Bảng 1.2: Nhận diện các loại bệnh do tác nhân sinh học Bảng 1.3: Giới hạn các yếu tố môi trường cầm kiểm soát Bảng 1.4: Giới hạn các yếu tố gây mất ATTP cần kiểm soát Bảng 2.1: Kết quả đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Nha Trang, tháng 10 năm 2008
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
LÊ THỊ NHỨT
ỨNG DỤNG QUI PHẠM THỰC HÀNH NUÔI TỐT (GAP) XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH KIỂM SÓAT MỐI NGUY AN TÒAN VỆ SINH CHO NGUYÊN LIỆU THỦY SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN TRUNG SƠN
HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN ANH TUẤN
Nha Trang, tháng 10 năm 2008
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả và số liệu được trình bày trong Luận văn do chính bản thân tôi thực hiện, không sao chép của người khác
Nếu bất cứ phát hiện số liệu trên là sao chép từ công trình khác tôi xin chịu mọi trách nhiệm
Nha Trang, tháng 10 năm 2008
Tác giả Luận văn
Lê Thị Nhứt
Trang 4Lờøi cảm ơn!
Tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, phòng Quan hệ Quốc tế và Đào tạo sau đại học, Ban chủ nhiệm cùng quí thầy cô khoa chế biến Trường Đại học Nha Trang đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian nghiên cứu học tập ở trường đồng thời đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để Tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cao học này
Đặc biệt Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến Thấy hướng dẫn:Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn chu đáo và quan tâm sâu sát đến quá trình thực hiện đề tài cũng như có những góp ý quan trọng trong bố trí triển khai và nghiên cứu lý thuyết để Tôi hoàn thành Luận văn
Nhân dịp này cho Tôi bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Nguyễn Tử Cương, nhóm giảng viên chương trình GAP của Cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và Thú y Thủy sản đã tạo điều kiện thuận lợi để Tôi tiếp cận với chương trình GAP đang tiến hành nghiên cứu, triển khai ở Việt Nam Xin cám ơn đến Ban Giám đốc Sở Thủy sản, Lãnh đạo Công ty Cổ phần thủy sản Trung Sơn đã tạo điều kiện về thời gian, phương tiện, kinh phí để Tôi thực hiện đề tài này
Tôi hy vọng rằng Luận văn tốt nghiệp này sẽ đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực quản lý chất lượng đối với sản phẩm thủy sản nói chung và cho nguyên liệu tôm sú nuôi nói riêng và là cơ sở để triển khai nhân rộng Chương trình GAP ở các vùng nuôi tôm trọng điểm của Kiên Giang
Lê Thị Nhứt
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 8
1.1 Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP), tình hình nghiên cứu (GAP) trên thế giới và Việt Nam 8
1.2.1 Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP) .8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới: 12
1.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước: 14
1.2 Tình hình quản lý chất lượng nguyên liệu nuôi trồng thủy sản .24
1.2.1 Tình hình phát triển nuôi tôm sú 24
1.2.2 Công tác quản lý chất lượng nguyên liệu thủy sản nuôi 25
CHƯƠNG 2:ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Điều tra tình hình nuôi tôm sú trên địa bàn huyện Kiên Lương .28
2.2 Điều kiện áp dụng Qui phạm thực hành nuôi thủy sản tốt (GAP) ở cơ sở 32
2.2.1 Yêu cầu về địa điểm xây dựng cơ sở nuôi tôm 32
2.2.2 Yêu cầu về thiết kế, xây dựng và trang thiết bị của cơ sở nuôi tôm .32
2.2.2.1 Sơ đồ mặt bằng 33
2.2.2.2 Các công trình phụ trợ: 34
2.2.2.3 Trang thiết bị dụng cụ: 34
2.2.3.Nguồn nhân lực 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 38
2.3.1 Phương pháp tiếp cận 38
2.3.2 Chọn hệ ao tương đương: 38
2.3.3 Phương pháp quản lý nguy cơ 38
CHƯƠNG 3:XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG (GAP) TẠI CƠ SỞ 40 3.1 Thành lập Đội GAP 40
3.1.1 Yêu cầu đối với các thành viên đội thực hiện chương trình: 40
3.1.2 Cơ cấu của đội thực hiện chương trình 40
3.1.3 Trách nhiệm của đội thực hiện chương trình 40
3.1.4 Thành lập đội GAP của cơ sở 40
3.2 Xây dựng các chương trình ứng dụng tại cơ sở 41
Trang 63.2.1 Chuẩn bị ao nuôi (GAP1) .41
3.2.2 Chọn giống và thả giống (GAP2) 45
3.2.3 Quản lý thức ăn và cho ăn (GAP3) .49
3.2.4 Quản lý thuốc thú y và sản phẩm cải tạo, xử lý môi trường nuôi (GAP4) 53
3.2.5 Quản lý môi trường ao nuôi (GAP5) 56
3.2.6 Quản lý sức khỏe tôm (GAP6) .62
3.2.7 Thu hoạch và bảo quản sản phẩm (GAP7) .66
3.2.8 Quản lý chất thải (GAP8) .669
3.3 Thẩm tra 71
3.4 Hồ sơ lưu trữ 72
3.5 Thực hiện kiểm soát: 74
3.5.1 Thời gian và đối tượng thả nuôi 74
3.5.2 Bố trí ao lấy mẫu đại diện 74
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 76
4.1 Kết quả thực hiện 76
4.1.1 Kết quả kiểm soát an toàn thực phẩm sản phẩm tôm nuôi 76
4.1.1.1 Kết quả kiểm soát sản phẩm đầu vào (thức ăn, thuốc thú y thủy sản) 76
4.1.1.2 Kết quả kiểm soát sản phẩm tôm nuôi 76
4.1.2 Kết quả kiểm soát dịch bệnh: 77
4.1 2.1 Kiểm soát chất lượng tôm giống trước khi thả nuôi 77
4.1.2.2 Kiểm soát mầm bệnh từ nguồn nước 78
4.1.2.3 Kiểm soát mầm bệnh trong ao nuôi .78
4.1.3 Kiểm soát môi trường 79
4.1.3.1 Kiểm soát chất lượng nước nguồn 79
4.1.3.2 Kiểm soát chất lượng môi trường nước ao nuôi 80
4.1.3.3 Kiểm soát chất thải (Nước thải, bùn thải, rác thải) 85
4.2 Kết luận và kiến nghị 85
4.2.1 Kết luận .85
4.2.2 Kiến nghị: 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BAP (Best Aquaculture Practice): Quy phạm thực hành nuôi tốt nhất
BMP (Better Management Practice): Thực hành nuôi tốt hơn
CoP (Code of Practices for Responsible
FAO (Food Agriculture Organization): Tổ chức nông lương Liên hợp quốc
FDA (U.S Food and Drug
Administration):
Cục Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ
GAP (Good Aquaculture Practice): Qui phạm thực hành nuôi tốt
HACCP: (Hazard Analysis and Critical
WHO (World Health Organization): Tổ chức y tế Thế giới
Trang 8Bảng 1.2: Nhận diện các loại bệnh do tác nhân sinh học
Bảng 1.3: Giới hạn các yếu tố môi trường cầm kiểm soát
Bảng 1.4: Giới hạn các yếu tố gây mất ATTP cần kiểm soát
Bảng 2.1: Kết quả điều tra các cơ sở nuôi có diện tích nhỏ 5 ha
Bảng 2.2: Kết quả điều tra cơ sở nuôi có diện tích lớn
Bảng 2.3: Một số trang thiết bị dụng cụ chính của cơ sở
Bảng 3.1: chất lượng nước nguồn
Bảng 3.2: Các chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa cần kiểm soát trước khi thả
giống
Bảng 3.3: Giới hạn các chỉ tiêu kiểm tra bệnh tôm
Bảng 3.4: Khẩu phần ăn của tôm theo khối lượng tôm nuôi
Bảng 3.5: Liều lượng, tầng suất cho ăn thức ăn bổ sung
Bảng 3.6: Giới hạn điều chỉnh, tầng suất kiểm tra các chỉ tiêu thủy lý,
thủy hóa
Bảng 3.7: Chất lượng nước thải nuôi tôm sau khi xử lý
Bảng 4.1: Kết quả k.tra các chỉ tiêu ATTP trong thức ăn, thuốc thú y
Bảng 4.2: Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu ATTP sản phẩm tôm nuôi
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra chất lượng tôm giống
Bảng 4.4: Kết quả kiểm tra mầm bệnh trên giáp xác ở nguồn nước cấp
Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra mầm bệnh tôm trong quá trình nuôi
Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra nguồn nước
Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả đo kiểm hàng ngày chất lượng nước ao
Trang 921
trong quá trình nuôi
Bảng 4.8: Giá trị của các chỉ tiêu đo kiểm hàng ngày chất lượng nước
ao nuôi
81
Trang 10Hình 2.1: Phân vùng qui hoạch nuôi tôm huyện Kiên Lương
Hình 2.2: Sơ đồ bố trí mặt bằng cơ sở nuôi tôm
Hình 2.3: Một vài hình ảnh về điều kiệntiên quyết để triển khai đề
tài của cơ sở
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí hệ ao thực nghiệm
Hình 4.1: Biểu đồ kết quả kiểm soát BOD
Hình 4.2: Biểu đồ kết quả kiểm soát độ kiềm
Hình 4.3: Biểu đồ kết quả kiểm soát NH3
Hình 4.4: Biểu đồ kết quả kiểm soát NO2
