NGUYỄN THỊ MAIKỸ THUẬT NUÔI LỒNG CÁ BIỂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG THỨC ĂN NUÔI CÁ LÊN MÔI TRƯỜNG Ở VÙNG BIỂN VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản Mã số: 60 62 70 LUẬ
Trang 2NGUYỄN THỊ MAI
KỸ THUẬT NUÔI LỒNG CÁ BIỂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ
DỤNG THỨC ĂN NUÔI CÁ LÊN MÔI TRƯỜNG Ở VÙNG BIỂN
VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 60 62 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
T.S LÊ ANH TUẤN
Nha Trang - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu thu được trong quá trình điều tra là hoàn toànđúng với thực tế và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưađược sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ choviệc thực hiện luận văn này là đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luậnvăn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi đến Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa nuôi trồng thủy sản,Phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang sự kính trọng vàlòng tự hào được học tập tại trường trong thời gian qua
Xin Bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy hướng dẫn - Tiến sỹ Lê Anh Tuấn
đã dành cho tôi sự nhiệt tình, những lời động viên, sự dẫn dắt tôi trong suốt thời giantôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Dự án Hỗ trợ phát triển Nuôi trồng Thủy sản SUDA,
đã hỗ trợ kinh phí cho tôi trong suốt khóa học Tôi xin chân thành cảm ơn Cơ quanTrung tâm Khuyến nông Quốc gia đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia học tập vànghiên cứu để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn
Cuối cùng là lời cảm ơn đến gia đình là chỗ dựa tinh thần và tiếp sức cho tôihoàn thành chương trình học tập cũng như việc nghiên cứu thực hiện đề tài
Nha Trang, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Học viên
Nguyễn Thị Mai
Trang 5(Based Feed Intake) Lượng thức ăn cá ăn vàoThời gian theo dõi tính theo ngày
NitơNitơ tổng sốFood and Agriculture Organizationđồng
Việt Nam Đồng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Nuôi cá biển lồng bè trên thế giới 3
1.2 Nghề nuôi cá biển lồng bè ở Việt Nam 4
1.3 Sơ lược một vài đặc điểm sinh học của các đối tượng nuôi chính 6
1.3.1 Cá song chấm nâu 6
1.3.2 Cá giò 7
1.3.3 Cá hồng mỹ 8
1.4 Tình hình nghiên cứu tác động của việc nuôi lồng lên môi trường xung quanh 9
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 12
2.2 Đối tượng nghiên cứu: 12
2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu: 12
2.4 Phương pháp nghiên cứu 13
2.4 1 Tình hình nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn 13
2.4 2 Kỹ thuật nuôi lồng cá biển tại Vân Đồn, Quảng Ninh 13
2.4.3 Tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi cá lên môi trường ở vùng biển Vân Đồn 13
2.4.3.1 Tỷ lệ cá tạp trong nuôi cá lồng biển ở Vân Đồn 13
2.4.3.2 Sinh trưởng của cá 13
2.4.3.3 Tác động của việc cho cá ăn lên môi trường nuôi 13
2.4.4 Phương pháp đo các thành phần sinh hóa 14
2.4.4.1 Các yếu tố môi trường pH, nhiệt độ (0C), độ mặn (ppt): 14
2.4.4.2 Ni-tơ tổng số trong thức ăn và trong cá nuôi 14
2.4.4.3 Ni-tơ tổng số mẫu nước và mẫu chất đáy 14
2.4.5 Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động nuôi cá biển ở Vân Đồn14
Trang 72.5 Các chỉ tiêu đánh giá 15
2.5.1 Đánh giá kỹ thuật 15
2.5.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế 15
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
3.1 Tình hình nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh 16
3.1.1 Vùng nuôi 16
3.1.2 Đối tượng nuôi 16
3.1.3 Năng suất, sản lượng và số ô lồng nuôi cá 19
3.2 Kỹ thuật nuôi lồng cá biển 21
3.2.1 Vị trí nuôi: 21
3.2.2 Lồng, bè nuôi cá 22
3.2.3 Nguồn giống 23
3.2.4 Mùa vụ nuôi và thu hoạch 25
3.2.5 Chọn cá giống và thả cá giống 26
3.2.6 Kích cỡ và mật độ thả giống 26
3.2.7 Thức ăn cho cá 28
3.2.7.1 Loại thức ăn 28
3.2.7.2 Nguồn gốc thức ăn 28
3.2.7.3 Tỷ lệ cá tạp trong đánh bắt 28
3.2.7.4 Biến động nguồn thức ăn trong nuôi cá ở Vân Đồn 29
3.2.8 Kỹ thuật bảo quản thức ăn 30
3.2.9 Kỹ thuật cho cá ăn 30
3.2.10 Quản lý và chăm sóc 32
3.2.11 Phát hiện bệnh trên cá và phương pháp phòng trị 35
3.3 Tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi cá lên môi trường ở vùng biển Vân Đồn 37
3.3.1 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi các loài cá chính 37
3.3.1.1 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi cá cá song chấm nâu 37
3.3.1.2 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi cá cá giò 38
3.3.1.3 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi cá hồng mỹ 39
3.3.1.4 So sánh việc sử dụng cá tạp trong nuôi cá song chấm nâu, cá giò và cá hồng mỹ 40
3.3.2 Sinh trưởng của cá 41
Trang 83.4 Tác động của việc cho cá ăn lên môi trường nuôi trong nuôi cá 42
3.5 Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của hoạt động nuôi cá biển ở Vân Đồn 46
3.5.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế ở cấp độ hộ 46
3.5.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội ở cấp độ ngành 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 51
KẾT LUẬN 51
ĐỀ XUẤT 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tỷ lệ % lồng nuôi cá biển ở Vân Đồn 17
Bảng 3.2 Diện tích và sản lượng cá lồng nuôi biển từ năm 2005 đến 2009 ở Vân Đồn 19
Bảng 3.3 Sản lượng, giống thả nuôi, số ô lồng và số hộ nuôi cá biển toàn tỉnh Quảng Ninh từ 2007 đến 2009 20
Bảng 3.4 Nhiệt độ và độ muối tại Vân Đồn qua các tháng trong năm 2010 21
Bảng 3.5 Các loại lồng nuôi cá ở Vân Đồn 22
Bảng 3.6 Tỷ lệ % về nguồn gốc cá giống tại các hộ nuôi ở Vân Đồn 24
Bảng 3.7 Mật độ nuôi một số loài cá biển chính nuôi lồng (3 x 3 x 3m) ở Vân Đồn 26
Bảng 3.8 Thành phần thức ăn trong nuôi các đối tượng cá biển chính ở Quảng Ninh 37 Bảng 3.9 Thành phần Protein theo vật chất khô của cá tạp 37
Bảng 3.10 Tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá 41
Bảng 3.11 Hàm lượng Ni-tơ tổng số phóng thích vào môi trường trong nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn 43
Bảng 3.12 Hàm lượng Ni-tơ tổng số của chất nước và chất đáy trong lồng nuôi cá 44
Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế trong nuôi cá song 47
Bảng 3.14 Hiệu quả kinh tế trong nuôi cá giò 47
Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế trong nuôi cá hồng mỹ 47
Bảng 3.16 So sánh hiệu quả kinh tế trong nuôi các đối tượng 47
Bảng 3.17 Ước tính lợi nhuận cho toàn huyện đến 12/2011 49
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Cá song chấm nâu Epinephelus coioides 6
Hình 1.2 Cá giò Rachycentron canadum 7
Hình 1.3 Cá hồng mỹ Sciaenops ocellatus (Linné, 1766 ) 8
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 12
Hình 3.1 Vị trí huyện Vân Đồn 16
Hình 3.2 Tỷ lệ % số hộ tham gia nuôi cá ở Vân Đồn 17
Hình 3.3 Tỷ lệ % lồng nuôi cá biển ở Vân Đồn 18
Hình 3.4 Diện tích và sản lượng cá lồng nuôi biển từ năm 2005 đến 2009 ở Vân Đồn 19
Hình 3.5 Sản lượng, giống thả nuôi, số ô lồng và số hộ nuôi cá biển toàn tỉnh Quảng Ninh từ 2007 đến 2009 20
Hình 3.6 Lồng bè nuôi cá biển ở Vân Đồn 23
Hình 3.7 Tỷ lệ % về nguồn gốc cá giống tại các hộ nuôi ở Vân Đồn 24
Hình 3.8 Mật độ nuôi một số loài cá biển chính nuôi lồng (3 x 3 x 3m) ở Vân Đồn 27
Hình 3.9 Cá giò cỡ 8 – 12cm 27
Hình 3.11 Sơ đồ biến động cá tạp theo thời gian trong năm 29
Hình 3.12 Bảo quản thức ăn cho cá nuôi bằng thùng xốp có ướp đá 30
Hình 3.13 Cá tạp được xảy nhuyễn và ướp vào bao nylong để cho cá ăn trong ngày 31
Hình 3.14 Cho cá ăn giò qua lỗ thủng trên miệng lồng 32
Hình 3.15 Cho cá song ăn ở Vân Đồn 32
Hình 3.16 Giặt lồng bằng thanh gỗ 33
Hình 3.17, 3.18 Rác bẩn trong lồng và xung quanh lồng nuôi cá 34
Hình 3.19 Cá song bị bệnh lở loét 36
Hình 3.20 Tỷ lệ cá tạp trong nuôi cá song 38
Hình 3.21 Tỷ lệ cá tạp trong nuôi cá giò 39
Hình 3.22 Tỷ lệ cá tạp trong thức ăn của cá hồng mỹ 39
Hình 3.23 So sánh tỷ lệ cá tạp xuất hiện trong thức ăn của cá song, giò, hồng mỹ 40
Hình 3.24 Biến động hàm lượng Ni-tơ tổng số của chất nước trong các lồng nuôi cá 44 Hình 3.25 Biến động hàm lượng Ni-tơ tổng số của chất đáy trong các lồng nuôi cá 45
Hình 26, 27 Rác bẩn và dầu loang xung quanh khu vực nuôi cá ở Cái Rồng 46
Hình 3.28 So sánh hiệu quả kinh tế trong nuôi các đối tượng 48
Trang 11MỞ ĐẦU
Nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh đang phát triển với tốc độnhanh, hàng năm tạo ra lượng sản phẩm lớn phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu Chỉtính riêng năm 2007, vùng đã sản xuất được 1855 tấn cá từ nuôi lồng, chiếm 74,2%tổng sản lượng toàn tỉnh, cùng với đó đã thu hút và giải quyết việc làm cho hàng nghìnlao động trong vùng [6]
