, toàn tỉnh có khoảng 150 ha tôm chân trắng nuôi
bị bệnh, chủ yếu là bệnh đốm trắng, vàng mang, nhiễm bệnh Vibrio … tôm chết tậptrung ở giai đoạn từ 1,5 - 2 tháng tuổi, một số hộ dân phải thu hoạch sớm trước thời gian[45,46,47,48,49] Sở Thuỷ sản Quảng Ninh chỉ đạo các cơ quan chức năng phối với cácđịa phương khảo sát nắm tình hình, áp dụng kịp thời các biện pháp cải thiện môi trường,phòng và hạn chế mức thấp nhất khả năng lây lan của dịch bệnh gây ra, đồng thời tăngcường các lớp tập huấn về quản lý môi trường và phòng trị bệnh tôm cho bà con ngưdân tại các vùng nuôi trọng điểm Tuy nhiên từ năm 2007 đến năm 2009, bệnh dịch trêntôm chân trắng nuôi vẫn diễn ra trên diện tích rộng Trong đó, năm 2007 toàn tỉnh có
310 ha tôm chân trắng nuôi bị bệnh, con số này trong các năm 2008 và 2009 tương ứng
là 350 ha và 330 ha qua đó đã gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng [50,51,52]
Riêng trong giai đoạn từ năm 2002 - 2004, tổng số giống tôm chân trắng thảnuôi được thống kê là 376,0 triệu con Tuy nhiên nguồn giống tôm chân trắng đượccung cấp chủ yếu từ Trung Quốc, các trại trong tỉnh và mua về từ các tỉnh miền Trung Tuy nhiên, chất lượng giống chưa thực sự đảm bảo, nhiều hộ nhập giống Trung Quốckhông qua kiểm dịch thường hay gặp một số bệnh như đốm trắng, đỏ thân, … làm chếttôm hàng loạt, gây thiệt hại lớn cho người nuôi
Mặc dù luôn phải đối phó với nhiều vấn đề về dịch bệnh, thiên tai, ô nhiễm môitrường,… nhưng nghề nuôi tôm tôm chân trắng hiện vẫn là một nghề quan trọng ởvùng ven biển Quảng Ninh Tuy nhiên, để khai thác một cách hiệu quả tiềm năng vềdiện tích mặt nước lợ mà thiên nhiên ưu đãi cho Quảng Ninh, Ngành Thuỷ sản đã vàđang nỗ lực thực hiện nghiêm túc các quy định của Ngành Thuỷ sản Việt Nam trongviệc quản lý, giám sát nhằm phát triển nuôi đối tượng này theo hướng an toàn và bềnvững Một số huyện thị trong Tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể để thúc đẩy sựphát triển nghề nuôi tôm chân trắng ở địa phương mình như đầu tư xây dựng cở hạtầng điện, đường; tăng cường kiểm tra xử lý các vấn đề về môi trường - dịch bệnh, hỗtrợ nông dân thực hiện các mô hình trình diễn… [20]
Trang 25* Một số vấn đề kinh tế, xã hội tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam; phía Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn,Bắc Giang; phía Đông và phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ và Thành phố Hải Phòng; phíaBắc giáp nước Trung Quốc với đường biên giới chung dài 132,8 km với 3 cửa khẩuthương mại, trong đó có Cửa khẩu Quốc tế Móng Cái, với chiều dài toàn tỉnh là 268 km
Vị trí địa lý thuận lợi với nguồn lợi tự nhiên phong phú và đa dạng để QuảngNinh phát triển kinh tế- xã hội; trong đó có phát triển kinh tế thuỷ sản Gắn với Thủ đô
Hà Nội và các thành phố lớn của khu vực kinh tế trọng điểm Bắc bộ như Hải Phòng, HảiDương, Quảng Ninh là “cửa ngõ” của vùng Đồng bằng sông Hồng, trung du miền núiphía Bắc ra biển và nối vùng duyên hải Nam Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái
Hoạt động kinh tế địa phương gồm: lâm nghiệp, các hoạt động kinh tế biển, có
hệ thống giao thông thuận tiện, có các cửa khẩu quốc gia và quốc tế, và du lịch Vịnh
Hạ Long và một số danh lam thắng cảnh khác hiện đã được khai thác triệt để để pháttriển du lịch
Tổng dân số của tỉnh khoảng 1.113.000 người, trong đó tổng số lao động nghề
cá trong tỉnh hiện có 27.800 người, trong đó lao động khai thác là 4.159 người (1.267hộ), lao động nuôi trồng là 1.959 người (958 hộ), còn lại là lao động chế biến và cácdịch vụ kèm theo (năm 2007) Về phân bố lao động theo giới, lao động nữ chiếm là13.600 người chiếm 49% tổng số lao động nghề cá [24]
Các đơn vị hành chính của Quảng Ninh bao gồm 12 huyện thị và 02 thành phố là
Hạ Long và Móng Cái Trong đó, Thành phố Móng Cái nằm ở phía Đông Bắc tỉnhQuảng Ninh, với diện tích tự nhiên 520 km2, 85% là đất liền, 15% là hải đảo, đồi núichiếm 71% diện tích Dân số trên 8 vạn người, với 17 đơn vị hành chính (7 phường, 10xã) được thành lập theo Nghị định 52/CP ngày 20/7/ 1998 của Chính phủ; có trên 70 kmđường biên giới quốc gia, tiếp giáp với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, có 5 dân