Hình 4.5: Biểu đồ kết quả kiểm soát H2S
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay hầu hết các quốc gia có sản xuất thủy sản trên thế giới đã và đang thực hiện, đẩy mạnh chương trình đảm bào ATTP dựa trên cơ sở HACCP trong ngành chế biến, và ở một số công đoạn khác của chuỗi sản xuất thực phẩm thủy sản Thực tế cho thấy, khi ứng dụng HACCP vào quá trình sản xuất, có thể xác định được tất cả mối nguy cụ thể đồng thời đưa ra biện pháp kiểm soát tương ứng phù hợp với từng qui trình sản xuất Từ đó giảm những yêu cầu về kiểm nghiệm thành phẩm và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Chính vì vậy nhiều tổ chức, nhiều quốc gia vẫn tiếp tục ủng hộ, thúc đẩy cách tiếp cận HACCP trong mọi công đoạn sản xuất thực phẩm kể cả công đoạn nuôi Điều kiện tiên quyết để thực hiện HACCP trong bất kỳ công đoạn nuôi thủy sản nào đều phải tuân thủ các nguyên tắc của qui phạm nuôi thủy sản tốt Ứng dụng thành công HACCP đòi hỏi phải có sự cam kết đầy đủ từ phía chủ trại nuôi lẫn lực lượng lao động để cùng nhau giải quyết vấn đề [7]
Trong quá trình tự đổi mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường và nhất là khi Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới thời gian qua ngành Thủy sản Việt Nam đã có nhiều nổ lực trong việc hoàn thiện hệ thống quản
lý chất lượng, vệ sinh ATTP trong toàn ngành đặc biệt là áp dụng hệ thống kiểm tra và đảm bảo chất lượng sản phẩm thủy sản theo HACCP trong nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu Tuy nhiên ở những khâu khác của quá trình sản xuất hàng thủy sản (nuôi trồng, vận chuyển nguyên liệu, bảo quản) hầu như còn bỏ ngỏ, việc ứng dụng chương trình này vào nuôi trồng thủy sản vẫn còn là thời kỳ sơ khai
Thực tế cho thấy, những năm gần đây hàng thủy sản Việt Nam luôn đối mặt với các loại rào cản về ATTP đã có nhiều lô hàng bị các nước nhập khẩu phát hiện vi phạm các qui định về vệ sinh ATTP làm ảnh hưởng cả hệ thống các đối tượng tham gia sản xuất, kinh doanh hàng thủy sản Một trong những nguy cơ dẫn đến hàng thủy sản Việt Nam mất an toàn là do sản phẩm tôm nuôi còn tồn lưu dư lượng các loại hoá chất, kháng sinh có hại (đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng) Để khắc phục nguy cơ này cần giải quyết 2 nguy cơ khác luôn tồn tại trong suốt quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản hiện nay ở nước ta đó là:
- Nguy cơ bệnh, dịch xảy ra làm người nuôi thua lỗ và cũng là nguyên nhân chính làm sản phẩm thuỷ sản nuôi không đảm bảo ATTP do người nuôi sử dụng hoá chất, kháng sinh cấm hoặc hạn chế sử dụng để phòng trị bệnh
Trang 12- Nguy cơ ô nhiễm và suy thoái môi trường: do phát triển NTTS không theo qui hoạch làm bệnh, dịch lây lan; người nuôi sử dụng nhiều hoá chất để xử lý làm huỷ hoại môi trường; lạm dụng kháng sinh, hoá chất, thuốc thú y hình thành hệ vi khuẩn kháng thuốc
Xuất phát từ yêu cầu công tác quản lý ngành tại địa phương sau khi học xong chương trình cao học chuyên ngành Công nghệ sau thu họach, vận dụng kiến thức về Quản lý chất lượng thủy sản, bản thân làm việc tại Sở Thủy sản Kiên Giang Tôi mạnh dạn đề xuất thực hiện đề tài: “Ứng dụng Qui phạm thực hành nuôi tốt (GAP) xây dựng chương trình kiểm soát mối nguy an toàn vệ sinh cho nguyên liệu thủy sản tại Công ty
Cổ phần thủy sản Trung Sơn - huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang” Nhằm đảm bảo
chất lượng, vệ sinh ATTP nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến và làm nền
cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu thực hiện truy xuất nguồn gốc nguyên liệu Ứng dụng
Qui phạm thực hành nuôi tốt (GAP) chính là thực hiện HACCP tại công đoạn nuôi
+ Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài triển khai nhằm đạt được các mục tiêu sau:
1- Xây dựng Quy phạm thực hành nuôi tôm tốt (GAP) trong điều kiện nuôi tôm
công nghiệp ở tỉnh Kiên Giang nhằm đảm bảo nguyên liệu tôm nuôi đạt tiêu chuẩn vệ sinh ATTP cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Giảm thiệt hại cho người nuôi và doanh nghiệp chế biến nhờ kiểm soát được các mối nguy cơ bản nhất từ cơ sở cung cấp nguyên liệu
2- Với mô hình nuôi ứng dụng Quy phạm thực hành nuôi tôm tốt tại Công ty
Cổ phần thuỷ sản Trung Sơn khi có điều kiện sẽ triển khai nhân rộng mô hình ở các cơ
sở nuôi tôm công nghiệp khác trong tỉnh
+ Nội dung nghiên cứu
1- Điều tra tình hình nuôi tôm sú (qui hoạch ao đầm nuôi, hình thức nuôi,đối
tượng mùa vụ ) tại Công ty Cổ phần thủy sản Trung Sơn và vùng nuôi tôm lân cận
2- Xây dựng phần cứng: Yêu cầu bố trí mặt bằng cơ sở nuôi tôm đòi hỏi phải
hợp lý từ kênh cấp, kênh thoát, ao lắng, ao, nuôi ao xử lý chất thải đến các công trình như nhà ăn, nhà ở, kho, nhà vệ sinh, để hạn chế tối đa việc lây nhiễm chéo trong cơ sở
3- Xây dựng phần mềm: Trên cơ sở nhận diện mối nguy, đánh giá mối nguy xây
dựng chương trình kiểm soát mối nguy tại từng công đoạn của qui trình nuôi
Trang 134- Triển khai ứng dụng, thực hành GAP tại cơ sở nuôi được chọn nhằm đạt
được các mục tiêu đề ra ban đầu
+ Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Từ điều kiện tự nhiên và điều kiện sản xuất tại cơ sở tiến hành đánh giá, phân tích, xác định nguyên nhân gây ra các mối nguy về dịch bệnh, các mối nguy về môi trường kết hợp với phương thức quản lý tại cơ sở từ đó xác định nguyên nhân làm xuất hiện các mối nguy về an toàn vệ sinh nguyên liệu tôm nuôi Thực hiện kiểm soát các mối nguy được nhận diện từ đó đề xuất giải pháp phòng ngừa thích hợp nhằm hạn chế tối đa sự ảnh hưởng của các mối nguy ở tất cả các công đoạn của qui trình nuôi tôm công nghiệp
+ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
- Là cơ sở để triển khai nhân rộng mô hình cho các đối tượng nuôi khác như:
mô hình nuôi tôm lúa, quảng canh, quảng canh cải tiến trên các vùng nuôi tôm trọng điểm của tỉnh
- Giúp cho cơ quan chức năng có thêm căn cứ khoa học trong thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước đối vùng và cơ sở nuôi thủy sản Làm cơ sở để xây dựng tài liệu tuyên truyền an toàn vệ sinh thủy sản; an toàn dịch bệnh và an toàn môi trường trong nuôi trồng thủy sản
- Là cơ sở giúp các hộ nuôi tôm xây dựng mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau, giữa các
cơ sở nuôi tôm với cộng đồng xung quanh một cách có trách nhiệm Nâng cao nhận thức cộng đồng về sản xuất sản phẩm an toàn vệ sinh, góp phần vào phát triển kinh tế
xã hội nông thôn, đặc biệt là giảm nghèo ở các vùng ven biển, góp phần bảo vệ môi trường
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP), tình hình nghiên cứu (GAP) trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP)
1.2.1.1 Khái niệm về GAP:
GAP (viết tắt của cụm từ tiếng Anh): Good Aquaculture Practice Dịch là: Qui phạm thực hành nuôi trồng thuỷ sản tốt Là Quy phạm thực hành để ứng dụng trong nuôi thủy sản được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc quy định tại Điều 9 của “bộ Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm” nhằm kiểm soát dịch bệnh; bảo vệ môi trường; đảm bảo an toàn thực phẩm cho sản phẩm nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế
cho người nuôi ứng dụng GAP
1.2.1.2 Các nguyên tắc quốc tế về nuôi tôm có trách nhiệm gồm có:
Nguyên tắc 1: Đặt trại nuôi tôm theo quy hoạch quốc gia và khuôn khổ pháp
luật tại những địa điểm phù hợp về mặt môi trường, sử dụng tài nguyên đất và nước hiệu quả và theo cách thức bảo tồn được đa dạng sinh học, nơi cư trú và các chức năng của hệ sinh thái nhạy cảm về mặt sinh học với ý thức rằng những hoạt động sử dụng đất đai, con người và loài khác cũng dựa vào cùng hệ sinh thái này