Từ năm 1996, khi mới bắt đầu phát triển, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi nêncác hộ nuôi thu lợi nhuận lớn, do đó thúc đẩy số hộ nuôi phát triển và tăng nhanh sốlồng bè nuôi, nhiều ngư dân chuyển từ khai thác sang nuôi thủy sản Từ đó góp phầnchuyển dịch cơ cấu nghề cá của huyện theo hướng giảm áp lực khai thác ven bờ, tăng
tỷ trọng nuôi và dịch vụ, làm thay đổi rõ rệt đời sống, giảm tỷ lệ đói nghèo trong cộngđồng ngư dân
Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển, đến nay những thuận lợi cũng như khókhăn, hạn chế đối với việc duy trì sự phát triển bền vững của nghề nuôi cá lồng bè ởVân Đồn đã dần bộc lộ và ngày càng rõ rệt Cùng với việc tăng nhanh lồng bè nuôitrên diện tích mặt nước, kỹ thuật nuôi còn hạn chế và thói quen sử dụng thức ăn là cátạp, cá có giá trị kinh tế thấp trong nuôi cá đã không những làm giảm nguồn lợi tựnhiên mà còn có thể gây ô nhiễm đến môi trường nước Đây cũng đang là vấn đềchung của toàn cầu Theo thống kê của Mạng lưới các Trung tâm Nuôi trồng thủy sản
ở châu Á - Thái Bình Dương (NACA), trong những năm qua, việc phát triển nghề nuôi
cá biển đã kéo theo nhu cầu sử dụng các loại cá tạp vào mục đích làm thức ăn cho cánuôi gia tăng, ước tính khoảng 5 – 10 triệu tấn/năm [26] Ở nước ta hiện nay, đa sốngư dân nuôi cá lồng bè trên biển đều sử dụng nguồn cá tạp làm thức ăn trong nuôitrồng thủy sản Tổng sản lượng cá tạp sử dụng trực tiếp làm thức ăn trong nuôi trồngthủy sản trong cả nước, ước tính 202.086 tấn/năm [13] Để giải quyết khó khăn này,nhiều chủ trương và chính sách của Nhà nước đang được đưa ra để thực hiện mục tiêugiảm sử dụng cá tạp trong nuôi biển
Nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin cũng như làm căn cứ khoa học chonhững nghiên cứu sau này liên quan đến lĩnh vực nuôi lồng cá biển tại Vân Đồn, tôithực hiện đề tài: Kỹ thuật nuôi lồng cá biển và tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi
cá lên môi trường ở vùng biển Vân Đồn, Quảng Ninh
Trang 12Mục tiêu chính của đề tài: tìm hiểu kỹ thuật nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn, qua
đó xác định tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi cá lên môi trường ở vùng biển VânĐồn
Đề tài chủ yếu đi sâu vào các đối tượng cá biển nuôi chính (cá song chấm nâu,
cá giò và cá hồng mỹ) với các nội dung sau:
1) Tình hình nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh
2) Kỹ thuật nuôi lồng cá biển tại Vân Đồn
3) Tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi cá lên môi trường ở vùng biển VânĐồn, Quảng Ninh
4) Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của hoạt động nuôi cábiển ở Vân Đồn
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Về mặt khoa học, nghiên cứu này góp phần làm cơ sở khoa học cho các nghiêncứu về kỹ thuật nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn Đề tài ước tính hàm lượng Ni-tơ thải do
sử dụng thức ăn trong nuôi cá biển nhằm đánh giá mức độ gây ô nhiễm môi trường ởvùng biển Vân Đồn Từ đó đề xuất một số giải pháp liên quan tới việc quản lý và sửdụng thức ăn trong nuôi lồng cá biển cho vùng, nhằm góp phần thúc đẩy phát triểnnuôi lồng cá biển ở Vân Đồn nói riêng và nghề nuôi cá biển của nước ta nói chungtheo hướng ngày càng bền vững
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Nuôi cá biển lồng bè trên thế giới
Trong những thập kỷ gần đây, nghề nuôi cá biển ở khu vực Đông Nam Á pháttriển rất mạnh ở nhiều vùng lãnh thổ như: Thái Lan, Philippin, Indonexia, Đài Loan,Malaysia, Trung Quốc Trong đó Indonexia là nước đi đầu về tổng sản lượng nuôilồng cá biển, với 381.485 tấn vào năm 1991; Philippin đứng vị trí thứ 2 với 282.119tấn, tiếp đến Thái Lan 93.060 tấn, Malaysia 11.575 tấn và cuối cùng Việt Nam 123 tấn[28]
Nuôi biển là một ngành mới nhưng phát triển nhanh chóng vì sản phẩm củanuôi biển có giá trị cao hơn các sản phẩm thủy sản từ các ngành khác Sản lượng thủysản cung cấp cho tiêu dùng năm 1994 là 80 triệu tấn trong đó khai thác hải sản chiếm
52 triệu tấn (65%), nuôi trồng 21,0 triệu tấn (26,2%) Theo FAO (2007), đến năm 2010tổng sản phẩm thủy sản cung cấp cho tiêu dùng ước khoảng 120 triệu tấn, trong đó sảnphẩm do nuôi trồng là 39,0 triệu tấn (32%) Như vậy, trong những năm tới thế giới sẽhạn chế sản lượng từ khai thác hải sản mà tập trung đẩy nhanh sản lượng thủy sản từnuôi trồng
Theo dự báo của FAO, cơ cấu nuôi trồng thủy sản nước ngọt năm 1994 chiếm61% nhưng năm 2010 còn lại 51%, trong khi đó nuôi cá biển từ 2% năm 1994 sẽ tănglên 8% trong năm 2010
Cùng với xu hướng trên, hiện nay nuôi thuỷ sản lồng bè, mà đặc biệt là nuôi cálồng trên biển đã và đang phát triển nhanh chóng và được coi như một giải pháp quantrọng nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng sản phẩm thuỷ sản ngày càng tăng của ngườitiêu dùng Đến nay có hàng trăm quốc gia sử dụng hệ thống nuôi thuỷ sản lồng bè tậndụng từ các mặt nước như hồ, đập, sông và vùng ven biển Theo FAO (2007), tổng sảnlượng nuôi thuỷ sản lồng bè ước tính năm 2005 của một số nước có nghề nuôi cá lồng
bè phát triển như sau: Thuỵ Điển 652.306 tấn, Chi Lê 588.060 tấn, Nhật 272.821 tấn,Anh 135.253 tấn, Việt Nam 126.000 tấn, Canada 98.441 tấn, Thổ Nhĩ Kỳ 78 924 tấn
Nhìn chung Việt Nam vẫn là một trong số những nước phát triển khá chậmnghề nuôi lồng cá biển Nghề này ở nước ta vẫn chưa phát triển theo hướng công
Trang 14nghiệp hiện đại và mới được xem như là tận dụng mặt nước nuôi phong phú, đa dạnghình thức canh tác để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
Nhật Bản nuôi từ năm 1930, chủ yếu nuôi cá cam, cá tráp đỏ Ở các nước Châu
Mỹ nuôi từ thập kỷ 50, thường nuôi cá hồi, cá nheo
Những năm gần đây Na Uy có tốc độ phát triển nuôi cá biển lồng bè nhanhnhất, chủ yếu nuôi cá hồi đại dương, sản lượng cá nuôi từ 10 vạn tấn (1982) lên 20 vạntấn (1994) và 29 vạn tấn (1996), giá trị sản lượng nuôi cá lồng trên biển lên tới 3 tỷUSD Ở nước này đã giải quyết hoàn chỉnh được những vấn đề khó khăn lớn trongcông nghệ chế tạo cỡ lồng lớn, với ưu điểm vật liệu nhé, giá thành thấp, có sức chốngchịu với mức sóng biển 7 – 10m
Ở Trung Quốc mới bắt đầu nuôi từ thập kỷ 70, năm 2001 đã có 20 vạn lồngnuôi, sản lượng cá lồng biển 339.000 tấn [8]
1.2 Nghề nuôi cá biển lồng bè ở Việt Nam
Là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển thuỷ sản biển, trong những nămqua nghề nuôi biển của Việt Nam đã có những bước phát triển không chỉ về diện tích,
số lồng nuôi mà sản lượng nuôi biển cũng không ngừng được tăng lên Diện tích mặtbiển có thể đưa vào quy hoạch nuôi biển năm 1994 lên tới 460,000 ha [1] Ngành thủysản nước ta đã đề ra mục tiêu, phấn đấu đưa nước ta thành một quốc gia mạnh về biển,giàu lên từ biển; phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp 53-55% GDP và 55-60% kimngạch xuất khẩu của cả nước [36]
Ở nước ta từ năm 1990 đến nay, do nhu cầu thị trường, nghề nuôi lồng cá biển
có xu thế tăng nhanh ở các tỉnh ven biển từ Móng Cái đến Hà Tiên [17] Các loài cábiển nuôi phổ biến như cá song, cá giò, cá hồng, cá vược, cá cam, cá đối mục, cá tráp,
cá hường, cá chim biển Khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh thuộc các vùng có số lường
bè cá nhiều nhất, tính đến giữa năm 1995, tổng số lượng bè cá ở khu vực này có
khoảng 300 – 400 ô lồng Khu vực biển miền Trung, từ Đà Nẵng đến Bình Thuận cókhoảng 200 ô lồng và khu vực Đông Tây Nam Bộ có trên 100 ô lồng [22] Năm 2003,
cả nước có khoảng 6800 lồng nuôi cá biển [15] Năm 2005 cả nước có 16.319 ô lồngnuôi cá biển, đạt 3.508 tấn, tốc độ tăng số lồng 73%/năm và sản lượng 83%/năm [25]
Nuôi lồng cá biển ở nước ra đang phát triển nhanh chóng và được coi như mộtgiải pháp quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng sản phẩm thuỷ sản ngày càngtăng của người tiêu dùng Hiện nay khả năng cung ứng thủy sản của cả nước vào
Trang 15khoảng 8kg/đầu người/năm Mục tiêu phấn đấu tăng gấp đôi 16kg/đầu người/năm vàonăm 2010 thì sản lượng thủy sản có giá trị cao hàng năm cần có để tiêu thụ cho hơn 80triệu dân là 1,3 triệu tấn thành phẩm [3] Tuy nhiên, nghề nuôi lồng cá biển nước tacòn chậm phát triển, mang tính chất tự phát, nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch nên diễn ra tìnhtrạng môi trường nuôi bị ô nhiễm, do có một số vùng nuôi tập trung mật độ cao và sửdụng cá tạp làm thức ăn.