Trang 26tộc anh em cùng chung sống: Kinh, Dao, Tày, Hoa, Sán Dìu Từ trước đến nay MóngCái luôn có ví trí chiến lược quan trọng của tỉnh Quảng Ninh và cả nước về chính trị,kinh tế, quốc phòng - an ninh, đối ngoại Trong những năm qua lĩnh vực nông lâm ngưnghiệp có bước phát triển mạnh, góp phần quan trọng trong việc ổn định an ninh lươngthực khu vực nông nghiệp nông thôn, nâng cao đời sống cho bà con nông dân Trong xuthế hội nhập hiện nay, môt số ngành (nuôi trồng, khai thác thuỷ sản, trang trại ) đã trởthành ngành kinh tế quan trọng giúp người dân vươn lên làm giàu Đối với lĩnh vực nuôitrồng thuỷ sản, từ những năm 1997 có 800 ha mặt nước nuôi, đến nay đạt 1.670 ha baogồm: Nước mặn, lợ:1.581 ha, ao hồ nước ngọt: 89 ha, nuôi lồng bè 04 cái, diện tích tăngchủ yếu vào nuôi nước mặn, lợ và tập trung vào các xã Bình Ngọc, Hải Xuân, Hải Hòa,Hải Đông, Vạn Ninh Nhìn chung nuôi trồng thủy sản những năm qua đã đạt được một
số kết quả nhất định, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện và ổn định, đã gópphần quan trọng trong tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn Thành phố [92].
Trang 27CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 10 xã, phường có nuôi tôm chân trắng tại thànhphố Móng Cái - Quảng Ninh
2.1.2 Thời gian và đối tượng nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 12/2009 đến 7/2010
- Đối tượng nghiên cứu: Các cơ sở nuôi tôm chân trắng quy mô nhỏ tại TP MóngCái của tỉnh Quảng Ninh
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Cách tiếp cận
Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Trang 28STT Tên xã, phường Tổng số hộ nuôi
hiện có
Số hộ được điều tra
Tỷ lệ mẫu (%)
2.2.1.2 Thu số liệu sơ cấp
Phỏng vấn có sự tham gia của cộng đồng, thu số liệu thông qua phỏng vấn trựctiếp cán bộ quản lý thuỷ sản và người dân nuôi tôm địa phương, dựa trên bộ câu hỏi đãđược chuẩn hóa với mục đích nghiên cứu
Bảng 2 1: Phân bổ phiếu điều tra theo xã/phường
2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả: Các chỉ số trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất, sai số
trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm …
Trang 29 Phương pháp phân tích tài chính trong nuôi tôm chân trắng:
a Chi phí cho hoạt động nuôi tôm chân trắng:
Chi phí cho hoạt động nuôi tôm chân trắng là tổng các khoản tiền đã chi ra, cáckhoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh những khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn của các
hộ nuôi Các khoản chi phí này được chia ra thành hai loại là chi phí cố định và chi phíbiến đổi Trong đó:
Chi phí cố định: là những khoản chi phí thường không biến đổi hoặc thay đổi
rất ít khi mức độ hoạt động thay đổi Các khoản chi phí cố định trong nuôi tôm chântrắng chủ yếu bao gồm chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí sửa chữa lớn, trả lãi vay vàđóng thuế theo quy định
- Chi phí khấu hao: Là khoản chi phí để bù đắp sự giảm dần về giá trị củaTSCĐ do quá trình sử dụng và do sự bào mòn của tự nhiên Trong nuôi tôm chântrắng, chi phí khấu hao TSCĐ bao gồm các khoản khấu hao hệ thống ao nuôi, ao xử lýnước cấp và thoát, nhà ở, nhà kho và các loại máy móc, thiết bị phục vụ nuôi tôm
- Chi phí sửa chữa lớn: Là khoản chi phí có kế hoạch sửa chữa, bảo dưỡng đểphục hồi trạng thái hoạt động do bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng
- Chi phí trả lãi vay: Là khoản chi trả cho chi phí sử dụng vốn vay dài hạn
- Chi nộp thuế: Là khoản tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước và thường ởmột mức cố định
Chi phí biến đổi: Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến động
về mức độ hoạt động Khoản chi phí này phát sinh trong suốt quá trình hoạt động vàbằng không khi cơ sở không hoạt động Trong nghề nuôi tôm chân trắng, chi phí biếnđổi bao gồm những loại như mua tôm giống, thức ăn, chi phí năng lượng (dầu, điện),chi trả lương cho công nhân, chi phí thuốc, hoá chất để phòng trừ dịch bệnh, chi phísửa chữa nhỏ và các khoản chi phí khác
b Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả kinh tế
- Doanh thu từ hoạt động nuôi tôm chân trắng: là tổng giá trị được tính bằngtiền của toàn bộ sản lượng tôm chân trắng thương phẩm sản xuất ra trong một chu kỳsản xuất tính trên một năm Doanh thu của một hộ nuôi tôm phụ thuộc vào sản lượngtôm thương phẩm được sản xuất ra, chất lượng tôm và giá bán
Doanh thu được tính theo công thức:
Trang 30GO = QiPi
i1
Trong đó: GO: Doanh thu từ hoạt động nuôi tôm chân trắng
Qi: Sản lượng tôm thương phẩm sản xuất ra thứ i
Pi: Giá bán tôm thương phẩm thứ i
- Lãi ròng = {∑thu - (∑Chi phí cố định hằng năm + ∑Chi phí lưu động hàng năm)}
- Doanh thu trên đất = ∑thu/∑diện tích nuôi
- Tỷ suất lợi nhuận = {∑thu - ∑vốn đầu tư}/{vốn đầu tư}*100%
Trang 31CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Móng Cái nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh trong giới hạn toạ
độ 21010' - 21039' vĩ độ Bắc, 107043' - 108040' kinh đông Phía bắc giáp nước Cộng hoàNhân dân Trung Hoa với trên 70km đường biên giới trên đất liền; phía Đông - ĐôngNam giáp biển Đông và có bờ biển dài 50km, phía Tây giáp huyện Hải Hà Ngoài biển
có đảo Vĩnh Trung, Vĩnh Thực, cách đất liền 10 km theo đường chim bay tạo cho MóngCái có các điều kiện thuận lợi để phát triển NTTS cũng như phát triển kinh tế xã hội
3.1.1.2 Khí hậu
Móng Cái thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời chịu ảnh hưởng củabiển nên nóng ẩm mưa nhiều Khí hậu Móng Cái phân ra làm 02 mùa chính trong năm:Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4năm sau Độ ẩm không khí tương đối lớn so với các nơi trong tỉnh Độ ẩm không khíthường cao vào các tháng 2 - 4 và thấp vào các tháng 10 đến tháng 01 năm sau Độ ẩmkhông khí trung bình 82 - 88%, cao nhất là 92 - 100% và thấp nhất là 25 - 20%
3.1.1.3 Địa hình và đất đai
Móng Cái thuộc loại địa hình đồi núi trung du ven biển, với độ cao trung bình 7
- 10m so với mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Nam, bị chia cắt khá phức tạphình thành 03 vùng rõ rệt: Vùng núi cao phía Bắc, vùng trung du ven biển và vùng hảiđảo, mỗi vùng có những điều kiện khác nhau
Vùng núi: Phổ biến là núi có độ cao từ 300 - 866m, độ dốc 25 - 450C, bao gồmtoàn bộ các xã biên giới Hải Sơn và Quảng Nghĩa là 02 xã khó khăn nhất của MóngCái, đất đai chủ yếu là feralit phát triển trên sa phiến thạch, thành phần cơ giới từ thịtnhẹ đến trung bình, diện tích khoảng 19.100 ha, chiếm 36,7% diện tích đất tự nhiên.Trong đó chỉ có 1.447 ha (chiếm 2,8% diện tích đất tự nhiên), có tầng dầy từ 70 -100cm, pH đất 4,5, tập trung chủ yếu ở ven các sông suối và thung lũng đất đai thíchhợp cho cây lương thực và cây thực phẩm
Vùng trung du, ven biển: Đây là một trong những vùng đất chủ đạo của Thành
phố có khả năng khai thác để sử dụng lâu dài Diện tích khoảng 23.000 ha, chiếmkhoảng 33,2% diện tích đất tự nhiên, bao gồm núi thấp xen kẽ là những thung lũng có
Trang 32ruộng bậc thang và một số đồng ruộng bằng phẳng ven sông, biển Vùng này có các xã,phường: Hải Tiến, Hải Đông, Hải Yên, Hải Xuân, Bình Ngọc, Vạn Ninh, Hải Hoà, NinhDương và trà Cổ Trong đó có 2.300 ha đất bạc màu, 2.500 ha đất phù sa bồi có tầng dàytrung bình từ 12 - 15cm có khả năng trồng cây lương thực, thực phẩm, cây lấy gỗ Ngoài
ra còn có trên 1.000 ha đất phù sa ven biển với cả hai dạng phù sa cũ và phù sa mới, chủyếu phát triển trên nền đá biến chất, sa thạch và diệp thạch, địa hình thấp, sườn dốc thoảihoặc bằng nhưng bị kết vón khá mạnh, có đá ong, tầng canh tác mỏng, một số ít diệntích mới được đưa vào sử dụng, phần lớn còn lại là đất hoang hoá chưa được cải tạo.Vùng này có thể dùng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản hay quai đê lấn biển cải tạo đểphát triển nông nghiệp
Vùng đảo: Là vùng đồi núi thấp, bị bào mòn mạnh, có diện tích khoảng 9.900