Lý do: Từ kinh nghiệm thực tế trên thế giới, rõ ràng là địa điểm các trại nuôi tôm không phù hợp và không được qui hoạch đã gây ra những thất bại trong sản xuất, suy thoái môi trường, các tranh chấp về quyền sử dụng đất và bất công trong xã hội Như vậy, trong quá trình xây dựng các trại tôm, bắt buộc phải có sự cân nhắc kỹ càng
về môi trường, các nơi cư trú chủ yếu, những hoạt động sử dụng đất khác xung quanh,
và tính bền vững của chính hoạt động nuôi tôm
Nguyên tắc 2: Thiết kế và xây dựng đầm nuôi tôm theo cách thức giảm thiểu
ảnh hưởng xấu đối với môi trường
Lý do: Do số lượng và quy mô ngày càng tăng của hoạt động nuôi tôm trong những năm gần đây, khi xây dựng các trại nuôi tôm mới, nên sử dụng những kỹ thuật thiết kế và xây dựng phù hợp Nên tận dụng các lợi thế về công nghệ tiên tiến trong thiết kế và xây dựng ao đầm Những ao đầm này không chỉ tính đến những đòi hỏi của tôm nuôi và việc quản lý ao đầm đó mà còn hoà nhập đầm nuôi vào môi trường địa phương đồng thời gây ra những xáo trộn ở mức nhỏ nhất có thể đối với các hệ sinh thái xung quanh
Trang 15Nguyên tắc 3: Giảm thiểu tác động của nước sử dụng trong nuôi tôm đối với
nguồn nước
Lý do: Giảm thiểu việc sử dụng nước là một phần thiết yếu của mô hình nuôi tôm hiện đại có trách nhiệm với môi trường Giảm thay nước mang lại lợi ích cho người nuôi thông qua việc giảm chi phí bơm nước và giảm nguy cơ đưa chất độc, dịch bệnh, vật mang bệnh hoặc các loài cạnh tranh vào đầm nuôi Nó cũng mang lại lợi ích cho môi trường nhờ giảm thải chất dinh dưỡng và các chất hữu cơ từ đầm nuôi và giảm việc sử dụng các nguồn nước ngọt quý giá Những cải tiến gần đây đã cho thấy các quy trình quản lý phù hợp có thể làm giảm bớt yêu cầu thay nước, thậm chí ngay
cả trong những hệ thống nuôi thâm canh cao mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động của tôm Điều này cũng mang lại lợi ích cho tất cả các bên và cần được khuyến khích
ở mọi cấp
Nguyên tắc 4: Ở những nơi có thể, sử dụng các nguồn tôm bố mẹ và tôm giống
sạch bệnh/ hoặc kháng bệnh đã được chọn lọc và thuần hoá để tăng cường an toàn sinh học, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tăng năng suất đồng thời giảm được nhu cầu về con giống
tự nhiên
Lý do: Những xu hướng gần đây trong nuôi tôm đã cho thấy sự thay đổi hướng tới sử dụng các nguồn giống động vật cải thiện về gen đã được thuần hoá, theo mô hình nông nghiệp hiện tại.Việc loại bỏ nhu cầu tôm bố mẹ và/ hoặc tôm giống đánh bắt
từ tự nhiên đã cho phép ngành này xây dựng thành công những chương trình cải thiện nguồn giống tôm cả về đặc điểm sinh sản và sản lượng Nó cũng dẫn đến phát triển được các giống sạch bệnh và kháng bệnh cho một số loài Đồng thời, những phát triển này đã dẫn tới việc nhu cầu về giống đánh bắt trong tự nhiên giảm và do đó, những tổn thất từ việc đánh bắt những loài mắc lưới không mong muốn và những thiệt hại về nơi
cư trú có liên quan đến việc đánh bắt này Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều việc cần làm
để đạt được các tiến bộ như thế này ở tất cả các loài hiện đang được nuôi trồng, và những vấn đề có liên quan đến việc vận chuyển qua biên giới các loài phi bản địa đã đưa tới những đe doạ mới về lây lan dịch bệnh và làm giảm tính đa đạng sinh học Những vấn đề này cũng phải được giải quyết
Nguyên tắc 5: Sử dụng thức ăn và các quy tắc thực hành quản lý thức ăn để sử
dụng có hiệu quả các nguồn thức ăn sẵn có, tăng cường khả năng tăng trưởng hiệu quả của tôm, giảm thiểu việc tạo và thải ra các chất dinh dưỡng
Trang 16Lý do: Kiểm soát và định lượng các loại thức ăn cũng như cho ăn trong nuôi tôm hiện đại là hết sức quan trọng trong việc duy trì một ngành nuôi tôm có hiệu quả
về chi phí và an toàn về môi trường Điều này do rất nhiều yếu tố bao gồm: Các loại thức ăn và việc sử dụng thức ăn chiếm đến 50-60% chi phí vận hành trong nuôi thâm canh và bán thâm canh Thức ăn thừa (không ăn được và không chuyển hoá được) từ các trại tôm cũng là nhân tố chính góp phần thải ra chất dinh dưỡng và chất hữu cơ dẫn tới việc môi trường bị phì dưỡng hoá Người ta cũng ngày càng lo ngại hơn về việc sử dụng phí phạm nguồn tài nguyên bột cá đang ngày càng trở nên khan hiếm làm thức ăn cho tôm Điều này đồng nghĩa với những mất mát về nguồn prô-tê-in và những tổn thất đi kèm với nó do việc đánh bắt những loài không mong muốn của ngành sản xuất bột cá Do vậy, trong nỗ lực nhằm tối ưu hoá việc sử dụng thức ăn trong nuôi tôm, việc xây dựng chế độ ăn hiệu quả về chi phí, chất lượng cao, ít gây ô nhiễm và quản lý hợp
lý chế độ cho ăn rất quan trọng
Nguyên tắc 6: Các kế hoạch quản lý sức khoẻ cần được áp dụng nhằm giảm
stress, giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh tác động đến cả loài tự nhiên và loài nuôi và tăng cường an toàn thực phẩm
Lý do: để duy trì sức khoẻ của đàn tôm trong khi nuôi cần tập trung vào việc duy trì một môi trường lành mạnh trong các đầm nuôi trong tất cả các giai đoạn của chu kỳ nuôi nhằm phòng ngừa dịch bệnh trong các ao trước khi chúng xảy ra và giảm khả năng lây lan dịch bệnh ra các ao bên ngoài Cố gắng giảm việc đưa dịch bệnh vào đầm nuôi thông qua việc sử dụng các giống sạch bệnh, chuẩn bị ao đầm kỹ trước khi thả giống, duy trì các điều kiện môi trường tối ưu thông qua việc quản lý mật độ thả giống, sục khí, cho ăn, thay nước và kiểm soát tảo nở hoa, v.v , thường xuyên giám sát và ghi chép tình trạng sức khoẻ tôm để phát hiện bất cứ diễn biến nào, duy trì an toàn sinh học trong cách ly và xử lý ao bị bệnh đều là những yếu tố hết sức quan trọng trong mọi kế hoạch quản lý sức khoẻ
Nguyên tắc 7: Bảo đảm an toàn thực phẩm và chất lượng các sản phẩm tôm
trong khi giảm bớt các nguy cơ từ sử dụng kháng sinh đối với hệ sinh thái và sức khoẻ con người
Lý do: Con người ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm đối với các loại thực phẩm tiêu dùng trên thị trường thế giới Những mối quan ngại này không chỉ bao gồm đảm bảo thực phẩm dành cho tiêu dùng của con người không có những chất hoá
Trang 17học có hại hoặc không mong muốn với hàm lượng dư thừa, mà còn là việc các công nhân sản xuất các thực phẩm này và môi trường xung quanh cơ sở sản xuất được bảo
vệ khỏi những tác động tiêu cực từ việc sử dụng các loại hoá chất trên Ngày càng có nhiều lời kêu gọi về truy xuất nguồn gốc tổng thể đối với các sản phẩm thực phẩm Điều này cũng đang tác động đến ngành sản xuất thực phẩm vì người tiêu dùng có thể được đảm bảo rằng các sản phẩm đã được sản xuất ra không sử dụng các công nghệ chuyển đổi gien, không thêm các chất hóa học hoặc chất phụ gia không mong muốn hoặc có hại, và tất cả các môi trường và hệ sinh thái chịu tác động của các cơ sở sản xuất không bị tổn thương về mọi mặt
Nguyên tắc 8: Xây dựng và vận hành các trại nuôi một cách có trách nhiệm xã
hội, có nghĩa là có lợi cho trại nuôi, cộng đồng địa phương và quốc gia và đóng góp một cách có hiệu quả vào phát triển nông thôn, đặc biệt là giảm nghèo ở các vùng ven biển và đồng thời không làm tổn hại đến môi trường
Lý do: Người ta ngày càng đòi hỏi cao về các sản phẩm không chỉ thân thiện với môi trường (đã được sản xuất thông qua việc áp dụng các quy tắc thực hành bền vững với môi trường) mà những người tham gia sản xuất còn phải được đối xử công bằng và những doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đó phải là một thành phần được tôn trọng và năng động trong xã hội Trách nhiệm của một xã hội văn minh là các lợi ích xuất phát từ nuôi tôm phải được chia sẻ một cách công bằng
1.2.1.3 Qui phạm thực hành nuôi thủy sản tốt (GAP) tại Việt Nam [22] gồm các bước:
- Lựa chọn và xây dựng hệ thống nuôi
- Kiểm soát con giống và kỹ thuật thả giống
- Lựa chọn và bảo quản thức ăn
- Kiểm soát sử dụng kháng sinh, chất xử lý môi trường
