LỜI MỞ ĐẦU LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN TỔNG QUAN LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
LÝ LUẬN TỔNG QUAN
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ BHXH
Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm, BHXH trên thế giới
Sự phát triển của BHXH ở Việt Nam
CƠ SỞ LUẬN VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH, ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH, CÔNG CỤ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VÀ QUỸ BHXH
Hệ thống tài chính Quỹ BHXH
Khái niệm
Vị trí của quỹ BHXH Đặc điểm của qũy BHXH Nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội
Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Đầu tư tài chính
Khái niệm đầu tư tài chính Các công cụ đầu tư tài chính
Đầu tư chứng khoán
013 013013014
Trang 2Đo lường rủi ro
Lợi nhuận và rủi ro của một danh mục đầu tư
Đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm rủi ro Xác định đường tập hợp các cơ hội đầu tư vào các tài sản rủi
ro
Xây dựng danh mục đầu tư với N tài sản rủi ro và tài sản phi
rủi ro Các nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu
Kinh nghiệm đầu tư quỹ bảo hiểm của các nước trên thế giới
Khái quát về mô hình quỹ bảo hiểm xã hội Chế độ hình thành, quản lý, đầu tư quỹ BHXH một số nước trên thế giới
Tại Trung Quốc Tại Úc
Tại Philippin
Mô hình nghiên cứu
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA BHXH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Thực trạng hoạt động và phát triển của Ngành BHXH Việt Nam
Về thu bảo hiểm xã hội chi bảo hiểm xã hội Thực trạng đầu tư của BHXH Việt Nam trong thời gian qua Giai đoạn trước khi sáp nhập Bảo hiểm y tế Việt Nam vào
Trang 3Danh mục đầu tư
Tỷ suất sinh lời, hiệu quả đầu tư
Tỷ trọng nguồn thu qũy BHXH Việt Nam so GDP
Tỷ trọng đầu tư từ nguồn qũy BHXH Việt Nam trong nền kinh tế
Thực trạng đầu tư của các doanh nghiệp Bảo hiểm Việt Nam,
so sánh với hiệu quả đầu tư từ Quỹ BHXH và các chỉ tiêu kinh tế khác
Phân tích tình hình đầu tư từ nguồn qũy BHXH Việt Nam trong mối tương quan với đầu tư tài chính trên thị trường tài chính Việt Nam
Cơ cấu tài sản tài chính ở Việt Nam và các nước Tình hình đầu tư từ nguồn qũy BHXH Việt Nam trong mối tương quan với đầu tư tài chính trên thị trường tài chính Việt Nam
Hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong kết quả đầu tư của BHXH Việt Nam
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CHO BHXH VIỆT NAM
Sự cần thiết phải đầu tư từ nguồn quỹ BHXH nhàn rỗi
Từ mô hình tính toán dự báo quỹ BHXH Kiểm chứng bằng phân tích tài chính Thành lập Trung tâm đầu tư quỹ BHXH tách hẳn khỏi Ban
kế hoạch tài chính hiện nay Xây dựng danh mục đầu tư Xây dựng mục tiêu đầu tư Chính sách phân bổ tài sản:
Vai trò của chính sách phân bổ tài sản Những căn cứ xác định chính sách phân bổ tài sản Ước lượng lợi nhuận và rủi ro các loại tài sản
Trang 4Tính tỷ lệ phân bổ tài sản tối ưu
Ứng dụng các mô hình danh mục đầu tư
Ứng dụng mô hình với 2 chứng khoán Ứng dụng mô hình với 3 chứng khoán Ứng dụng mô hình với N chứng khoán
Đa dạng hóa với tài sản phi rủi ro
Lựa chọn đầu tư trên thị trường chứng khoán Những lưu ý khi thực hiện mô hình
Các hạn chế của đề tài Kiến nghị
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 52007 Tổng hợp thu, chi, đầu tư quỹ BHXH từ năm 1962 - 2007 Danh mục đầu tư qua các năm của ngành BHXH
Cơ cấu đầu tư vốn trở lại nền kinh tế của ngành bảo hiểm thương mại
Hoạt động đầu tư Quỹ bảo hiểm xã hội Tổng hợp thu, chi, đầu tư quỹ BHXH so sánh với các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu
Tổng hợp một số chỉ tiêu về đầu tư Quỹ BHXH, Bảo hiểm thương mại
Cơ cấu tài sản tài chính ở các nước (% GDP)
Cơ cấu tài sản tài chính ở Hoa Kỳ
Cơ cấu tài sản tài chính ở Việt Nam Lợi suất chứng khoán chính phủ và lãi suất ngân hàng Bảng tính toán, so sánh tỷ suất sinh lời tín phiếu- trái phiếu - lãi suất tiền gửi – Vn.index – lợi suất đầu tư quỹ BHXH
Bảng tính tiền đóng BHXH của một người lao động điển hình tại khu vực kinh tế chính thức ở thành thị
Bảng tính tiền lương hưu do quỹ BHXH chi trả cho một người lao động điển hình tại khu vực kinh tế chính thức ở thành thị nghỉ hưu
Mô hình nghiên cứu
Biểu diễn số đối tượng, số chi BHXH do nguồn NSNN, nguồn quỹ BHXH đảm bảo
Tỷ trọng số chi từ nguồn NSNN và nguồn quỹ BHXH Tổng hợp thu, chi, tồn quỹ, thu nhập đầu tư quỹ BHXH Danh mục đầu tư quỹ BHXH năm 2005
Hoạt động đầu tư Quỹ BHXH
Cơ cấu nguồn thu Quỹ BHXH so với GDP
Tỷ trọng đầu tư quỹ BHXH so tổng đầu tư toàn xã hội
So sánh hiệu quả đầu tư quỹ BHXH với một số chỉ tiêu khác
Tỷ suất sinh lời từ đầu tư quỹ BHXH so với đầu tư khác
Tỷ suất sinh lời từ đầu tư quỹ BHXH so với đầu tư khác (có tính yếu tố lạm phát)
Tỷ trọng vốn hóa các lĩnh vực trên thị trường chứng khoán
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CAPM Mô hình định giá tài sản vốn Capital Asset Pricing Model
EPS Thu nhập mỗi cổ phần Earning per share
ROE Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần Return on equity ratio
ROA Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản Return on total assets ratio
EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi Earnings Before Interest and Tax P/E Tỷ số giá thị trường trên thu nhập Price-earning ratio
Số vòng quay các khoản phải thu Accounts receivable turnover ratio
Số vòng quay hàng tồn kho Inventory turnover ratio Hiệu suất sử dụng tài sản cố định Sales-to-Fixed assets ratio Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản Sales-to-total assets ratio Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần Sales-to-equity ratio
Tỷ số nợ trên tài sản Debt ratio
Tỷ số thanh toán hiện hành Current ratio
Tỷ số thanh toán nhanh Quick ratio
Tỷ số nợ trên tài sản Debt ratio
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần Debt–to–equity ratio
Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần Equity multiplier ratio Khả năng thanh toán lãi vay Times interest earned ratio
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu Net profit margin ratio
Tỷ lệ chi trả cổ tức Payout ratio
BHXH Bảo hiểm xã hội
GDP tổng sản lượng nội địa Gross Domestic Product
WTO Tổ chức thương mại quốc tế World Trade Organization
TTCK Thị trường chứng khoán Financial Market
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán Stock Exchange
TTTC Thị trường tài chính Financial Market
Trang 7Các loại chứng khoán trên thị trường
Đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm rủi ro Các nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu Kinh nghiệm đầu tư quỹ bảo hiểm của các nước trên thế giới
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
I- LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Chính sách bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Cùng với sự đổi thay của đất nước từ đó đến nay chính sách bảo hiểm xã hội cũng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện qua các thời kỳ khác nhau cho phù hợp với tình hình thực tế Ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật Bảo
hiểm xã hội (Luật số 71/2006/QH11) Đây cũng là lần đầu tiên nước ta có Luật Bảo
hiểm xã hội Sau 60 năm hoạt động của lĩnh vực này So với các văn bản pháp quy hiện hành về bảo hiểm xã hội, những quy định của Luật Bảo hiểm xã hội đã tạo điều kiện
để các bên liên quan như người lao động, chủ sử dụng lao động, Nhà nước và cơ quan BHXH thực hiện tốt trách nhiệm của mình, phù hợp với thực tiễn phát triển của nước
ta trong tiến trình hội nhập quốc tế
Với Điều lệ Bảo hiểm xã hội hiện hành, Luật Bảo hiểm xã hội có một số quy định mới như:
- Phạm vi điều chỉnh của Luật mở rộng hơn, bao gồm: Bảo hiểm xã hội bắt buộc với các chế độ như hiện nay (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007); Bảo hiểm