ha bằng 19% diện tích tự nhiên toàn thành phố bao gồm 02 xã Vĩnh Trung và VĩnhThực Đất trong vùng chủ yếu là cát pha, thịt nhẹ, phần lớn bạc màu chua và mặn.Vùng thấp, thung lũng có khả năng phát triển trồng cây lương thực, thực phẩm, vùngđồi núi thích hợp cho trồng rừng và phi lao
3.1.1.4 Hệ thống sông ngòi
Sông Ka Long: Bắt nguồn từ Trung Quốc, là đường biên giới giữa hai nước rồi
đổ ra biển Chiều dài đoạn sông chảy qua thành phố là 65km Lưu lượng lũ về tháng 6 là7.000m3/s, mùa kiệt từ tháng 12 năm trước đến tháng 1 năm sau là 12,1m3/s Mức nướctrung bình thấp hơn so với mặt đất là 5 - 6m Về mùa khô nước sông bị nhiễm mặn nênviệc lấy nước tưới cho cây trồng bị hạn chế
Sông Tràng Vinh: Bắt nguồn từ các đỉnh núi cao từ 546 đến 866 m chảy quaTràng Vinh rồi đổ ra biển Chiều dài sông trên 20 km Độ dốc trung bình 11m/km Diệntích lưu vực 69 km2, lưu lượng trung bình là 15,5m3/s, mùa lũ 633m3/s, mùa kiệt
0,1m3/s Hồ Tràng Vinh nằm trên địa phận xã Hải Sơn, cách trung tâm thành phố MóngCái 15 km về phía Tây với dung tích 53 triệu m3, trong đó dung tích hữu ích 37 triệu m3
3.1.1.5 Đặc điểm thuỷ triều
Thuỷ triều khu vực Móng Cái thuộc dạng nhật triều thuần nhất, trong một tháng
có hai chu kỳ triều cường với độ cao mực nước trung bình đạt 3,9m và hai triều kém với
độ cao mực nước trung bình đạt 1,9m Hướng dòng triều là hướng tây Bắc - Đông Nam
Trang 333.1.1.6 Các tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất: Thành phố Móng Cái có diện tích đất tự nhiên 51.479,4 ha
phần lớn được tạo thành bởi phù sa bồi sông, biển pha hỗn hợp với trầm tích biển, đấtđai Móng Cái được chia thành các nhóm chính sau:
Vùng đất đồi núi: bao gồm toàn bộ xã Hải Sơn, Quảng Nghĩa và một vùng hải
đảo Vĩnh Thực, Vĩnh Trung diện tích khoảng 27.100 ha chiếm 52,62% diện tích tựnhiên của thành phố Đây là loại đất được phong hoá trên đá mẹ, thành phần cơ giới từnhẹ đến nặng, thích hợp cho trồng rừng, cây đặc sản, cây ăn quả
Vùng đồng bằng ven biển: Chủ yếu là những vùng đất bằng phẳng và các ruộng
bậc thang với diện tích 5000 ha Độ dày tầng đất trung bình từ 12 - 15cm, phân bố ởcác xã phường: Hải Tiến, Hải Đông, Hải Yên, Hải Xuân, Bình Ngọc, Vạn Ninh, HảiHoà, Ninh Dương và Trà Cổ
* Tài nguyên biển:
Với chiều dài bờ biển 50 km, có diện tích bãi triều rộng, gần ngư trường đánh
cá, Móng Cái có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nghề khai thác, nuôi trồng và chếbiến hải sản Vùng biển có nhiều loại hải sản quý như mực, tôm, cua, sò huyết, rongcâu…Trữ lượng cá có thể khai thác hàng năm khoảng 6.000 - 7.000 tấn Ngoài khaithác cá và các loại hải sản ở ngư trường ven bờ, Móng Cái có thể vươn ra các ngư
trường ngoài khơi như Cô Tô, Bạch Long Vĩ
Tài nguyên biển của Móng Cái không chỉ dừng lại ở nguồn lợi thuỷ sản do biểnmang lại mà biển Móng Cái nằm trong quần thể du lịch sinh thái Hạ Long - Cát Bà -Trà Cổ Bãi biển Trà Cổ chạy dài, bằng phẳng, xoải dần, cát mịn màng, nước trongxanh kết hợp với những sóng gió đưa từ biển vào tạo nên một nét riêng độc đáo thu hútnhiều khách du lịch từ các nơi trong và ngoài nước đến thăm quan, du lịch
Nguồn lợi biển bao gồm:
Thực vật nổi: Thành phần thực vật nổi rất phong phú và đa dạng với 180 loài, chủ
yếu là tảo lục, tảo lam và tảo silic Sự phát triển về sinh vật lượng phụ thuộc vào nồng
độ muối, các chi ưu thế thường đạt giá trị cao vào mùa khô và lúc triều cường, giảmtrong mùa lũ Thời kỳ mật độ thực vật nổi cao vào tháng 10, 11 và tháng 4, 5 có liênquan đến khối nước biển xâm nhập vào các cửa sông rộng và nơi có độ sâu lớn
Động vật nổi: Đến nay đã xác định được khoảng 123 loài, mật độ và sinh vật
lượng động vật nổi thay đổi phụ tộc vào độ mặn của nước biển, đồng thời liên quan đến
Trang 34nguồn thức ăn (thực vật nổi) Trong cấu trúc số lượng động vật nổi, nhóm giáp xác chânchèo chiếm ưu thế về mật độ ( 53 - 84%) sau đó là nhóm giáp xác râu ngành (15 - 45%).Biến động số lượng của động vật nổi theo thuỷ triều cũng tương tự như thực vật nổi,nghĩa là đỉnh cao của sự xuất hiện lúc triều cường và giảm thấp lúc triều kém.