- Kiểm soát sức khoẻ thuỷ sản (dinh dưỡng, môi trường, mầm bệnh)
- Kiểm soát chất thải (nước thải, rác thải, bùn thải)
- Kiểm soát thu hoạch, bảo quản sản phẩm và mã hoá truy xuất nguồn gốc sản phẩm
- Bảo trì hệ thống nuôi
Trang 18- Hồ sơ lưu trữ
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Nhằm đảm bảo an toàn cho sức khoẻ con người, an toàn môi trường và vật nuôi, dựa vào các bằng chứng cho thấy thuỷ sản nuôi trồng cần phải có thêm các biện pháp kiểm soát ở phạm vi các trại nuôi Các thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn (EU, Mỹ, Nhật, úc, Canada…), các tổ chức quốc tế (APEC, AFTA, WHO, FAO-WHO ) đã đưa
ra các quy định chặt chẽ và yêu cầu nước xuất khẩu phải tuân theo các qui định về ATTP và vệ sinh thú y trong thực phẩm thuỷ sản nuôi, bao gồm: Các chỉ tiêu, mức giới hạn liên quan đến mối nguy vật lý, hoá học và sinh học; phương pháp lấy mẫu và phân tích; áp dụng HACCP trong kiểm soát các loại mối nguy; trình tự kiểm soát và xử lý vi phạm; các qui định chi tiết về tổng tạp khuẩn, vi sinh vật gây bệnh, độc tố, thuốc kháng sinh, thuốc trừ sâu, kim loại nặng… Do vậy, từ đó việc nuôi thuỷ sản an toàn được đặc biệt quan tâm, nhiều nước đã thiết lập và thực hiện chương trình GAP như: Mỹ, Pháp, Nauy, Thái Lan, Ấn độ, Hàn quốc … và một số chương trình (quy phạm, quy tắc, …) ứng dụng về nuôi thuỷ sản an toàn đang được triển khai áp dụng như [21]:
- GAP (Good Aquaculture Practices): Quy phạm thực hành nuôi trồng thuỷ sản
tốt, gọi tắt là “quy phạm thực hành nuôi tốt”
- CoC (Code of Conduct for Responsible Aquaculture): Quy tắc ứng xử trong nuôi trồng thuỷ sản có trách nhiệm, gọi tắt là “quy phạm nuôi có trách nhiệm”: là quy
phạm thực hành để ứng dụng trong nuôi tôm được xây dựng dựa trên các quy định tại Điều 9 - Phát triển nuôi trồng thuỷ sản của “bộ Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm” của FAO nhằm kiểm soát dịch bệnh; bảo vệ môi trường; đảm bảo an toàn thực phẩm cho sản phẩm nuôi; nâng cao tính cộng đồng và hiệu quả tổng hợp của nghề nuôi
tôm
- BMP (Better Management Practices in aquaculture): Thực hành quản lý thuỷ sản tốt hơn
- CoP (Code of Practices for Responsible Shrimp Farming): Qui tắc thực hành
nuôi tôm có trách nhiệm
- BAP (Best Aquaculture Practices): Qui phạm thực hành nuôi thuỷ sản tốt nhất
- HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Point): Phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn
Trang 19- Organic shrimp culture: Tôm sinh thái
Các quan điểm về phát triển NTTS bền vững trên thế giới vẫn còn chưa thống nhất, một số tổ chức quốc tế, một số nước có nghề NTTS phát triển đã ban hành các tài liệu về GAP như:
- Tổ chức Mạng lưới các trung tâm nuôi trồng thuỷ sản Châu Á - Thái Bình
Dương (NACA) xây dựng Qui phạm quản lý tốt hơn - BMP (Better Management Practice) triển khai áp dụng trên nhiều quốc gia, trong đó đặc biệt là giúp đỡ chính
phủ Ấn Độ áp dụng vào nuôi trồng thuỷ sản năm 2001 và phối hợp với SUMA
(Support to Braskish Water and Marine Aquaculture) áp dụng vào Việt Nam năm
2004 trên lĩnh vực nuôi tôm sú và sản xuất giống tôm sú Quan điểm phát triển của NACA là: giảm bệnh, năng suất cao, bảo vệ môi trường
- Ấn độ: Hiện đã áp dụng GAP/CoC (qui tắc nuôi có trách nhiệm) do NACA
giúp đỡ, quan điểm phát triển của Ấn độ là: An toàn thực phẩm, giảm bệnh, năng suất, bảo vệ môi trường
- Thái Lan: với sự giúp đỡ của NACA từ năm 1998 xây dựng và áp dụng Qui phạm thực hành nuôi thuỷ sản tốt (GAP) Mục tiêu chính của GAP Thái Lan là kiểm soát vệ sinh ATTP trong suốt quá trình nuôi, tuy nhiên họ tập trung nhiều vào kiểm tra sản phẩm cuối cùng Năm 2000, Thái Lan xây dựng và áp dụng Quy tắc ứng xử có trách nhiệm trong nuôi trồng thuỷ sản (CoC), ngoài ATTP thì CoC Thái Lan còn kiểm soát môi trường và quan tâm đến trách nhiệm xã hội Thái Lan đã triển khai ứng dụng GAP và CoC trong nuôi tôm với tổng số 24.000 trang trại, trong đó 400 trang trại được công nhận GAP, 130 trang trại được công nhận CoC Hình thức áp dụng là tự nguyện,
và sẽ bắt buộc trong tương lai Các nội dung triển khai cho từng loại hình như sau:
a Đối với GAP: Lấy mẫu kiểm tra 100% ao nuôi trước khi thu hoạch
b.Đối với CoC: Đào tạo cho chủ đầm, chủ trang trại; quy hoạch ao đầm nuôi đạt tiêu chuẩn; kiểm soát an toàn vệ sinh tất cả các yếu tố đầu vào; kiểm soát định kì quá trình nuôi; trước khi thu hoạch lấy mẫu kiểm tra 100% ao nuôi
Trang 20- Braxin: Áp dụng nguyên lý HACCP vào nuôi trồng thuỷ sản để kiểm soát các nguy cơ gây mất ATTP thuỷ sản nuôi trong đó tập trung kiểm soát dư lượng hoá chất, kháng sinh tồn lưu trong sản phẩm qua việc kiểm tra sản phẩm cuối cùng Hiện Braxin
đã triển khai quy hoạch ao đầm nuôi tránh lây nhiễm chéo, phân tích mối nguy ATTP
ở mọi công đoạn; thiết lập chương trình kiểm soát mối nguy đáng kể và kiểm soát tại điểm tới hạn CCP; kiểm soát an toàn vệ sinh 100% ao nuôi trước khi thu hoạch
1.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam, đầu thập niên 1990, ý tưởng áp dụng HACCP vào quản lý chất lượng thủy sản đã được đề cập đến Tuy nhiên thời điểm đó Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện áp dụng, do vậy chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu áp dụng thử
ở một số cơ sở chế biến thủy sản mà chưa triển khai áp dụng cho các cơ sở khác trên phạm vi rộng [25] Đến năm 1995, dướp sự giúp đỡ chủa Chính phủ Đan Mạch, thông qua Dự án Cải thiện chất lượng thủy sản xuất khẩu (gọi tắt là Dự án SEAQIP/DANIDA - Bộ Thủy sản), đã áp dụng triển khai HACCP vào các nhà máy chế biến thủy sản, nhằm đảm bảo chất lượng và vệ sinh ATTP cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu sang thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật bản Đến nay có 510 cơ sở chế biến thủy sản được công nhận đạt điều kiện vệ sinh ATTP [10]
Hiện nay ngành Thủy sản tiếp tục triển khai, xúc tiến việc kiểm soát vệ sinh ATTP thủy sản trên các lĩnh vực: thu mua thủy sản (năm 2000 Bộ Thủy sản đã ban hành Tiêu chuẩn Ngành 28 TCN 164 : 2000 Cơ sở thu mua thủy sản - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm), tàu cá (năm 1999 Bộ Thủy sản đã ban hành Tiêu chuẩn Ngành 28TCN 135 :1999 Tàu cá - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm), cảng cá (năm 2000 Bộ Thủy sản đã ban hành Tiêu chuẩn Ngành 28 TVN 163 :
2000 Cảng cá - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm), nước đá (năm 2002
Bộ Thủy sản đã ban hành Tiêu chuẩn Ngành 28 TCN 174 : 2002 Cơ sở sản xuất nước
đá - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm)
Nghiên cứu triển khai kiểm tra, kiểm soát vệ sinh ATTP đối với vùng sản xuất nguyên liệu (trong đó có tôm nuôi) được quan tâm ngày một nhiều hơn tại Việt Nam nhất là từ khi phong trào chế biến thuỷ sản xuất khẩu có những bước tăng trưởng vượt bậc Tuy nhiên việc xây dựng mô hình hiệu quả cho nuôi tôm qui mô công nghiệp với năng suất cao, an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh vẫn đang còn là vấn đề cần phải
Trang 21tiếp tục nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến vấn đề xây dựng mô hình GAP như:
(a) “Áp dụng qui trình công nghệ nuôi tôm sú theo hệ kín có hiệu quả kinh tế trong điều kiện sinh thái Bắc Trung bộ” của các tác giả T.S Lê Thanh Lựu, TS.Nguyễn Việt Nam và các cộng tác viên; Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, 01/2000 Trong
đó các tác giả đã đưa ra tiêu chuẩn hệ thống nuôi kín cho vùng sinh thái Bắc Trung bộ, xác lập công nghệ nuôi trong hệ thống có quản lý chất lượng nước nhằm đảm bảo tính
ổn định về hiệu quả kinh tế và bền vững về môi trường Các nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Nghiên cứu đặc trưng sự biến động của các yếu tố môi trường trong hệ thống nuôi