xã hội thất nghiệp (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009) và Bảo hiểm xã hội tự nguyện (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2008) Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế
độ hưu trí và tử tuất được quy định tương tự như Bảo hiểm xã hội bắt buộc, có sự liên thông giữa Bảo hiểm xã hội bắt buộc và Bảo hiểm xã hội tự nguyện và ngược lại, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được hưởng chế độ hưu trí khi vừa có thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc, vừa có thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện
- Luật quy định cụ thể lộ trình tăng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động đối với người lao động từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14% vào năm 2014 (hiện nay là 11% đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất) Như vậy, tổng mức đóng sẽ tăng từ 16% tổng quỹ lương như hiện nay lên 22% vào năm 2014)
- Luật cũng quy định hàng tháng người lao động đóng 3% tổng quỹ lương vào quỹ ốm đau, thai sản, trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả lương cho người lao động và sau đó thực hiện quyết toán với cơ quan Bảo hiểm xã hội theo quý Luật cũng quy định tiền lương, tiền công tháng đóng Bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng mức lương tối thiểu và cao nhất là bằng 20 tháng lương tối thiểu
Trang 9- Chế độ nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ không còn tách riêng như hiện nay, mà
nó được thể hiện trong nội dung chi trong chế độ ốm đau; thai sản; tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Cơ sở để tính mức lương hưu là bình quân tiền lương tháng đóng Bảo hiểm xã hội của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu (hiện nay là 5 năm)
- Vai trò của Nhà nước được xác định rõ hơn, như: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội; thống nhất tổ chức thực hiện Bảo hiểm xã hội; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về Bảo hiểm xã hội; có chính sách ưu tiên đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội để bảo đảm an toàn và tăng trưởng quỹ
Để cụ thể hóa nội dung về đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội theo quy định tại Luật
Bảo hiểm xã hội năm 2006, tại Quyết định 41/2007/QĐ-TTg ngày 29 tháng 3 năm
2007 của Thủ tướng chính phủ về quản lý tài chính đối với bảo hiểm xã hội Việt Nam, Điều 11 về nguyên tắc và các hình thức đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội quy định:
1 Hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm nguyên tắc: an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết
c) Cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay;
d) Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia;
đ) Các hình thức đầu tư khác do pháp luật quy định
3 Căn cứ tình hình thực tế phát triển kinh tế xã hội hàng năm, và các nguyên tắc, hình thức đầu tư quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam xây dựng phương án đầu tư trình Hội đồng quản lý quyết định
Như vậy, Luật BHXH đã mở ra cho Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam một triển vọng mới trong hoạt động đầu tư qũy Bảo hiểm xã hội nhàn rỗi, làm sao đó qũy phải được đầu tư có hiệu quả nhất trong xu thế hội nhập, nhằm tăng trưởng qũy một cách an toàn, bền vững, với tỷ suất sinh lợi lớn nhất Có như thế Qũy Bảo hiểm xã hội mới là nguồn lực tài chính quan trọng của đất nước, đủ mạnh để đảm về an sinh xã hội, trở thành công cụ tài chính để Chính phủ điều hành kinh tế vĩ mô, và hơn thế nữa lợi ích của người tham gia và hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội cũng được nâng cao thuận chiều với tốc độ, hiệu quả đầu tư qũy Bảo hiểm xã hội nhàn rỗi
Trang 10Tại Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ
tướng Chính phủ đã xác định rõ: Phát triển thị trường vốn đa dạng để đáp ứng nhu cầu huy động vốn và đầu tư của mọi đối tượng trong nền kinh tế Phấn đấu đến năm 2010 giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 50% GDP và đến năm 2020 đạt 70% GDP
Đa dạng hoá các loại hình quỹ đầu tư; tạo điều kiện cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tiết kiệm bưu điện,… tham gia đầu tư trên thị trường vốn; từng bước phát triển,
đa dạng hoá các quỹ hưu trí để thu hút các vốn dân cư tham gia đầu tư; khuyến khích việc thành lập các quỹ đầu tư ở nước ngoài đầu tư dài hạn vào thị trường Việt Nam
Nguồn qũy Bảo hiểm xã hội nhàn rỗi, nếu được đầu tư đúng mức, có hiệu quả,
sẽ là nguồn lực tài chính quan trọng góp phần kiến thiết đất nước
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam từng bước thực hiện tự do hoá kinh tế bao gồm tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư và tự do hoá tài chính Tiến trình tự do hoá đầu tư và tự do hóa tài chính tất yếu sẽ dẫn đến tự do hoá lãi suất, tự do hoá tỷ giá hối đoái, tự do hoá các dòng vốn quốc tế hay tự do hoá tài khoản vốn Các bước tự do hoá này vừa tạo ra thời cơ mới đồng thời cũng tạo ra thách thức mới cho cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, … trong đó có Qũy đầu tư tài chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Vậy Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải làm gì để đón nhận những
cơ hội đầu tư mới trong môi trường đầy năng động, hấp dẫn này đồng thời cũng hết sức khôn khéo để vượt qua những rủi ro, thách thức tiềm ẩn để có được lợi ích lớn nhất trong hoạt động đầu tư
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Đầu tư tài chính từ nguồn quỹ Bảo hiểm xã hội nhàn rỗi tại Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ kinh tế, hy vọng có sự
đóng góp để quỹ đầu tư tài chính Bảo hiểm xã hội được quản lý tốt hơn, đầu tư hiệu quả hơn trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới vì lợi ích chung của cộng đồng
II- XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sự hình thành, vai trò, thực trạng về đầu tư qũy Bảo hiểm xã hội trên cơ sở phân tích, so sánh với đầu tư tài chính của ngành Bảo hiểm thương mại và đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam Ứng dụng cơ sở lý thuyết về đầu tư tài chính, trong đó đặc biệt chú trọng đầu tư trên thị trường chứng khoán kết hợp áp dụng các phần mềm, công cụ phân tích về đầu tư, quản lý danh mục đầu tư như phần mềm Metastock, Expert Investor, WinCapm, Excel… từ đó gợi ý mô hình đầu tư tài chính ứng dụng cho ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam
III- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Vị trí của qũy Bảo hiểm xã hội trong hệ thống tài chính của Việt Nam, vai trò của nguồn lực tài chính qũy Bảo hiểm xã hội trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Trang 11- Hoạt động đầu tư quỹ của Bảo hiểm xã hội trong thời gian qua như thế nào, hiệu quả đầu tư ra sao So sánh hiệu quả đầu tư của qũy Bảo hiểm xã hội so với hiệu quả đầu tư tài chính của ngành bảo hiểm thương mại
- Trong dài hạn, mô hình đầu tư tài chính của Quỹ Bảo hiểm xã hội Việt Nam
sẽ như thế nào
Trong quá trình đi tìm lời giải cho những câu hỏi nghiên cứu vừa nêu để giải quyết vấn đề nghiên cứu đặt ra, đề tài này nhằm vào các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu, phân tích, hệ thống cơ sở lý luận, phân tích khảo sát tổng kết thực tiễn tìm các nguyên nhân tác động đến quá trình hình thành, sử dụng và tăng trưởng quỹ hưu trí, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm quản lý quỹ hưu trí ngày càng tốt hơn, có khả năng cân đối và được sử dụng có hiệu quả trong tương lai
- Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về đầu tư tài chính
- Phân tích tác động của rủi ro đến hoạt động đầu tư tài chính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
- Đánh giá thực trạng đầu tư qũy BHXH trong thời gian qua, trong mối quan hệ