Theo đánh giá của FAO, nghề nuôi cá lồng biển của Việt Nam còn non trẻ sovới các nước trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, chúng ta có đầy đủ tiềm năng đểphát triển nghề này [17] Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3.600 km, dọc ven biển
có nhiều eo, vịnh kính gió, có trên 4.000 hòn đảo lớn nhỏ với điều kiện tự nhiên thuậnlợi cho nuôi trồng, đặc biệt là khu vực Vịnh Hạ Long, vùng biển từ Nha Trang đếnPhan Thiết và vùng biển phía Tây Nam Bộ là những vùng biển có tiềm năng rất lớncho nuôi cá lồng biển [17] Việc phát triển nuôi lồng trên biển chỉ thích hợp cho cáckhu vực thuộc đầm phá, vũng vịnh, là những nơi ít chịu tác động của sóng gió so vớivùng biển mở Các vùng thích hợp cho nuôi lồng là Vịnh Hạ Long, vùng biển miềnTrung từ Thừa Thiên – Huế đến Ninh Thuận Đây là nhưng nơi có đầm phá, vũng vịnhthuận lợi cho việc nuôi biển [36]
Biển Vân Đồn nằm trong vùng vịnh Bái Tử Long, có diện tích tự nhiên 59.676
ha với gần 600 hòn đảo lớn và nhỏ, trong đó có hơn 20 hòn đảo có người ở, lớn nhất làđảo Cái Bầu rộng 17.212 ha Ngoài ra, vùng còn có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, có bờbiển khúc khuỷu và các hòn đảo lớn nhỏ tạo ra các eo vịnh nông kín sóng gió, rấtthuận lợi cho việt phát triển nuôi cá biển theo phương thức lồng bè
Nghề nuôi thuỷ sản lồng bè ở Vân Đồn bắt đầu từ năm 1996, nuôi với quy mônhỏ lẻ tại một vài hộ gia đình ở thị trấn Cái Rồng, sau đó mở rộng ra toàn huyện,nhưng tập trung với mật độ cao hơn ở các xã Thắng Lợi, Ngọc Vừng, Quan Lạn, BảnSen, Đông Xá và thị trấn Cái Rồng [18]
Xác định được tiềm năng của đất nước và định hướng phát triển cho mục tiêunâng cao sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đáp ứng thị trường tiêu thụ nội địa và xuấtkhẩu thuỷ sản, hiện nay Nhà nước ta đang đưa ra các chính sách nhằm khuyến khíchphát triển nuôi trồng thuỷ hải sản trên biển và hải đảo (Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg) và quy hoạch các vùng nuôi biển
Trang 16Với tiềm năng và lợi thế của vùng ven biển nước ta, nếu được đầu tư đúng mức,ngư dân và các cơ sở sản xuất tiếp nhận được kỹ thuật nuôi tiên tiến và khi đã hoàntoàn chủ động được khâu sản xuất nhân tạo giống cá biển thì nghề nuôi cá lồng biểncủa Việt Nam sẽ có những bước nhảy vọt, tạo việc làm và tăng thu nhập cho đông đảongư dân vùng ven biển, đem lại nguồn hàng xuất khẩu lớn cho đất nước [22].
Ở khu vực miền Bắc nước ta, đặc biệt là Quảng Ninh và Hải phòng, các loài cásong, cá giò, cá hồng, cá tráp vây vàng là những đối tượng đang được nuôi phổ biếntrong các lồng bè của ngư dân Đây là những loài cá có giá trị kinh tế cao, tốc độ sinhtrưởng nhanh, thị trường tiêu thụ rộng rãi, dễ nuôi, phù hợp với qui mô hộ gia đìnhcũng như nuôi công nghiệp Trong đó, cá song và cá giò được xem là những đối tượngnuôi đóng góp sản lượng chủ yếu cho nghề cá biển
1.3 Sơ lược một vài đặc điểm sinh học của các đối tượng nuôi chính
1.3.1 Cá song chấm nâu (Epinephelus coioides)
Hình 1.1 Cá song chấm nâu Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) [29].
Cá song chấm nâu thuộc loài cá biển, sống đáy, phần lớn sống vùng rạn san hô.Phân bố vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương: vùng Biển Đỏ ở phía nam Durban, NamPhi và phía đông giáp Palau và Fiji, phía bắc quần đảo Ryukyu, phía nam đến biểnArafura và Australia Chiều dài thân 120cm Khối lượng lớn nhất có thể đạt 15kg Độ
Trang 17tuổi lớn nhất có thể 22 tuổi Độ tuổi tham gia sinh sản trung bình 1,4 – 4,4 năm tuổi.
Cá song chấm nâu có tập tính dinh dưỡng ăn cá nhỏ, tôm, và cua [29]
Hình 1.2 Cá giò Rachycentron canadum (FAO, 1974).
Cá giò có màu màu nâu đen tối, màu nâu và trắng theo chiều ngang bụng Màuđen hai bên lưng rất rõ rệt ở giai đoạn cá bé, nhưng có xu hướng nhạt dần ở giai đoạn
cá trưởng thành Cơ thể thuôn dài, hình trụ nhỏ, đầu rộng, miệng lớn, có răng hàm ở
bên trong và trên vòm miệng, lưỡi Vây lưng đầu tiên với 7-9 (thường là 8) ngắn
nhưng cứng, có 28 - 33 tia Vây lưng dài, tia vây thứ nhất dài hơn ở cá trưởng thành.Vây ngực nhọn Vây hậu môn tương tự như vây lưng, nhưng ngắn hơn; 1-3 gai, 23-27tia Cá trưởng thành vây đuôi có hình thùy trên dài hơn thùy dưới (vây đuôitròn ở cá bé) [30]
Cá giò là loài cá nổi, phân bố rộng, xuất hiện ở các vùng biển nhiệt đới đến cậnnhiệt đới, tới những vùng nước ấm của vùng biển nhiệt đới [38]
Ở Đại Tây Dương, chúng thường xuất hiện từ Massachusetts và Bermuda tớiRio de la Phala, Argentina Cá giò từ vùng biển phía Bắc Vịnh Mexico di cư tới vùngbiển phía Nam Florida, chúng sống ở đó suốt mùa hè,mặc dù vậy đôi khi vẫn tìm thấychúng xuất hiện ở phía Bắc của vùng này trong năm [43]
Trang 18Cá giò cũng phân bố vùng biển thuộc Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương,chúng phân bố từ vùng biển Hokkaio Nhật Bản tới Austraylia và Ấn Độ, nhưng khôngxuất hiện ở vùng Thái Bình Dương.
Cá giò có đội dài toàn thân lớn nhất là 200 cm, trọng lượng tối đa: 68,0 kg tối
đa, độ tuổi cao nhất 15 năm Môi trường sống nơi đáy là bùn, cát và đáy sỏi; trên cácrạn san hô Ăn cua, cá, và mực Đẻ trứng trong những tháng ấm ở Đại Tây Dương phíatây [29]
Hình 1.3 Cá hồng mỹ Sciaenops ocellatus (Linné, 1766 ) [19].
