Hiện nay, cá tra chủ yếu được xuất khẩu ở dạng sản phẩm đông lạnh, các mặt hàng cá tra chế biến của vùng ĐBSCL đã thâm nhập được nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có cả những thị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ HÒA
Nha Trang, tháng 10 năm 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
“ Đề tài này là một công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi theo sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Hòa, số liệu nghiên cứu không trùng lặp với bất
cứ số liệu của đề tài nghiên cứu nào khác Tôi xin cam đoan về tính trung thực và chịu trách nhiệm về những nội dung và kết quả đã được báo cáo trong quyển luận văn này”
Tác giả
Trang Trường Nhẫn
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đỗ Thị Hòa đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này
Xin gởi lời chân thành cám ơn:
- Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Nuôi trồng thủy sản và các Thầy
Cô giảng dạy chương trình cao học ở Trường Đại học Nha Trang- đã quan tâm giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức quý báu giúp tôi nâng cao trình độ chuyên môn trong suốt quá trình học
- Ban quản lý Dự án Hợp phần Hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (SUDA)- Bộ Nông nghiệp & PTNT, đã hỗ trợ kinh phí cho tôi tham dự khóa đào tạo chương trình sau đại học và hỗ trợ kinh phí cho tôi thực hiện luận văn này
- UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp & PTNT, Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang, UBND Thị xã Tân Châu đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi được tham gia khóa đào tạo Thạc sĩ tại trường Đại học Nha Trang
- Các bạn học lớp Cao học Nuôi trồng 2009 (SUDA), các bạn đồng nghiệp, bà con ngư dân và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ TRA 3
1.1.1 Sơ lược về hình thái và hệ thống phân loại: 3
1.1.2 Sự phân bố 5
1.1.3 Đặc điểm sinh thái 5
1.1.4 Tập tính dinh dưỡng 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 6
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 7
1.2 NGHỀ NUÔI CÁ DA TRƠN Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 8
1.2.1 Nghề nuôi cá da trơn ở thế giới 8
1.2.2 Tình hình ương nuôi cá tra ở Việt Nam 10
1.2.2.1 Tình hình ương cá tra giống 10
1.2.2.2 Tình hình nuôi cá tra thương phẩm 11
1.2.3 Tình hình nuôi cá tra thương phẩm ở An Giang 15
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TRÊN CÁ DA TRƠN 16
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá da trơn ở thế giới 16
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tra ở ĐBSCL 17
1.3.3 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tra ở tỉnh An Giang: 20
Chương 2 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƯỠNG NGHIÊN CỨU 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 22
2.2.1 Nguồn số liệu thứ cấp 22
Trang 52.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp 22
2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 23
2.3.1 Số mẫu và phân bố số mẫu điều tra 23
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 23
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 23
Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 NGHỀ ƯƠNG CÁ TRA GIỐNG TRONG AO Ở AN GIANG 25
3.2 HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT ƯƠNG CÁ TRA GIỐNG Ở VÙNG ĐIỀU TRA 26
3.2.1 Thông tin về ao ương 26
3.2.1.1 Diện tích và số lượng ao của các hộ ương: 26
3.2.1.2 Thời gian thả và số vụ thả ương cá tra bột trong năm 27
3.2.2 Kỹ thuật ương cá tra từ cá bột lên cá giống trong ao đất 28
3.2.2.1 Tẩy dọn ao trước đợt ương 28
3.2.3.2 Gây nuôi thức ăn tự nhiên 29
3.2.3.3 Cá bột, vận chuyển và thả giống 30
3.2.3.4 Thức ăn và cách cho cá ăn 33
3.2.3.5 Các biện pháp quản lý chất lượng môi trường nước 35
3.2.3.6 Các biện pháp quản lý sức khỏe cá tra ương 38
3.2.3.7 Thời gian ương, tỷ lệ sống và kích cỡ thu hoạch cá giống 39
3.2.3.8 Tiêu thụ cá giống 40
3.2.3.9 Hiệu quả kinh tế 41
3.2.3.10 Những khó khăn và định hướng phát triển của hộ ương 42
3.3 TÌNH HÌNH BỆNH Ở CÁC AO ƯƠNG CÁ TRA GIỐNG 43
3.3.1 Những loại bệnh thường gặp ở cá tra giống tại vùng điều tra 43
3.3.2 Dấu hiệu chính của các bệnh thường gặp trong ao ương cá tra giống 44
3.3.2.1 Dấu hiệu bệnh xuất huyết 44
3.3.2.2 Dấu hiệu bệnh trắng gan trắng mang 45
3.3.2.3 Dấu hiệu bệnh gan thận mủ 46
3.3.2.4 Dấu hiệu bệnh “ lắc đầu” 47
3.3.3 Thời gian xuất hiện của một số bệnh thường gặp ở cá tra giống 48
3.3.4 Tác hại của các loại bệnh 49
Trang 63.3.5 Các loại thuốc dùng để điều trị bệnh cá tra giống ở các hộ ương 49
3.3.6 Dùng thuốc trong công tác điều trị bệnh ở cá tra giống 51
Chương 4 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Tài liệu trong nước 57
Tài liệu nước ngoài 60
PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ XỬ LÝ MỘT SỐ DỮ LIỆU 63
PHỤ LỤC 2 : MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA 70
PHỤ LỤC 3 : PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯ DÂN 72
PHỤ LỤC 4 : THÔNG TIN VỀ HỘ ƯƠNG 82
PHỤ LỤC 5 : DANH SÁCH CÁC HỘ ĐIỀU TRA 83
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus -Sauvage, 1878 .3
Hình 1.2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cá tra theo sản lượng năm 2007 13
Hình 1.3: Diện tích và sản lượng nuôi cá tra của Việt Nam (2005-2009) 13
Hình 1.4: Diện tích và sản lượng nuôi cá tra của tỉnh An Giang (2005-2009) 16
Hình 1.5: Biểu hiện của cá bị bệnh trắng gan trắng mang 20
Hình 2.1 Địa điểm nghiên cứu 22
Hình 3.1: Qui mô về diện tích của các hộ ương 26
Hình 3.2: Tỷ lệ % số hộ có thả cá tra bột theo các tháng trong năm 27
Hình 3.3: Các loại nguyên liệu thường sử dụng khi ương cá .33
Hình 3.4: Hệ thống phun thức ăn của anh Nguyễn Văn Hậu .34
Hình 3.5: Chiều cao thân và tỷ lệ sống của cá .40
Hình 3.6: Số lượng cá giống cung cấp qua các kênh tiêu thụ 41
Hình 3.7 : Hiệu quả kinh tế của các hộ ương ở năm 2009 .41
Hình 3.8: Những khó khăn trong nghề ương cá của hộ ương 42
Hình 3.9: Định hướng phát triển của các hộ ương trong thời gian tới .42
Hình 3.10: Tần suất mô tả các dấu hiệu của bệnh xuất huyết 44
Hình 3.11: Dấu hiệu bệnh xuất huyết ở cá tra .44
Hình 3.12: Dấu hiệu bệnh trắng gan trắng mang ở cá tra 45
Hình 3.13: Các dấu hiệu của bệnh trắng gan trắng mang .45
Hình 3.14 : Dấu hiệu của bệnh gan thận mủ ở cá tra .46
Hình 3.15: Các dấu hiệu xuất hiện của bệnh gan thận mủ .46
Hình 3.16: Sự xuất hiện các dấu hiệu của bệnh lắc đầu .47
Hình 3.17: Hình dạng trùng bánh xe khi xem bằng kính hiển vi 47
Hình 3.18: Thời gian xuất hiện các bệnh thường gặp .48
Hình 3.19: Nguồn quyết định chọn thuốc điều trị bệnh cho cá 51
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 : Hai tên loài cá tra được sử dụng nhiều nhất qua các năm gần đây .4
Bảng 1.2: Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên 5
Bảng 1.3: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá tra giống 6
Bảng 1.4: Số cơ sở ương cá tra bột nhân tạo ở vùng ĐBSCL (2000- 7/2008) 10
Bảng 1.5: Sản lượng cá tra giống sản xuất ở vùng ĐBSCL giai đoạn 2000- 7/2008 .11
Bảng 1.6: Tình hình phát triển thủy sản Việt Nam giai đoạn 2005-2009 .12
Bảng 1.7: Tình hình phát triển nghề nuôi cá tra ở An Giang (2005-2009) 15
Bảng 2.1: Số hộ điều tra 23
Bảng 3.1: Số hộ và diện tích ương cá tra giống cá tra ở An Giang .25