so sánh với đầu tư tài chính của ngành bảo hiểm thương mại và đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam
- Hoàn thiện, cả về lý luận và thực hành, việc ứng dụng các lý thuyết về đầu tư tài chính, quản lý danh mục đầu tư, sử dụng công cụ phân tích đầu tư tài chính nhằm tránh thiệt hại và nâng cao năng lực cạnh tranh
IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1- Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Đề tài này chọn cách tiếp cận thiên về thực hành trong đó nhấn mạnh đến việc hoàn thiện mô hình đầu tư tài chính, đề xuất Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam sử dụng các công cụ phân tích tài chính, quản lý danh mục đầu tư phục vụ cho hoạt động đầu tư qũy Bảo hiểm xã hội
2- Các phương pháp nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu được sử dụng
- Xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu ở trên
- Phương pháp nhằm giải quyết mục tiêu, trả lời câu hỏi nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn quản lý của Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam hiện nay Như đã đề cập trong phần mục tiêu nghiên cứu, trước hết nghiên cứu này sẽ khảo sát thực tiễn đầu tư tài chính của Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngành Bảo hiểm thương mại, thị trường tài chính Việt Nam để đánh giá thực trạng và mô tả động thái của nhà quản lý trong việc ra các quyết định tài chính Kế đến sẽ xem xét những điều kiện và xây dựng mô hình phù hợp có thể sử dụng như là công cụ phục vụ việc ra quyết định đầu tư tài chính
Trang 12Cuối cùng, mô hình sau khi đã được xây dựng sẽ được kiểm định để đánh giá khả năng ứng dụng vào thực tiễn Do vậy đề tài này sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tận dụng tính chất hợp lý và ưu việt của từng loại phương pháp nghiên cứu khoa học
- Thu thập và phân tích thông tin định tính bằng các phương pháp chuyên gia Tham khảo ý kiến của lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, lãnh đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố, các nhà đầu tư tài chính để xác định ý nghĩa của đầu tư tài chính trong thực tế như thế nào
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được sử dụng để nghiên cứu cơ sở lý
luận nhằm đặt nền tảng cho việc xây dựng mô hình trong quyết định tài chính của Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam Phương pháp này được sử dụng để xem xét, tìm tòi, hệ thống hoá và tóm tắt tất cả những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài này đã được tiến hành trong và ngoài nước Trên cơ sở đó, hiểu được các nhà nghiên cứu đi trước đã có những công trình nghiên cứu nào, kết quả ra sao để có thể sử dụng hoặc nghiên cứu bổ sung trong nghiên cứu này
3- Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tiến hành khảo sát về đầu tư tài chính của ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ngành Bảo hiểm thương mại, thị trường tài chính Việt Nam Nghiên cứu lý thuyết về đầu tư tài chính, các công cụ hỗ trợ phân tích kỹ thuật, quản lý danh mục đầu
tư, lựa chọn đầu tư trên thị trường chứng khoán
V- NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Lời mở đầu: Giới thiệu đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung như lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 1 - Khảo sát và hệ thống hoá các vấn đề lý luận có liên quan đến đầu
tư tài chính; quản lý, đầu tư qũy Bảo hiểm xã hội
- Chương 2 – Thực trạng về đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong thời gian qua
- Chương 3 – Đề xuất mô hình đầu tư tài chính cho Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Kết luận -
VI- Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Về lý luận, đề tài này giúp phân tích và hệ thống hóa kiến thức về đầu tư tài chính Về thực tiễn, đề tài này kiểm chứng được những nhận định liên quan đến đầu tư tài chính trong thời gian qua của Ngành BHXH Việt Nam; Các doanh nghiệp Bảo hiểm thương mại; đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam Cuối cùng đề tài kiến nghị mô hình đầu tư tài chính cho Ngành BHXH Việt Nam
Trang 13Chương 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN
1.1- LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1.1- Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm, Bảo hiểm xã hội trên thế giới
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Định (2006) cho rằng, Bảo hiểm ra đời, tồn tại và phát triển là do trong thực tế cuộc sống có nhiều rủi ro xảy ra, gây nên tổn thất về người và của Mặc dù con người đã luôn chú ý phòng tránh nhưng rủi ro bất ngờ vẫn
có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau: Rủi ro do thiên tai gây ra; Rủi ro do sự biến động và phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ; Rủi ro do môi trường kinh tế, chính trị và xã hội gây nên
Nhu cầu an toàn với con người là vĩnh cửu Lúc nào con người cũng tìm cách
để bảo vệ bản thân và tài sản của mình trước những rủi ro, bất hạnh Ngay từ thời tiền
sử đã xuất hiện các ý tưởng, các tổ chức gần giống với bảo hiểm Từ thời Trung cổ, các quy tắc về bảo hiểm hàng hải đã được hình thành, song phải đến thế kỷ XIX thì bảo hiểm mới phát triển toàn diện, mạnh mẽ kéo theo sự ra đời, tồn tại và phát triển của tất cả các loại hình bảo hiểm: Bảo hiểm thương mại, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm thất nghiệp, …
Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ Dương và tìm ra châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh
Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bản pháp luật đầu tiên trong ngành bảo hiểm Sau đó là sắc lệnh của Philippe de Bourgogne năm
1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm
1558 Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa
Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống an sinh
xã hội, bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng nhất
Các chế độ của bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay
là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bismarck (1850) và sau đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động;
Trang 14người sử dụng lao động và Nhà nước Kinh nghiệm về bảo hiểm xã hội ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 ), tiếp đến là các nước châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2)
1.1.2- Sự phát triển của Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
- Các tổ chức tài chính ở Việt Nam: Gồm khu vực Ngân hàng và khu vực phi
ngân hàng Bảo hiểm xã hội thuộc khu vực phi ngân hàng
CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
- Công cụ tài chính: gồm công cụ thị trường tiền tệ và công cụ thị trường
vốn
- Thị trường tài chính: gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn
- Cơ sở hạ tầng tài chính: là khuôn khổ các luật lệ và hệ thống làm nền tảng để
các bên (tiết kiệm – cho vay; đi vay - đầu tư) lập kế hoạch, đàm phán và thực hiện các giao dịch tài chính
Các thành phần của cơ sở hạ tầng:
• Hệ thống luật pháp và quản lý nhà nước
Trang 15• Nguồn lực và cơ chế giám sát, thực thi
• Thông tin (ví dụ: luật và thông lệ kế toán, kiểm toán, phòng đăng ký và lưu trữ thông tin tín dụng, tổ chức định mức tín nhiệm)
• Hệ thống thanh toán và hỗ trợ giao dịch chứng khoán (ví dụ: nơi cung cấp
dịch vụ giao dịch và niêm yết, cơ sở hạ tầng thông tin)
Căn cứ vào hoạt động của ba chủ thể kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế là nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình, thì hệ thống tài chính bao gồm: Ngân sách Nhà nước ; Tài chính doanh nghiệp; Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian; Tài chính đối ngoại ; Tài chính hộ gia đình, cá nhân; Tài chính của các tổ chức phi lợi nhuận; Hoạt động bảo hiểm
1.2.2.2-Vị trí của quỹ Bảo hiểm xã hội:
Quỹ bảo hiểm là một định chế tài chính trong hệ thống tài chính của nước ta Quỹ bảo hiểm (bao gồm cả Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại) được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm, được sử dụng để bù đắp, bồi thường tổn thất cho những đối tượng được hưởng quyền lợi về bảo hiểm Thực chất tài chính bảo hiểm là tổng thể những mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ bảo hiểm để bù đắp, bồi thường những tổn thất xảy ra đối với các đối tượng tham gia bảo hiểm nhằm duy trì, đảm bảo an toàn cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người tham gia bảo hiểm
Từ đó chúng ta thấy rằng, quỹ Bảo hiểm xã hội là một khâu tài chính không thể thiếu trong hệ thống tài chính của nhà nước ta Quá trình vận động của các nguồn tài chính để hình thành quỹ Bảo hiểm xã hội, cũng như việc sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội cho mục đích riêng của nó, có liên quan đến sự vận động của các nguồn tài chính của các khâu tài chính khác trong hệ thống tài chính của nước ta và ngược lại
Quỹ Bảo hiểm xã hội là một quỹ tiền tệ lớn, có thời gian tạm thời nhàn rỗi dài;
vì vậy khi dùng quỹ Bảo hiểm xã hội để đầu tư, hoạt động kinh doanh – tức là cung
Trang 16ứng vốn vào nền kinh tế sẽ tạo ra những biến đổi về cung và cầu vốn trong nền kinh tế Theo đó sẽ có tác động đến hướng vận động, chuyển dịch các nguồn tài chính trong nền kinh tế, tất yếu sẽ làm thay đổi các quỹ tiền tệ của các chủ thể khác theo các quy luật của thị trường; góp phần kích thích, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển tạo ra nhiều của cải vật chất và tinh thần nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống
và sinh hoạt của mọi người trong xã hội
Nguồn vốn này càng trở nên rất quan trọng đối với những nước đang thiếu nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn trong nước; đó là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển Chính sách Bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với mọi người lao động sẽ tạo ra được một sự phân công lao động xã hội hợp lý, có hiệu quả, tạo ra được một thị trường lao động năng động Chính điều đó tạo điều kiện cho người lao động và người sử dụng lao động được tự do thỏa thuận về điều kiện làm việc phù hợp với nhu cầu, trình độ, nghề nghiệp, tay nghề, thu nhập với từng người lao động Đó là những yếu tố quan trọng vừa để khai thác, sử dụng triệt để nguồn lực lao động; vừa để nâng cao hiệu suất công tác, năng suất lao động, tiết kiệm chi phí xã hội (về đào tạo, các nguồn lực khác ), làm tăng của cải vật chất và tăng tích lũy cho nền kinh tế
1.2.2.3- Đặc điểm của qũy Bảo hiểm xã hội
- Tính chủ thể của quỹ Bảo hiểm xã hội
Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc tạo lập và sử dụng quỹ Bảo hiểm
xã hội, nhằm phục vụ mục đích đảm bảo an toàn xã hội Bằng các đạo luật được ban hành, Nhà nước quy định mức đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội để tạo lập quỹ, đồng thời cũng quy định những điều kiện hưởng, mức hưởng đối với từng loại mức độ trợ cấp Theo đó sẽ điều chỉnh toàn bộ mọi đơn vị, cá nhân trong cộng đồng xã hội phải thực hiện Nhận thức đầy đủ đặc điểm này có ý nghĩa rất to lớn trong việc đảm bảo quyền lãnh đạo tập trung, thống nhất của nhà nước về đảm bảo xã hội, trên cơ
sở đó góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của nhà nước
Mặc dù quỹ Bảo hiểm xã hội được hình thành từ nhiều nguồn (đóng góp của chủ sử dụng lao động và người tham gia bảo hiểm, lãi từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ, nhà nước hỗ trợ, tài trợ, đánh giá lại tài sản của quỹ ) nhưng chỉ có những người tham gia Bảo hiểm xã hội được hưởng thụ các nguồn tài chính đó Do đó, người tham gia Bảo hiểm xã hội là chủ thể duy nhất có quyền sở hữu quỹ Bảo hiểm xã hội hay nói cách khác, quyền sở hữu quỹ Bảo hiểm xã hội là của những người tham gia Bảo hiểm
xã hội đồng sở hữu
Để tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ như thu Bảo hiểm xã hội, giải quyết chế độ chính sách, chi Bảo hiểm xã hội, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ cần phải có một hệ thống tổ chức bộ máy – đó chính là hệ thống cơ quan Bảo hiểm xã hội
Trang 17Hệ thống tổ chức đó được mọi người tham gia Bảo hiểm xã hội ủy quyền quản lý quỹ BHXH cho họ theo các quy định của pháp luật Theo đó, cơ quan Bảo hiểm xã hội được quyền quản lý, sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức mà nhà nước đã ban hành, đảm bảo chính xác, trung thực, công bằng và hiệu quả Như vậy, Cơ quan Bảo hiểm xã hội là người đại diện chủ sở hữu có quyền sử dụng, quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
- Sự kết hợp giữa tính bắt buộc và tự nguyện, giữa tính bồi hoàn và không bồi hoàn
Một tỷ trọng lớn quỹ Bảo hiểm xã hội mang tính bắt buộc và bồi hoàn Nhà nước ban hành các đạo luật buộc mọi đối tượng phải tham gia Bảo hiểm xã hội dưới hình thức bắt buộc nhằm bảo đảm an toàn xã hội, đáp ứng nhu cầu sống cơ bản khi người tham gia Bảo hiểm xã hội gặp phải rủi ro trong cuộc sống Chẳng hạn, người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia đóng để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất theo hình thức bắt buộc và bồi hoàn Cũng có loại chế độ Bảo hiểm xã hội với hình thức tham gia là bắt buộc nhưng lại không mang tính chất bồi hoàn, mà chỉ khi nào người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro mới được trợ cấp, ví dụ như: chế độ ốm đau, khám chữa bệnh, tai nạn lao động Có trường hợp là đối tượng phải bắt buộc tham gia đóng vào quỹ Bảo hiểm xã hội nhưng lại không được thụ hưởng trực tiếp từ quỹ, đó là trường hợp đối với các đơn vị sử dụng lao động Ngoài hình thức bắt buộc, Nhà nước còn quy định loại hình bảo hiểm tự nguyện để cho mọi người tham gia bổ sung ngoài loại hình bắt buộc nhằm đảm bảo thêm nhu cầu bù đắp tổn thất khi họ gặp rủi ro Nhận thức đặc điểm này giúp cho các nhà quản lý có phương pháp tuyên truyền, vận động, giải thích và hình thức quản lý thu, chi Bảo hiểm xã hội linh hoạt phù hợp với từng đối tượng
- Quỹ tiền tệ mang tính cộng đồng xã hội cao
Quỹ Bảo hiểm xã hội được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, của người tham gia bảo hiểm, ngân sách nhà nước hỗ trợ và bảo trợ Khoản kinh phí do người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội được hạch toán vào chi phí sản xuất, hình thành nên giá thành sản phẩm và dịch vụ Những sản phẩm và dịch vụ đó được mọi người trong xã hội cả trong và ngoài nước tiêu dùng và đương nhiên họ phải trả chi phí tương ứng với số sản phẩm và dịch vụ họ đã tiêu dùng Như vậy, thông qua việc chi trả tiền mua sản phẩm, dịch vụ mà mọi người trong cộng đồng
xã hội đã gián tiếp đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội Bất kỳ nhà nước nào cũng đều
có chính sách và trách nhiệm hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội, trong trường hợp quỹ Bảo hiểm xã hội không đảm bảo khả năng thanh toán Quỹ Bảo hiểm xã hội được sử dụng
để bù đắp và trợ cấp cho người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro, chế độ trợ cấp được thực
Trang 18hiện thống nhất trong toàn quốc Chế độ đó được xây dựng trên nguyên tắc tương trợ, theo truyền thống đạo lý “lá lành đùm lá rách”, theo xu hướng chuyển dịch thu nhập từ người có thu nhập cao cho người có thu nhập thấp, của người khỏe mạnh cho người
ốm yếu, của người may mắn cho người không may mắn gặp rủi ro Nhờ sự tương trợ
và chuyển dịch đó mà cuộc sống của mọi người trong xã hội được đảm bảo an toàn Nhận thức đầy đủ đặc điểm này của quỹ, để thấy được tính nhân văn, tính cộng đồng của quỹ Bảo hiểm xã hội mà từ đó để có những phương pháp quản lý thích hợp, đảm bảo hiệu quả hoạt động của quỹ
- Quỹ BHXH có phạm vi hoạt động rộng, đối tượng phục vụ lớn