Động vật đáy: Khu vực Móng Cái thuộc vịnh Bắc Bộ, động vật đáy khá phong
phú, khoảng trên 600 loài, tính đa dạng của động vật đáy có liên quan chặt chẽ với tính
đa dạng của sinh vật cảnh Các nhóm động vật chủ yếu là: Giun nhiều tơ (Polychaeta),giáp xác (Crustacea), và nhiều loài nhuyễn thể khác như ngao, hến, ốc Trong đó cónhiều loài thuộc nhóm rộng muối, rộng nhiệt, chịu được sự thay đổi lớn về độ mặn vớithành phần trong rừng ngập mặn phong phú hơn các bãi triều trống trải
Thực vật phù du: Trong vùng có nhiều loại thực vật phù du có ý nghĩa quan trọng
làm thức ăn giai đoạn đầu cho ấu trùng các loài tôm cá như: Skeletonema; Chaetoceros;Navicula; Nitzchia Sinh vật lượng bình quân 18 x 103 tế bào/m3
Động vật phù du: Sự phân bố của động vật phù du quan hệ mật thiết với sự biến
động của độ mặn Trong phạm vi ảnh hưởng của thuỷ triều thì vùng nước lợ thường cómật độ và sinh vật lượng cao nhất Thành phần loài và mật độ tại các khu vực cực đại
về sinh khối được quyết định bởi sự xuất hiện đồng thời hai nhóm loài nước lợ và
nhóm từ biển xâm nhập vào.Trong một năm, số lượng và sinh vật lượng động vật phù
du cao vào mùa khô và giảm vào mùa mưa Số lượng trung bình có thành phần thấpnhất là 2,75 x 103 con/m3 nước Trong ngày, thành phần mật độ và sinh vật lượng củađộng vật phù du cao nhất vào lúc triều cường và giảm vào lúc triều rút
* Tài nguyên nước:
- Nước mặt: Lượng nước các con sông ở Móng Cái khá phong phú và phân bốkhá đều theo không gian Tuy nhiên dòng chảy thay đổi theo thời gian Mùa mưa bắtđầu từ tháng 5 đến tháng 9, thời kỳ này dòng chảy lớn, lượng nước chiếm từ 80 - 90%tổng lượng nước cả năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 4 nămsau, dòng chảy nhỏ Tổng lượng dòng chảy của 3 con sông chính lên tới 1.164 tỷ m3
nước trong 1 năm Do địa hình phức tạp, sông ngắn, dốc nên cần phải xây dựng cáccông trình trữ và điều tiết nước
- Nước ngầm: Tổng trữ lượng nước ngầm của Móng Cái cũng khá lớn, khoảng1.500m3/ ngày đêm và phân bố đều trong Thành phố
Trang 35Nguồn nước mặt và nước ngầm của Móng Cái nếu được đầu tư khai thác đủkhả năng đáp ứng nhu cầu về nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dulịch và sinh hoạt của nhân nhân trong hiện tại và tương lai.