Bảng 3.2: Số lượng ao và diện tích ương cá giống .27
Bảng 3.4: Công tác tẩy dọn ao ở vùng điều tra 29
Bảng 3.5: Liều lượng các loại nguyên liệu gây thức ăn tự nhiên cho cá tra .30
Bảng 3.6: Cá bột, vận chuyển và thả cá bột vào ao ương .32
Bảng 3.7: Lịch trình sử dụng thức ăn sau khi thả cá tra bột 34
Bảng 3.8: Sử dụng nguồn nước cấp và xả nước thải ở ao ương cá tra giống 36
Bảng 3.9: Các biện pháp quản lý môi trường nước (n=105) 37
Bảng 3.10: Hiện trạng sử dụng các chất để quản lý sức khỏe cá tra ương (n=105) .38
Bảng 3.11 : Các loại bệnh và tần suất xuất hiện ở cá tra giống ương trong ao đất .43
Bảng 3.12: Hiện tượng cá chết của một số bệnh ở cá tra giống .49
Bảng 3.13: Các loại thuốc được hộ ương sử dụng điều trị bệnh cá tra giống .50
Bảng 3.14: Phân tích Ảnh hưởng độc lập của một số yếu tố kỹ thuật tới tần số xuất hiện các loại bệnh ở cá tra giống .53
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
Cá tra là đối tượng được nuôi tương đối phổ biến ở các tỉnh, thành trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đặc biệt là các tỉnh nằm ven sông Tiền và sông Hậu Sản lượng cá tra của ĐBSCL chiếm trên 95% sản lượng cá da trơn của cả nước
Trong những năm qua, giá trị xuất khẩu cá tra có tốc độ tăng trưởng khá cao và đóng góp rất lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (chỉ đứng sau tôm sú)
Do áp dụng được kỹ thuật tiên tiến vào nuôi trồng nên sản lượng và năng suất nuôi cá tra không ngừng gia tăng, Bên cạnh đó công nghệ sản xuất giống đã hoàn thiện nên đã chủ động sản xuất giống cá tra cung cấp đủ cho nhu cầu nuôi thương phẩm của vùng Hiện nay, cá tra chủ yếu được xuất khẩu ở dạng sản phẩm đông lạnh, các mặt hàng cá tra chế biến của vùng ĐBSCL đã thâm nhập được nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có cả những thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe như EU và Mỹ
Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu
cá tra ở Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro về dịch bệnh, môi trường và thị trường tiêu thụ Hầu hết người dân phát triển nuôi cá tự phát, ương nuôi với mật
độ quá cao trong khi chưa có hệ thống cơ sở hạ tầng hỗ trợ (xử lý nước thải, chất thải,….) dẫn đến cá nuôi rất dễ bị dịch bệnh phát sinh, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
Trong lĩnh vực sản xuất giống cá tra, một số cơ sở sản xuất do mục đích chạy theo lợi nhuận nên chưa thật sự quan tâm về chất lượng của đầu ra sản phẩm, tỷ lệ sống có chiều hướng suy giảm Dịch bệnh trên cá tra xảy ra thường xuyên và khó điều trị, gây ảnh hưởng xấu đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của ngư dân ương nuôi cá
Nhằm tìm hiểu về hiện trạng kỹ thuật và tình hình bệnh của mô hình ương
cá Tra giống để đề xuất một số giải pháp phát triển hơp lý và hiệu quả, được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng Thủy sản, trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện
đề tài: “ Hiện trạng kỹ thuật và tình hình bệnh trong ao ương giống cá tra
Trang 11(Pangasianodon hypophthalmus- Sauvage, 1878) ở 3 huyện: Tân Châu, Châu
Phú và Phú Tân-Tỉnh An Giang “
Đề tài thực hiện với những nội dung chính:
1 Nghề ương cá tra giống trong ao đất tại An Giang
2 Hiện trạng kỹ thuật ương cá tra giống (từ cá bột lên cá giống cỡ 3 phân)
3 Tình hình bệnh ở cá tra giống khi ương nuôi trong ao đất và phân tích một số yếu tố kỹ thuật có liên quan tới tần số xuất hiện bệnh
Kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp các thông tin về kỹ thuật và tình hình bệnh của nghề ương cá tra giống tại tỉnh An Giang, đồng thời là cơ sở khoa học cho ngành Nông nghiệp & PTNT tỉnh An Giang đề ra các giải pháp phát triển nghề ương cá tra giống trong thời gian tới
Mặc dầu bản thân đã hết sức cố gắng tổng hợp các tài liệu có liên quan và đầu tư nghiên cứu, xử lý số liệu nhằm mục tiêu thực hiện tốt các nội dung nghiên cứu của đề tài, nhưng do khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý của quý Thầy Cô và các bạn đồng nghiệp
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ TRA
1.1.1 Sơ lược về hình thái và hệ thống phân loại:
Cá tra có thân dài, da không có vảy, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu dài, mắt nhỏ, có cơ quan hô hấp phụ là bóng hơi, cá cũng có thể hô hấp bằng da nhưng phải giữ da đủ độ ẩm
Hình 1.1 Cá Tra Pangasianodon hypophthalmus -Sauvage, 1878
Cá tra thuộc bộ Siluriformes, đây là một bộ cá rất đa dạng trong nhóm cá xương gồm 36 họ, 477 giống, 3088 loài phân bố rộng khắp trên thế giới [24] Các loài cá trong bộ này dao động khá mạnh về kích thước và các hình thức sinh sống, từ
loài nặng nhất là cá tra dầu (Pangasius gigas) ở Đông Nam Á tới loài dài nhất là cá nheo châu Âu (Silurus glanis), hay những loài chỉ ăn xác các sinh vật chết ở lớp nước đáy, hay các loài cá ký sinh nhỏ bé như Vandellia cirrhosa [32]
Đã có nhiều định danh khoa học khác nhau của cá tra dựa trên cơ sở những tài liệu các tác giả nước ngoài mô tả cá ở các khu hệ cá khác nhau như:
- Pangasius pangasius (non Hamilton, 1822)
- Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878)
- Helicophagus hypophthalmus (Sauvage, 1878)
- Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
- Pangasius pleurotaenia (non Sauvage, 1878)
- Pangasius sutchi (Fowler, 1937)
Trang 13Theo Nguyễn Văn Thường (2008) thì việc xác định tên khoa học của cá tra theo nhiều tài liệu có sự khác nhau và vẫn chưa có sự thống nhất [24]
Bảng 1.1 : Hai tên loài cá tra được sử dụng nhiều nhất qua các năm gần đây
Robert, T.R & and C.Vithayanon 1991
Swedish Museum of Natural History 1999
Wu, H.L., K.T.Shao and C.F.Lai, Editors
Giống: Pangasianodon
Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878) [24]
Trang 1410 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm [24]
Theo Cacot (1998), ở hạ lưu sông Cửu Long có 11 loài chủ yếu thuộc
giống Pangasius, trong đó có 8 loài có kích thước lớn (chiều dài lơn hơn 50cm) Đặc biệt có 2 loài: cá tra (Pangasius hypophthalmus) và cá basa (Pangasius
bocourti) được nuôi rất nhiều ở ĐBSCL [38]
1.1.3 Đặc điểm sinh thái
Cá tra có thể tồn tại trong môi trường nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp, nước bị nhiễm phèn có pH = 4 (pH<4 cá bị sốc sẽ bỏ ăn) Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, sống được ở vùng nước lợ có nồng độ muối 7-10%o, có thể chịu đựng được nước phèn với pH >5, dễ chết ở nhiệt độ thấp dưới 15 oc, nhưng chịu nóng tới 39oC Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác [28]
1.1.4 Tập tính dinh dưỡng
Miệng cá có răng sắc nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái Gai trên cung mang thưa và ngắn nên không có tác dụng lọc thức ăn như các loài cá phiêu sinh động vật Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột ngắn và không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Với đặc điểm trên nên trong tự nhiên, tính
ăn của cá tra thiên về động vật
Bảng 1.2: Thành phần thức ăn ở dạ dày cá tra trong tự nhiên [28] Loại thức ăn Tỉ lệ (%)