- Áp dụng công nghệ nuôi tôm sú trong hệ kín tại khu vực Bắc Trung bộ
- Nghiên cứu quản lý chất lượng nước trong hệ thống nuôi phù hợp với điều kiện các tỉnh Bắc Trung bộ
(b) “ Xây dựng mô hình nuôi tôm sú công nghiệp hiệu quả cao, ít thay nước ở các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long”, của các tác giả T.S Nguyễn Văn Hảo, Th.S Nguyễn Minh Niên,và các cộng tác viên; Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II,
TP HCM, 1999 Trong đó các tác giả đã đưa ra qui trình công nghệ nuôi tôm sú qui
mô công nghiệp ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau thuộc Đồng bằng sông Cửu long Các nội dung đã đạt được thuộc các vấn đề như:
- Hệ thống quạt nước cho nuôi tôm sú công nghiệp
- Công trình nuôi và các bộ phận phụ trợ
- Một số vấn đề về con giống
- Quản lý môi trường và sức khỏe tôm nuôi
- Xây dựng qui trình công nghệ nuôi phù hợp với những tiểu vùng sinh thái khác nhau như: vùng rừng tái sinh ven biển đất nhiễm mặn và phèn cao, vùng đất rừng ngập mặn, vùng bãi bồi ven cửa sông, vùng trung triều đất ruộng muối và vùng cao triều ven biển
(c) “Xác định nguyên nhân chính gây bệnh cho tôm ở Đồng bằng sông Cửu long và các giải pháp tổng hợp để phòng trị bệnh” (Báo cáo tổng hợp) Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II, TP Hồ Chí Minh, 1996 của T.S Nguyễn Việt Thắng Tác giả đã nêu ra các nguyên nhân gây ra nạn dịch tôm xảy ra năm 1995-1996 ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng như các giải pháp phòng trừ bệnh phát sinh, phát triển
Trang 22Những năm gần đây, NTTS phát triển mạnh mẽ (tăng diện tích nuôi, tăng mức
độ thâm canh, tăng đầu tư công nghiệp… để tăng năng suất và sản lượng), sự phát triển mạnh mẽ không theo quy hoạch của các mô hình nuôi bán thâm canh, và thâm canh, cùng với việc người nuôi không được trang bị kiến thức đầy đủ đã đưa nghề nuôi trồng thuỷ sản nói chung, nuôi tôm nói riêng đang phải đối mặt với 3 nguy cơ sau [21]:
(1) Nguy cơ dịch bệnh: Do lây nhiễm mầm bệnh theo chiều dọc (lây truyền
mầm bệnh virus, vi khuẩn từ bố, mẹ) và lây nhiễm theo chiều ngang (mầm bệnh xâm nhập từ nước nguồn, từ ký chủ trung gian, động vật gây hại, dụng cụ )
(2) Nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm: Do thủy sản nuôi bị nhiễm kháng
sinh trong phòng trị bệnh, đặc biệt là các loại hoá chất, kháng sinh có hại (đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng) và dư lượng của chúng tồn đọng trong cơ thịt thuỷ sản
(3) Nguy cơ ô nhiễm và suy thoái môi trường do:
- Phát triển NTTS không theo qui hoạch làm dịch bệnh lây lan, huỷ hoại môi trường;
- Phá rừng ngập mặn gây xói lở, mất cân bằng sinh thái, giảm tính đa dạng sinh học các loài động vật và thực vật, giảm chức năng chống xói mòn bờ biển, chắn bão nhiệt đới, điều hòa độ mặn của đất, giảm nơi trú ngụ, kiếm mồi và sinh sản cho nhiều loài cá, tôm, cua; khai thác cạn kiện nước ngầm làm mặn hoá vùng đất có khả năng canh tác nông nghiệp; lạm dụng kháng sinh, hoá chất, thuốc thú y hình thành hệ vi khuẩn kháng kháng sinh
Để tìm biện pháp giải quyết 3 nguy cơ trên, năm 2003, bằng nguồn kinh phí hỗ trợ đảm bảo an toàn thực phẩm của Chính phủ Hoa Kỳ, Bộ Thủy sản đã giao cho Cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và Thú y thủy sản (NAFIQAVED) triển khai dự
án “Áp dụng thí điểm Quy phạm thực hành nuôi tốt tại vùng nuôi tôm sú 23 ha, 37 ha huyện Bình Đại, và khu K22 huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre” Trong thời gian này, nhóm thực hiện dự án vừa khảo sát kinh nghiệm áp dụng GAP ở một số quốc gia có điều kiện tương tự với Việt Nam vừa từng bước triển khai các nội dung đề tài
Năm 2004, Bộ Thủy sản tiếp tục phê duyệt cho NAFIQAVED được triển khai thêm đề tài “Ứng dụng quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) để xây dựng mô hình nuôi thuỷ sản bền vững tại Việt Nam” gồm có: Thanh hoá ( 66,5 ha), Khánh Hoà (18 ha),
Cà Mau (30 ha), Bạc Liêu (155 ha), Sóc Trăng (100 ha)
Trang 23Dựa vào các kết quả nghiên cứu của NAFIQAVED, ngày 10 tháng 4 năm 2006
Bộ trưởng Bộ thủy sản ra Quyết định số 06/2006/QĐ-BTS về việc ban hành Quy chế Quản lý vùng và cơ sở nuôi tôm an toàn
Kết quả nghiên cứu của Việt Nam từ năm 2003 đến nay đã mở ra hướng nhìn nhận mới về kiểm soát các mối nguy ở tất cả công đoạn trong qui trình nuôi; bước đầu
đã xây dựng phương pháp thực hiện GAP/CoC phù hợp với điều kiện của Việt Nam như: Sổ tay hướng dẫn thực hành nuôi tốt (GAP), Tài liệu tập huấn về GAP/CoC, đã xác định các mối nguy cơ bản trong nuôi tôm sú, gồm:
Mối nguy gây mất an toàn bệnh, dịch
Bảng 1.2: Nhận diện các loại bệnh do tác nhân sinh học
1.5 Bệnh hoại tử gan tụy - HPV Parvovirus
1.6 Bệnh hoại tử tuyến ruột giữa - BMN Baculovirus
Ngoài ra còn có bệnh do nhiều tác nhân gây ra như:
- Bệnh mảng bám: Nguyên sinh động vật (Zoothamnium, Vorticella, Acineta, Epistylis), vi khuẩn dạng sợi (Leucothrix spp).…
- Bệnh phân trắng: Vi khuẩn (Vibrio sp), Parvovirus, nguyên sinh động vật (Gregarine), nấm mốc ở thức ăn…
Trang 24Khả năng lây nhiễm bệnh cần kiểm soát
Mối nguy gây mất an toàn trong môi trường nuôi
Nhận diện các yếu tố môi trường
- Chỉ số hydrô (pH): pH là chỉ tiêu cho biết quá trình sinh học và hóa học xảy ra trong ao nuôi Sự tồn tại của các trạng thái khác nhau của carbonic khi có mặt trong nước ở trạng thái khí tự do CO2, hòa tan trong nước làm cho nước mang tính axít yếu hoặc có tính kiềm
Giới hạn thích hợp: 7,5–8,5; biến động <0,5 trong ngày
Giới hạn cần điều chỉnh: < 6 hoặc > 9; Biến động >0,5 trong ngày
Khả năng vượt giới hạn/gíơi hạn cần điều chỉnh: Dễ biến động trong ao nuôi tùy theo chu kỳ sinh trưởng của tảo, đáy ao bẩn, kiềm thấp
Tính nghiêm trọng: Cao Trực tiếp: gây sốc, chết đột ngột; pH thấp làm tổn thương phụ bộ và mang, trở ngại cho việc lột xác, tôm bị mềm vỏ Gián tiếp: pH > 9 hay pH < 6,0 và biến động >0,5 trong ngày có thể gây sốc cho tôm, làm một số bệnh nguy hiểm như bệnh đốm trắng do vi rút có cơ hội bùng phát pH cao và nhiệt độ tăng
Trang 25cao làm tăng hàm lượng của NH3 trong ao gây độc cho tôm pH thấp làm tăng hàm lượng của H2S
- Nhiệt độ: Nhiệt độ là chỉ tiêu luôn luôn biến đổi theo thời tiết Biên độ dao động của nhiệt độ nước trong ngày rộng hay hẹp phụ thuộc vào tính chất của ao: chiều rộng, chiều sâu Tôm có thể chịu đựng sự thay đổi nhiệt độ 0,2oC/phút, nhưng khi nhiệt độ nước thay đổi đột ngột 3oC hay 4oC hay vượt quá giới hạn thích ứng sẽ gây sốc, thậm chí làm tôm chết Sự thay đổi nhiệt độ là nguyên nhân chính làm thay đổi tốc độ trao đổi chất, rối loạn sự hô hấp, làm mất cân bằng pH máu, làm thay đổi chức năng điều hành áp suất thẩm thấu
Giới hạn thích hợp: 28 - 32oC
Gíơi hạn cần điều chỉnh: < 25oC; > 33oC (cần điều chỉnh cho ăn, quạt nước…) Khả năng vượt giới hạn/giới hạn cần điều chỉnh: Thấp Phụ thuộc vào thời tiết (tùy vùng địa lý), thiết kế ao, lắp đặt thiết bị…
Tính nghiêm trọng: Cao Trực tiếp: đối với tôm sú khi nhiệt độ <25oC hoặc
>33oC nhu cầu lượng thức ăn giảm từ 30 – 50%; khi nhiệt độ nước ao lên đến 37,5oC thì có đến 40% tôm sú chết nóng Gián tiếp: độ hòa tan của oxy vào trong nước giảm khi nhiệt độ nước tăng lên; nhiệt độ cao đẩy nhanh tốc độ phân hủy các chất hữu cơ
sinh ra nhiều khí độc; làm tăng tính độc của các khí độc
- Độ mặn: Là chỉ tiêu môi trường quyết định sinh trưởng và phát triển của tôm,
độ mặn thấp làm tôm mềm vỏ dễ nhiễm mầm bệnh, độ mặn cao làm tôm chậm lớn, kích thước tôm thương phẩm nhỏ
Giới hạn thích hợp: 15 – 25%o
Gíơi hạn cần điều chỉnh: Biến động đột ngột hơn 5%o
Khả năng vượt giới hạn/giới hạn cần điều chỉnh: Thấp Tùy theo vùng địa lý, mùa vụ
Tính nghiêm trọng: Vừa Ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hòa áp suất thẩm thấu Khi độ mặn trong nước biến động hơn 10%o trong vài phút hoặc vài giờ có thể làm cho các loài giáp xác khó có thể thích ứng kịp