Cơ thể có hình thon dài, thân hơi tròn lưng có gồ cao lên, vẩy lược lớn vừa và nhỏ.Phân bố: Cá hồng mỹ phân bố rộng muối, rộng nhiệt phân bố ở vịnh Mêhicô vàvùng duyên hải Tây - Nam nước Mỹ Một số năm trở lại đây đối tượng này đã đượcnhập cư vào các nước trong khu vực châu Á như: Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam
và nhanh chóng trở thành một đối tượng kinh tế khá quan trọng trong khu vực Họ cá
Trang 19này cũng được tìm thấy ở các vùng nước đại dương ôn đới và nhiệt đới Chúng sốngđáy vùng ven bờ, vùng đá ngầm ven bờ, nơi có dòng nước ấm Cũng có thể thấy chúngsống ở các vùng đáy cát, đá cứng, vùng hỗn hợp bùn cát hoặc vùng đá san hô chết.Phân bố ngang thì chúng sống từ đáy ven bờ cho đến các rạn đá hoặc bãi san hô chết ở
độ sâu tới 50-60m nước Cũng có loài, ban đầu ở các vùng cửa sông, phát triển lớn hơnchuyển ra các vùng nước sâu hơn, có khi tới độ sâu 150m nước
Tập tính sống: Cá hồng mỹ sống thành đàn, phân bố phạm vi rộng, khi trưởngthành thường đi đến những vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản Nhiệt độ từ
10 - 30oC, thích hợp nhất là từ 18 - 25oC Cá hồng mỹ có thể sinh sống ở cả nước ngọt,nước lợ và nước mặn
Đặc điểm dinh dưỡng: Cá hồng mỹ là loài cá dữ, ăn đáy, chúng chủ yếu dinh
dưỡng bằng các loại động vật không xương sống như thân mềm (mollusca), giáp xác (crustacea ), Giun nhiều tơ (polychaeta) và các loại cá nhỏ Cá hồng mỹ cũng như
hầu hết các loài cá biển khác, Thời kỳ ấu trùng của chúng thức ăn đầu tiên đều là động
vật phù du như: luân trùng (brachionus plicatilis), chân chèo biển (copepoda) ấu trùng khi đạt chiều dài cơ thể lớn hơn 4 mm thức ăn ưa thích là rotifera, và còn tiếp
tục đến sau 30 ngày kể từ khi nở Khi ấu trùng có chiều dài đạt 12mm thường ăn
copepoda như: tigriopus, arcatia, oithoina, paracalanus
Đặc điểm sinh trưởng: Tốc độ tăng trưởng của cá hồng mỹ phụ thuộc rất lớnvào khu vực nuôi, tại các trang trại ở Florida và vịnh Mexico cá Hồng mỹ có thể đạt 1-
2 kg trong thời gian 14 - 22 tháng, nhưng nếu như nuôi trong khu vực nhiệt đới thì tốc
độ tăng trưởng của nó sẽ tăng lên rất nhiều.
1.4 Tình hình nghiên cứu tác động của việc nuôi lồng lên môi trường xung quanh
Tác động ngày càng quan trọng trong nuôi cá thâm canh là hiện tượng phúdưỡng của các thủy vực xung quanh các lồng nuôi Chất thải của cá kết hợp với cácchất dinh dưỡng có được từ sự phân hủy thức ăn dư thừa đã tạo ra một môi trường lýtưởng cho sự xuất hiện thủy triều đỏ Tại Scotland, 50.000 tấn chất thải được tạo ra từlồng nuôi cá hồi phóng thích trực tiếp ra biển, tương đương với việc thải nước thải củakhoảng ba phần tư dân số Scotland Khi tảo phát triển mạnh rồi chết, sự phân hủy tảo
chết sẽ tiêu tốn nhiều oxy Ngoài ra, một số tảo có thể là tảo độc (Harmful algae) gây
hại cho vật nuôi ngay khi chúng chưa chết Bên cạnh các loài thực vật phù du có lợi do
là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng nhưng cũng có một số loài tảo độc hai có thể gây
Trang 20độc cho các sinh vật biển khác và con người Các gai của một số tảo silic (ví dụ như
Chaetoceros concavicornis) có thể ảnh hưởng tới mang cá, làm giảm sinh trưởng hoặc
thậm chí gây tử vong [53] Quan trọng hơn, sự nở hoa (“thủy triều đỏ”) của một số loài
như Chattonella marina thường tạo ra các độc tố sinh học có thể giết chết các sinh vật
khác Neurotoxins sản xuất bởi một số loài tảo có thể tập trung ở bọn hai mảnh vỏ nhưvẹm và sò, có thể ảnh hưởng sức khỏe của người tiêu thụ [41]
Cá là thực phẩm có ít chất béo và được coi là một thay thế lành mạnh cho cácloại thịt khác, nhưng người tiêu dùng không thể bỏ qua các nguy cơ sức khỏe tiềmnăng của các loài nuôi, giống như họ không thể bỏ qua những rủi ro liên quan đến vậtnuôi trên cạn Ngoài ra, bọn hai mảnh vỏ bị nhiễm tảo độc, các thủy sản nuôi có thểgây ra mối quan tâm khác như sự lan truyền bệnh Hầu hết các tác nhân gây bệnh cákhông gây hại đến con người, nhưng một số tác nhân gây bệnh như vi khuẩn
Streptococcus có thể ảnh hưởng đến con người [46] Các mức cao của chất kháng sinh
và các thành phần công nghệ di truyền trong thức ăn cho cá (ví dụ như các chất phụgia đậu nành) cũng có thể gây ra rủi ro
Nuôi cá hiện phụ thuộc vào thức ăn là cá tự nhiên vì bột cá và dầu cá từ đàngiống tự nhiên là các thành phần chính của thức ăn tổng hợp nhân tạo (thức ăn thủysản) [38] Vì thế, người ta có thể lập luận rằng, nuôi trồng thủy sản không thể thay thếkhai thác thủy sản, trừ khi chỉ có cá ăn thực vật và bọn ăn lọc được nuôi Tuy nhiên,nguồn gốc của bột cá là cá biển khơi như cá menhaden và cá thu, các loài thông
thường không được tiêu thụ bởi con người Bột cá còn có thể đến từ phụ phẩm khaithác mà nếu không sử dụng chúng sẽ bị loại bỏ như chất thải
Khi trang trại càng thâm canh thì càng phát triển theo hướng gia tăng sử dụngthức ăn thủy sản thâm canh Khoảng 31 triệu tấn của tổng sản lượng thủy sản khai tháccủa thế giới được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi mỗi năm, 15% trong số đó là được sửdụng làm thức ăn cho nuôi thủy sản Thức ăn thường được tổng hợp theo công thứcnhằm đảm bảo hiệu suất chuyển đổi cao Nói chung, động vật thủy sản có hiệu quảchuyển hóa thức ăn tốt hơn so với động vật trên cạn Với những thực tế này, chiếnlược của việc dùng cá để nuôi cá có vẻ hợp lý, tuy nhiên cần lưu ý rằng chỉ có một vàiphần trăm thức ăn cho lợn và gia cầm có sử dụng bột cá, so với 70% đối với cá và bọngiáp xác [38] và kỹ thuật nuôi không hiệu quả có thể dẫn đến một lượng lớn chất thải.Nuôi một kg cá hồi có thể cần 3 – 5kg cá tự nhiên Từ năm 1985 -1995 người nuôi tôm
Trang 21trên thế giới sử dụng 36 triệu tấn cá tự nhiên để sản xuất chỉ 7,2 triệu tấn tôm Nhìnchung, số lượng đầu vào của nguồn cá tự nhiên vượt quá đầu ra về sản phẩm thủy sảnnuôi với một hệ số từ 2 đến 3 lần [50].
Một giải pháp tiềm năng đối với vấn đề tiến thoái lưỡng nan “cá ăn cá” là nênchuyển hoạt động nuôi sang các loài ăn thực vật, chẳng hạn như cá rô phi, cá chép, hàu
và trai, vì chúng ít phụ thuộc vào thức ăn bổ sung Thật không may, phần lớn hoạtđộng nuôi trồng thủy sản trên thế giới đã tập trung vào các loài này Bên cạnh đó, nuôibiển đặc biệt nuôi các loài ăn thịt (Carnivores) sinh lợi nhiều hơn, nhưng chúng lại lệthuộc nhiều vào nguồn cá tự nhiên Đã có những lợi ích thu được trong việc thay thếbột cá bằng các phụ phẩm động vật trên cạn, hạt thực vật có dầu và hạt cây họ đậu,ngũ cốc, nhưng sự phụ thuộc vào nguồn cá tự nhiên làm thức ăn cho nuôi trồng thủysản sẽ còn lâu mới biến mất
Ở các nước phát triển, sự ô nhiễm cảnh quan (visual pollution) được tạo ra bởihàng ngàn phao trong các trang trại ven biển, sự bất tiện đối với hoạt động chèo
thuyền giải trí và những hoạt động khác cùng chia sẻ các vùng ven biển đã được nóiđến nhiều Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển thì vấn đề này vẫn chưa được lưu ýlắm Quá trình tìm kiếm lợi nhuận thường có hậu quả tàn phá Tỉnh Tây Bengal, Ấn
Độ, bốn ngư dân bị thiệt mạng và hơn 20 người bị thương trong một vụ tranh chấpgiữa ngư dân và nông dân nuôi tôm liên quan đến quyền sử dụng hồ Chilika, một trongnhững hồ nước ngọt lớn nhất Châu Á [39]
Nhiều quốc gia đón nhận nuôi trồng thủy sản, không phải như một cách trựctiếp để cung cấp thực phẩm cho người nghèo của họ, nhưng như là một nguồn của cảixuất khẩu có tiềm năng có thể dẫn đến lợi ích xã hội lâu dài Nhiều cộng đồng nôngthôn được hưởng các cơ hội việc làm có thể với nuôi trồng thủy sản, nhưng các cuộcxung đột thường phát triển trong các cộng đồng này khi va chạm việc làm truyềnthống với ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản Quyền sở hữu tài nguyên thườngphức tạp hoặc không rõ ràng trong các địa điểm nuôi trồng thủy sản chính và các mốiquan tâm về xã hội thường là thứ cấp so với mối quan tâm về kinh tế
Trang 22CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian: từ tháng 1/1/2010 đến 1/6/2010
Địa điểm: huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các loài cá biển kinh tế hiện đang nuôi ở Vân Đồn, nhưng tập trung sâu vào 3
đối tượng nuôi chính là cá song chấm nâu (Epinephelus coioides), cá giò
(Rachycentron canadum) và cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus).