Trang 15Cá tra 3 - 4 ngày tuổi có thể bắt đầu ăn lẫn nhau Khi khảo sát cá bột vớt ở tự nhiên vẫn thấy chúng ăn lẫn nhau ngay trong các đáy chứa cá bột vớt được, ngoài ra còn trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác [28] Trong điều kiện ương nuôi trên bể, chúng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn như: Artemia, trùn chỉ, Moina, Rotifera, thức ăn chế biến…Tuy nhiên, ấu trùng Artemia và trùn chỉ cho tỉ lệ sống cao và sinh trưởng của cá tốt nhất [43] Cá con 20 ngày tuổi đã bắt đầu sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến hay thức ăn tổng hợp [18]
Cá tra càng lớn thì phổ thức ăn của chúng càng rộng Trong ao, bè nuôi chúng có thể sử dụng được tấm, cám, rau, bèo, phế phẩm các nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn tự chế dạng ẩm với hàm lượng protein thấp Đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển nuôi rộng rãi loài cá này [14] Trong điều kiện thiếu thức ăn cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc từ động vật [28]
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có khả năng sinh trưởng trưởng nhanh Cá tra bột hết noãn hoàng
có chiều dài trung bình từ 1 – 1,1cm, sau 14 ngày ương đạt 2,0–2,3cm và có khối lượng là 0,52g Cá 5 tuần tuổi đạt 1,28–1,5g chiều dài 5-6 cm Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài 10-12 cm và có khối lượng là 14-15 gam
Bảng 1.3: Sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá tra giống [33]
Trang 16dần theo sự phát triển của cá, ở năm đầu tiên độ béo tăng nhanh nhất, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá có trọng lượng 11,2g có độ béo 0,99%, cá 560g có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng 3,62kg có độ béo là 1,62% Cá đực có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào mùa sinh sản [28]
Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm Trong tự nhiên, có thể bắt gặp cỡ cá dài tới 1,8 m và nặng tới 18 kg Trong ao nuôi vỗ, cá tra bố mẹ cho đẻ
có thể đạt tới 25 kg ở cá 10 năm tuổi
1.1.6 Đặc điểm sinh sản
Cá tra thành thục chậm so với các loài cá da trơn khác, chúng thường thành thục sinh dục vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần đầu từ 2,5-3 kg Mùa
vụ sinh sản của cá tra từ tháng 3 đến tháng 8 đối với cá nuôi bè, nhưng đối với cá tra nuôi ao thì thời gian này ngắn hơn, từ tháng 6 đến tháng 8 Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực cái.Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đoạn sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5% [38]
Ở tự nhiên, cá có tập tính di cư đẻ trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái Lan, không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam Bãi đẻ của cá tra nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông MêKông và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới Campuchia và Lào Tại đây có thể bắt được những cá tra nặng tới
15 kg với buồng trứng đó thành thục Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ
của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá
bột và trôi về hạ nguồn Trong sinh sản nhân tạo, cá có thể thành thục và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3 lần trong một năm [42]
Trang 17Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm Sau khi đẻ ra và trương nước, đường kính trứng có thể tới 1,5-1,6 mm [38]
1.2 NGHỀ NUÔI CÁ DA TRƠN Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Nghề nuôi cá da trơn ở thế giới
Theo Phân viện Qui hoạch thủy sản phía Nam (2008) thì cá da trơn chỉ được nuôi nhiều ở Đông Nam Á, Mỹ, Trung Quốc và một ít ở Nam Mỹ Các loài nuôi
chính có tên khoa học như Ictalurus punctatus, pangasius spp., Silurus asotus, Leiocassi longirostris, Pelteobagrus fulvidraco, trong đó các loài Pangasius spp., Ictalurus punctatus, Silurus asotus được nuôi với khối lượng lớn nhất và tập trung ở
Việt Nam, Mỹ và Trung Quốc chiếm trên 99% tổng sản lượng [36]
- Mỹ: Năm 2005, tổng sản lượng cá da trơn của Mỹ đạt 376.850 tấn, đối
tượng chính là loài có tên khoa học Ictalurus punctatus (còn gọi là cá mèo hay cá
trê Mỹ) Cá da trơn ở Mỹ được nuôi với quy mô công nghiệp chủ yếu ở 4 bang là: Alabama, Ankansas, Louisiana và Misissipi
Tuy nhiên, gần đây giá thành sản phẩm tăng do giá xăng và giá thức ăn tăng đã gây khó khăn cho những người nuôi cá da trơn ở Mỹ Hơn nữa, thị trường cá da trơn Mỹ đang bị cạnh tranh bởi cá da trơn từ nước ngoài (Trung Quốc, Việt Nam, Nam Mỹ) nên nghề nuôi cá da trơn ở Mỹ hiện gặp rất nhiều khó khăn, sản xuất thu hẹp dần Các chủ trại nuôi cá catfish đã thành lập một hiệp hội nghề nghiệp nuôi cá catfish để truyền bá, trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi loài cá này và bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong trường hợp gặp phải sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường quốc tế
[32]
- Nam Mỹ: Cũng có nhiều nước ở Nam Mỹ nuôi cá da trơn như Braxin,
Costa Rica, Êcuador, Chilê… nhưng qui mô nuôi ở các nước này còn nhỏ so với nước ở khu vực khác, đặc biệt là so với cá tra của Việt Nam Vì vậy, khả năng phát triển trong tương lai của họ sẽ khó cạnh tranh một khi Việt Nam vẫn giữ được lợi thế về giá và chất lượng sản phẩm Tính đến năm 2005, tổng sản lượng
cá da trơn của Braxin đạt 1.909 tấn, tăng 9% so với năm 2004, trong đó cũng chủ
Trang 18yếu là loài Ictalurus punctatus Ở Costa Rica cũng sản xuất loài cá này nhưng sản
lượng chỉ đạt 169 tấn
- Trung Quốc: Trong những năm gần đây, Trung Quốc là quốc gia xuất
khẩu cá da trơn lớn nhất vào Mỹ Xuất phát từ thị trường mở rộng hơn và nhu cầu nội địa rất lớn nên sản lượng cá da trơn nuôi của Trung Quốc tăng rất nhanh, đạt 478.004 tấn vào năm 2005, tăng 100.000 tấn so với năm 2004 và tăng
160.000 tấn so năm 2003 Các đối tượng nuôi chính là Silurus asotus, Ictalurus punctatus, Pelteobagrus fulvidraco [36]
- Campuchia: Tỷ lệ cá tra ở Campuchia thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài
thuộc họ cá tra, chỉ có 2% là cá basa và cá vồ đém, sản lượng cá tra nuôi chiếm một nửa tổng sản lượng các loài cá nuôi của cả nước [36]
- Thái Lan: Tổng sản lượng các loài cá da trơn ở Thái Lan năm 2005 là
130.784 tấn, trong đó loài Pangasius spp (giống như cá tra Việt Nam) đạt 16.473
tấn Vùng nuôi chủ yếu tập trung ở 2 tỉnh Mụcdahản và Ubôn Rắtchathani nằm ven sông Mê Kông, Đông Bắc Thái Lan Vụ Nghề cá Thái Lan đã phối hợp với Viện Thực phẩm soạn thảo Kế hoạch phát triển cá da trơn năm 2005, mục tiêu của kế hoạch này là phát triển cá da trơn trên diện rộng, đem về giá trị xuất khẩu
10 tỷ bạt/năm (khoảng 312 triệu USD) [36]
- Inđônêxia: Sản lượng cá da trơn ở Inđônêxia tăng khá nhanh trong giai
đoạn 1999-2005, tốc độ tăng bình quân đạt 25%/năm để từ 27.350 tấn năm 1999 tăng lên 102.090 tấn vào năm 2005 Riêng sản lượng cá tra của Inđônêxia năm
2005 đạt 32.575 tấn, tăng 8.600 tấn so năm 2004 và chiếm 32% tổng sản lượng
cá da trơn cả nước
Việc phát triển nuôi cá tra ở nước này đã gặp nhiều hạn chế Theo nghiên
cứu của Didi Sadidi (1998) thì tổng nhu cầu về giống cá Pangasius hypophthalmus ở miền nam Sumatra khoảng 2.000 con/tháng
Tuy nhiên, nhu cầu con giống hàng năm có sự dao động và việc cung cấp
co giống phụ thuộc vào mùa vụ vì cá sinh sản chủ yếu vào mùa mưa Tỷ lệ nở của ấu trùng chỉ khoảng 10-20% [40]
Ngành Thủy sản Inđônêxia đặt mục tiêu 10,16 triệu tấn vào năm 2010, tăng hơn 2 triệu tấn so với năm 2007 Vốn đầu tư ban đầu 333,5 triệu USD tập trung chủ yếu vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ thủy sản