Có thể nói ở đâu có con người sinh sống thì quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ có mặt ở
đó để phục vụ họ tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm Do đó, quỹ Bảo hiểm xã hội
có phạm vi hoạt động trải rộng khắp quốc gia, thậm chí xuyên quốc gia để đảm bảo an toàn xã hội Nhà nước bắt buộc phần lớn mọi người đều phải tham gia bảo hiểm bắt buộc; ngoài ra còn quy định chế độ bảo hiểm tự nguyện, do đó hầu hết mọi người dân đều tham gia bảo hiểm Vì vậy, đối tượng tham gia và hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội chiếm đại đa số dân số của đất nước Cần phải nắm vững đặc điểm này để có phương án tổ chức bộ máy quản lý và phương pháp quản lý khoa học phù hợp với thực
tế nhằm phục vụ tốt nhất cho mọi người tham gia và hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội
- Là một quỹ tiền tệ tập trung lớn, tồn tại trong thời gian dài, luôn vận động và
có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn
Quỹ Bảo hiểm xã hội được tạo lập từ sự đóng góp của đông đảo người tham gia
và của hầu hết các đơn vị sử dụng lao động trong quốc gia Vì vậy, nguồn lực tài chính tập trung vào quỹ là vô cùng lớn Mặt khác, quỹ bảo hiểm được thiết kế theo mô hình tồn tích sẽ có số dư tồn tích từ năm này qua năm khác, thế hệ này sang thế hệ khác, do
đó số dư sẽ tăng lên hàng năm
Vì có số đông người tham gia hình thành quỹ, nên chính họ lại là những người được hưởng thụ, quỹ phải chi ra khi họ gặp rủi ro Số người tham gia càng đông thì tần suất xảy ra rủi ro càng lớn, vì vậy mà quỹ bảo hiểm phải thường xuyên cung cấp tài chính cho người gặp rủi ro, điều đó tác động làm cho quỹ bảo hiểm luôn vận động và biến đổi Nhận thức đầy đủ đặc điểm này giúp cho người quản lý trong công tác kế hoạch hóa cân đối quỹ, sử dụng quỹ sao cho có hiệu quả, vừa đảm bảo đủ nguồn chi trả kịp thời cho đối tượng, vừa tham gia đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nếu để quỹ tồn động quá lớn sẽ gây ra lãng phí
- Quỹ Bảo hiểm xã hội luôn chịu tác động của nhiều nhân tố trong nền kinh tế -
xã hội
Trang 19Mỗi một sự vận động của nền kinh tế - xã hội đều tác động đến quỹ Bảo hiểm
xã hội Có những nhân tố tác động trực tiếp dến quỹ Bảo hiểm xã hội, những nhân tố
đó thường có liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế và xã hội của con người, chẳng hạn như việc làm, thu nhập, tình trạng sức khỏe Việc làm nhiều sẽ thu hút được nhiều lao động, do đó mức đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội cũng tăng lên Sức khỏe của con người tăng lên, giúp cho con người sẽ ít bị ốm đau hơn, một mặt lao động của
họ sẽ có hiệu quả hơn, mặt khác quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ giảm được khoản chi khám, chữa bệnh và tiền bảo hiểm thay lương của họ Những nhân tố tác động gián tiếp đến quỹ Bảo hiểm xã hội như: tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội Nền kinh
tế tăng trưởng do kết quả của việc đầu tư phát triển kinh tế tăng, theo đó là việc tăng quy mô sản xuất, kéo theo là lực lượng lao động có cơ hội việc làm nhiều hơn và thu nhập cũng được cải thiện hơn Tiến bộ và công bằng xã hội được nâng cao làm cho con người được cải thiện về mọi mặt, đặc biệt là vấn đề xã hội Vì vậy, làm cho chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao, sức khỏe con người tốt hơn Những yếu tố đó tác động làm tăng quy mô quỹ Bảo hiểm xã hội Kinh tế đất nước đình trệ, sản xuất không phát triển dẫn đến quy mô sản xuất giảm, làm cho người lao động gặp khó khăn (mất việc làm, tiền lương giảm ) sẽ tác động làm giảm quỹ Bảo hiểm xã hội
Đặc điểm này của quỹ Bảo hiểm xã hội đặt ra cho các nhà quản lý phải quan tâm đến hoạt động dự báo quỹ theo kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trên cơ sở
dự báo tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước trong mỗi thời kỳ để chủ động quản lý, điều hành hoạt động của quỹ đạt hiệu quả cao
1.2.2.4- Nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ Bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây:
Điều 91: “Hằng tháng, người lao động […] đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền
công vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%.”
Điều 92: “Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động […] như sau:
Trang 20a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản;
b) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
c) 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.”
1.2.2.5- Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ Bảo hiểm xã hội được sử dụng chủ yếu cho các mục đích sau đây:
+ Chi trợ cấp cho các chế độ Bảo hiểm xã hội: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất
+ Chi phí cho sự nghiệp quản lý Bảo hiểm xã hội
+ Chi phí cho hoạt động đầu tư
1.2.3- Đầu tư tài chính:
Để xác định những nội dung liên quan đến đầu tư tài chính, ta cần xem xét hệ thống công cụ tài chính theo sơ đồ biểu diễn sau:
CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
1.2.3.1- Khái niệm đầu tư tài chính
Một tài sản hoặc hàng hoá thường được mua bán với mục đích nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc tăng giá trị trong tương lai Trong kinh tế, đầu tư là việc mua hàng hoá không phải để dùng trong hiện tại mà để nhằm mục đích tạo ra của cải trong tương lai Việc xây dựng một nhà xưởng để sản xuất hàng hoá hay quyết định của một sinh viên đến trường đại học để học đều là ví dụ về đầu tư xét trong lĩnh vực kinh tế học Trong lĩnh vực tài chính, đầu tư được hiểu là việc mua một tài sản tiền tệ với mục đích là tài
Trang 21sản đó sẽ mang lại thu nhập trong tương lai hoặc là tài sản đó sẽ tăng giá và ta có thể bán nó với mức giá cao hơn, thu về một khoản lãi
Hiện tại trên thị trường có rất nhiều công cụ tài chính để lựa chọn đầu tư, nhưng phổ biến nhất có một số công cụ đầu tư tài chính như sau:
- Đầu tư vào chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu,…
- Đầu tư tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi,…
- Các công cụ phái sinh: Các công cụ giao dịch kỳ hạn hay tương lai; Các công
cụ giao dịch hoán đổi; Các công cụ giao dịch quyền chọn
- Đầu tư bất động sản
Ngay cả trong một công cụ đầu tư như chứng khoán chẳng hạn, cũng sẽ có rất nhiều lựa chọn Nếu như là người có hiểu biết về thị trường chứng khoán, nắm trong tay các thông tin, chỉ cần thông qua một công ty môi giới để thực hiện lệnh của mình Nếu chấp nhận mạo hiểm, nhưng trong tay không có nhiều thông tin lắm, ta có thể sử dụng dịch vụ tư vấn của người môi giới Các công ty môi giới có thể cung cấp rất nhiều gói dịch vụ, kể cả dịch vụ từ A-Z Nếu không có nhiều tiền, không dám mạo hiểm nhưng lại vẫn muốn đầu tư để kiếm lời, có thể tham gia vào các quỹ tương hỗ (Unit trust hoặc Mutual fund) Nói chung luôn có sự song hành giữa lợi nhuận và rủi
ro Vì thế hãy xác định rõ mục đích của trước khi tiến hành một hoạt động đầu tư
Như vậy, hoạt động đầu tư quỹ Bảo hiểm xã hội là quá trình sử dụng một phần tiền nhàn rỗi từ quỹ BHXH để đầu tư tài chính, nhằm tăng thêm tiềm lực tài chính cho quỹ BHXH, đáp ứng đầy đủ nhu cầu chi trả cho các chế độ BHXH và đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên của cơ quan BHXH
1.2.3.2- Các công cụ đầu tư tài chính
a- Đầu tư chứng khoán:
Đầu tư chứng khoán là mua, bán các loại giấy tờ có giá trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán Chứng khoán có rất nhiều loại: Chứng khoán nợ và chứng khoán vốn Chứng khoán nợ có thể là trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc, tín phiếu, trái phiếu công trình, trái phiếu doanh nghiệp… Chứng khoán vốn chủ yếu là cổ phiếu của các doanh nghiệp; Một số loại chứng khoán khác như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư Trong đó hai dạng chính là cổ phiếu và trái phiếu
Vì sao người ta đầu tư vào chứng khoán?