- Chất lượng nước: Nhìn chung chất lượng nước từ các hồ đập rất tốt, nướcsông và nước ngầm thường bị nhiễm mặn vào mùa khô, vì vậy cần có biện pháp xử lýtrước khi đưa vào sử dụng
* Tài nguyên rừng:
Móng Cái hiện có 9.961 ha rừng chiếm 19,3% diện tích tự nhiên của Thànhphố, trong đó rừng tự nhiên có 7.731 ha bằng 77,6% diện tích rừng Rừng trồng có2.230 ha bằng 22,4% diện tích rừng Diện tích rừng Móng Cái tuy ít nhưng phong phú
về chủng loại Thực vật có khoảng 1.027 loài, động vật có khoảng 120 loài RừngMóng Cái chia ra 02 loại chính:
+ Rừng phòng hộ: có 7.41,5 ha Trong đó rừng tự nhiên là 6.460,3 ha tập trung
ở Quảng Nghĩa, hải Sơn, Vạn Ninh; rừng trồng là 950,2 ha tập trung ở Hải Yên, HảiĐông, Trà Cổ, Bình Ngọc, Vạn Ninh, Hải Hoà
+ Rừng sản xuất: có 2.550,5 ha Trong đó rừng tự nhiên là 1.270,8 ha tập trung
ở Hải Sơn; rừng trồng là 1.279,7 ha tập trung ở các xã Quảng Nghĩa, Hải Tiến, VĩnhThực và Hải Sơn
* Tài nguyên du lịch và nhân văn:
Thành phố Móng Cái có nhiều phong cảnh đẹp nổi tiếng, không khí trong lành,
có khả năng thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Bãi biển Trà Cổ với bờbiển dài 17 km bằng phẳng, bãi cát mịn, có rừng phi lao dọc theo bờ biển, mặt bằngkhông gian rộng, đủ điều kiện để xây dựng khu nghỉ mát du lịch Quốc gia Cạnh bãibiển có đình Trà Cổ được xây dựng từ thế kỷ XV với kiến trúc đẹp, được Nhà nướccông nhận di tich lịch sử văn hoá Nơi đây hiện còn lưu giữ phong sắc của vua MinhMạng nhà Nguyễn Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn nhiều chùa chiền như chùaKhánh Linh, chùa xuân Lan, nhà thờ Trà Cổ có kiến trúc đẹp với những nét độc đáoriêng, càng làm tăng thêm sự ngưỡng mộ của du khách Đảo Vĩnh Thực có thể xây dựngthành một hải cảng kết hợp với du lịch; Trong tương lai hồ Tràng Vinh là nơi du lịch vànghỉ dưỡng
Trang 363.1.2.1 Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Móng Cái
Cùng với sự phát triển của ngành thuỷ sản nói chung, giá trị sản xuất của ngànhthuỷ sản Móng Cái liên tục tăng lên trong vài năm gần đây Kết quả được trình bàytrong bảng 3.1
Bảng 3 1: Giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Móng Cái
(Phòng Thống kê Móng Cái, 2010)
Qua bảng 3.1 cho thấy, giá trị sản xuất của ngành thuỷ sản Móng Cái năm 2005đạt 170,145 tỷ đồng đã tăng lên 275,097 tỷ đồng vào năm 2009 Trong đó, tuy nhịp độtăng không đều nhưng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản vẫn có xu hướng tăng nhanh hơn
so với sản lượng khai thác thuỷ sản Tổng sản lượng nuôi trồng đạt cao nhất vào năm
2007 với 3.520,0 tấn và tương ứng, tổng sản khai thác thuỷ sản đạt cao nhất vào năm
2009 với 4.107,7 tấn
3.1.2.2 Dân số và lực lượng lao động
Theo số liệu thống kê của phòng thống kê TP Móng Cái, tính đến năm 2009,trên địa bàn toàn thành phố có 88.721 nhân khẩu với 23.316 hộ dân Trong đó tổng sốlao động trong độ tuổi là 49.858 người
Bảng 3 2: Dân số và số hộ dân của TP Móng Cái
Trang 373.1.2.3 Cơ cấu kinh tế
Với lợi thế về vị trí địa lý, giao thông thuỷ, bộ thuận lợi; thế mạnh về các ngànhdịch vụ, nông - lâm - ngư nghiệp, Móng Cái đã và đang có sức thu hút đối với các nhàđầu tư trong và ngoài nước Thành phố Móng Cái luôn khuyến khích, tạo điều kiệnthuận lợi nhất cho mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh có hiệu quả để tạonền tảng kinh tế vững chắc, chủ động hội nhập; vận dụng linh hoạt cơ chế, chính sách
ưu đãi để tạo bước đột phá ngay trong giai đoạn đầu hội nhập và ngay những ngày đầumới thành lập của một thành phố non trẻ Giữ vững và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúnghướng: thương mại, du lịch, dịch vụ (70%); công nghiệp, xây dựng (18%); nông lâmngư nghiệp (12%) Phát triển kinh tế bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái
* Du lịch - dịch vụ, thương mại:
Du lịch dịch vụ:
Khi chưa có chính sách mở cửa, đổi mới, mặc dù Móng Cái có tiềm năng dulịch rất lớn song không phát huy được Nguyên nhân chính là giao thông đi lại khókhăn (đặc biệt là trước năm 1995), lượng khách quốc tế đến tham quan du lịch MóngCái rất ít, các ngành dịch vụ du lịch không phát triển được Từ khi Chính phủ có quyếtđịnh 675 TTg cho phép áp dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực cửa khẩuMóng Cái, hệ thống giao thông đã được tu sửa nâng cấp Đến nay, hệ thống giáo thông
từ Hạ Long ra Móng Cái đã và đang được nâng cấp, mở rộng Thị trường dịch vụ dulịch của Móng Cái phát triển rất nhanh, chất lượng phục vụ được nâng lên rõ rệt, giá cảvừa phải, đặc biệt là môi trường du lịch được quản lý chặt chẽ, không có sự ép giá,không còn các tệ nạn tại các khu du lịch, thị trường dịch vụ cạnh tranh mạnh mẽ songđảm bảo lành mạnh Thủ tục, chính sách xuất nhập cảnh được áp dụng và từng bướcđược cải tiến theo hướng đơn giản, thuận tiện, giá Tour cạnh tranh, chất lượng phục vụngày càng được nâng lên Tất cả những yếu tố trên là những động lực rất lớn thúc đẩyngành du lịch Móng Cái phát triển
Khách đi du lịch năm 1995 chỉ có 9.007 lượt thì năm 2003 lên tới hơn 250.000lượt, năm 2006 có 362.458 lượt Tốc độ tăng bình quân là 26.780 lượt/năm, cá biệt cónăm tăng trên 50.000 lượt Lượng khách lưu trú tại Móng Cái hàng năm đạt 95.000 -100.000 lượt và năm 2006 đạt 122.550 lượt thực sự đang mở ra nhiều cơ hội để kíchcầu các ngành dịch vụ du lịch phát triển
Trang 38Doanh thu ngành du lịch : năm 1995 đạt 9.862 triệu đồng thì năm 2003 đạt310,839 tỷ đồng Năm 2005, 2006 tuy có rất nhiều khó khăn song doanh thu ngành dulịch cũng đạt được 250 tỷ đồng.