Trang 19- Các nước Đông Nam Á khác: Do cùng có sông MêKông chảy qua Lào
và Myanma nên 2 nước này cũng có nhiều lợi thế nuôi cá tra Tuy nhiên, mỗi nước này cũng chỉ sản xuất trên dưới 5.000 tấn/năm [36]
1.2.2 Tình hình ương nuôi cá tra ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình ương cá tra giống
Trước năm 1998, nghề ương cá tra giống chủ yếu tập trung ở 2 huyện: Huyện Hồng Ngự thuộc tỉnh Đồng Tháp và huyện Tân Châu thuộc tỉnh An Giang Nguồn giống hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cá tra bột đánh bắt ở tự nhiên
Thành công trong sinh sản nhân tạo cá tra ở năm 1998 đã tạo ra một bước ngoặc quan trọng trong lĩnh vực sản xuất giống Đến năm 2004, nguồn con giống phục vụ cho nghề nuôi cá tra hoàn toàn được cung cấp từ sản xuất giống nhân tạo [30]
Bảng 1.4: Số cơ sở ương cá tra bột nhân tạo ở vùng ĐBSCL (2000- 7/2008)
(Nguồn: Bộ Nông Nghiệp & PTNT)
Qua bảng 1.4 cho thấy số lượng các cơ sở ương giống cá tra ở ĐBSCL tăng nhanh liên tục trong giai đoạn 2001-2007, từ 82 cơ sở ở năm 2001 lên đến 5.171cơ
sở ở năm 2007, tăng gấp 63 lần; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này là 80,76%/năm
Đến năm 2008 số lượng cơ sở sản xuất giống là 5.633 cơ sở, tăng 1,09 lần so với cả năm 2007 Số cơ sở sản xuất giống cá tra ở 2 tỉnh Đồng Tháp và An Giang chiếm đến 94,24% tổng số cơ sở ở ĐBSCL Giá cá tra bột liên tục giảm, từ 40 đ/con ở năm 2001, đến năm 2008 giá chỉ còn 0,7-1 đ/con [27]
Tương ứng với sản lượng cá bột, sản lượng cá giống ở ĐBSCL cũng liên tục tăng từ 32 triệu cá giống ở năm 2000, tăng lên 1.926 triệu cá giống ở năm 2007 Các cơ sở sản xuất giống ở ĐBSCL thường thả ương 10-15 triệu cá
Trang 20bột/năm và cung cấp cho thị trường với sản lượng giống trung bình là 1 triệu con/năm Diện tích trung bình các cơ sở ương dao động từ 3.000-5.000m2 Số đợt sản xuất trung bình khoảng 6 đợt/năm Tỷ lệ sống từ ương từ bột lên giống ở giai đoạn đầu còn rất thấp, nhưng về sau do áp dụng khoa học tiên tiến vào thực thực tế sản xuất nên tỷ lệ sống được nâng cao Tỷ lệ sống bình quân từ 6,91% ở năm 2000 lên 35,29% vào năm 2005 [36]
Bảng 1.5: Sản lượng cá tra giống vùng ĐBSCL giai đoạn 2000- 7/2008
Ghi chú: (*) : Không có số liệu báo cáo (Nguồn: Bộ Nông Nghiệp & PTNT)
Do nhu cầu về con giống tăng cao ở giai đoạn 2006-2008 nên một số cở sở sản xuất cá tra bột tranh thủ cơ hội, chạy theo lợi nhuận, không tuân thủ những tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc và cuối cùng sản xuất ra những đàn cá giống kém chất lượng, chống chịu kém với điều kiện môi trường, chậm lớn, một số đàn giống biểu hiện sự suy thoái do cận phối Do đó tỷ lệ ương từ bột lên giống trong giai đoạn này chỉ dao động từ 16,32% đến 20% [36]
1.2.2.2 Tình hình nuôi cá tra thương phẩm
Nuôi cá tra ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ XX ở ĐBSCL, ban đầu chỉ nuôi ở qui mô nhỏ, cung cấp thực phẩm phục vụ tiêu dùng tại chỗ; các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng ao, mương vườn và nguồn thức ăn sẵn có Đến những năm cuối của thập niên 90 thế kỷ XX, tình hình nuôi cá tra đã có những bước tiến triển mạnh, các doanh nghiệp chế biến đã tìm được thị trường xuất khẩu, đồng thời các Viện, Trường cũng đã nghiên cứu thành công và đưa ra qui trình sản xuất con giống, qui trình nuôi thâm canh đạt năng suất cao,… ngay sau đó đối tượng nuôi này được lan tỏa và đưa vào nuôi ở nhiều vùng miền trên
Trang 21cả nước [36]
Sản lượng thủy sản của Việt Nam liên tục tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân là 10,5%/năm ở giai đoạn từ năm 1990-2000 và tỷ lệ này tiếp tục tăng và đạt tốc độ tăng trưởng là 12,1%/năm ở giai đoạn từ năm 2001-2005 Nếu như ở năm 2000, sản lượng thủy sản nuôi chỉ chiếm 26,0% trên tổng sản lượng thủy sản
cả năm thì con số này đã lên đến 46,0% ở năm 2006 [36]
Bảng 1.6: Tình hình phát triển thủy sản Việt Nam giai đoạn 2005-2009
Giá trị xuất khẩu TS Triệu USD 2.741 3.364 3.800 4.600 4.200
(Nguồn: Cục Thống kê Việt Nam và Viện Kinh tế-Qui hoạch Thủy sản)
Một trong những khu vực có nhiều đóng góp quan trọng về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu về thủy sản là vùng ĐBSCL Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, nghề nuôi cá tra tại đây đã phát triển mang tính chất đột phá Theo báo cáo của Bộ thủy sản (2004) thì sản lượng thủy sản ở vùng ĐBSCL chiếm 55-60% tổng sản lượng NTTS, chiếm hơn 60% tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu và là nơi sản xuất hầu hết số lượng cá tra cả nước [30]
Ở các tỉnh ở ĐBSCL như: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Tiền Giang phong trào nuôi cá tra phát triển trong 8 năm trở lại đây Sản lượng cá tra của toàn vùng luôn chiếm trên 95% sản lượng cá da trơn của cả nước Vào năm 1997, diện tích nuôi cá tra của vùng này là 1.290 ha; đến năm
2002 nuôi cá tra đã phát triển với diện tích tăng lên 2.413,2 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích giai đoạn 1997-2002 là 13,34%/năm Tốc độ tăng trưởng về sản lượng nuôi cá tra ao bình quân giai đoạn này là 32,23%/năm [36] Đến năm 2003 diện tích nuôi cá tra của ĐBSCL là 2.792 ha, đến 2007 đã lên tới 5.429 ha, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích trong giai đoạn 2003-
2007 là 18,1%/năm Tốc độ tăng trưởng về sản lượng ở giai đoạn này là 50,49%[36]Mức độ thâm canh cũng được gia tăng theo tốc độ phát triển của diện tích và
Trang 22sản lượng, nếu như ở năm 1997 năng suất nuôi cá ao chỉ đạt 17,5 tấn/ha, nhưng đã tăng lên đến 125,5 tấn/ha (tăng gấp 7,18 lần) vào năm 2007 [36]
Ở thời điểm năm 2007, sản phẩm cá tra Việt Nam đã có mặt ở khoảng 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thị trường EU, Bắc Mỹ và Nga
là những thị trường lớn nhất
EU 44%
Bắc Mỹ 9%
ASEAN 9%
Nga 13%
Ucraina 6%
Trung Quốc 5%
Ôxt ralia
11%
Hình 1.2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cá tra theo sản lượng năm 2007
Phong trào nuôi cá tra, cá ba sa sôi động nhất vào năm 2008, làm cho tình hình sốt đất bãi bồi ven sông Tiền, sông Hậu gia tăng, diện tích nuôi phát triển một cách đột biến đã tạo nên sự khủng hoảng thừa cá nguyên liệu Cá tra, cá ba
sa đã xuất khẩu đến 130 quốc gia và vùng lãnh thổ [12]
0 1,000 2,000 3,000 4,000 5,000 6,000 7,000 8,000 9,000 10,000
Sản lượng (tấn) Diện tích nuôi (ha)
Hình 1.3: Diện tích và sản lượng nuôi cá tra của Việt Nam (2005-2009)
Ở thời điểm năm 2008, nếu so với thời điểm trước đó 10 năm thì tổng diện tích nuôi cá tra đã tăng 6 lần (đạt khoảng 6.000 ha), tổng sản lượng cá tra thương phẩm tăng 45 lần (từ 22.500 tấn lên 1.000.000 tấn), khối lượng cá tra filê xuất
Trang 23khẩu nhảy vọt lên tới 55 lần (từ 7.000 tấn lên 386.870 tấn), giá trị xuất khẩu cá tra tăng khoảng 50 lần (từ 19,7 triệu USD lên 979,0 triệu)
Nhưng do tình hình suy thoái kinh tế thế giới vào năm 2009, hoạt động sản xuất và xuất khẩu (XK) cá tra rơi vào thế lận đận do ảnh hưởng bởi thị trường xuất khẩu, giá cá không ổn định khiến người nuôi cá không có lãi, nông dân “treo hầm”, không tiếp tục nuôi cá khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu chế biến xuất khẩu [12]