2.3 Sơ đồ khối nghiên cứu:
Nghề nuôi lồng cá ở Vân Đồn, Quảng Ninh đang phát triển mạnh,
nhưng do người nuôi cá quản lý chăm sóc cá nuôi chưa đúng cách,
đặc biệt là việc dùng cá tạp làm thức ăn cho cá nuôi, đã dẫn tới các
vấn đề sau: - Hao phí thức ăn
- Ô nhiễm vùng nước nuôi
cá biển tạiVân Đồn,QuảngNinh
Tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi
cá lên môi trường ở vùng biển Vân Đồn
Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của hoạt động nuôi cá biển ở Vân Đồn
Kết luận và đề xuất ý kiến
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu
Trang 232.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4 1 Tình hình nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn
- Thu thập số liệu thứ cấp:
Điều tra, phỏng vấn tại các cơ quan chức năng liên quan: bao gồm Chi cục Nuôitrồng Thủy sản tỉnh Quảng Ninh, Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, Trạm Khuyến nông– Khuyến ngư huyện Vân Đồn, phòng Nông nghiệp UBND huyện Vân Đồn
- Thu thập số liệu sơ cấp: phỏng vấn các hộ nuôi cá và người làm dịch vụ (bán cá tạp)
2.4 2 Kỹ thuật nuôi lồng cá biển tại Vân Đồn, Quảng Ninh
- Tiến hành điều tra, phỏng vấn 90 hộ tại các xã/thị trấn trong huyện Vùng tậptrung đông dân cư và có số lồng nuôi cá nhiều thì điều tra với số phiếu >50%
- Xác định loại thức ăn chính là cá tạp trong nuôi cá lồng vùng ven biển VânĐồn
2.4.3 Tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi cá lên môi trường ở vùng biển Vân Đồn
Tiến hành điều tra, phỏng vấn và theo dõi tại 30 hộ/đối tượng nuôi (cá song, cá giò, cáhồng mỹ) tại Cái Rồng (vùng tập trung nuôi cá nhiều nhất trong huyện)
2.4.3.1 Tỷ lệ cá tạp trong nuôi cá lồng biển ở Vân Đồn
+ Tập trung 3 loài cá tạp chính; số còn lại gộp chung “cá khác”
+ Xác định tỷ lệ cá tạp trong nuôi từng đối tượng: cá song, cá giò, cá hồng mỹ+ Tính trung bình chung tỷ lệ % cá tạp trong nuôi từng đối tượng
2.4.3.2 Sinh trưởng của cá
Sinh trưởng của cá liên quan đến hệ số thức ăn (FCR) Việc ô nhiễm môi
trường được đo bằng mức hao phí dinh dưỡng (thức ăn)
2.4.3.3 Tác động của việc cho cá ăn lên môi trường nuôi
- Phân tích hàm lượng Ni-tơ tổng số trong thức ăn và trong cơ thể cá trước vàsau thời gian theo dõi để tính được hàm lượng Ni-tơ tổng số phóng thích ra môi
trường, để ước tính cho khả năng gây ô nhiễm môi trường do sử dụng thức ăn trong
nuôi cá
- Phân tích Ni-tơ tổng số của nước và trầm tích trong các lồng cá theo dõi, ướctính cho khả năng ô nhiễm môi trường
Trang 242.4.4 Phương pháp đo các thành phần sinh hóa
2.4.4.1 Các yếu tố môi trường pH, nhiệt độ (0C), độ mặn (ppt):
Các thông số được đo bằng dụng cụ thông thường: nhiệt kế, test pH, máy đo độmặn, đo tầng mặt và tầng giữa để lấy trung bình
2.4.4.2 Ni-tơ tổng số trong thức ăn và trong cá nuôi
a) Ni-tơ tổng số trong thức ăn (cá nhâm, cá ót, cá man)
+ Vị trí thu mẫu: ngẫu nhiên
+ Phân tích mẫu cá tươi theo thành phần loài (chọn 3 loài chính)
+ Thu 3 mẫu/1 loài; 3 con/1 mẫu
+ Phương pháp bảo quản: bảo quản mẫu thu bằng đá đựng trong thùng xốp, đưa
về nơi phân tích trong ngày
+ Phương pháp phân tích: phương pháp Kjedahl
b) Ni-tơ tổng số của cá nuôi (cá song, cá giò, cá hồng mỹ)
+ Vị trí thu mẫu: ngẫu nhiên
+ Thu 3 mẫu/1 loài; 3 con/1 mẫu
+ Số đợt thu: 2 đợt (thời điểm đầu và sau quá trình theo dõi)
+ Phương pháp bảo quản: bảo quản mẫu thu bằng đá đựng trong thùng
+ Phương pháp phân tích: phương pháp Kjedahl
2.4.4.3 Ni-tơ tổng số mẫu nước và mẫu chất đáy
+ Số đợt thu: 2 đợt (thời điểm đầu và sau quá trình theo dõi)
+ Bảo quản: các mẫu được đựng trong các chai/lọ (đánh số ký hiệu) đậy kín vàđưa về nơi phân tích trong ngày
+ Phương pháp phân tích: phương pháp Kjedahl
2.4.5 Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động nuôi cá biển ở Vân Đồn
Đánh giá hiệu quả kinh tế ở cấp hộ, dựa trên kết quả đánh giá được cấp hộ đểđánh giá hiệu quả kinh tế ở cấp ngành
Đánh giá hiệu quả kinh tế đối với các hộ nuôi cá song, cá giò và cá hồng mỹ.Đánh giá hiệu quả kinh tế cho 1 vụ nuôi (20 tháng) đối với 1 bè nuôi cá gồm 4 lồng tạiCái Rồng
Trang 252.5 Các chỉ tiêu đánh giá
2.5.1 Đánh giá kỹ thuật
- Ws (kg): Khối lượng trung bình của cá trước vụ nuôi
Ws = Tổng khối lượng cá có trong lồng chia cho số cá thả
- We(kg): Khối lượng trung bình của cá khi thu hoạch
We = Khối lượng đàn cá trong lồng chia cho số cá có trong lồng
- DGR (g/ngày): Tốc độ sinh trưởng hàng ngày (Daily Growth Rate):
Khối lượng gia tăng
- N thức ăn: Được tính dựa trên hàm lượng Ni-tơ của từng thành phần và tỷ lệ %của chúng trong thức ăn
Nthức ăn = Ntích lũy + Nthải
Hệ số chuyển đổi: % Protein thô = % N x 6,25
2.5.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu đánh giá:
- Tổng chi = Định phí + Biến phí
- Doanh thu = Giá bán x Sản lượng
- Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi
- Tỷ suất lợi nhuận trên đầu tư = (Lợi nhuận/Đầu tư) x 100%
- Lợi nhuận biên = (Lợi nhuận/Doanh thu) x 100%
Trang 26CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh
3.1.1 Vùng nuôi
Vân Đồn là một trong những huyện có tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản ven biểnlớn nhất của tỉnh Quảng Ninh, trong 59.676 ha diện tích tự nhiên có hơn 1.000 ha diệntích mặt nước và bãi triều có thể nuôi mặn, lợ và hàng vạn ha mặt nước ở các vụng,vịnh áng tương đối kín gió có thể nuôi cá lồng bè [31]
Hình 3.1 Vị trí huyện Vân Đồn
Các điểm nuôi cá lồng trên địa bàn huyện Vân Đồn bao gồm khu vực Cống LãoVọng, xã Hạ Long, thị trấn Cái Rồng, Thắng Lợi, Ngọc vừng, Đông Xá, Quan Lạn vàBản Sen Trong đó tập trung nuôi chủ yếu ở khu vực thị trấn Cái Rồng, chiếm tới 85%diện tích nuôi cá lồng bè, thành phần loài nuôi ở đây cũng đa dạng, phong phú ỞThắng Lợi và Ngọc Vừng diện tích nuôi cá lồng bè khoảng 10%, ngư dân chủ yếu nuôi
cá song Các vùng còn lại diện tích nuôi cá lồng bè rất ít, chỉ 5%
3.1.2 Đối tượng nuôi
Tùy từng điều kiện và mục đích sản xuất của từng hộ gia đình mà họ chọn cácđối tượng nuôi khác nhau Với hộ có vốn đầu tư ít và muốn quay vòng vốn nhanh thìthường nuôi các loài cá như cá hồng mỹ, cá hồng đỏ, cá giò, cá tráp vàng có giá cá
Trang 27và chiếm 93% năm 2010 (Hình 3.2) Đồng thời số hộ tham gia nuôi các loài cá khácnhư cá giò, cá hồng có xu hướng giảm theo thời gian Qua trao đổi với ngư dân, cáhồng mỹ là đối tượng được nuôi nhiều trong những năm qua, nhưng thời gian gần đâythị trường cá hồng mỹ giảm xuống, giá cá thương phẩm thấp chỉ 40.000 – 50.000 đ/kg,nên người nuôi đang có xu hướng giảm nuôi đối tượng này Kết quả điều tra cho thấy,
tỷ lệ số hộ nuôi cá hồng mỹ năm 2009 là 54%, giảm xuống còn 50% trong năm 2010(Hình 3.2)
Cá giò Cá
h ng
Cáhồng
Cákhác
60%20%10%5%5%
Trang 28Lồng cá hồngđỏ
Lồng nuôi đốitượng khác
Hình 3.3 Tỷ lệ % lồng nuôi cá biển ở Vân Đồn
Số lượng lồng nuôi cá song cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (60%), tiếp đến lồng nuôi
cá giò (20%), cá hồng mỹ (10%), hồng đỏ (5%), cá khác (5%) (Bảng 3.1) Mặc dù số
hộ tham gia nuôi cá hồng mỹ chiếm tỷ lệ thấp (50%) hơn so với cá hồng đỏ (56%),nhưng số lồng nuôi lại cao hơn, chiếm tỷ lệ 20%, trong khi số lồng nuôi cá hồng đỏ chỉ5%
Cá song nuôi trên địa bàn huyện Vân Đồn có nhiều loài, theo tên địa phươngngười dân thường gọi chúng là cá song thường (song chấm nâu), cá song vang (songđỏ), cá song đen, cá mú gầu, cá mú nhẻm Loài cá song chấm nâu được ngư dân nuôichủ yếu, chiếm khoảng 98% tổng số các loài cá song trong vùng Loài cá song vang,song đen rất hiếm, hoàn toàn do ngư dân đánh bắt được ngoài biển và dùng làm thựcphẩm, hiếm khi nuôi Cá song vang rất đắt, có trọng lượng lớn, có con tới 40kg/con.Tương tự cá mú gầu, cá mú nhẻm cũng chủ yếu được ngư dân đánh bắt và dùng làmthực phẩm