- Độ Kiềm: Độ kiềm giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ đệm của môi trường nước Đây được xem là một trong những chỉ tiêu quan trọng duy trì được sự
Trang 26biến động thấp nhất của pH, hạn chế sự tác động của các chất sẵn có trong ao, nhằm không tạo ra những cú sốc bất lợi cho tôm
Giới hạn thích hợp: 80 – 120 mg/l
Gíơi hạn cần điều chỉnh: Nhỏ hơn 60 mg/l; lớn hơn 180 mg/l
Khả năng vượt giới hạn/giới hạn cần điều chỉnh: Thấp Tùy theo vùng địa lý, thời tiết…
Tính nghiêm trọng: Vừa Trực tiếp: độ kiềm thấp tôm dễ bị mềm vỏ và khó lột xác; độ kiềm quá cao (>200mg/l): tôm bị chai vỏ, khó lột xác Gián tiếp: độ kiềm duy trì hệ đệm cho môi trường nước, ổn định độ pH của nước nuôi; nước có độ kiềm cao thì làm giảm bớt sự thay đổi pH
- Ôxy: Ôxy là một yếu tố rất quan trọng trong lưu vực nước có tác dụng quyết định các quá trình hóa học và sinh học xảy ra trong ao nuôi Ôxy phong phú là dấu hiệu của một vùng nước sạch, thuận lợi cho đời sống thủy sinh vật
Giới hạn thích hợp: > 5 mg/l
Gíơi hạn cần điều chỉnh: < 4 mg/l
Khả năng vượt giới hạn/giới hạn cần điều chỉnh: Cao Hay biến động trong ao nuôi thâm canh, bán thâm canh tùy theo chu kỳ sinh trưởng của tảo; lắp đặt, vận hành
hệ thống quạt nước, sục khí không đúng; đáy ao bẩn …
Tính nghiêm trọng: Cao Trực tiếp: DO <0,3mg/l tôm chết đột ngột; DO từ 1 - 2mg/l: tôm chết sau vài giờ; DO từ 2 - <5mg/l kéo dài: tôm tăng trưởng chậm; DO = 5mg/l tốt nhất cho tôm (vượt hơn mức này tôm vẫn sống bình thường, nếu vượt quá ngưỡng bão hòa sẽ gây hại cho tôm) Gián tiếp: khi DO thấp làm nước nuôi xuất hiện các độc tố đối với tôm như NO2, H2S,…
- H2S, NH3, NO2: Đây là những chất khí cực độc đối với tôm nên cần được kiểm soát trong quá trình nuôi
H2S: Giới hạn thích hợp: < 0,02 mg/l
Gíơi hạn cần điều chỉnh: > 0,05 mg/l
Khả năng vượt giới hạn/giới hạn cần điều chỉnh: Vừa Khí H2S thường
có nhiều trong ao được xây dựng trên đất rừng ngập mặn; đáy ao bẩn; lắp đặt, vận hành hệ thống quạt nước, sục khí không đúng
Trang 27Tính nghiêm trọng: Cao Trực tiếp: gây thiếu ôxy đột ngột làm đình trệ
sự hô hấp của tôm; nồng độ H2S từ 0,1 – 2,0mg/l làm tôm mất thăng bằng; nồng độ H2S ≥4mg/l gây chết cấp tính Gián tiếp: Tính độc của H2S tăng khi pH thấp
NH3: Giới hạn thích hợp: < 0,1 mg/l
Gíơi hạn cần điều chỉnh: > 0,5 mg/l
Khả năng vượt giới hạn/giới hạn cần điều chỉnh: Cao Dễ biến động tùy theo chu kỳ sinh trưởng của tảo; lắp đặt, vận hành hệ thống quạt nước, sục khí không đúng; đáy ao bẩn …
Tính nghiêm trọng: Cao Trực tiếp: hàm lượng NH3 trong nước cao làm cho tôm khó bài tiết NH3 từ cơ thể chúng ra ngoài → tôm bị ngộ độc; làm tôm bị hư mang, giảm tốc độ tăng trưởng… Gián tiếp: NH3 độc hơn khi DO xuống thấp; khi pH, nhiệt độ tăng lên, hàm lượng NH3 tăng lên
- Ôxy sinh hóa BOD: BOD là lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước trong điều kiện hiếu khí Chỉ số BOD chỉ ra lượng ôxy mà vi sinh vật tiêu thụ trong phản ứng ôxy hóa các chất hữu cơ trong nước, BOD càng cao chứng tỏ lượng chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học trong nước càng lớn
Giới hạn thích hợp: < 10 mg/l
Gíơi hạn cần điều chỉnh: > 20 mg/l
Khả năng vượt giới hạn/giới hạn cần điều chỉnh: Cao Dễ biến động trong ao nuôi thâm canh, bán thâm canh tùy theo chu kỳ sinh trưởng của tảo, đáy ao bẩn … Tính nghiêm trọng: Vừa BOD5 quá cao làm suy giảm oxy trong nước thiếu ôxy cho tôm hô hấp, làm phì dưỡng ao nuôi tảo phát triển quá mức khi tảo tàn sẽ làm ô nhiễm môi trường nước Khi BOD5 vượt quá 20mg/l thì sự suy giảm hàm lượng oxy rất nguy hiểm trong các ao nuôi không sử dụng thiết bị sục khí
- Kim loại nặng (Pb, Cd, Hg): Đây là những nguyên tố tiềm tàng trong môi trường tự nhiên đất và nước nên cần phải kiểm tra để loại trừ trường hợp có các chỉ tiêu này vượt ngưỡng cho phép trở thành nguy cơ gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm cho tôm nuôi
Bảng 1.3: Giới hạn các yếu tố môi trường cần kiểm soát
Trang 28Mối nguy gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm
Nhận diện các loại mối nguy:
Chủ yếu là mối nguy hóa học: gồm hóa chất, kháng sinh cấm theo Quyết định 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm và
Trang 29hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản và Quyết định 26/2005/QĐ-BTS ngày 18/8/2005 bổ sung danh mục kháng sinh nhóm Fluoroquinoloness cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ và Bắc Mỹ); hóa chất kháng sinh hạn chế sử dụng có dư lượng vượt giới hạn cho phép; hormon/chất kích thích sinh trưởng cấm (Clenbuterol, …); độc tố nấm (Aflatoxin); kim loại nặng (Pb,
Hg, Cd); thuốc trừ sâu gốc clor hữu cơ (8 chất) Chia thành các nhóm sau:
- Đối với nhóm A3: Chất methyltestosterone là một loại hormon thường được sử dụng rộng rãi như một tác nhân kích thích tính đực trong việc sản xuất ra cá hồi, cá rô phi đực … Chất này EU không cho phép sử dụng Đối với tôm sú nuôi không tiến hành thực hiện phân tích chỉ tiêu này vì các hộ nuôi không sử dụng chất methyltestosterone trong quá trình nuôi
- Đối với nhóm A6: gồm các kháng sinh cấm sử dụng theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 2 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản như chloramphenicol, nitrofurans … Chúng có mặt trong thức ăn, thuốc thú
y, hoá chất, chất xử lý môi trường, trong tất cả các khâu sản xuất giống, nuôi trồng động thực vật dưới nước Chloramphenicol và nitrofurans là những kháng sinh phổ rộng, có nguy cơ cao gây độc đối với con người; chloramphenicol có thể gây chứng thiếu máu ác tính dẫn đến tử vong và bệnh bạch cầu, còn nitrofurans gây ung thư
- Đối với nhóm B1: Gồm các chất kháng khuẩn có 3 nhóm: nhóm tetracycline, nhóm sulfonamide, nhóm quinolone; các chất này được phép sử dụng cho nuôi trồng thủy sản nhưng phải đảm bảo giới hạn dư lượng tối đa là 100 ppb
- Đối với nhóm B3a: là nhóm thuốc trừ sâu gốc chlor hữu cơ gồm Aldrine, Dieldrine, Endrine, Helptachlor, DDT, Chlordane, HCB, Lindane
Với những vùng nuôi trong đất liền hoặc ven biển, kể cả mô hình nuôi kết hợp nông, ngư nghiệp, ô nhiễm môi trường nước có thể phát sinh do việc xử lý trong nông nghiệp như phun thuốc cho cây trồng Thuốc trừ sâu gốc chlor hữu cơ đã bị cấm sử dụng trong canh tác nông nghiệp, tuy nhiên do khả năng tồn dư trong môi trường của các loại thuốc trừ sâu gốc chlor khá bền vững nên yêu cầu bắt buộc của EU là phải kiểm soát nhóm chỉ tiêu thuốc trừ sâu gốc chlor hữu cơ trong các sản phẩm thủy sản nuôi
Trang 30- Đối với kim loại nặng nhóm B3c: chủ yếu là các kim loại Hg, Cd, Pb chúng có trong thực phẩm sẽ gây nguy cơ ngộ độc thực phẩm EU quy định mức dư lượng tối đa trong thực phẩm đối với Pb là 200 ppb, với Cd là 50 ppb, với Hg là 500 ppb
- Đối với nhóm B3d: gồm có độc tố nấm aflatoxin là chất trao đổi của nhiều giống nấm khác nhau Nấm có thể phát triển trong thành phần thức ăn, trước và sau thu hoạch hoặc trong quá trình vận chuyển, bảo quản Khi tôm ăn phải thức ăn có nhiễm độc tố nấm, chất độc sẽ tích tụ lại trong cơ thịt của chúng Aflatoxin có nguy cơ gây bệnh ung thư
Bảng 1.4: Giới hạn các yếu tố gây mất ATTP cần kiểm soát
Kim loại nặng, thuốc trừ sâu (ppb) Tuỳ chỉ tiêu
1.2 Tình hình quản lý chất lượng nguyên liệu nuôi trồng thủy sản tỉnh Kiên Giang
1.2.1 Tình hình phát triển nuôi tôm sú
Đến cuối năm 2007 toàn tỉnh có 74.417 ha diện tích nuôi tôm với các loại hình nuôi như: chuyên tôm, nuôi tôm luân canh với trồng lúa, nuôi tôm trong ao mương vườn … chiếm 74,48% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, được chia thành các vùng nuôi như sau:
Vùng U Minh thượng (gồm các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh thượng) với tổng diện tích 58.185 ha
Vùng Tứ giác Long xuyên (gồm các huyện Kiên Lương, Hòn Đất, thị xã Hà Tiên) với diện tích 13.741 ha
Ngoài ra còn có 2 huyện ở vùng Tây sông Hậu (Gò Quao, Châu Thành) với diện tích 2.491 ha Với các hình thức nuôi :
Trang 31Nuôi thâm canh và bán thâm canh:
Tổng diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh được đưa vào quy hoạch là 5.000 ha, tính đến năm 2007 toàn tỉnh có 1.297 ha tập trung ở các huyện Kiên Lương (1.046 ha), Hòn Đất (101 ha), An Biên (59 ha), thị xã Hà Tiên (40 ha) Nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh phát triển mạnh ở vùng Tứ giác Long xuyên, diện tích ngày càng được mở rộng, năng suất đạt khá cao (từ 8-12 tấn/ha), hiện nay các nhà đầu tư tiếp tục
mở rộng thêm diện tích khoảng 700 ha ở khu vực này
Nuôi quảng canh luân canh với trồng lúa:
Đây là mô hình nuôi cho hiệu quả cao trên một đơn vị diện tích so với độc canh cây lúa Nuôi quảng canh luân canh với trồng lúa tập trung ở 4 huyện vùng U Minh thượng và huyện Gò Quao với diện tích 50.407 ha Mô hình này cho năng suất đạt từ 250-350 kg/ha, một số nơi đạt 400-500 kg/ha Mô hình này đã phá thế độc canh cây lúa tạo thêm việc làm thường xuyên cho người lao động, tăng thu nhập kinh tế hộ
Nuôi Quảng canh cải tiến:
Tập trung ở các huyện Kiên Lương (6.620 ha), Hòn Đất (925 ha), thị xã Hà Tiên (860 ha) năng suất bình quân từ 250-300 kg/ha
Kết quả thực hiện nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi tôm trong tỉnh được cho ở bảng sau:
Bảng 1.1: Kết quả nuôi trồng thủy sản và kế hoạch thực hiện đến năm 2010 [13]
ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2010 Diện tích nuôi TS ha 62.072 73.813 82.936 92.230 101.367 109.920 148.510 Sản lượng TS nuôi tấn 20.138 25.865 47.886 66.768 95.644 131.115 103.000 Diện tích nuôi tôm ha 51.044 67.725 66.807 72.736 74.417 86.000 128.000 Sản lượng tôm nuôi tấn 10.183 15.228 18.121 23.456 28.350 33.000 59.400
Nguồn: Sở Thuỷ sản Kiên Giang 1.2.2 Công tác quản lý chất lượng nguyên liệu thủy sản nuôi
Đã và đang triển khai, thực hiện chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh vùng thu hoạch nhuyễn thể 2 mảnh vỏ (gọi tắt là chương trình NT2MV) trên 3 vùng nuôi, gồm: An Biên - An Minh, Kiên Lương - Hà Tiên, Quần đảo Bà Lụa thực hiện lấy mẫu kiểm tra vệ sinh ATTP định kỳ nửa tháng/lần Kết quả kiểm soát từ năm 2001 đến nay các vùng nuôi nguyễn thể 2 mảnh vỏ ở Kiên Giang đều đạt loại B Riêng Sò Lông
Trang 32phân bố ở Quần đảo Bà Lụa trong 5 đợt lấy mẫu kiểm soát định kỳ và kiểm tra tăng cường (trong tháng 6,7,8) hàm lượng Cadimi (Cd) trong thịt Sò Lông đều vượt giới hạn cho phép (lớn hơn 1000 µg/kg); trong khoảng thời gian này Sở Thủy sản ra thông báo đình chỉ thu hoạch đối với vùng nuôi Sò Lông Tháng 9/2007 Đoàn thanh tra EU
đã ghi nhận chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh vùng thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh vỏ của Việt Nam nói chung và Kiên Giang nói riêng đáp ứng đầy đủ các qui định của EU Các thị trường EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc tiếp tục công nhận kết quả từ chương trình này và đây cũng là cơ sở để xuất khẩu nhuyễn thể 2 mảnh vỏ sang một số thị trường khác
Đã và đang triển khai, thực hiện chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong trong sản phẩm tôm nuôi (gọi tắt là chương trình dư lượng) ở các vùng nuôi tôm trọng điểm của tỉnh (vùng Tứ giác Long xuyên và vùng U Minh thượng) Chương trình tổ chức lấy mẫu kiểm tra vệ sinh ATTP định kỳ: 1 tháng/lần, lấy mẫu kiểm tra các chỉ tiêu môi trường như kim loại nặng, thuốc trừ sâu định kỳ 6 tháng/lần, … Kết quả kiểm soát từ năm 2001 đến nay cho thấy tôm nuôi trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chưa phát hiện có dư lượng các chất độc hại; các chỉ tiêu môi trường đều thấp hơn giới hạn cho phép Chương trình dư lượng đã góp phần quan trọng trong việc kiểm soát mối nguy hóa học trong thủy sản nuôi, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng trong và ngoài nước Kết quả kiểm tra của Đoàn thanh tra EU tháng 1/2007 đánh giá cao hiệu quả kiểm soát của chương trình này, làm căn cứ cho việc ổn định xuất khẩu thủy sản vào
EU và các thị trường có yêu cầu tương ứng
Nhận xét: Nhìn chung công tác quản lý chất lượng, kiểm soát, kiểm tra lĩnh vực
vệ sinh ATTP nguyên liệu thủy sản được quan tâm thực hiện từ năm 2000, tuy nhiên nếu xét trên toàn chuỗi sản xuất hàng hàng thủy sản thì việc kiểm soát vệ sinh ATTP chưa đồng bộ, chưa toàn diện Chúng ta thực sự chưa an tâm về chất lượng sản phẩm
do chính mình sản xuất ra, luôn bị động đối với các cảnh báo mất an toàn của thị trường nhập khẩu Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất ATTP vừa qua có việc chúng ta chưa kiểm soát được nguyên liệu từ nuôi trồng thủy sản Tuy Kiên Giang đã và đang thực hiện 2 chương trình kiểm soát vệ sinh ATTP (chương trình NT2MV và chương trình dư lượng) trên 2 vùng nuôi gồm 7 huyện, do cơ quan quản lý nhà nước triển khai trên cơ sở hiện trạng vùng nuôi hiện có Nghĩa là Nhà nước qui hoạch vùng nuôi, đầu tư cơ sở hạ tầng; người dân được hướng dẫn qui trình kỹ
Trang 33thuật, được cung cấp thông tin từ cơ quan quản lý về việc làm thế nào để sản xuất ra nguyên liệu sạch, đảm bảo vệ sinh ATTP; tuy nhiên mỗi hộ nuôi, mỗi cơ sở thực hiện theo cách riêng của mình nhằm đạt được lợi ích trước mắt là năng suất nuôi Cho nên khi có sự cố xảy ra (dịch bệnh, sản phẩm mất an toàn ) thì cũng xử lý theo cách tự phát của riêng họ; 2 chương trình trên về lý thuyết cũng như thực tiễn chưa kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu tôm nuôi trên địa bàn nên nguy cơ gây mất an toàn vẫn có thể xảy ra Do đó một chương trình kiểm soát vệ sinh ATTP sát hơn, gần hơn với người dân có sự tham gia của cộng đồng đang được đặt ra cho các nhà quản lý nghiên cứu triển khai, áp dụng nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý, kiểm soát tốt hơn nguồn thực phẩm sản xuất ra, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước Ứng dụng Qui phạm thực hành nuôi tốt trong điều kiện hiện nay
là rất cần thiết đối với tỉnh Kiên Giang
Trang 34CHƯƠNG 2:
ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Điều tra tình hình nuôi tôm sú trên địa bàn huyện Kiên Lương
Trước khi thực hiện đề tài, tiến hành điều tra tình hình nuôi tôm sú trên địa bàn huyện Kiên Lương bằng cách lập phiếu điều tra trong đó thể hiện các thông tin liên quan đến quá trình nuôi tôm tại cơ sở đặc biệt là việc bố trí hệ thống ao, tỉ lệ ao lắng,
ao xử lý nước thải, kênh cấp, kênh thoát Mục đích của việc làm này để đánh giá tác động của môi trường vùng nuôi đến địa điểm triển khai đề tài; đồng thời thông qua điều tra để chọn ra cơ sở nuôi tôm thích hợp để triển khai đề tài Tiến hành điều tra bằng cách trực tiếp đến phỏng vấn, quan sát ở từng cơ sở Kết quả như sau:
Đối với cơ sở có diện tích nhỏ hơn 5 ha gồm có:
Bảng 2.1: Kết quả điều tra các cơ sở nuôi có diện tích nhỏ 5 ha
Họ và tên diện
tích
pH đất
pH nước
Độ mặn Kênh cấp
Kênh thoát
3 Quãng Trọng Phụng 1.1 4 6-6,5 10-40 Kênh Biển Kênh Biển
5 Nguyễn Văn Đô 01 4 6-6,5 10-40 Kênh Biển Kênh Biển
7 Trần Hoàng Dinh 1.5 4 6-6,5 10-40 Tà Săng Tà Săng
11 Trần Công Kích 5.2 3 5,5-6 10-32 Núi Mây Núi Mây
12 Huỳnh Văn Gành 5.5 3 5,5-6 10-32 Núi Mây Núi Mây
13 Nguyễn Văn Thắng 3.8 3 5,5-6 10-32 Núi Mây Núi Mây
15 Nguyễn Thanh Sơn 3.45 6 5-7,5 20-30 Cây Me Cây Me
Trang 3518 Dương Minh Em 02 5 5-8 15-20 Cờ Trắng Cờ Trắng
19 Nguyễn Văn Nhiên 01 5-6 5-8 15-30 Khóc Lá Khóc Lá
21 Nguyễn Văn Thuận 04 3 5,5-6 10-38 Tam Bản Tam Bản
22 Nguyễn Lam Sơn 3.45 3 5,5-6 10-35 Tam Bản Tam Bản