Trước tình hình khó khăn trong việc nuôi trồng và xuất khẩu, Bộ NN&PTNT đã xây dựng quy hoạch sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đồng thời thành lập Ban chỉ đạo điều hành sản xuất và tiêu thụ cá tra ĐBSCL nhằm chấn chỉnh công tác quy hoạch, định hướng nghề sản xuất và tiêu thụ cá tra ở vùng ĐBSCL
Nhờ chủ trương chấn chỉnh tình hình tiêu thụ cá tra của Chính phủ, những tháng đầu năm 2010, giá cá tra đã nhích dần từ hơn 14.000 đ/kg lên 16.000 đ/kg, tăng thêm gần 1.000 đ/kg so với cuối năm 2009 Cá tra lên giá trở lại do vào thời điểm cuối năm, phần lớn người nuôi bị lỗ không nuôi trở lại nên thiếu nguyên liệu, trong khi thị trường xuất khẩu đang chuyển biến tốt, nhất là khi Việt Nam
mở được thêm 17 thị trường xuất khẩu mới Ngoài thị trường các nước EU, Mỹ vẫn mạnh, thị trường Nga, Ucraina đang bắt nhịp trở lại [12]
Theo quy hoạch phát triển vừa được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn phê duyệt thì tốc độ tăng trưởng diện tích trong vùng trong các năm tới trung bình khoảng 4,2%/năm Cụ thể đến năm 2010 diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 8.600 ha tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp là 2.300 ha, An Giang với 2.100ha Đến năm 2015 diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 11.000ha và đến năm
2020 là 13.000ha
Như vậy, từ quy hoạch trên cho thấy diện tích nuôi cá tra sẽ tăng dần trong thời gian tới và sản lượng nuôi đến năm 2020 sẽ có thể đạt 1,8 triệu tấn Với sản lượng như trên áp lực đối với môi trường ngày càng cao đặc biệt trong điều kiện diện tích tăng trong thời gian tới chủ yếu sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đồi với chất lượng nguồn nước cấp, đồng thời có thể sẽ ảnh hưởng đến chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sản phẩm tiêu thụ trong thời gian tới
Trang 241.2.3 Tình hình nuôi cá tra thương phẩm ở An Giang
An Giang là một trong những tỉnh có phong trào ương nuôi cá tra phát triển mạnh và cá tra là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của của tỉnh Diện tích mặt nước nuôi thủy sản từ 1995 đến 2005 tăng nhanh, bình quân hàng năm tăng 3% Đồng thời do thâm canh và và xã hội hóa công tác sản xuất giống cá nên giá trị sản xuất ngành thủy sản bình quân hàng năm tăng 10,9% [34]
Bảng 1.7: Tình hình phát triển nghề nuôi cá tra ở An Giang (2005-2009)
Giá xuất khẩu bình quân USD/kg 2,20 2,40 2,64 2,22 2,40
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh An Giang)
Qua bảng 1.7 cho thấy tình hình phát triển nghề nuôi cá tra ở An Giang có những biến động lớn về diện tích nuôi và sản lượng
Ở năm 2006, diện tích và sản lượng nuôi không phát triển do ở thời điểm tháng 8/2005 Mỹ có lệnh cấm nhập khẩu cá tra Việt Nam do nhiễm nhóm kháng sinh Fluoroquinolones [33]
Sang năm 2007, nhờ công tác xúc tiến thương mại nên thị trương xuất khẩu cá tra được mở rộng nên giá cá xuất khẩu gia tăng, kéo theo diện tích và sản lượng nuôi phát triển mạnh
Nhưng đến năm 2008 do khủng hoảng kinh tế của thế giới nên nhiều nước nhập khẩu thủy sản đã giảm sản lượng tiêu thụ Để xuất khẩu được sản phẩm nhiều doanh nghiệp đã hạ giá bán cá tra fillet nên giá xuất bình quân chỉ được 2,22 USD/kg, do đó giá mua cá nguyên liệu của các doanh nghiệp cũng đã sụt giảm theo giá xuất bán và đã dưới giá thành nuôi, dẫn đến nhiều hộ nuôi cá tra bị thua lỗ
Trang 25Cơn bão suy thoái kinh tế của thế giới tiếp tục kéo dài đến năm 2009 đã ảnh hưởng lớn đến đầu ra các sản phẩm thủy sản, thị trường xuất khẩu thu hẹp dẫn đến sản lượng nuôi cá tra của tỉnh sụt giảm tiếp tục và chỉ còn 98.700 tấn ở năm 2009 (giảm 63,6% so với năm 2008)
0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600
Sản lượng (tấn) Diện tích (ha)
Hình 1.4: Diện tích và sản lượng nuôi cá tra của tỉnh An Giang (2005-2009) 1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TRÊN CÁ DA TRƠN
Cá da trơn đã và đang được nuôi ở trình độ thâm canh cao ở nhiều quốc gia tên thế giới, trong đó có Việt Nam Ngoài những hiệu quả kinh tế- xã hội mà nghề này mang lại, thì vấn đề bệnh và bệnh dịch gây tác hại cho người nuôi cá da trơn đã được các nhà khoa học quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố về lĩnh vực này:
1.3.1 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá da trơn ở thế giới
Bệnh do virus trên cá da trơn đã được phát hiện ở cá trê sông (Chanel catfish virus disease - CCVD ) do do tác nhân Herpesvirus ictaluri Trên cá nheo đốm ( Ictalurus punctalus) cũng đã phát hiện virus thuộc giống Herpesvirus
Virus này thuộc nhóm virus – ADN, có kích thước khoảng 90 – 100 nm Bệnh cấp tính thường xảy ra trên cá nheo hương và giống Cá bị bệnh thường có dấu hiệu: Bụng cá trướng to, mắt cá bị lồi ra khỏi tròng mắt, trên da và dây có hiện tượng xuất huyết Cá bệnh thường bơi trên tầng mặt và đầu cá nhô cao trên mặt nước Bệnh nặng có thể gây chết tới 100% [8]
Bệnh do tác nhân vi khuẩn Pseudomonas spp gây bệnh xuất huyết được tìm thấy ở cá chình Châu Âu ( Anguilla anguilla) và cá chình Nhật Bản (Anguilla
Trang 26japponica) Cá bị bệnh có 1 số dấu hiệu như: Da cá xuất huyết, các tia mang rách
nát và cụt dần, có khi ruột cũng bị xuất huyết Bệnh này có thể xuất hiện quanh năm, kể cả mùa đông nhiệt độ lạnh và mùa hè nóng nực [8]
Loài vi khuẩn khác cũng được phát hiện là Edwardsiella spp gây bệnh nhiễm khuẩn và xuất huyết nội tạng trên cá trê sông ( Ictalurus punctata), trên các lồng nuôi cá chình (Anguilla japonica) ở Thái Lan và Nhật Bản [41] Vi
khuẩn này còn là tác nhân gây bệnh nhiễm trùng máu cấp tính trên cá nheo Mỹ
và gây thiệt hại hàng chục triệu đô la hàng năm trong nghề nuôi công nghiệp cá nheo ở Mỹ [50] Dấu hiệu bệnh lý bệnh nhiễm trùng máu ở cá nheo Mỹ là hiện tượng xuất huyết trên da, dưới hàm, trên xương nắp mang và bụng Có những đốm trắng (đường kính 1-3 mm) ở những vùng da nơi xảy ra những vết loét và viêm tấy [48]
Vi khuẩn E ictaluri cũng được tìm thấy trên cá trê trắng (Clarias batrachus) ở Thái Lan và còn được phát hiện trên cá da trơn Trung Quốc với dấu
hiệu có nhiều đốm trắng trên gan, thận và tỳ tạng
Ở khu vực Đông Nam Á, cũng đã phát hiện vi khuẩn Aeromonas spp trên
cá trê vàng (Clarias macrocephalus) ở Thái Lan và Trung Quốc Vi khuẩn này
trong vòng 24 giờ có thể gây chết đến 90% trên cá trê giống ở ao nuôi [44] và
cũng là tác nhân gây bệnh trên cá chình (Anguilla japonica, A anguilla) Dấu
hiệu bệnh lý đầu tiên của bệnh này là xuất hiện các đốm trắng trên thân, đầu, vây, mang Các đốm này lan rộng tạo thành vết loét Vẩy cá rụng đi, tơ mang bị phá hủy làm cá ngạt thở
Đối với bệnh ký sinh trùng trên cá da trơn thì ở Indonesia, năm 1926,
Louis Bovien đã mô tả 1 giống mới và loài mới Djombangia penetrans trên cá trê trắng (Clarias bachatchus) [19]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tra ở ĐBSCL
Các loại bệnh thường gặp trên cá tra là: Bệnh ký sinh trùng, bệnh nhiễm khuẩn cơ hội, bệnh mủ gan (hay còn được gọi là bệnh đốm trắng trên gan, thận) Ngoài ra, cá tra còn có thể mắc một chứng bệnh khác như: bệnh trắng gan, trắng mang Các bệnh này ngày càng xuất hiện phổ biến và là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ hao hụt cao, có thể gây chết đến 70-80% quần đàn trong ao ương cá tra giống [16]
Trang 27- Bệnh ký sinh trùng: Theo Bùi Quang Tề (2001) thì: “Các công trình