Ở các nước phát triển, có rất nhiều người đầu tư vào chứng khoán Có những nước có tới hơn 50% số dân trưởng thành đầu tư vào chứng khoán Đầu tư chứng khoán được coi là một ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu tư với thủ tục đơn giản nhất) nhưng cũng phức tạp nhất (do có nhiều rủi ro)
Trang 22b- Đầu tư bất động sản:
Xem phụ lục 2 – Trang 104
Ở nội dung nghiên cứu của luận văn này thì đầu tư bất động sản được gộp vào nội dung nhóm tài sản đầu tư: đầu tư khác Do thị trường bất động sản còn nhiều hạn chế nên trong mô hình đầu tư tài chính quỹ Bảo hiểm xã hội đề xuất thì nội dung về đầu tư bất động sản cũng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ và chỉ thực hiện đầu tư khi thị trường bất động sản phát triển mạnh
c- Nghiệp vụ tài chính phái sinh 1
Xem phụ lục 3 – Trang 106
1.3- THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH (Financial Market)
1.3.1- Tổng quan về thị trường tài chính
1.3.1.1- Khái niệm
Theo David Blake (1994), Thị trường tài chính là nơi luân chuyển vốn từ khu vực dư thừa vốn sang khu vực thiếu vốn, có nghĩa đây là nơi diễn ra hoạt động mua bán các tài sản tài chính, và thị trường này có hoạt động sôi động hay không phụ thuộc rất nhiều vào các trung gian tài chính như Ngân hàng, Quỹ đầu tư, Công ty bảo hiểm Căn cứ vào bản chất, chức năng cũng như phương thức hoạt động, thị trường tài chính có thể phân chia thành ba loại chủ yếu, bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị trường vốn
1.3.1.2- Phân loại thị trường tài chính
- Thị trường vay nợ trung và dài hạn (Long term loan)
- Thị trường tài trợ kinh doanh bất động sản
- Thị trường cho thuê tài chính (Leasing Market)
- Thị trường chứng khoán (The Stock Exchange and OTC)
+ Sở giao dịch chứng khoán (The Stock Exchange)
+ Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC-Over The Counter Market)
Trang 231.3.2- Thị trường chứng khoán
1.3.2.1- Thị trường chứng khoán là gì?
Theo GS.TS Lê Văn Tư (2006), Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó có thể là thị trường chứng khoán tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất
Hình thái điển hình của thị trường chứng khoán tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch
Thị trường chứng khoán phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công
ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận
1.3.2.2- Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán
- Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua
bán trên thị trường chứng khoán với mục đích kiếm lời
- Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng
khoán với số lượng lớn trên thị trường
Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán
c- Các công ty chứng khoán:
Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh
d- Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán:
- Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán ở Việt nam
Trang 24- Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và Ủy ban chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể
1.3.2.3- Các loại chứng khoán trên thị trường:
Chỉ số giá cổ phiếu được tính cho:
- Từng cổ phiếu và có thông báo trên báo chí
- Tất cả cổ phiếu thuộc thị trường của một quốc gia, như chỉ số giá Hangseng của Hồng Kông; chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp của Hàn Quốc (KOSPI)…
- Từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá cổ phiếu ngành công nghiệp của Mỹ (DJIA)
- Thị trường quốc tế như chỉ số Hangseng Châu á (HSAI), chỉ số Dow Joness quốc tế (DJWSI)…
Một số chỉ tiêu sau cũng thường được thống kê, tổng hợp đối với chỉ số giá và thông báo rộng rãi: chỉ số giá ngày đó, ngày đó so với ngày trước đó, so với đầu năm; chỉ số giá cao nhất, thấp nhất trong năm, số cổ phiếu có chỉ số tăng trong kỳ và giảm trong kỳ và phân tích biến động theo ngành…
Trang 25a 2 Một số chỉ số giá chứng khoán thường được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
* Các chỉ số của Nhật Bản:
- Chỉ số NIKKEI 225: là chỉ số tổng hợp cổ phiếu với quyền số giá cả của 225
cổ phiếu thuộc sở giao dịch chứng khoán Tokyo và 250 cổ phiếu thuộc sở giao dịch Osaka Chỉ số này do Thời báo kinh tế Nhật tính và công bố (Thời báo NIKKEI) Chỉ
số này còn được gọi là chỉ số NIKKEI Dow vì phương pháp tính của nó như phương pháp tính các chỉ số DowJones
- Chỉ số TOPIX: chỉ số này tính cho tất cả chứng khoán niêm yết quan trọng của thị trường chứng khoán Tokyo Thời điểm gốc là 4/1/1968 với giá trị gốc là 100
* Các chỉ số của Anh:
- Chỉ số FT-30: là chỉ số giá của 30 cổ phiếu công nghiệp hàng đầu của thị trường chứng khoán London Chỉ số này được công bố từng giờ một kể từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều và vào lúc đóng cửa sở giao dịch chứng khoán London Thời gian gốc
là năm 1935 với trị giá gốc là 100
- Chỉ số FT-100: là chỉ số giá của 100 cổ phiếu hàng đầu tại Sở giao dịch chứng khoán London Ngày gốc là 3/1/1984 với trị giá gốc là 1.000
* Chỉ số Dow Jones:
Là chỉ số giá chứng khoán, phản ánh sự biến động bình quân của giá chứng khoán thuộc thị trường chứng khoán Newyork, một thị trường lớn nhất thế giới Chỉ số Dow Jones nói chung hiện nay là chỉ số giá chung của 65 chứng khoán đại diện, thuộc nhóm hàng đầu (Blue chip) trong các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Newyork Nó bao hàm 3 chỉ số thuộc 3 nhóm ngành: Công nghiệp DJIA (Dow Jones Industrial Average), Vận tải DJTA (Dow Jones Transportation Average) và Dịch vụ DJUA (Dow Jones Utilities Average)
b- Các tỷ số tài chính thuộc doanh nghiệp 2
*- Số vòng quay các khoản phải thu:
Số vòng quay các khoản phải thu xem xét việc thanh toán các khoản phải thu v.v Khi khách hàng thanh toán tất cả các hoá đơn của họ, lúc đó các khoản phải thu quay được một vòng
Trang 26Doanh thu Vòng quay các khoản phải thu = -
Các khoản phải thu
*- Số vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn đánh giá công ty sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào
Doanh thu Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho Trung bình ngành: 9
*- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Tỷ số này nói lên một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định ở công ty
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Tài sản cố định Trung bình ngành: 3
*- Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản:
Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường một đồng tài sản tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản =
Toàn bộ tổng tài sản Trung bình ngành: 1,8
*- Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần:
Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần là chỉ tiêu hữu ích để phân tích khía cạnh tài chính của công ty Hiệu suất sử dụng vốn cổ phần đo lường mối quan hệ giữa doanh thu và vốn cổ phần
*- Tỷ số nợ trên tài sản:
Tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng
Trang 27vốn vay
Tổng nợ
Tỷ số nợ trên tổng tài sản =
Tổng tài sản Bình quân ngành = 40%
b2- Tỷ số thanh toán – liquidity ratios
Tỷ số thanh toán đo lường khả năng thanh toán của công ty
*- Tỷ số thanh toán hiện hành – Current ratio
Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành
Tài sản lưu động
Tỷ số thanh toán hiện hành Rc =
Nợ ngắn hạn Trung bình ngành: 4,2
*- Tỷ số thanh toán nhanh – Quick ratio
Tỷ số thanh toán nhanh dựa trên “Tài sản có tính thanh khoản“, bao gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho
Tài sản lưu động – hàng tồn kho
Tỷ số thanh toán hiện hành Rq =
Nợ ngắn hạn Trung bình ngành: 2,1
b3- Tỷ số đòn bẩy tài chính – financial leverage ratios
Tỷ số đòn bẩy cho thấy việc sử dụng nợ của công ty có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
*- Tỷ số nợ trên tài sản – Debt ratio
Tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay
Tổng nợ
Tỷ số nợ trên tổng tài sản =
Tổng tài sản Trung bình ngành: 40%
*- Tỷ số nợ trên vốn cổ phần – Debt–to–equity ratio
Tổng nợ
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần
Trang 28Nợ dài hạn
Tỷ số nợ dài hạn trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần
*- Tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần – Equity multiplier ratio:
Một tỷ số khác cũng được sử dụng đến để tính tốn mức độ đi vay (rủi ro về tài chính) mà cơng ty đang gánh chịu đĩ là tỷ số tổng tài sản trên vốn cổ phần
Tổng tài sản Tổng tài sản trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần
*- Khả năng thanh tốn lãi vay – Times interest earned ratio
Tỷ số này dùng để đo mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi vay hàng năm như thế nào
EBIT Khả năng thanh tốn lãi vay =
Lãi vay Trung bình ngành: 6%
b4- Tỷ số sinh lợi – profitability ratios
*- Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu – Net profit margin ratio
Chỉ tiêu này nĩi lên một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Lợi nhuận
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu =
Doanh thu Trung bình ngành: 5%
*- Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản – Return on total assets ratio (ROA)
Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư vào cơng ty
Lãi rịng
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản =
Tổng tài sản Trung bình ngành: 17,2%
*- Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần – Return on equity ratio (ROE)
Đây là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nĩ cho thấy khả năng tạo lãi của một đồng vốn họ bỏ ra để đầu tư vào cơng ty
Lãi rịng
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần =
Vốn cổ phần Trung bình ngành: 15%
Trang 29b5- Tỷ số giá trị thị trường (market–value ratio)
Tỷ số giá trị thị trường cho thấy công ty được các nhà đầu tư đánh giá như thế nào
*- Thu nhập mỗi cổ phần – Earning per share (EPS)
Thu nhập mỗi cổ phần quyết định giá trị của cổ phần bởi vì nó đo lường sức thu
nhập chứa đựng trong một cổ phần, nó thể hiện thu nhập mà nhà đầu tư có được do
Như vậy, nếu một công ty chỉ đạt EPS khoảng 8 - 9% một năm thì chỉ bằng lãi suất tiền gửi ngân hàng thì có nên mua không, đó là điều nhà đầu tư phải cân nhắc trước khi quyết định đầu tư Nếu mua thì có hai trường hợp xảy ra:
- Một là nhà đầu tư biết và hy vọng là công ty trong thời gian tới có thể tăng lợi nhuận do nhiều lý do như công ty đang mở rộng thị trường, đưa vào thị trường sản phẩm mới, nâng cấp bộ máy quản lý đạt hiệu quả hơn… Đây là một quyết định phản ánh thực tế công ty
- Hai là nhà đầu tư thấy rằng trên thị trường chứng khoán, tâm lý các nhà đầu tư khác quan tâm nhiều đến việc mua cổ phiếu công ty này có thể có lý do là công ty được ưa chuộng, có ngành nghề kinh doanh “hợp thời” ví như cơn sốt của công ty dot com ( công ty Internet) trên thế giới vậy
Nói tóm lại, nếu công ty đạt được mức EPS từ 15% - 35 % là tỉ lệ tương đối phổ biến tại Việt Nam, nó phản ánh tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và giá vốn chấp nhận được của thị trường vốn
*- Tỷ lệ chi trả cổ tức – Payout ratio
Chỉ tiêu tỷ lệ chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đông hay giữ lại để tái đầu tư Đây là một nhân tố quyết định đến giá trị thị trường của
Trang 30cổ phần
Cổ tức mỗi cổ phần
Tỷ lệ chi trả cổ tức =
Thu nhập mỗi cổ phần
*- Tỷ số giá thị trường trên thu nhập – Price-earning ratio (P/E)
Đây chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện giá cổ phần đắt hay rẻ
so với thu nhập
Giá thị trường mỗi cổ phần
Tỷ số giá thị trường thu nhập =
Thu nhập mỗi cổ phần Trung bình ngành: 12,5
*- Tỷ suất cổ tức – Dividend yield
Cổ tức mỗi cổ phần
Tỷ suất cổ tức =
Thu nhập mỗi cổ phần
1.4- Lý thuyết danh mục đầu tư:
1.4.1- Quy trình quản lý danh mục đầu tư 3
Theo PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt (năm 2007), Một danh mục đầu tư cĩ thể bao gồm tất cả các chứng khốn được giao dịch trên thị trường như cổ phiếu, trái phiếu, hay các giấy tờ sở hữu bất động sản… quản lý danh mục đầu tư là quá trình liên tục và cĩ hệ thống gồm 4 bước:
Thứ nhất, xác định mục tiêu đầu tư Trọng tâm của việc xác định mục tiêu là
xác định rõ mức độ rủi ro cĩ thể chấp nhận được của chủ đầu tư và mức lợi nhuận tương thích với mức rủi ro đĩ
Thứ hai, xây dựng các chiến lược phù hợp với mục tiêu bao gồm việc lập các
tiêu chuẩn và phân phối đầu tư
Thứ ba, giám sát theo dõi những diễn biến giá cả tương đối của chứng khốn
trên thị trường, cả mức độ rủi ro và lợi nhuận mong đợi
Thứ tư, điều chỉnh danh mục đầu tư phù hợp với diễn biến của thị trường và
mục tiêu của nhà đầu tư
Một danh mục đầu tư đơn giản là một tập hợp tài sản đầu tư của nhà đầu tư Một khi danh mục được thiết lập thì nĩ được cập nhật hoặc tái cân bằng bằng cách bán các chứng khốn hiện hữu và sử dụng tiền bán này để mua các chứng khốn mới, bằng việc đầu tư thêm tiền nhằm làm tăng quy mơ tổng thể của danh mục và bán các chứng khốn làm giảm quy mơ của danh mục Các tài sản đầu tư cĩ thể được phân thành các loại lớn như cổ phiếu, trái phiếu, tài sản thực, hàng hĩa v.v Các nhà đầu tư làm hai quyết định trong xây dựng danh mục của họ: Quyết định phân bổ tài sản là sự lựa chọn
Trang 31giữa các loại tài sản lớn, trong khi quyết định lựa chọn chứng khoán là sự lựa chọn những chứng khoán cụ thể nào trong mỗi loại tài sản để nắm giữ
Trên thực tế lý thuyết danh mục do Harry Markowit đề xướng vào năm 1960 là một khám phá đầu tiên về việc đa dạng hóa làm giảm thiểu rủi ro như thế nào và đề xuất sử dụng độ lệch chuẩn và phương sai để đo lường rủi ro của từng chứng khoán và danh mục đầu tư
1.4.2- Lợi nhuận và rủi ro
1.4.2.1- Định nghĩa lợi nhuận và rủi ro:
Lợi nhuận (return) là thu nhập có được từ một khoản đầu tư, thường được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra
Rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng
1.4.2.2- Đo lường rủi ro
Rủi ro như vừa nói là một sự không chắc chắn, một biến cố có khả năng xảy ra
và cũng có khả năng không xảy ra Để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất với hai tham số đo lường phổ biến là kỳ vọng và độ lệch chuẩn
a- Lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn:
Lợi nhuận kỳ vọng, ký hiệu là E(R) được định nghĩa như sau:
) )(
( 1
P R E
n
i [ i ( )]21
-= å
=s
b-Hệ số biến đổi (coefficient of variation)
Độ lệch chuẩn đôi khi cho chúng ta những kết luận không chính xác khi so sánh rủi ro của hai dự án nếu như chúng rất khác nhau về quy mô Ví dụ xem xét hai dự án đầu tư A và B có phân phối xác suất như sau:
Trang 32Nếu nhìn vào độ lệch chuẩn chúng ta thấy rằng độ lệch chuẩn của B lớn hơn A Liệu có thể kết luận rằng dự án B rủi ro hơn A hay không? Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào
độ lệch chuẩn có thể kết luận như vậy, nhưng vấn đề ở đây là cần so sánh xem quy mô lợi nhuận kỳ vọng của hai dự án này như thế nào Dự án B có độ lệch chuẩn là 8% trong khi dự án A chỉ có 6% nhưng lệch 8% của quy mô lợi nhuận kỳ vọng là 1000$ sẽ rất nhỏ so với lệch 6% của quy mô lợi nhuận kỳ vọng 1 triệu $ Để khắc phục tình trạng này chúng ta dùng chỉ tiêu hệ số biến đổi CV (coefficient of variation):
1.4.3- Lợi nhuận và rủi ro của một danh mục đầu tư:
a- Lợi nhuận của danh mục đầu tư
Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư đơn giản chỉ là trung bình có trọng số của các lợi nhuận kỳ vọng của từng tài sản trong danh mục đầu tư Trọng số ở đây chính là tỷ trọng của từng loại tài sản trong danh mục đầu tư Công thức tính lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư Ep(R) như sau:
) ( )
(
1
R E W R
m
j j
=
= trong đó Wj là tỷ trọng của tài sản j, Ej(R) là lợi nhuận kỳ vọng của tài sản j, và m là tổng số tài sản có trong danh mục đầu tư
b- Rủi ro của danh mục đầu tư
Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch chuẩn của danh mục đầu
tư
Không giống lợi nhuận, việc xác định độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư rất phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố đồng phương sai (covariance), tức là mức độ quan
hệ giữa rủi ro của các tài sản trong danh mục đầu tư Độ lệch chuẩn của danh mục đầu
tư được xác định bởi công thức:
Trang 33k j
σj,k = rj,kσjσk Trong đó rj,k (đôi khi ký hiệu ρj,k) là hệ số tương quan kỳ vọng giữa lợi nhuận của tài sản j và tài sản k, σj là độ lệch chuẩn lợi nhuận của tài sản j, và
σk là độ lệch chuẩn lợi nhuận của tài sản k
Khi j = k thì hệ số tương quan rj,k = 1 và rj,kσj,σj = σj2
1.4.4- Đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm rủi ro:
Xem phụ lục 5 – Trang 119
1.4.5- Xác định đường tập hợp các cơ hội đầu tư vào các tài sản rủi ro
Nhà đầu tư thiết lập danh mục đầu tư (P) trên cơ sở xem xét suất sinh lợi kỳ
vọng và phương sai (hay độ lệch chuẩn) của suất sinh lợi
a Tài sản rủi ro: 1, 2, …, N
ü Tài sản i có suất sinh lợi kỳ vọng: r i
ü Suất sinh lợi của tài sản i có phương sai: sii = si2
ü Đồng phương sai (tích sai) giữa suất sinh lợi của tài sản i và j: sij
ü Tỷ lệ đầu tư vào các tài sản: w1, w2, …, w N
b Ta có thể biểu diễn các công thức trên dưới dạng ma trận
úúúúû
ùê
ùêêêêë
2 1
R
;
úúúúû
ùê
êêêë
é
=
NN N
N
N N
ss
s
ss
s
ss
2 22
21
1 12
w
1
= [1 1 1]
úúúúû
ùêêêêë
é
N
w
w w
2 1
i r w
1
=[r1 r2 r N]
úúúúû
ùêêêêë
é
N
w
w w
2 1
= T
R W = r P
Trang 34Phương sai của suất sinh lợi của danh mục:
ùê
êêêë
é
NN N
N
N N
ss
s
ss
s
ss
2 22
21
1 12
11
úúúúû
ùêêêêë
é
N
w
w w
2 1
= W T DW = 2
P
s
c- Đối với mỗi suất sinh lợi kỳ vọng nhất định theo yêu cầu, nhà đầu tư muốn
xây dựng một danh mục sao cho phương sai của suất sinh lợi có giá trị nhỏ nhất Vậy, nhà đầu tư muốn tối thiểu hóa sP2 = W T DW trên cơ sở thỏa mãn các ràng buộc:
=
¶
¶
= -
=
¶
¶
= - -
W
1
1
0 R 1 ΔW
W
T T
Từ (4), ta có các tỷ trọng tài sản tối ưu:
= +
P
r
gl
gl
) (
)
(
1 ) (
)
(
R Δ R 1
Δ
R
R Δ 1 1
Δ
1
-1 T -1
T
-1 T -1
A P
-=g
Phương trình phương sai của suất sinh lợi danh mục đầu tư:
Trang 35A P2 - 2 P +
(8)
1.4.6- Xây dựng danh mục đầu tư với N tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro
a Tài sản phi rủi ro có suất sinh lợi r f Tỷ lệ đầu tư vào tài sản phi rủi ro: w0
Tỷ lệ đầu tư vào các tài sản rủi ro: w1, w2, …, w N
b Đối với mỗi suất sinh lợi kỳ vọng nhất định theo yêu cầu, nhà đầu tư muốn
xây dựng một danh mục sao cho phương sai của suất sinh lợi có giá trị nhỏ nhất
Vậy, nhà đầu tư muốn tối thiểu hóa 2
¶
¶
) ( r f
Đường tập hợp các cơ hội
đầu tư (IOS)
Danh mục
có s min
D
C r B r
A P P
P
+-
Trang 36r r
f f
f P
+ -
-=
2 2g
r r
f f
f P P
+-
-=
22s
Br C
-
-Phương sai của suất sinh lợi của danh mục T:
Ar B
r r
-
-f Danh mục tối ưu, P
Nhà đầu tư sẽ chọn danh mục đầu tư tối ưu bằng cách đầu tư một phần tiền vào danh
mục tiếp xúc T và phần còn lại vào tài sản phi rủi ro tùy theo sở thích của mình về sự
đánh đổi giữa suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro
Trang 371.4.7- Các nghiên cứu liên quan đến chủ đề nghiên cứu
Xem phụ lục 6 – Trang 112
1.5- Kinh nghiệm đầu tư quỹ bảo hiểm của các nước trên thế giới
Xem phụ lục 7 – Trang 114
1.5.1- Khái quát về mô hình quỹ bảo hiểm xã hội:
1.5.2- Chế độ hình thành, quản lý, đầu tư quỹ BHXH một số nước trên thế giới:
1.5.2.1- Tại Trung Quốc 4
t
f
t r r
CLM
Trang 38- Nguyên tắc trong hoạt động đầu tư là phải bảo đảm lợi ích giữa các bên tham gia đầu tư Có nước như Philippine rất chú ý đến quyền lợi của các chủ sử dụng lao động và đã đề ra nguyên tắc cho số đông chủ sử dụng lao động vay tiền của Quỹ để đảm bảo sản xuất kinh doanh, có thu nhập tạo nguồn đóng góp bảo hiểm xã hội Đây thực chất là biện pháp tạo nguồn, nuôi nguồn của quỹ
- Hầu hết ở các nước, Chính phủ đều quy định danh mục quỹ được phép đầu tư Danh mục đầu tư đa dạng, kể cả đầu tư ở những lĩnh vực có rủi ro cao như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản
1.6- Mô hình nghiên cứu (Có biểu kèm theo)
Mô hình đầu tư tài chính đề nghị áp dụng cho đầu tư tài chính từ nguồn qũy bảo hiểm xã hội nhàn rỗi của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu
Kết luận chương 1
Hàng triệu người tham gia và hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội luôn mong đợi mức hưởng chế độ Bảo hiểm xã hội được tăng lên phù hợp với mức độ tăng trưởng kinh tế của đất nước và biến động chỉ số giá cả; Chính phủ quyết tâm ổn định về an sinh xã hội nhằm ổn định và phát triển kinh tế bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an toàn xã hội, giảm gánh nặng chi tiêu từ ngân sách nhà nước cho mục tiêu an sinh xã hội, tăng cường tiềm lực tài chính của đất nước từ nguồn quỹ Bảo hiểm xã hội, … Để đạt được các mục tiêu trên, những đóng góp từ quỹ Bảo hiểm xã hội là rất lớn, Quỹ phải bảo đảm an toàn, được bảo tồn và tăng trưởng khá Tăng trưởng Quỹ chỉ có thể đạt được khi hiệu quả đầu tư cao Chương 1 phân tích khá chi tiết cách thức đầu tư có hiệu quả bằng cách vận dụng lý thuyết quản lý danh mục đầu tư hiện đại kết hợp với các quy định pháp luật về đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, để từ đó hoạt động đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội có thể đạt được mức sinh lợi như mong muốn nhưng mức rủi ro
là chấp nhận được
Trang 40Chương 2- THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CỦA BẢO HIỂM
XÃ HỘI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1- Thực trạng hoạt động và phát triển của Ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Thực trạng về thu, chi của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thời gian qua
2.1.1- Về thu bảo hiểm xã hội: Tình hình thu Bảo hiểm xã hội được phản ảnh
thông qua số lượng đơn vị sử dụng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội, số người tham gia Bảo hiểm xã hội, tiền lương, tiền công làm căn cứ thu nộp Bảo hiểm xã hội, số thu Bảo hiểm xã hội, tỷ lệ tuân thủ thu - nộp Bảo hiểm xã hội Từ năm 1995 đến hết năm
2007, kết quả thu Bảo hiểm xã hội được thể hiện như sau
Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình thu Bảo hiểm xã hội