Hoạt động thương mại:
Hoạt động thương mại xuất nhập khẩu được hình thành và phát triển tại MóngCái từ khi Nhà nước mở cửa khẩu Quốc tế thông thương với Trung Quốc Tuy nhiêntrong thời gian qua chỉ có ngành dịch vụ phục vụ xuất nhập khẩu phát triển và chiếm
ưu thế (chuyển khẩu, chuyển tải, kho ngoại quan), kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩucòn hạn chế Từ khi có Quyết định 675TTg (năm 2001 được cụ thể hóa bằng Quyếtđịnh 53/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ), hoạt động xuất nhập khẩu cửa khẩuMóng Cái thực sự chuyển mình và phát triển với tốc độ cao Năm 1995, tổng kimngạch hàng hoá xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Móng Cái đạt 164,8 triệu USD thì năm
2006 ước đạt 2.110 triệu USD, tốc độ tăng bình quân đạt 30-40%/năm Song song vớigiá trị kim ngạch tăng cao, trong cơ cấu kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu cũng cónhiều dấu hiệu đáng mừng (kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng và ngày càng chiếm tỷtrọng lớn trong cơ cấu kim ngạch hàng hóa XNK - riêng năm 2006, kim ngạch hàngxuất khẩu đạt 980,6 triệu USD), phản ánh năng lực của nền kinh tế Việt Nam trongtiến trình hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế toàn cầu
Về thị trường thương mại: Các khu thương mại liên tiếp được đầu tư, xây dựng,nâng cấp hiện đại Đáng chú ý là đã có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước tự bỏvốn xây dựng trung tâm thương mại, góp phần thúc đẩy sự giao lưu hàng hoá Do vậndụng linh hoạt cơ chế ưu đãi theo quyết định 675TTg và 53TTg, phát huy thế mạnh,tháo gỡ khó khăn kịp thời trong hoạt động xuất nhập khẩu nên khu kinh tế cửa khẩuMóng Cái thực sự có sức cuốn hút các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đến đầu
tư, kinh doanh Đến năm 2006 đã có có 277 doanh nghiệp (quốc doanh, ngoài quốcdoanh, đầu tư nước ngoài, HTX, chi nhánh, văn phòng đại diện) và 4.853 hộ kinhdoanh cá thể (trong đó có 2.430 hộ kinh doanh tại 4 chợ trung tâm) Móng Cái đangthực sự trở thành khu kinh tế thương mại lớn thứ 2 của Tỉnh Quảng Ninh
* Nông - lâm - ngư nghiệp:
Thành phố thường xuyên quan tâm, ưu tiên cho chương trình khuyến nông,chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp với điều kiện pháttriển ở địa phương Hàng năm Thành phố đầu tư giành một khoản kinh phí để Trung
Trang 39Tâm Khuyến Nông nghiên cứu đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp Cơ sở hạ tầng được đầu tư tương đối toàn diện, đồng bộ đã phát huy hiệu quả,đáng chú ý nhất là chương trình kiên cố hoá kênh mương nội đồng, việc xây dựng vàtriển khai quy hoạch và đầu tư hạ tầng cho các vùng nuôi trồng thuỷ sản Mô hìnhchuyển đổi kinh tế trang trại gắn với việc giao đất giao rừng cho các hộ dân được thíđiểm, tổng kết nhân rộng ra hầu hết các xã, phường trên địa bàn
Do có chủ trương đầu tư và tổ chức khai thác hiệu quả các công trình hạ tầngtrong sản xuất nông lâm ngư nghiệp nên kết quả thu được thật phấn khởi Nếu như năm
1995 tổng sản lượng lượng thực quy thóc đạt 11.897 tấn thì năm 2002 đã đạt 15.000 tấn,hoàn thành sớm hơn 2 năm so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố đã đề ra, đặcbiệt là năm 2006 tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt trên 16.977 tấn Tổng sảnlượng thuỷ sản năm 1995 đạt 2.512 tấn thì năm 2006 đạt 5.545,6 tấn trong đó sản lượng
nuôi trồng đạt 2.529,5 tấn, năm 2009 đạt 7.249 tấn, trong đó nuôi trồng 3.141 tấn.