Các đối tượng nuôi khác như, cá thác (cá hường), cá chim vây vàng, cá chimtrắng, cá tráp vàng, cá tráp đen, cá sủ đất, cá vược (cá chẽm), cá nhụ, cá đối mục chiếm tỷ lệ rất thấp, số lồng nuôi chiếm 5% Những loài cá này, người dân khai thácđược giống ngoài tự nhiên và đem về nuôi ghép chúng với nhau để tận dụng diện tíchmặt nước Gần đây, nước ta đã thực hiện nhập công nghệ sản xuất nhân tạo thành côngcác đối tượng trên (cá chim vây vàng, cá hồng đỏ, cá tráp vây vàng, cá hường, cá sủđất) và đã đưa giống nhân tạo nuôi thương phẩm bằng lồng trên địa bàn huyện Vân
Trang 29Đồn (Cái Rồng) và huyện Cẩm Phả Đây là bước đầu của các dự án nên con giống sảnxuất mới dừng lại ở quy mô thí nghiệm Nhà nước định hướng, trong tương lai sẽ thaythế hoàn toàn con giống tự nhiên và giống Trung Quốc bằng giống nhân tạo trong
nước; đồng thời đa dạng hóa nhiều đối tượng nuôi mới [4]
3.1.3 Sản lượng và số ô lồng nuôi cá
Bảng 3.2 Số ô lồng và sản lượng cá lồng nuôi biển từ năm 2005 đến 2009 ở Vân Đồn
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Số ô lồng nuôi (Lồng)
Sản lượng (Tấn)
26501060
42281360
43001855
47201737
47281118
Nguồn: Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Quảng Ninh.
50004500400035003000250020001500
Số ô lồng nuôi(Lồng)
Sản lượng (Tấn)1000
5000Năm Năm Năm Năm Năm
2005 2006 2007 2008 2009
Hình 3.4 Số ô lồng và sản lượng cá lồng nuôi biển từ năm 2005 đến 2009 ở Vân Đồn
Số ô lồng cá biển ở Vân Đồn luôn tăng qua các năm, trong khi sản lượng có xuhướng giảm trong những năm gần đây Sau 5 năm (từ 2005 – 2009) số lồng nuôi cá
tăng 2078 lồng, trong đó 2 năm đầu (2005 và 2006) tăng nhanh nhất, với mức tăng là
1578 lồng (Bảng 3.2) Trong giai đoạn này, số lồng nuôi và sản lượng tăng nhanh là dohuyện được Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ kinh phí nuôi cá biển, dự án nuôi cá
lồng bè trên biển từ nguồn vốn Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm được triển khai cho toànvùng từ năm 2001 – 2005 [20] Vì vậy, chỉ trong vòng hai năm, 2005 – 2006, đã tăng
Trang 301578 ô lồng nuôi và sản lượng tăng tương ứng là 300 tấn cá (tăng 28,3%), mức năngsuất trung bình đạt 526 tấn/năm (bình quân 200 kg cá/ô lồng), nhiều hộ gia đình nuôi
cá lồng bè đạt mức thu nhập trên 100 triệu đồng/hộ [21]
Sản lượng tăng đỉnh điểm là vào giữa năm 2007, đạt 1855 tấn, sau đó giảm dần,năm 2009 giảm còn 1118 tấn Trong năm 2008 và 2009, số lồng nuôi gần như khôngtăng hoặc tăng không rõ rệt Số lồng nuôi đạt 4720 lồng năm 2008 và năm 2009 chỉtăng 8 lồng so với năm ngoái Điều này cho thấy, nghề nuôi cá lồng bè ở Vân Đồn
đang ở mức ngừng phát triển Điều này cũng phù hợp với xu hướng của toàn tỉnh
732527173076,51225
737526173166,951230
(Nguồn : Chi Cục Nuôi trồng Thủy sản tỉnh Quảng Ninh, 2009)
Sản lượng cá(Tấn)
1000
0Năm 2007Năm 2008Năm 2009
Hình 3.5 Sản lượng, giống thả nuôi, số ô lồng và số hộ nuôi cá biển toàn tỉnh Quảng
Ninh từ 2007 đến 2009
Bảng 3.3 và Hình 3.5 cho thấy, số lồng nuôi cá biển của toàn tỉnh tăng (tăngkhông rõ rệt) qua các năm, nhưng sản lượng lại theo chiều hướng ngược lại Năm 2008sản lượng nuôi cá của toàn tỉnh là 2717 tấn, năm 2009 giảm xuống còn 2617 tấn Sảnlượng cá biển nuôi lồng của toàn huyện Vân Đồn chiếm 74,2% sản lượng cá biển nuôi
Trang 31lồng của toàn tỉnh trong năm 2007 và tỷ lệ này giảm xuống trong năm 2009 còn 42,7%
so với sản lượng cá biển nuôi lồng của toàn tỉnh Điều này cho thấy dấu hiệu chậmphát triển nghề nuôi cá lồng biển trong vùng
Trong điều kiện môi trường vùng nước biển nuôi ngày càng ô nhiễm và nghề cánuôi cá biển lồng bè chưa được quy hoạch đúng mức, vì lợi nhuận trước mắt ngườidân đã nuôi cá một cách ồ ạt, thiếu khoa học Một minh chứng gần đây nhất là trong 4tháng đầu năm 2010, toàn huyện có 330 hộ nuôi cá, trong khi có tới 337 hộ nuôi
nhuyễn thể lồng bè [29] Có thể nghề nuôi nhuyễn thể đang dần chiếm vị thế quantrọng trong vùng, các đối tượng nuôi chính như sò huyết, trai ngọc, vẹm xanh, hầuThái Bình Dương, bào ngư, điệp, ngao dầu, nghêu bến tre và đặc biệt là con tu hài.Đây là những loài đặc sản có giá trị kinh tế cao tương đương hoặc hơn cá biển và đặcbiệt có ưu điểm làm sạch môi trường nước do đặc tính ăn lọc của chúng Nhờ vậy khinuôi chúng có thể giảm thiểu được ô nhiễm môi trường nước Chỉ tính riêng sản lượng
tu hài, năm 2009 đạt gần 1.000 tấn [23]
Với đặc tính ăn lọc, cải thiện môi trường nước và ít dịch bệnh, lại có giá trị kinh
tế như tu hài, vẹm, hầu, bào ngư…, hiện nay ở Vân Đồn nghề nuôi nhuyễn thể lồng bètrên biển đang có xu hướng phát triển hơn hẳn nghề nuôi lồng cá biển [31]
3.2 Kỹ thuật nuôi lồng cá biển
3.2.1 Vị trí nuôi:
- Vùng nuôi cá lồng bè ở Vân Đồn thuộc vùng ven biển có nhiều eo, vịnh kín gió do cónhiều đảo che chắn Độ sâu mực nước vùng nuôi trung bình từ 1 – 2 m khi thủy triềuthấp nhất Lớp trầm tích bề mặt đát là bùn, bùn cát, cát bùn Tính chất đất đáy là đấthôi và đất hôi đen
- Các yếu tố môi trường:
Bảng 3.4 Nhiệt độ và độ muối tại Vân Đồn qua các tháng trong năm 2010
30 - 32
32 -347,0 - 8,0
29 - 33
32 - 337,3 -7,4
Trang 32Thời gian từ tháng 4 – 6/2010 trời nắng to, khiến cho nhiệt độ nước biển tăngcao, giao động từ 29 - 34 0C, kéo theo độ mặn tăng cao, giao động trong khoảng 32 –
33 ppt Nhiệt độ nước giảm hơn vào tháng 5 (30 – 320C) và dao động nhiều hơn trongtháng 6 (29 – 330C) pH nước biến đổi không lớn, giao động từ 7,4 – 8,0
3.2.2 Lồng, bè nuôi cá
Có 2 loại lồng bè để nuôi cá biển: lồng bè bè đơn giản và lồng bè Nauy LồngNauy do có kích thước lớn, có ưu điểm chịu sóng gió tốt, chỉ thích hợp nuôi cá vùngkhơi xa hay vùng biển hở, hơn nữa giá mua lại đắt (khoảng 100 triệu đồng/chiếc) chonên rất ít được sử dụng ở Vân Đồn Hầu hết người dân dùng loại lồng bè đơn giản đểnuôi cá
Trong quá trình sử dụng lồng bè đơn giản người nuôi đã cải tiến nó cho phùhợp để thuận tiện cho việc sử dụng Khung bè thường làm bằng gỗ dẻ hoặc gỗ táu, loại
gỗ này chịu được nước mưa và nước mặn Phao làm bè là phao xốp hoặc phuy nhựahình trụ tròn, đường kính 60 cm, cao 90cm Trên miệng lồng căng lưới che kín để bảo
vệ cho cá nuôi và để cá to không vượt ra ngoài
Mỗi bè/hộ gia đình có từ 5 – 20 ô lồng tùy từng điều kiện kinh tế của từng hộ.Qua điều tra 90 hộ nuôi cá lồng bè, có 1170 ô lồng Người dân gọi các lồng nuôi theokích thước của lồng, kích thước của các ô lồng này khác nhau tùy vào mục đích sửdụng của người nuôi
Bảng 3.5 Các loại lồng nuôi cá ở Vân Đồn
Mục đích sử dụng
Nuôi cá thương phẩmNuôi cá thương phẩmƯơng giống, lưu giữ giốngNuôi cá thương phẩm và nuôi vỗ cá bố mẹ
Loại lồng có kích thước 3 x 3 x 3m và loại lồng 4 x 4 x 4 m dùng phổ biến ởVân Đồn Nhưng loại lồng 3 x 3 x 3m được dùng nhiều nhất (chiếm 63,58%), ngườinuôi dùng loại lồng này để nuôi cá thương phẩm cỡ giống 10 - 25cm, sau khoảng 2 - 4tháng nuôi tiến hành phân cỡ cá và san sang lồng có kích thước bằng (3 x 3 x 3m)hoặc lớn hơn (4 x 4 x 4 m)
Trang 33Loại lồng có kích thước 2 x 2 x 2 m chủ yếu có trong các hộ gia đình là cơ sởcung cấp cá giống cho những hộ xung quanh Những cơ sở này thu gom cá giống vớinhiều cỡ khác nhau từ các tỉnh khác hoặc Trung Quốc về lưu giữ và thuần hóa trongcác lồng tại bè của mình để bán lại cho các hộ có nhu cầu mua giống trên địa bàn xã.