nghiên cứu ký sinh trùng ở cá toàn diện và đầu đủ nhất thuộc về Tiến sĩ Hà Ký (1968-1971) khi điều tra KST của 16 loài cá kinh tế, đã xác định được 120 loài KST thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp Ông đã mô tả 1 họ, 1 giống và 42 loài mới” [19]
Khi nghiên cứu KST trên một số loài cá nước ngọt ở ĐBSCL, Bùi Quang
Tề (2001) đã phát hiện 23 loài KST ở cá tra (Pangasius hypophthalmus) Có
nhiều loài ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm cho cá ở giai đoạn
cá hương và cá giống [19]
Cá tra ở giai đoạn giống thường hay nhiễm ký sinh trùng đơn bào ngoại ký
sinh như: trùng bánh xe Trichodina nigra với tỷ lệ nhiễm ở da cá tra hương là
95,47% và ở da cá tra bột là 50,00% và chúng đã gây chết nhiều ở giai đoạn ương cá hương, thậm chí có thể gây chết đến 100% Tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe
Tripartiella bulbosa ở mang cá tra giống là 53,84% và chúng đã gây ra bệnh làm
cá giống chết hầu hết trong vòng 24-48 giờ [19]
Theo Đỗ Thị Hòa khi nghiên cứu về bệnh ký sinh trùng trên cá tra cũng đã
có nhận xét là bệnh trùng bánh xe gây thiệt hại lớn cho các hộ ương cá tra giống khi nghiên cứu bệnh cá tra giống ở tỉnh Đồng Tháp Dấu hiệu dễ dàng nhận biết khi cá tra mắc bệnh trùng mặt là trên thân, mang cá có nhiều nhày màu hơi trắng đục Da cá chuyển màu xám Cá thường nhô đầu lên mặt nước và lắc mạnh,
người nuôi còn gọi là “bệnh lắc đầu” Những con bệnh nặng, mang đầy nhớt và
bạc trắng Cá bơi lội lung tung không định hướng, sau cùng lật bụng, chìm xuống đáy ao và chết [8]
- Bệnh vi khuẩn (còn gọi là bệnh xuất huyết): Tác nhân gây bệnh
thường gặp trên cá tra do một số vi khuẩn như Aeromonas hydrophila và Pseudomonas sp Cá bệnh thường bơi lờ đờ trên mặt nước Trên thân xuất hiện
những điểm xuất huyết li ti (còn gọi là bệnh xuất huyết, bệnh đỏ mỏ-đỏ kỳ hay bệnh đốm đỏ) Bệnh nặng, các gốc vi xuất huyết Bụng cá trương to, chứa đầy hơi Trong xoang bụng chứa dịch màu vàng Cá bệnh thường ăn ít hoặc bỏ ăn [16] Bệnh đốm đỏ xuất hiện nhiều vào mùa mưa, mùa có nhiệt độ từ 25- 28º C
Trang 28[8] Bệnh này xuất hiện ở mọi lứa tuổi, là một trong những tác nhân có thể gây chết đến 90% [9]
Một loài vi khuẩn khác là tác nhân gây hao hụt cao trên cá tra giống và cá
thịt là Edwardsiella ictaluri Bệnh này còn được gọi là bệnh đốm trắng trên gan-
bệnh mủ gan hay là gan thận mủ [4] Bệnh được ghi nhận xuất hiện đầu tiên trên
cá tra nuôi ở ĐBSCL vào cuối năm 1998 [42] Cá bị bệnh này có biểu hiện bơi lờ
đờ, không có biểu hiện bất thường bên ngoài Một số trường hợp có hiện tượng xuất huyết trên da và hậu môn Bên trong nội quan (gan, thận, tỳ tạng) xuất hiện những đốm trắng, đường kính từ 1-3 mm, các cơ quan này sưng to và có hiện tượng nhũng ở thận Tỷ lệ chết từ 10-90% trên tổng số cá nuôi [16]
Theo Đỗ Thị Hòa và ctv (2004) thì bệnh mủ gan xuất hiện ở cá tra trong suốt chu kỳ nuôi và gây thiệt hại lớn ở giai đoạn cá giống Bệnh có thể gây tỷ lệ tử vong
ở cá tra hương (cỡ từ 4-6 cm) từ 60-70%, có trường hợp hao tới 100% [8]
- Bệnh trắng gan- trắng mang: Theo nghiên cứu của Lý Thị Thanh Loan
(2009) [16] cá bị bệnh trắng mang, trắng gan có biểu hiện bệnh tích như sau:
Dạng 1: Cá bệnh có biểu hiện bên ngoài bình thường, không xuất huyết trên thân và các gốc vây, không chướng bụng Kiểm tra mang cá cho thấy, mang
cá đã chuyển sang màu trắng hồng nhạt, vòng theo cung mang có viền lấm tấm màu xám nhạt đến xám sậm trên các sợi tơ mang
Đặc biệt, mang cá không tiết nhớt trắng đục, mặc dù mang cá mất sắc tố nhưng tơ mang vẫn sạch, mượt, khi cá bệnh nặng (đã bỏ ăn) máu cá cũng trở nên hồng nhạt, gan không còn sắc tố chuyển sang màu vàng đất
Dạng 2: Cá bệnh có biểu hiện xuất huyết nhẹ ở các gốc vây, không xuất huyết dạng đốm, không chướng bụng Mang cá cũng mất sắc tố, chuyển sang hồng nhạt, nhưng màu hồng không tươi sáng như dạng 1 và mang cũng không tiết nhiều nhớt, trên các tơ mang có lẫn những tia máu thật mảnh như sợi chỉ Máu cá cũng mất sắc tố nhưng nhạt màu không như dạng 1 và có màu hồng tối Dạng 3: Cá bệnh có biểu hiện xuất huyết lấm tấm ở mặt bụng, gốc vây cũng xuất huyết lấm tấm dạng điểm Mang cá không còn đỏ tươi và đã chuyển sang hồng nhạt Trên mang xuất huyết lấm tấm dạng điểm Mang cá rất sạch, không tiết nhớt Gan, thận không biến màu; Tì tạng sậm màu, máu cá không mất sắc tố
Trang 29Bệnh trắng gan trắng mang thường xuất hiện vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa trên một số ao cá tra giống và cá tra thịt Tỷ lệ cá bệnh chết trong ao lên đến 60-70% [16] Bệnh này xảy ra chủ yếu trên cá giống và cá dưới 3 tháng tuổi (cá
từ 1 – 3 phân) và thường theo sau một bệnh nhiễm khuẩn: bệnh gan thận mủ, bệnh xuất huyết [31]
Hình 1.5: Biểu hiện của cá bị bệnh trắng gan trắng mang
Cho đến nay, chưa có một tài liệu cụ thể nào công bố tác nhân gây bệnh trắng mang, trắng gan trên cá tra và biện pháp phòng trị Người nuôi chủ yếu vẫn dùng biện pháp chữa “bao vây” khi cá bệnh Bước đầu đã phát hiện một số tác nhân gây bệnh hiện diện trên các mẫu bệnh phẩm như: virus, vi nấm với các kỹ thuật xét nghiệm như: xem mẫu bệnh phẩm dưới kính hiển vi điện tử, nuôi cấy phân lập nấm, vi khuẩn [16]
- Bệnh nấm thủy mi: Bệnh thường xảy ra do đánh bắt hoặc vận chuyển
Tác nhân gây bệnh do 2 giống nấm Saprolenia và Achlya Cá bệnh trên da xuất
hiện những vùng trắng xám gồm những sợi nấm nhỏ tạo thành những búi trắng như bông gòn Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa và thời tiết lạnh khi nhiệt độ xuống thấp [27]
1.3.3 Tình hình nghiên cứu bệnh trên cá tra ở tỉnh An Giang:
Dịch bệnh trên cá là 1 trong những yếu tố luôn gây bất lợi cho người nuôi thủy sản, đặc biệt là đối với nghề nuôi cá tra của tỉnh [3]
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Anh Dũng (2005) khi khảo sát tình hình bệnh trên cá tra nuôi ao thâm canh ở 7 vùng nuôi trong tỉnh thì có 2 loại ký
Trang 30sinh trùng được biết nhiều nhất là trùng bánh xe (Trichodina) và sán lá mang (Dactylogyrus) Đây là 2 loài thường gây thiệt hại nhiều cho nghề nuôi cá tra
thâm canh Trùng bánh xe gặp nhiều nhất ở loại hình nuôi ao với 68,3% số hộ ghi nhận Sán lá mang thì chỉ có 24% số hộ ghi nhận.Mùa vụ xuất hiện bệnh: Ở mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 11), bệnh trùng bánh xe và sán lá mang xuất hiện xấp
xỉ nhau với 73% số hộ ghi nhận; khi lũ rút (tháng 11-12), thì bệnh trùng bánh xe xuất hiện cao nhất với 85,4% số hộ ghi nhận [3]
Kết quả khảo sát sự nhiễm ký sinh trùng trên cá tra nuôi thâm canh ở tỉnh
An Giang của Nguyễn Thị Thu Hằng (2008) thì qua khảo sát 329 mẫu cá tra đã
định loại 19 loài ký sinh trùng thuộc 4 ngành, trong đó ngành Protozoa: 11 loài, ngành Myxozoa: 2 loài, ngành giun sán: 6 loài và ngành giáp xác: 1 loài Kết quả kiểm tra 73 mẫu cá bệnh tại hiện trường đã phát hiện 5 loài KST gồm Myxobolus sp., Trichodina sp., Dactylogyrus sp., Ichthyonyctus pangasia và Bucephalosis gracilescens Tuy nhiên, mức độ nhiễm của các loài KST này vẫn chưa đủ gây
thành dịch bệnh làm cá chết hàng loạt [9]
Đối với bệnh do tác nhân vi khuẩn thì theo Trần Anh Dũng (2005): Bệnh xuất huyết có 68,3% số hộ ghi nhận, bệnh phù đầu có 51,2% và bệnh vàng da có 24,4% số hộ ghi nhận Tỉ lệ xuất hiện bệnh mủ gan trên cá tra nuôi thâm canh ở
An Giang khoảng 61%, không cao hơn so với bệnh xuất huyết (68,3%) nhưng có