38 Nguyễn Văn Thắng 1.3 2 4,5-5 10-25 Hà Giang Hà Giang
39 Nguyễn Văn Lơ 3.6 2 4,5-6 10-25 Hà Giang Hà Giang
44 Trương Thị Múi 1.2 6,5 6-7 10-30 Tô Châu Tô Châu
45 Nguyễn Văn Thắng 03 3 5,5-6 10-38 Tam Bản Tam Bản
Việc bố trí mặt bằng ở từng cơ sở nuôi chưa hợp lý để hạn chế việc lây nhiễm,
ao lắng và xử lý chưa đạt tỉ lệ 20 - 25% so với tổng thể tích nước của ao nuôi; tất cả đều không có khu vực xử lý nước thải, xử lý bùn Nước trong quá trình thu hoạch thải
Trang 36trực tiếp ra môi trường thông qua mương dẫn được bố trí trong cơ sở nuôi Hệ thống
thủy lợi của vùng nuôi chưa đảm bảo yêu cầu (kênh cấp đồng thời cũng là kênh thoát)
Nguồn nước: 100% phụ thuộc vào sông, kênh mương thủy lợi và nước biển Mật độ thả nuôi tương đối cao từ 35-45 con/m2
Ở Kiên Lương Tình trạng chua phèn (pH nước <5) xảy ra vào các tháng đầu mùa mưa, thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7 Khi mùa mưa kết thúc nước mặn xâm nhập vào nội vùng, thường thì bắt đầu từ tháng 1 và ảnh hưởng mạnh nhất vào tháng 4 (độ mặn có nơi lên đến 30-40%o)
Đa số tại các hộ nuôi số lao động trung bình 5 người/hộ trong đó lao động tham gia nuôi trồng thủy sản chiếm 80%; số năm theo nghề trung bình là 4, còn thiếu kinh nghiệm nuôi: có 20% số hộ tham gia nuôi được trang bị kiến thức cơ bản thông qua tập huấn, 80% tự học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau
Đối với cơ sở có diện tích lớn hơn 5 ha gồm có:
Bảng 2.2: Kết quả điều tra cơ sở nuôi có diện tích lớn
Họ và tên diện
tích
pH đất
pH nước
Độ mặn
Kênh cấp Kênh thoát
1 C.ty Toàn Cầu 300 ha 5-6 5-8 5-30 Tà Săng Kênh Hậu
3 C.ty Minh Phú 230 ha 3 5,5-6 2-20 Kênh 6 Kênh 6
4 C.ty Trung Sơn 138 ha 4 6-7,5 10-40 Biển Tây Biển Tây
5 C.ty Hạ Long 1200 ha 4-5 4-7 5-10 Phú Mỹ PM-NTR
Việc bố trí mặt bằng trong từng cơ sở nuôi cơ bản đạt yêu cầu (4 cơ sở) chỉ cần điều chỉnh một số công trình phụ thì có thể triển khai được chương trình GAP Riêng Công ty Hạ Long tỉ lệ ao lắng chỉ đạt 14%, hệ thống thoát nước và khu vực xử lý nước thải bố trí chưa hợp lý; nếu triển khai chương trình GAP chủ cơ sở cần có quyết tâm cao để khắc phục sai sót, cần có thời gian và kinh phí cho việc khắc phục Tuy nhiên với hệ thống thủy lợi chung của vùng như đã nêu và việc không xử lý nước thải của hầu hết các cơ sở trong vùng nuôi là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, dịch bệnh dễ phát sinh và khả năng lây lan cao
Nhận xét: Từ kết quả điều tra cho thấy trong 50 cơ sở chỉ có Công ty TNHH
Toàn Cầu và Công ty Cổ phần thuỷ sản Trung Sơn là đáp ứng đầy đủ nhất về điều kiện
để áp dụng chương trình GAP như: địa điểm, bố trí hệ thống ao, các công trình phụ, hệ
Trang 37thống cấp thoát nước Hệ thống thủy lợi trong vùng có ảnh hưởng nhưng không nhiều đến quá trình nuôi tại 2 cơ sở này vì tại đây đã bố trí hệ thống kênh cấp, kênh thoát đạt yêu cầu và bố trí hệ thống ao lắng, ao xử lý đáp ứng tốt cho nhu cầu sản xuất Tuy nhiên việc ứng dụng thành công GAP đòi hỏi phải có sự cam kết từ phía chủ trại nuôi lẫn lực lượng lao động [7], cho nên sau khi thảo luận nội dung triển khai chương trình GAP với 2 cơ sở này đã thống nhất chọn Công ty Cổ phần thuỷ sản Trung Sơn là nơi để thực hiện đề tài
Vị trí của cơ sở được chọn (hình 2.1): phía Bắc giáp kinh Ông Kiểm, phía Tây giáp khu dân cư 2 bên bờ kênh Lung Lớn, phía Đông giáp kênh 500, phía Nam giáp và cách biển 500m; các điều kiện áp dụng Qui phạm thực hành nuôi tốt (GAP) của cơ sở được làm rõ ở mục 2.2
Hình 2.1: Phân vùng qui hoạch nuôi tôm huyện Kiên Lương
Công ty
Cổ phần thuỷ Sản Trung Sơn
Trang 382.2 Điều kiện áp dụng Qui phạm thực hành nuôi thủy sản tốt (GAP) của cơ sở 2.2.1 Yêu cầu về địa điểm xây dựng cơ sở nuôi tôm [1], [4], [5], [12], [20]
- Vị trí xây dựng cơ sở nuôi: Phải nằm trong vùng qui hoạch nuôi trồng thủy sản của địa phương hay quốc gia Nếu cơ sở nuôi nằm trong vùng chưa được qui hoạch phải được chấp thuận của cơ quan quản lý có thẩm quyền
- Cơ sở nuôi tôm phải đặt xa các nguồn có khả năng gây ô nhiễm (vùng canh tác nông nghiệp, nhà máy hoá chất, nhà máy chế biến, khu dân cư ) làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng nguồn nước cấp của cơ sở
- Nguồn nước phải phù hợp với tôm nuôi và đáp ứng các quy định hiện hành của Bộ Thủy sản Việc sử dụng nước ngầm để nuôi tôm phải có giấy phép của cơ quan quản lý về tài nguyên và môi trường
- Nên chọn lựa những khu vực có cơ sở hạ tầng tốt như: đường giao thông, điện,
hệ thống cấp và thoát nước…
Đối chiếu với Công ty Cổ phần thủy sản Trung Sơn
Về vị trí: Nằm trong vùng qui hoạch nuôi tôm của huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, Công ty Cổ phần thủy sản Trung Sơn là một trong những doanh nghiệp có dự
án nuôi tôm công nghiệp đầu tiên được Ủy ban nhân tỉnh phê duyệt chấp thuận
Chất đất: Thành phần chủ yếu của đất là đất sét hoặc sét pha cát (trong đó đất
sét chiếm trên 45%) có khả năng giữ nước tốt
Nguồn nước: hàm lượng chất dinh dưỡng không cao, nước biển trong, độ mặn
ổn định ở mức từ 10 - 30%o, nhiệt độ thích hợp cho nuôi thủy sản và không bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ cũng như kim loại nặng
Cơ sở hạ tầng: nằm trong khu qui hoạch nuôi tôm công nghiệp của tỉnh nên Kiên Lương là một trong những huyện được nhà nước ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng: đường giao thông, kênh mương thủy lợi, lưới điện quốc gia và Công ty Cổ phần thủy sản Trung Sơn được hưởng từ những lợi thế này
2.2.2 Yêu cầu về thiết kế, xây dựng và trang thiết bị của cơ sở nuôi tôm
[1], [4], [12], [16], [19], [20]
- Bố trí mặt bằng cơ sở nuôi tôm hợp lý để hạn chế tối đa việc lây nhiễm, cụ thể như sau: hệ thống cấp và thoát nước phải riêng biệt; khu vực chứa bùn, khu vực xử lý nước thải, nhà ở, nhà vệ sinh và các khu vực có thể gây ô nhiễm phải cách biệt với nguồn nước, kênh cấp, ao lắng và ao nuôi
- Ao lắng và xử lý chiếm từ 20 - 25% so với tổng thể tích nước của ao nuôi
- Khu vực xử lý nước thải chiếm từ 10 - 15% so với tổng thể tích nước của ao nuôi
- Khu vực chứa, xử lý bùn phải có đủ khả năng chứa bùn thải cho toàn bộ khu vực ao nuôi
Trang 39- Ao nuôi nên có diện tích 0,5-1ha Cao trình đê bao ngạn phải cao hơn mức nước cao nhất trong năm trong ao tối thiểu 0,3 m
- Kênh, mương trong cơ sở nuôi và ao phải ngăn ngừa được sự thẩm lậu; bờ phải ngăn ngừa được sự sạt lở
- Kho nguyên vật liệu: kho chứa nguyên vật liệu trong cơ sở nuôi tôm phải khô ráo, thông thoáng và ngăn chặn được động vật gây hại xâm nhập; kệ để nguyên vật liệu trong kho phải cao cách mặt đất ít nhất 0,1m; kho chứa phải đảm bảo bảo quản riêng biệt thức ăn, thuốc thú y và các sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường; kho chứa xăng, dầu phải cách biệt với nguồn nước cấp vào các ao nuôi; đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường
- Các công trình phụ trợ khác (khu vực sinh hoạt, nhà làm việc, nhà ở, nhà vệ sinh ) phải đảm bảo không gây ô nhiễm cho môi trường trong và ngoài cơ sở
- Dụng cụ và thiết bị: đảm bảo dễ làm vệ sinh khử trùng, không gây độc hại cho tôm nuôi và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm tôm nuôi; hệ thống sục khí hoặc quạt nước cho ao nuôi phải được lắp đặt đúng yêu cầu thiết kế và công suất; động cơ và thiết bị truyền động không được rò rỉ xăng, dầu gây ô nhiễm môi trường
Đối chiếu với Công ty Cổ phần thủy sản Trung Sơn:
Trang 402.2.2.2 Các công trình phụ trợ:
Cơ sở nuôi được chia thành 3 khu:
Khu I: từ Lô 1 đến Lô 8
Khu II: từ Lô 9 đến Lô 14
Khu III: từ Lô 15 đến Lô 20
Mỗi khu có:
- 1 nhà kho chứa thức ăn và thuốc bổ
- 1 kho chứa vôi
- 1 kho chứa chất xử lý
- 1 kho chứa đồ diện
- 1 nhà ăn, 1 căntin
Ngoài ra cơ sở còn có:
- 1 nhà cơ khí chung cho cả 3 khu
- 1 nhà chứa vi sinh cho cả 3 khu