* Công nghiệp và xây dựng:
Trước năm 1995, nền sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hầu như chưa
có, chỉ có một vài cơ sở cơ khí nhỏ phục vụ đời sống dân sinh, công nghệ sản xuất lạchậu, quy mô nhỏ lẻ, manh mún Từ khi có chính sách đổi mới, nền sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhanh chóng hình thành và phát triển mạnh Cơ chế ưu đãitheo quyết định 675TTg có sức hút rất lớn các thành phần kinh tế đầu tư, mở rộng sảnxuất Tận dụng, nắm bắt thời cơ, Thành phố đã triển khai xây dựng khu công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp Ninh Dương, Hải Yên (trong đó khu Công nghiệp Hải Yên với quy
mô 390 ha được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là khu công nghiệp trọng điểm của cảnước) Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 1995 đạt 19,8 tỷ thìnăm 2006 đạt 550 tỷ (giá thực tế), tốc độ tăng bình quân đạt 30%-50/năm
Nhìn chung công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh với các cơ sở sản xuất
có vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng luôn đạt trên 15% và năm 2008,tuy gặp khó khăn do lạm phát, do thị trường có sự thay đổi song giá trị sản xuất đạttrên 400 tỷ đồng Cùng với sự phát triển của ngành Thương mại, dịch vụ, ngành Côngnghiệp của Móng Cái đã làm thay đổi tỷ trọng kinh tế công nghiệp địa phương và giảiquyết việc làm cho hơn 2 vạn lao động có thu nhập ổn định Tổng thu ngân sách trênđịa bàn trong 10 năm qua luôn đạt 20-30%/năm, trong đó năm 2008 đạt 1.700 tỷ đồng
Trang 403.1.2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng
Từ khi có Quyết định 675 TTg của Thủ tướng Chính phủ kinh tế khu vực cửakhẩu Móng Cái cơ sở hạ tầng được tập trung đầu tư xây dựng, tạo nên một đô thị vănminh hiện đại Các công trình được đầu tư trọng điểm, có chiều sâu, khi đưa vào khaithác đã phát huy hiệu quả cao, đặc biệt là các công trình giao thông, các công trìnhphục vụ thương mại, du lịch, nông lâm ngư nghiệp
Từ năm 1995 đến nay, giá trị đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng toàn xã hội ở khuvực Móng Cái đạt trên 2300 tỷ đồng, trong đó các công trình đầu tư bằng nguồn vốnngân sách chiếm tới 60%, từ nhân dân chiếm 40% Trong nguồn ngân sách nhà nướctập trung đầu tư cho các công trình như đường giao thông, điện, thông tin liên lạc, khuthương mại, trường học, bệnh viện, công trình thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp phát triểnnông thôn
Về đầu tư lưới điện : Tính đến nay 100% các xã, phường đã được dùng điện lướiquốc gia Đáng chú ý là trong năm 2001 và năm 2003 đã triển khai xây dựng lưới điệnđến 2 xã đảo và xã Hải Sơn, Bắc Sơn, đây là điều mơ ước của đồng bào 2 xã đảo vànhân dân vùng dân tộc ít người từ nhiều năm nay Việc đưa điện lưới quốc gia ra đảo vàHải Sơn, Bắc Sơn là tiền đề rất cần thiết để phát triển kinh tế xã hội cho vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn, giúp nhân dân vươn lên xoá đói, giảm nghèo và có cuộcsống văn minh hơn Đến nay, có tới 99% dân số được sử dụng điện lưới quốc gia
Về bưu chính viễn thông : ngành bưu chính viễn thông thực sự đi trước một bước,mạng cáp quang đã được đầu tư đưa vào sử dụng hàng năm phát triển thêm từ 500 -
700 máy Hệ thống tổng đài điện thoại di động từng bước được nâng cấp, hiện đại,dịch vụ đa dạng, phong phú hơn Từ năm 2003 đến nay ngành bưu chính đã có bướcđột phá trong việc đầu tư công nghệ, nâng cấp mạng, mở rộng hku vực phủ sóng Tínhđến nay trên địa bàn Thành phố, sóng di động đã bao phủ cơ bản (kể cả vùng Trà Cổ,Bình Ngọc và 2 xã đảo và xã Bắc Sơn) phục vụ khu du lịch và thúc đẩy phát triển kinh
tế xã hội cho 2 xã đảo Đến nay mật độ máy đã đạt 36,3 máy/100 dân (bao gồm cả sốthuê bao di động trả sau) gấp 8 lần so với thời điểm năm 1995