tỷ lệ chết là cao nhất (60 - 80%), đặc biệt là ở giai đoạn cá giống, tỷ lệ hao hụt do bệnh này đã làm giảm năng suất đáng kể cho các mô hình nuôi Riêng bệnh vàng
da chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây và gây hao hụt lớn trong mô hình nuôi cá tra thâm canh nhưng nguyên nhân vẫn chưa được nghiên cứu Thời gian xuất hiện bệnh vi khuẩn hầu như quanh năm, nhưng đối với bệnh mủ gan thì xuất hiện nhiều vào thời gian lũ về với tỷ lệ là 87,8% số hộ ghi nhận Vào thời gian lũ rút thì các hộ nuôi ghi nhận bệnh xuất huyết xuất hiện cao nhất với 85,4% và bệnh vàng da xuất hiện với 78,1% [3]
Theo kết quả phân tích vi sinh của trường Đại học Cần Thơ từ mẫu gan, thận và tỳ tạng trên 90 mẫu cá tra giống thu ở huyện Tân Châu-An Giang từ năm 2005-2007, đã phân lập được 26 dòng vi khuẩn và định danh được 4 giống Kết
quả định danh phát hiện vi khuẩn Aeromonas hydrophila hiện diện ở hầu hết các
ao nuôi từ lúc ương giống đến giai đoạn thịt [27]
Trang 31Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƯỠNG NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu: Điều tra các hộ ương giống cá tra được tiến hành ở
44 ấp thuộc 26 phường xã tại 3 huyện: Phú Tân, Tân Châu và Châu Phú , tỉnh An Giang Đây là 3 địa phương có số hộ và diện tích ương cá tra tập trung của tỉnh
`
Hình 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Thực gian thực hiện: Từ tháng 1/2010 đến tháng 7/2010
Đối tượng nghiên cứu: “Hiện trạng kỹ thuật và tình hình bệnh trong ao
ương giống cá tra (Pangasianodon hypophthalmus- Sauvage 1878)”
2.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.2.1 Nguồn số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp ở Sở Nông nghiệp và PTNT, phòng Nông Nghiệp
& PTNT các huyện Tân Châu, Châu Phú, Phú Tân, tỉnh An Giang và một số cơ quan có liên quan để tổng hợp các thông tin về tình hình ương nuôi và dịch bệnh trên cá tra giống, số hộ nuôi, vùng nuôi làm cơ sở để chọn vùng nghiên cứu và số mẫu điều tra
2.2.2 Nguồn số liệu sơ cấp
- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp hộ ngư dân về hiện trạng kỹ thuật và tình hình bệnh trong ao ương cá tra giống
Địa điểm nghiên cứu
Trang 32- Thu mẫu và chụp hình các mẫu cá bệnh để đối chiếu với các triệu chứng bệnh cá theo tài liệu đã được công bố
2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
2.3.1 Số mẫu và phân bố số mẫu điều tra
Để thực hiện đề tài này, 105 hộ ương cá tra đã được trực tiếp phỏng vấn Chọn mẫu ngẫu nhiên và phân bố mẫu ở 3 huyện như sau:
Bảng 2.1: Số hộ điều tra
ương cá tra
DT ương (ha)
Số hộ điều tra
Dự kiến
Số hộ điều tra
Tỷ lệ số hộ điều tra/ số
Phỏng vấn trực tiếp các hộ ương nuôi cá tra theo bộ câu hỏi đã chuẩn bị
(Phụ lục 3) Các câu hỏi tập trung vào 2 nội dung chính: Hiện trạng kỹ thuật
ương cá tra giống trong ao và các bệnh thường xảy ra, tác hại và công tác điều trị
2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel xử lý số liệu theo phương pháp thống
kê mô tả (Descriptive Statistics) để tính các giá trị trung bình (Mean), giá trị lớn nhất (Maximum), giá trị nhỏ nhất (Minimum), độ lệch chuẩn (Standard Deviation)…, phân tích sự tương quan giữa một số yếu tố kỹ thuật với tần số xuất hiện bệnh bằng hàm Chi-Test
Để đánh giá ảnh hưởng các yếu tố kỹ thuật tới tần suất gặp bệnh ở cá tra giống ương trong ao đất, hàm Chi-Test đã được sử dụng để đánh giá trong phân tích biện chứng Yếu tố kỹ thuật nào được xem là có ảnh hưởng tới bệnh khi giá trị P≤0.05
Dùng chỉ số nguy cơ tương đối (Relative Risk-RR) và chỉ số chênh (Odd Ratio-OR) để phân tích yếu tố nguy cơ gây xuất hiện bệnh trong ương cá tra giống
Trang 332.3 SƠ ĐỒ KHỐI NGHIÊN CỨU
“ Hiện trạng kỹ thuật và tình hình bệnh
trong ao ương giống cá tra(Pangasianodon hypophthalmus)
ở 3 huyện: Tân Châu, Châu Phú và Phú Tân, tỉnh An Giang “
Hiện trạng kỹ thuật ương cá tra giống trong ao Tình hình bệnh cá tra giống trong ao Nghề ương cá tra giống tại An Giang
Thông tin
về
ao ương
Cải tạo ao.Cá bột và thả cá
Thức
ăn và cách cho
ăn
Quản
lý chất lượng nước
Quản
lý sức khỏe
cá
Tỷ lệ sống
và thu hoạch
Các loại bệnh
và tần
số bắt gặp
Dấu hiệu chính
và tác hại của bệnh
Thời gian xuất hiện bệnh
Tác hại của bệnh
Hóa chất
và kháng sinh điều trị
Ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật tới sự xuất hiện bệnh ở cá tra giống
cá tra giống tại AG
Trang 34Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 NGHỀ ƯƠNG CÁ TRA GIỐNG TRONG AO Ở AN GIANG
Theo ghi nhận từ một số hộ ương cá tra, nghề ương cá tra giống đã hình thành ở An Giang từ những năm 1940 Con giống được đánh bắt trên sông Tiền
và sông Hậu bằng các phương tiện thô sơ: lưới mùng và thùng thiếc Sau năm
1998, An Giang đã cho sinh sản nhân tạo cá tra thành công thông qua đề tài hợp tác nghiên cứu về “Kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá Tra
(Pangasianodon hypopthalmus) cho vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long” giữa
Khoa Thủy sản – Đại Học Cần Thơ, Công ty cổ phần Agifish – tỉnh An Giang và
tổ chức CIRAD – Pháp thì nghề ương cá tra giống phát triển rộng, thu hút một lực lượng lao động đáng kể Đến năm 2009 đã có 1.807 cơ sở ương cá tra giống trên địa bàn tỉnh
Bảng 3.1: Số hộ và diện tích ương cá tra giống ở An Giang
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh An Giang)
Qua bảng 3.1 cho thấy nghề ương cá tra giống của An Giang đã phát triển nhanh về diện tích và số hộ ương Diện tích ương cá tra giống ở năm 2008 đã tăng hơn 6 lần và số hộ ương cũng tăng gấp 2 lần so với năm 2005 Nguyên nhân của sự tăng vọt này là do thị trường xuất khẩu cá tra được mở rộng, giá cá tra thịt
từ 10.000 đ/kg ở năm 2005 đã tăng đến 17.000 đ/kg ở năm 2007 Diện tích nuôi
cá tra củng tăng nhanh từ 815 ha (năm 2005) lên 1.394 ha (năm 2007) Do nhu cầu rất lớn về con giống (giá cá giống đầu năm 2007 tăng từ 25-30% so với năm 2006), nhiều hộ đã phát triển ương nuôi giống nên làm diện tích sản xuất cá tra giống tăng vọt [33]
Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu nên việc tiêu thụ cá tra thương phẩm ở các thị trường xuất khẩu sụt giảm kéo theo việc tiêu thụ cá tra thịt và cá tra giống giảm Diện tích ương cá tra giống ở năm 2009 giảm 19,2% so với năm 2008
Trang 35Qua những kết quả trên cho thấy, tình hình sản xuất cá tra giống cung ứng cho nhu cầu nuôi cá tra thịt trong tỉnh có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn còn thiếu sự ổn định do nguồn giống cá tra không đảm bảo về chất lượng và số lượng và còn phụ thuộc rất lớn vào thị trường xuất khẩu cá tra thịt
3.2 HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT ƯƠNG CÁ TRA GIỐNG Ở VÙNG ĐIỀU TRA 3.2.1 Thông tin về ao ương
3.2.1.1 Diện tích và số lượng ao của các hộ ương:
Theo kết quả điều tra cho thấy, các hộ ương cá tra giống có qui mô tương đối nhỏ Mỗi hộ có tổng diện tích ương cá trung bình là 3.597m2 (± 2.728) Hộ có diện tích ương cá nhỏ nhất là 400 m2, hộ có diện tích lớn nhất là 12.000 m2 Theo Phạm Minh Thành (2009) thì nếu ao ương có diện tích nhỏ thì điều kiện môi trường thường biến đổi với biên độ lớn, từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá Nhưng nếu ao quá lớn cũng sẽ gây trở ngại trong vấn đề quản lý và chăm sóc [18]
- < 3.000 3.000
- < 5.000 5.000
- < 7.000 7.000
- < 10.