Loại lồng được sử dùng để lưu giữ và nuôi cá bố mẹ, chiếm tỷ lệ rất thấp(1,25%) Đa số người dân ở Vân Đồn nuôi cá thịt để xuất bán, rất hộ nuôi lưu giữ cáthịt để nuôi thành cá bố mẹ cho sinh sản, bởi phương thức sản xuất này thời gian quayvòng vốn chậm
Hình 3.6 Lồng bè nuôi cá biển ở Vân Đồn 3.2.3 Nguồn giống
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có một vài cơ sở sản xuất giống cá biển nhỏ lẻ,không đáp ứng được nhu cầu con giống cho người nuôi Nguồn giống chủ yếu là từkhai thác ngoài tự nhiên (bằng cách câu, bẫy hoặc dùng lưới) và một phần giống cáđược mua từ Cát Bà, Hải Phòng hoặc mua từ Trung Quốc Vì vậy chưa chủ động đượcnguồn giống, chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chất lượng và tính thời gian củacon giống cho nghề nuôi cá lồng trên biển cả ở quy mô gia đình và quy mô côngnghiệp Bên cạnh đó khó kiểm soát được mầm bệnh trên đàn giống, chất lượng giốngchưa đảm bảo, làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của đàn cá thương phẩm
Hầu hết các hộ nuôi mua lại cá giống đã được thuần dưỡng của các cơ sở thugom giống trên địa bàn xã, thị trấn gần đấy Những hộ nuôi với quy mô lớn thường tự
Trang 34mua cá giống từ nơi khác về, hoặc tùy từng điều kiện và mục đích sản xuất của từng
hộ mà người nuôi tự đánh bắt cá giống ngoài tự nhiên bằng cách câu, đánh lưới
Bảng 3.6 Tỷ lệ % về nguồn gốc cá giống tại các hộ nuôi ở Vân Đồn
606065
51010
Hình 3.7 Tỷ lệ % về nguồn gốc cá giống tại các hộ nuôi ở Vân Đồn
Rõ ràng nguồn giống 3 loài cá song, giò, hồng mỹ từ Trung Quốc đều chiếm tỷ
lệ cao nhất, từ 60 – 65%, tiếp theo đến nguồn giống từ khai thác tự nhiên, với tỷ lệ từ
25 – 35% và tỷ lệ thấp nhất (5 – 10%) là nguồn giống nhân tạo trong nước Tuy nhiên,nguồn giống cá song từ sản xuất nhân tạo (5%) được người nuôi sử dụng ít hơn so với
cá giống giò (10%) và hồng mỹ (10%) từ sản xuất nhân tạo Ở nước ta, cá song tuyđưa vào cho sinh sản nhân tạo thành công từ năm 1999 - 2000, nhưng do ương cá songbột khó khăn nên tỷ lệ sống giai đoạn cá bột đến cá giống còn rất thấp, chỉ 0,102 –0,416% [9] Tỷ lệ sống của cá song đạt thấp là tình hình chung đang xảy ra ở nhiềuquốc gia Tỷ lệ sống của cá song trong các thí nghiệm của các chuyên gia về nuôitrồng thủy sản của AQD/SEAFDEC (Aquaculture Department, South East Asian
Fisheries Development Center) chỉ đạt 0,1 – 0,2% [37] Các nghiên cứu khác ở ĐàiLoan cũng tương tự, tỷ lệ sống từ giai đoạn ấu trùng đến cá giống của cá song chỉ đạt
từ 1 – 3% [9]
Trang 35Mặt khác giống cá song đắt (khoảng 30.000 – 50.000đ/con cỡ 6 – 10 cm) hơn
so với các loài cá khác từ 10.000 – 30.000 đ/con cùng cỡ nên đối với những hộ có mứcthu nhập thấp hay những hộ nuôi cá quy mô nhỏ, lẻ thường tự khai thác cá giống ngoài
tự nhiên Trong khi hiện nay người dân có xu hướng nuôi cá song nhiều hơn cá giò và
cá hồng mỹ Vì vậy cá song giống có nguồn từ khai thác tự nhiên chiếm tỷ lệ khá cao(35%) Qua trao đổi với ngư dân, cá giống khai thác ngoài tự nhiên ngày càng hiếm vàkhó đánh bắt Trước đây, nguồn lợi cá giống ở khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh rấtphong phú, sản lượng cá giống hàng năm có thể khai thác khoảng 300 nghìn tấn cásong, 10 nghìn tấn cá hồng, cá tráp và 200 nghìn cá vược giống [17] Trong nhữngnăm gần đây do việc khai thác quá mức, thiếu qui hoạch, môi trường biển ngày càng bị
ô nhiễm nặng đã làm cho nguồn lợi giống các cá biển kinh tế bị giảm sút nghiêmtrọng Đây là vấn đề đáng báo động về việc suy kiệt nguồn lợi tự nhiên khi mà nước tachưa chủ động được nguồn giống
Ngoài cá song, trong thời gian 1994 - 1995, Viện Nghiên cứu Hải sản - HảiPhòng cũng đã cho sinh sản thành công cá giò, cá hồng và cá tráp Nhưng tỷ lệ sốngcủa cá bột đến cá giống còn rất thấp, dưới 1% [17 ] Năm 1999, Viện đã sản xuất nhântạo được 10.000 cá giò giống cỡ 10 – 15cm, cung cấp cho ngư dân và một số cơ sở sảnxuất nuôi lồng trên biển của Quảng Ninh và Hải Phòng [17] Mặc dầu vậy, số lượng cágiống sản xuất được ở những cơ sở này chỉ dừng lại ở mức rất hạn chế
Từ năm 2005 đến nay Trại Nuôi trồng Thủy sản 4 (Trường Cao đẳng Thủy sản)
đã cho sinh sản nhân tạo thành công nhiều loài cá biển như cá tráp đen, cá tráp vâyvàng, cá hồng đỏ, cá vược, cá hồng mỹ, cá giò; mới đây nhất là cá sủ đất và cá chimvây vàng Hiện Trại đang tiếp tục duy trì và nhân rộng cá giống chất lượng để cungcấp cho người nuôi trong và ngoài tỉnh
Theo Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Quảng Ninh, hiện tỉnh đang xây dựng trạisản xuất và khu nuôi thực nghiệm giống hải sản tại huyện Đầm Hà, dự kiến công trình
sẽ đi vào hoạt động và cung cấp giống thủy hải sản cho địa bàn tỉnh vào năm 2012 [6]
3.2.4 Mùa vụ nuôi và thu hoạch
Ở Vân Đồn người dân thường thả cá giống vào thời gian từ tháng 2 đến tháng 4khi thời tiết ấm áp và nguồn cá tạp sẵn có Khác với các đối tượng nuôi khác (thảgiống từ tháng 2 - 3), cá song khó nuôi nên thường thả muộn hơn khi mà thời tiết ấm
áp hẳn (tháng 4 – 5)
Trang 36Hầu hết các cá nuôi biển, ngư dân thường nuôi sau 1,5 – 2 năm, khi cá to mới
thu hoạch để bán cá thương phẩm
Đối với các loài cá như cá giò, cá hồng đỏ, hồng mỹ, một số ít hộ nuôi 1 năm 1
vụ, chẳng hạn thả từ tháng 2/2010 thì tháng 12/2010 có thể thu tỉa để bán cá thịt vào
dịp tết Riêng cá song đa số ngư dân nuôi 2 năm 1 vụ; cá nuôi từ cỡ 10 – 20cm sau 20
tháng cá đạt 1,5 - 2kg/con thì thu hoạch (thả cá từ tháng 4 năm nay thì sang tháng 12
năm sau mới thu hoạch cá thương phẩm)
Một số cá, thời gian nuôi càng lâu (2 – 4 năm) thì giá thương phẩm càng cao
Cá giò, người nuôi thường thu hoạch cá sau 2,5 - 3,5 năm, lúc này cá có thể đạt tới 10
- 13 kg/con, giá bán từ 100 – 150.000đ/kg
3.2.5 Chọn cá giống và thả cá giống
Cá giống được chọn nuôi chỉ qua quan sát bằng cảm quan (màu sắc, …) chứ
chưa qua kiểm tra, kiểm dịch đã gây ảnh hưởng đến và tỷ lệ sống của cá thương phẩm
Đây là một trong những tồn tại lớn nhất đối với nghề nuôi cá biển ở Vân Đồn, Quảng
ninh nói riêng và ở nước ta nói chung
Ngoài ra, trong khâu thả giống, thay vì nên tắm cho cá bằng nước ngọt trước
khi ương nuôi để phòng bệnh cho cá, đa số bà con thường bỏ qua khâu xử lý này do
cầu kỳ, tốn thời gian, vì vậy làm giảm tỷ lệ sống của cá Một số hộ nuôi tắm cho cá
giống trước khi ương bằng hóa chất xanh Malachite đã bị Bộ Thủy sản cấm, làm ảnh
hưởng đến chất lượng của cá thu hoạch về an toàn vệ sinh thực phẩm
3.2.6 Kích cỡ và mật độ thả giống
Hầu hết người dân nuôi cá bằng loại lồng có thể tích 3 x 3 x 3m, với cỡ giống
thả nuôi phổ biến 10 – 25 cm tùy loài
Bảng 3.7 Mật độ nuôi một số loài cá biển chính nuôi lồng (3 x 3 x 3m) ở Vân Đồn
205(160 – 250)350(300 – 400)850(500 – 1.200)1350(1.200 – 1.500)1750(1.500 – 2.000)
Cá giò (con/lồng)
150(100 – 200)275(250 – 300)650(500 – 800)1050(900 – 1.200)1300(1.000 – 1.600)
Cá hồng mỹ (con/lồng)
265(230 – 300)385(350 – 420)950(500 – 1.400)1700(1.400 – 2.000)2050(1.800 – 2.300)
Trang 378–12 12–18 18–20 20-25 >25
Cỡ giống (cm)
Hình 3.8 Mật độ nuôi một số loài cá biển chính nuôi lồng (3 x 3 x 3m) ở Vân Đồn
Bảng 3.7 cho thấy mật độ nuôi cá của ngư dân ở Vân Đồn khá cao so với chỉ
tiêu của Ngành Đối với cá song (Epinephelus spp), ở mật độ thích hợp là 25con/m3,
cỡ ≥ 12cm, thì người dân thường nuôi trung bình 31con/m3, cao hơn so với mức thíchhợp 10con/m3 [5]
Đối với cá giò cũng trong tình trạng tương tự, theo khuyến cáo mật độ thíchhợp là 8 con/m3, cỡ ≥ 18cm [5], thì người dân thường nuôi với mức trung bình là24con/m3, cao hơn so với mức thích hợp 16con/m3
Cá hồng mỹ thay vì nuôi ở mật độ thích hợp là 25con/m3, cỡ ≥ 10cm [5]., thìngười dân lại nuôi với mức 35 - 63con/m3, cao hơn so với tiêu chuẩn từ 10 - 38con/m3
Hình 3.9 Cá giò cỡ 8 – 12cm
Trang 383.2.7 Thức ăn cho cá
3.2.7.1 Loại thức ăn
Người nuôi sử dụng các loại cá bé, cá có giá trị thấp và các loài giáp xác nhỏnhư cá nhâm, cá ót, cá man, cá dìa, cá nhạc, cá bơn, cá sơn, cá nục, cá ruội, cá quẩn, cámòi…để làm thức ăn cho cá Người dân gọi chung những loài cá này là cá tạp Quađiều tra, người nuôi sử dụng 100% cá tạp làm thức ăn cho cá nuôi và chưa từng sửdụng thức ăn công nghiệp để nuôi cá
3.2.7.2 Nguồn gốc thức ăn
Cá tạp làm thức ăn cho cá nuôi được ngư dân đánh bắt ở vùng ven biển bằngnghề chài, chụp, vây, vó, lưới kéo, chụp mực … Hằng ngày các cơ sở thu mua đi thugom mua cá tạp của ngư dân chuyên làm nghề khai thác, đánh bắt thức ăn cho cá biển
để bán lại cho lái buôn hoặc bán trực tiếp cho người nuôi cá Các hộ nuôi cá đến cơ sởthu mua để mua cá tạp hoặc do các cơ sở thu mua giao đến tận bè nuôi hoặc mua tạicác chợ đầu mối, rất ít hộ tự đánh bắt thức ăn cho cá nuôi
3.2.7.3 Tỷ lệ cá tạp trong đánh bắt
Kết quả điều tra cho thấy, trong các mẻ cá tạp đánh bắt có khoảng 10 – 15 loài
cá và cua còng, tôm tép nhỏ Trong đó, cá nhâm, cá ót, cá man chiếm chủ yếu Cánhâm chiếm trung bình với tỷ lệ 40%, cá ót với tỷ lệ trung bình 42%, cá man trungbình 15%, loài khác 5% (Hình 3.10)
Hình 3.10 Tỷ lệ cá tạp trong đánh bắt
Trang 393.2.7.4 Biến động nguồn thức ăn trong nuôi cá ở Vân Đồn
Thức ăn (cá tạp) thường xuyên biến động theo tháng, mùa, hay theo thời tiết Sựbiến động này được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:
Hình 3.11 Sơ đồ biến động cá tạp theo thời gian trong năm
Sơ đồ 3.11 cho thấy, cá ót có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong năm, từ tháng
1 đến tháng 12 và xuất hiện nhiều nhất trong tháng 4 – 6, tháng 11 – 12 ít hơn so với
các tháng trong năm
Tần số xuất hiện của cá nhâm thưa hơn cá ót và dày hơn cá man Hầu như cá
nhâm có quanh năm và nhiều nhất trong khoảng thời gian từ tháng 3 - 6
Hầu hết cá tạp đều hiếm trong các tháng 1 - 2 và giai đoạn mùa mưa, có nhiều
gió nam, biển động (tháng 7 – 8) và nhất là trong mùa rét (tháng 11 – 12) Vào mùa hè
(từ tháng 4 – 6), cá tạp phong phú nhất trong năm, đây là giai đoạn thuận lợi cho nuôi cá
Trang 403.2.8 Kỹ thuật bảo quản thức ăn
Khi thời tiết thuận lợi, nguồn cá tạp dồi dào (tháng 3 – 6), người nuôi thườngmua từ sáng sớm để chuẩn bị cho cá ăn cả ngày Nhưng vào mùa mưa (tháng 7 – 8),hoặc mùa đông bắc (tháng 11 – 12), cá tạp khan hiếm, người nuôi thường mua dự trữ
cá tạp cho cá ăn trong nhiều ngày liền Cá tạp được để nguyên con trong các túi nylonghoặc xay nhỏ chia làm nhiều túi nylon và đặt trong thùng xốp có đá cây đập nhỏ đểbảo quản (Hình 3.12, 3.13) Với loại thức ăn này dùng cho cá ăn trong ngày đã khôngcòn đủ độ tươi, ngon, chứ chưa kể đến việc bảo quản hàng tuần cho cá ăn Cá tạp khiđánh bắt lên rất nhanh phân hủy, nhất là cá đã xay nhỏ Hơn nữa việc sử dụng đá bẩn,chứa nhiều vi sinh vật phân hủy để bảo quản cũng làm tăng tốc độ ươn hỏng thức ăn
Hình 3.12 Bảo quản thức ăn cho cá nuôi bằng thùng xốp có ướp đá
3.2.9 Kỹ thuật cho cá ăn
- Cá tạp trước khi cho ăn được rửa qua nước biển và cho vào xay nhỏ hoặc cắtkhúc hoặc để nguyên con dùng cho cá to >0,5kg/con)
- Khẩu phần cho cá ăn: Đối với đa số các loài cá biển nuôi lồng, bắt đầu nuôi từ
cỡ 10 – 20cm, nếu vào mùa cá tạp phong phú thì ngư dân thường cho cá ăn với khẩuphần như sau:
+ Trong 2 – 3 tháng đầu người nuôi thường cho ăn cá tạp xay nhỏ, 3 lần/ngày(sáng, trưa và chiều) Lượng cho ăn cho ăn 8 – 11% khối lượng cá nuôi