000
10.000
- 12.000
Tổng diện tích ương cá của mỗi hộ (m2)
Hình 3.1: Qui mô về diện tích của các hộ ương
Theo bảng 3.2 thì diện tích trung bình trên mỗi ao ở huyện Tân Châu có giá trị thấp nhất: 1.050 m2 (± 674) so với 2 huyện Châu Phú và Phú Tân, huyện Châu Phú có giá trị diện tích bình quân trên mỗi ao cao nhất: 1.488 m2 (± 1.401) Đa số các hộ ương đều có từ 1-3 ao ương (chiếm 80,9%), trong đó hộ chỉ có 2 ao chiếm tỷ lệ cao nhất (41,9%) Hộ có số ao ít nhất là 1 ao và hộ có số ao nhiều nhất là 10 ao Ở huyện Tân Châu và Phú Tân , số hộ có nhiều hơn 3 ao có tỷ lệ cao hơn huyện Châu Phú nhưng diện tích ương bình quân/hộ của 2 huyện này thì lại ít hơn huyện Châu Phú
Trang 36Bảng 3.2: Số lượng ao và diện tích ương cá giống
Tân Châu (n = 42)
Phú Tân ( n = 32)
Châu Phú (n = 31)
Tổng (n = 105)
2.966 ± 2.306
400 9.000
4.927 ± 3.534
500 12.000
3.597 ± 2.728
400 12.000
2 Số ao bình quân/hộ
Số ao it nhất/hộ
Số ao nhiều nhất/hộ
Cái cái Cái
81.2 15.5 3.3
100
0
0
80.9 17.1 2.0
1.174 ± 891
200 4.000
2.650 ± 2.083
350 10.000
1.488 ± 1.401
200 10.000
3.2.1.2 Thời gian và số vụ ương cá tra bột trong năm
Thời gian thả ương cá tra bột có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá do phụ thộc vào thời tiết và mùa vụ sinh sản của cá Nếu thả cá bột vào những thời điểm
mà chất lượng cá bột không tốt và thời tiết không ổn định thì sẽ dễ dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao trong quá trình sản xuất cá tra giống Kết quả khảo sát về thời gian thả cá tra bột theo các tháng được mô tả qua hình 3.2
Trang 37Theo kết quả khảo sát thì các hộ ương thả cá bột kéo dài từ tháng 1 đến tháng 12 (DL) và không có mùa vụ cụ thể Tuy nhiên, hoạt động ương giống cá tra tập trung từ tháng 2 đến tháng 8 (DL) Tháng 3 là tháng có tỷ lệ % số hộ thả
cá tra bột cao nhất (92,9% số hộ điều tra) Từ tháng 9, tỷ lệ số hộ thả ương giảm dần, thấp nhất là ở tháng 12 (14,1%) Hiện tượng này chịu sự chi phối của nhu cầu thả giống trong nuôi thương phẩm và nguồn cá bột sản xuất từ các trại sản xuất giống
Kết quả trên phù hợp với nghiên cứu về thời gian sản xuất của các cơ sở sản xuất cá tra bột của Dương Thúy Yên (2008), là mùa vụ cho cá tra đẻ rãi rác quanh năm, nhưng tập trung chủ yếu từ tháng 1- 9 (ÂL) Người sản xuất cho rằng mùa cá đẻ tốt nhất từ tháng 4 – 6 (ÂL) Cá đầu vụ (tháng 1 - 2) thành thục chưa tốt và vào cuối vụ (tháng 8 - 9) buồng trứng của cá bắt đầu thoái hóa, vì vậy tỉ lệ
đẻ của cá cũng thấp hơn, chất lượng trứng và cá bột cũng giảm [27]
Bảng 3.3: Số vụ ương/năm ở các hộ ương cá tra giống
Tân Châu (n = 42)
Phú Tân (n = 32)
Kết quả trên cho thấy đa số các hộ ương đều ương từ 2 – 5 vụ trên năm
Có thể do tình hình tiêu thụ cá tra giống giảm nên số hộ ương trên 5 vụ/năm chiếm tỷ lệ thấp ở cả 3 huyện khảo sát
3.2.2 Kỹ thuật ương cá tra từ cá bột lên cá giống trong ao đất
3.2.2.1 Tẩy dọn ao trước đợt ương
Theo kết quả điều tra, kỹ thuật tẩy dọn ao ương cá tra giống trước mỗi vụ ương ở bảng 3.4 cho thấy các hộ ương đều thực hiện tốt việc vét bùn đáy, sử dụng vôi và phơi nắng đáy ao ương trước khi thả cá Có 95,2 % hộ nuôi đã vét chất thải, 98,1% số hộ có dùng vôi diệt tạp, 91,4% số hộ có phơi nắng đáy ao và chỉ có 46 hộ ( chiếm 43,8% số hộ) có xử lý nước ao trước khi thả giống Vậy theo kết quả điều tra, vẫn còn 56,2% số hộ chưa thực hiện xử lý nước ao trước khi thả giống
Trang 38Nếu có vét bùn đáy ao, bón vôi, phơi nắng đáy ao mà không quan tâm đến việc xử lý nguồn nước cấp thì cá ương có nhiều khả năng bị nhiễm bệnh và làm giảm đi tác dụng của công tác cải tạo ao trước khi thả cá
Bảng 3.4: Công tác tẩy dọn ao ở vùng điều tra
3.2.3.2 Gây nuôi thức ăn tự nhiên
Do tập tính dinh dưỡng, khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài, thức ăn ưa thích của
cá tra là phiêu sinh động vật Do đó , trước khi thả cá bột, các hộ ương đã tiến hành gây nuôi thức ăn tự nhiên bằng cách đưa một số nguyên liệu vào môi trường nước nhằm mục đích cung cấp dinh dưỡng để kích thích tảo phát triển và
sau đó là phiêu sinh động vật phát triển làm TATN cho cá tra bột
- Các loại nguyên liệu sử dụng để gây nuôi thức ăn tự nhiên: Kết quả
khảo sát cho thấy có 76,2% số hộ có tiến hành gây nuôi thức ăn tự nhiên trong
ao Các loại nguyên liệu thường được sử dụng để gây nuôi thức ăn tự nhiên gồm:
Trang 39Bột sữa, bột đậu nành, trứng vịt, bột huyết và bột cá Mỗi hộ có thể sử dụng 1 công thức với các liều lượng dao động theo mô tả ở bảng 3.5:
Bảng 3.5: Liều lượng các loại nguyên liệu gây thức ăn tự nhiên cho cá tra
Công thức sử dụng Liều lượng sử dụng (gam hoặc trứng/1000 m 2)
cá con ở giai đoạn còn non yếu
3.2.3.3 Cá bột, vận chuyển và thả giống
Chất lượng cá bột là yếu tố đầu vào rất quan trọng trong quá trình ương cá giống, yếu tố này quyết định đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế của các hộ ương Chọn lựa cá bột chất lượng, kỹ thuật vận chuyển và thả giống đúng theo yêu cầu kỹ thuật, đồng thời phải có biện pháp kiểm tra và xử lý môi trường nước cho phù hợp với đời sống của cá sẽ giúp cho hộ ương đạt hiệu quả cao trong quá trình ương nuôi cá giống
- Đánh giá chất lượng cá tra bột: Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có
47,6% số hộ là có quan tâm đánh giá chất lượng trước khi quyết định chọn mua
cá bột Phương pháp đánh giá chất lượng cá bột chủ yếu là dùng mắt thường (chiếm 78% số hộ), nếu cá bột tốt thì bơi lội nhanh nhẹn và có 22% số hộ sử
Trang 40dụng đèn pin để đánh giá tính hướng quang của cá bột, nếu cá bột có chất lượng tốt sẽ tập trung lại khu vực có ánh sáng
- Phương tiện và thời gian vận chuyển cá bột: Phương tiện vận chuyển
cá bột của các hộ ương thường là bằng xe mô tô, chỉ có 11,8% số hộ vận chuyển
cá bột bằng xe tải Thời gian vận chuyển cá bột từ nơi mua đến nơi thả trung bình
là 45 phút (± 37) Chỉ có 16,2% số hộ trả lời là có hao hụt cá bột trong quá trình vận chuyển, nhưng hao hụt không đáng kể, tỷ lệ hao hụt chỉ từ 0,5 – 5 %
- Mật độ vận chuyển cá bột: Hiện nay, các hộ ương đều vận chuyển cá
tra bột bằng phương pháp vận chuyển kín trong bao nilon có bơm oxy Thể tích nước đóng bao trung bình: 4,9 lít/bao (± 1,2), dao động từ 3-7 lít nước/bao Số cá bột được chứa trong mỗi bao trung bình là 89.178 con/bao (± 16.812), dao động
từ 30.000- 100.000 con/bao Do vậy, có thể tính được mật độ cá tra bột vận chuyển trung bình là 18.000 con/lít nước
Theo Phạm Minh Thành (2009), mật độ vận chuyển cá bột thích hợp là 5.000-7.500 con/lít nước (~ 100.000-150.000 con/20 lít nước) [18] Vậy mật độ vận chuyển cá tra bột theo kết quả khảo sát cao hơn 2 lần so với mật độ cho phép
- Thời điểm vận chuyển cá bột:
Kết quả khảo sát cho thấy 100% hộ ương đều chọn thời điểm vận chuyển
cá bột vào sáng sớm, chiều mát hoặc vào ban đêm Một số hộ có kinh nghiệm thì chọn thời điểm thả cá bột vào buổi sáng ở những lúc có thời tiết lạnh và thả cá bột vào buổi tối ở những lúc thời tiết nắng nóng
- Mật độ thả cá bột:
Kết quả khảo sát cho thấy, mật độ thả cá tra bột ở các hộ ương bình quân
là 1.143 con/m2 (± 538) Hộ thả mật độ thả thấp nhất là 417 con/m2, hộ thả với mật độ cao nhất là 4.160 con/m2
Trong khâu thả cá tra bột của các hộ ương vẫn chưa tuân thủ theo mật độ khuyến cáo là từ 500-1.000 con/m2 Nếu thả cá bột ở mật độ cao có thể sẽ không
có đủ nguồn thức ăn tự nhiên để cung cấp cho cá vì ở giai đoạn sau khi tiêu hết noãn hoàng thì nguồn thức ăn quan trọng cho cá tra bột là thức ăn tự nhiên, nếu thiếu nguồn thức ăn quan trọng này thì cá có thể ăn thịt đồng loại, làm gia tăng tỷ
lệ hao hụt của cá giống [18]
Thao tác thả cá bột ra nhanh bằng cách trút ngược bao cá và cho cá tiếp xúc với môi trường mới một cách đột ngột có thể sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe